tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30138375
Thông tin tác giả
Franz Kafka


 

(1883-1924) là nhà văn Tiệp gốc Do Thái, sinh ở Praha vào thời kỳ nước Tiệp còn là một bộ phận của đế quốc Áo - Hung (1867-1918). Cha ông thuở nhỏ nghèo khổ, về sau khá giả, làm nghề buôn bán giày vải và gia nhập cộng đồng người Đức. Franz Kafka học xong trung học, vào đại học Đức, theo ngành luật, đỗ tiến sĩ năm 1906. Ông làm việc trong một hãng bảo hiểm tai nạn công nhân ở Praha, song vẫn theo đuổi sự nghiệp văn chương vốn yêu thích. Năm 1917, Kafka bị bệnh lao. Bảy năm sau, ông qua đời trong một viện điều dưỡng ở Kierling gần Viên, thủ đô Áo, vào lúc tưởng chừng ông tìm thấy cuộc sống hạnh phúc với một thiếu nữ Do Thái tên là Đôra Đimăng ông gặp năm 1923, sau nhiều lần tình yêu trắc trở trước kia.


 


Kafka viết văn bằng tiếng Đức. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, ông sáng tác không nhiều. Đã thế, lúc sinh thời, ông lại tự tay đốt nhiều bản thảo, nên độc giả chỉ được biết đến ông qua vài truyện ngắn, truyện vừa như Lời phán xét, Hóa thân... và tập truyện ngắn đầu tiên nhan đề Thầy thuốc nông thôn xuất bản năm 1919. Sau khi ông qua đời, một người bạn thân của ông là Măc Brôt đã cho in những bản thảo còn lại, tuy ông để lại di chúc đề nghị thiêu hủy tất cả tác phẩm của mình. Các tác phẩm quan trọng nhất của ông được ra đời trong hoàn cảnh ấy. Đó là những tiểu thuyết Vụ án, Lâu đài, Châu Mỹ và một số truyện ngắn khác. Ngoài ra còn một cuốn Nhật ký riêng tư ông ghi chép đều đặn từ năm 1910 cho đến lúc qua đời.


 


Sống trong một xã hội quân chủ suy tàn trong lòng của chủ nghĩa tư bản đang ngày càng bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt dẫn tới cuộc bùng nổ ở Đại chiến I và Cách mạng tháng Mười Nga, lại ở vào vị trí giao lưu của các nền văn hóa Xlavơ, Do Thái và Đức, tư tưởng của Kafka là cả một khối mâu thuẫn. Ông thấy rõ những mặt xấu xa của chủ nghĩa tư bản hàng ngày diễn ra trước mắt ông, ngay cả ở cách làm ăn của cha ông, một trong những nguyên nhân khiến cho quan hệ cha con luôn luôn căng thẳng. Ông khao khát một xã hội công bằng và có lúc đã tìm thấy ở Cách mạng tháng Mười Nga nguồn hy vọng chứa tran và tìm thấy hạnh phúc ở đấu tranh. Ông đã ghi trong Nhật ký riêng tư: “Con đường đấu tranh đã đưa lại cho tôi một niềm vui tràn ngập”.


 


Nhưng nỗi đau của một con người lúc đó không có tổ quốc cộng với bệnh tật và các dằn vặt khác trong đời tư đã vít Kafka xuống, đẩy ông vào tâm trạng bi quan không lối thoát, nó được tô đậm thêm bằng màu sắc của đạo Do Thái , và cả của tư tưởng hiện sinh bắt nguồn từ Kierkơgô. Niềm phấn khởi của ông trước sự kiện Cách mạng tháng Mười không đủ sức nâng đỡ cho tâm hồn ông. Thậm chí ông còn xem cách mạng như một vấn đề tôn giáo và có lần đã nói với nữ văn sĩ Tiệp Milêna Pôlăc: “Bản chất tôi chính là lo âu”.


 


Trong hầu hết các tác phẩm của Kafka, những tư tưởng bi quan ấy được khái quát lên thành vấn đề “thân phận con người” và được diễn tả bằng những biểu tượng, hay có thể nói là bằng hình thức huyền thoại hiểu theo nghĩa là những hình tượng nghệ thuật gián tiếp có quy mô lớn lung linh nhiều ý nghĩa mơ hồ.


 


Vụ án được viết vào khoảng năm 1914 và in lần đầu năm 1926 ở Đức. Cũng như các bản thảo khác còn lưu lại của Kafka sau khi ông qua đời, Vụ án chưa phải là một bản thảo hoàn chỉnh. Theo Măc Brôt cho biết, cuốn tiểu thuyết chưa có cả nhan đề, nhưng lúc sinh thời, Kafka vẫn thường nói với ông rằng tác phẩm ấy tên là “Vụ án”. Tiểu thuyết có 10 chương trọn vẹn, tiêu đề của từng chương là của tác giả nhưng thứ tự các chương chưa được sắp xếp. Ngoài ra còn một số chương đang viết dở dang. Măc Brôt đã chỉnh lý, sắp xếp và gạt ra ngoài những chương còn dang dở. Tuy thế, do phong cách của Kafka ở đây, thêm bớt chương này hay chương khác dường như không ảnh hưởng mấy đến cơ cấu của toàn cục nên tác phẩm như ta có hiện nay vẫn có thể coi là một đơn vị tiểu thuyết trọn vẹn.


 


Thông thường, mỗi tác phẩm là một thế giới do nhà văn dựng lên theo những quy luật riêng nhằm phản ánh một mảng hiện thực hoặc diễn tả một vấn đề gì đấy. Có thể nói mỗi tác phẩm là một hệ thống ký hiệu nhằm đem đến cho bạn đọc một thông báo. Quan hệ giữa ký hiệu và thông báo, hay cũng có thể nói quan hệ giữa chữnghĩa, là quan hệ giữa tác phẩm và điều tác phẩm muốn nói với chúng ta. Hai mặt đó không trùng khít mà luôn có khoảng cách. Chính vì thế, Aragông, nhà văn Pháp đã viết: “Tiểu thuyết là một ngôn ngữ trong đó các từ mang nghĩa không hoàn toàn khớp, thậm chí khác hẳn với nghĩa được xác định trong các từ điển”. Đó cũng chính là khoảng cách nghệ thuật giữa cái thế giới được sáng tạo trong tác phẩm và cái thế giới tương ứng có thực ở ngoài đời.


 


Mỗi trường phái, mỗi nhà văn có cách riêng xây dựng thế giới nghệ thuật của mình. Nói chung, người ta dùng các chất liệu do thế giới hiện thực cung cấp; các hạng người với tư tưởng, tình cảm, quan hệ xã hội của họ, không gian, thời gian, đường phố, làng quê, nhà cửa, cây cối, đồ đạc, súc vật... Các chất liệu ấy được tổ chức lại theo quy luật thông thường. Có khi người ta đưa vào tác phẩm những chất liệu không có trong thực tế như thần thánh, ma quỷ, những con người khổng lồ, những súc vật biết nói, các chốn bồng lai và các tầng địa ngục, nhưng vẫn tổ chức theo cung cách quen thuộc của đời thường. Chẳng hạn, các thần thánh cũng yêu đương, căm giận, ghen tuông... như con người.


 


Cách làm của Kafka trong Vụ án có khác. Ở đây, nhà văn sử dụng chất liệu hiện thực; đường phố, nhà trọ, tòa án, ngân hàng, khu văn phòng, chỗ ở của họa sĩ, các ông chánh phó giám đốc, các nhân viên, kỹ nghệ gia, linh mục, đao phủ... Không có những chất liệu hoang đường như kiểu người biến thành gián trong truyện Hóa thân. Nhưng các chất liệu ấy lại được nhà văn làm biến dạng đi, tổ chức lại theo một kiểu cách riêng, khác hẳn với kiểu cách vốn có của đời sống thực, Kafka đưa các tòa án ra các vùng ngoại ô nhớp nhúa, lên tầng áp mái của những khu cư xá; ông bố trí phòng xử án trong căn buồng vừa chật, vừa tối, vừa thấp lè tè; ông sắp xếp khu văn phòng tòa dọc các dãy hành lang cửa đóng kín mít; ông để cho họa sĩ sống trong căn phòng bé như cái hộp không có lỗ thông hơi...


 


Trong cái khung cảnh thực mà hư, hư mà thực hoàn toàn biến dạng đi dưới ngòi bút nghệ thuật của nhà văn là một sự việc diễn ra cũng không theo nếp thông thường. Trong truyện có một người bị bắt, nhưng lại có thể nói Jôzep K. không bị bắt. Rõ ràng, anh không bị giam, anh vẫn được tự do, vẫn đi làm bình thường, thậm chí có thể nói anh muốn đến hầu tòa hay không cũng được. Đúng là Jôzep K. có một lần bị xử ở tòa, nhưng cũng có thể nói anh chưa được xét xử, vì hôm ấy tòa chỉ hỏi anh một câu hết sức vu vơ, hoàn toàn sai sự thật rồi chấm dứt luôn ở đó... cho đến gần một năm sau, anh bị dao thọc vào tim.


 


Nhà văn còn dùng nhiều biện pháp để làm cho cái thế giới nghệ thuật được xây dựng trong tiểu thuyết càng mờ ảo hơn nữa. Cái thành phố nơi xảy ra “vụ án” không được nêu tên và nhà văn cũng chẳng nhắc đến tên một đường phố nào. Nhân vật chính mang một cái tên viết tắt, không quê quán, lai lịch; ta chỉ biết anh có một ông chú, anh ba mươi tuổi, là nhân viên ngân hàng và vướng vào một vụ án cũng mơ hồ nốt, thế thôi. Người yêu của anh, ta chỉ được nghe nhắc đến loáng thoáng. Nhiều nhân vật khác không có tên, hoặc nếu có tên thì hình ảnh nhân vật cũng mơ hồ chẳng kém. Và hầu như chẳng nhân vật nào làm cái công việc của mình. Ta không thấy Jôzep K. hiện ra với tư cách nhân viên nhà ngân hàng; các ông chánh phó giám đốc không được miêu tả ở cương vị của họ; luật sư Hun không bào chữa cho bị cáo; họa sĩ Titoreli không vẽ tranh; hai tên đao phủ thực ra chẳng phải vốn là đao phủ...


 


Toàn bộ tác phẩm trở thành một huyền thoại có thể giải mã theo nhiều cách khác nhau. Có thể hiểu sự việc không thật được đặt vào trong khung cảnh không thật kể trên lại nhằm diễn tả một thực tế có thực là cuộc sống ngột ngạt trong xã hội tư sản Tiệp Khắc dưới thời đế quốc Áo - Hung. Những con người hiền lành như Jôzep K. trở thành nạn nhân đau khổ của một thiết chế xã hội đầy bất công phi lý. Kafka dùng biện pháp nghệ thuật độc đáo nhằm tạo hiệu quả tâm lý ở bạn đọc. Để diễn tả tình cảnh gay go không lối thoát của Jôzep K., tiểu thuyết đem lại cho chúng ta cảm giác rõ rệt tòa án có mặt khắp nơi, ở mọi khu cư xá, và già trẻ, lớn bé, đàn ông đàn bà đều là người của tòa, kể cả nghệ sĩ, kể cả linh mục. Để truyền cho chúng ta cảm giác về cuộc sống ngột ngạt, tù túng của Jôzep K., nhà văn đưa không khí ngột ngạt và kích thước chật hẹp vào khắp nơi, từ phòng xử án đến khu văn phòng tòa, từ nhà luật sư đến phòng họa sĩ, từ nhà thờ tối om đến tòa giảng vừa thấp vừa chật...


 


Có thể hiểu vụ án của Jôzep K. và khung cảnh nêu trong tiểu thuyết một cách xa xôi hơn. Jôzep K. là nạn nhân của một xã hội bị tha hóa. Trong xã hội tư sản, không phải ai cũng ý thức được điều này. Mọi người đã quá quen với tình trạng đó đến mức không còn cảm thấy nặng nề, cũng như họa sĩ Titoreli không cảm thấy chỗ ở của mình là ngột ngạt, và hai nhân viên khu văn phòng kia thậm chí có thể bị ngất khi ra chỗ thoáng khí. Jôzep K. là người duy nhất cảm nhận được sự thật, vì vậy anh trở thành một cá nhân cô đơn bị cả một xã hội bao vây và không thể tồn tại được.


 


Trong xã hội bị tha hóa, mỗi cá nhân chỉ còn là một cái bóng vật vờ, một hồ sơ, một con số, một kẻ không tên, một cái tên viết tắt như Jôzep K. Trong Vụ án hay K. trong Lâu đài. Nhưng Jôzep K. hay K. lại làm cho ta nghĩ tới Kafka và hướng ta về một cách giải mã khác. Vụ án nói về tình cảnh đau khổ của bản thân nhà văn, một người Do Thái thiếu tổ quốc, sống khắp nơi, và ở đâu cũng lạc loài, xa lạ với mọi người, một người thể chất yếu đuối, tuy lúc đó chưa phát hiện ra bệnh lao, nhưng luôn luôn cảm thấy cái chết lơ lửng trên đầu, truy nã khắp nơi, như chính ông sau khi chết một chục năm rồi, bọn phát xít Hitle còn thiêu đốt tác phẩm của ông như chúng đã giết hại những bà con của ông.


 


Một cái tên viết tắt còn có thể hiểu là bất cứ ai, như khi ta nói ông A ông B. Vụ án nhìn dưới góc độ ấy lại trở thành cuốn tiểu thuyết viết về vấn đề “thân phận con người” phảng phất màu sắc của tư tưởng hiện sinh. Thời gian gói tròn trong một năm dường như để diễn tả cuộc đời con người. Con người sinh ra ở đời là đã có cái án treo lơ lửng trên đầu mình, như kẻ phạm tội, tuy chẳng biết tội gì, chỉ có một điều chắc chắn là cuối cùng sẽ chết; những ngày đang sống trên thế gian chỉ là “hoãn xử” hoặc “tạm tha”. Đó là điều bí ẩn không tài nào hiểu nổi như câu chuyện kẻ đi tìm giáo pháp trong bài giảng đạo của linh mục ở nhà thờ. Jôzep K. quan niệm đó là điều phi lý khủng khiếp nhưng không thể nào tránh khỏi, nên qua một vài phản ứng khá mãnh liệt lúc ban đầu, về sau anh trở thành một con người dửng dưng đến kỳ lạ, nhẫn nhục, cam chịu, thậm chí “tự nguyện” chạy đến với cái chết, chạy trước cả đao phủ. Điều đó thể hiện cả ở giọng văn bằng phẳng, đều đều, không xúc cảm, rời rạc. Một cuốn tiểu thuyết chưa hoàn chỉnh, chưa sắp xếp mạch lạc dường như lại phát huy tác dụng ở đây.


 


Vụ án do đó trở thành một tiểu thuyết phức tạp lẫn lộn nhiều yếu tố tích cực và tiêu cực. Bên những giá trị hiện thực với ngòi bút sáng tạo tài tình là tư tưởng bi quan sâu sắc dẫn đến tuyệt vọng.

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
21.08.2019
Lâu đài (tiểu thuyết)
Mục lục: 1  2  3  4  5  6 
11.07.2011
Vụ án, Hóa thân (tiểu thuyết)
Mục lục: 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12