tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31318663
Thông tin tác giả
Ngân Giang
 

 


Nữ sĩ Ngân Giang tên thật là Đỗ Thị Quế, các bút danh khác: HẠNH LIÊN, THỤC OANH, NÀNG LÉM, ĐỖ QUẾ ANH, CHỊ MẾN, NÀNG KHÔNG TÊN, LỮ VÂN, SÔNG NGÂN... (1916-2002)


sinh năm 1916 ở phố Hàng Trống - Hà Nội; quê gốc ở thôn Hướng Dương, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây cũ. Ngân Giang con nhà nho học, danh gia vọng tộc một thời. Làm thơ từ khi mới 6 tuổi, giới văn chương ngày ấy vẫn gọi nữ sĩ là bậc thần đồng. 9 tuổi đã có bài "Vịnh Kiều" nổi tiếng, 16 tuổi in tập thơ "Giọt lệ xuân" được văn giới và báo giới trước cách mạng hết sức ngợi khen, mặc nhiên coi nữ sĩ là bậc thần đồng. Thời ấy, nữ sĩ Ngân Giang thường xuyên xuất hiện trên các báo, tạp chí "Phụ nữ thời đàm", "Tri tân", "Tiểu thuyết thứ bảy". Năm 1944, tập thơ nổi tiếng nhất của nữ sĩ gây xôn xao dư luận, đó chính là "Tiếng vọng sông Ngân", và tiếp đó, trong kháng chiến với những: "Xuân chiến địa", "Trưng nữ vương", "Tiễn con ra trận"… để từ ấy, nữ sĩ được giới văn chương gọi là Nữ hoàng Đường thi Việt Nam, đó là một phần thưởng vô giá đối với người cầm bút.


Bà mất năm 2002 tại Hà Nội.


Ngân Giang là Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam.


Tham gia hoạt động cách mạng từ 1935; 1944, trong Mặt trận Việt Minh. Tham gia Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội. Trưởng đoàn phụ nữ thành Hoàng Diệu, góp phần xây dựng “Tuần lễ vàng”, giải cứu các đồng chí trinh sát thành bộ bị bắt giam tại Ôn Như Hầu, góp phần vào công việc chuẩn bị lương thực cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Trong kháng chiến chống Pháp: làm công tác tại Sở tuyên truyền khu I (Thái Nguyên). Từ cuối năm 1949 cho tới ngày giải phóng Thủ đô, được biệt phái vào hoạt động nội thành. Sau 1954, hoạt động văn học.


TÁC PHẨM: Những người sống mãi (thơ, in chung); Giọt lệ Xuân (thơ, 1931); Tiếng vọng Sông Ngân (thơ, 1944); Thơ Ngân Giang (thơ, 1990); Tuyển tập thơ Ngân Giang (thơ, 1996).


GIẢI THƯỞNG: Giải thưởng thơ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật năm 1994 (tập Thơ Ngân Giang).


Ngân Giang: Tuổi cầm bút của tôi gần bằng tuổi đời. Những truân chuyên, điêu đứng của tôi lại hơn cả tuổi đời và tuổi cầm bút. Tôi chỉ có một chủ trương: Phục vụ dân tộc, xã hội; Sẵn sàng quật khởi chống lại bạo lực, giai cấp bóc lột, thống trị, tha thiết hy sinh cho xã hội, dân tộc, nhân loại, hoà bình. Trong tôi, luôn là một tình cảm, một tâm hồn xa với quyền và lợi. Tôi yêu quê hương, yêu xã hội vô cùng. Cho nên dù những năm tháng qua tôi sống rất khó khăn nhưng cuối cùng tôi vẫn tồn tại... Tôi luôn biết hy vọng ở tương lai.


 


 


 


 

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang