tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24047940
19.04.2018
Lại Nguyên Ân
Người “nhưng tuồng” là ai?

Còn nhớ, khi tìm lại được văn bản đăng báo kỳ III và kỳ IV phóng sự Vẽ nhọ bôi hề của Vũ Trọng Phụng, đoạn tác giả tìm gặp và trò chuyện với ông Cửu Giò, một diễn viên chuyên đóng vai Đổng Trác rất có ấn tượng, người có vai trò lớn ở rạp Quảng Lạc tại Hà Thành đương thời; khi thấy ký giả họ Vũ gọi ông Cửu Giò là “người nhưng tuồng của rạp Quảng Lạc”, tôi thấy cần phải đi tìm nghĩa của từ “nhưng tuồng” này mà tôi ngờ là một từ trỏ một vai trò đáng kể trong hoạt động sân khấu.

Thử tra Từ điển từ cổ của Vương Lộc (Hà Nội-Đà Nẵng: 2001, Nxb. Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học) thấy có từ nhưng với hai nét nghĩa: 1) ngừng, nghỉ; - Ví dụ (Vd.): Non cao Bàn Thạch nào dời chuyển/ Nước cả Hoàng Hà há thuở nhưng? (Quan Âm Thị Kính); Làm không nhưng cánh tay (dẫn lại ví dụ của Génibrel); 2) miễn, hoãn; Vd.: nhưng nợ, nhưng thuế (dẫn lại ví dụ của Huình Tịnh Paulus Của). Nét nghĩa thứ hai này vốn đã thấy trong Từ điển Việt-Bồ-La (1651) của A.de Rhodes, trong đó nhưng, người nhưng (và dưng) được giải nghĩa là “người được miễn thuế”. Ở đây chưa thấy cái nghĩa cần tìm cho từ “nhưng” trong tổ hợp “người nhưng tuồng”.


Tìm tra Đại Nam quấc âm tự vị (1895,1896) của Huình Tịnh Paulus Của thì, ngoài nét nghĩa được Vương Lộc nhắc ở trên, còn tìm được ví dụ tương đương với cách gọi của Vũ Trọng Phụng. Đó là ví dụ “nhưng hát bội” được H.T.Paulus Của giải là “người thuộc tuồng làm thầy hát bội, thầy tuồng”.


Đến đây đã tương đối rõ, song vẫn cần tìm hiểu thêm để được giải đáp về vai trò cụ thể của người được gọi là “nhưng tuồng” kia.


Và tôi đã được giải đáp khi đọc lại tuần báo Phụ nữ tân văn.


Số là hồi đầu năm 1934, nữ ký giả Nguyễn Thị Kiêm của tuần báo Phụ nữ tân văn có nêu một số nhận xét về sân khấu cải lương ở Sài Gòn đương thời; tiếp đó một số bạn đọc cũng vì quá yêu tài năng của các đào Năm Phỉ, Phùng Há nên lên tiếng phiền trách về cách đặt tuồng, xếp cảnh, sắm y phục, sử dụng dàn nhạc của không ít vở diễn đương thời...


Ông Diệp Văn Kỳ khi đó vừa là một ký giả có tiếng, vừa là một tác giả có kịch bản được dựng diễn ở sân khấu Sài Gòn, đã vừa hưởng ứng luồng dư luận nêu trên, vừa góp phần chỉ ra nguyên nhân. Bài của ông có nhan đề Tại sao trong điệu cải lương lại có nhiều khuyết điểm như thế? (Phụ nữ tân văn, s. 259, ngày 20 Septembre 1934). Điều lý thú đối với tôi là sự giải đáp vai trò của người “nhưng” trong các gánh hát xưa.


Nhân nói về tuồng “cương”, Diệp Văn Kỳ viết: Tuồng “cương” nghĩa là không tuồng chi hết. Mỗi ban hát bộ đều có một ông “nhưng”, hễ bao giờ muốn đem sự tích chi trong truyện sách nào ra hát, thì cứ do anh “nhưng” dàn lớp một cách sơ sài rồi cắt nghĩa sơ sài cho đào kép ra hát. Bất kỳ ông tướng nào, anh kép nào, chị đào nào, ở đời nào, thuộc về sự tích nào, mà hễ đã là tướng, là đào, là kép thì cũng chỉ nói bấy nhiêu câu giống hệt nhau không khác một chữ. Cái cách dàn lớp, đặt tuồng đơn sơ cho đến nỗi một đôi khi hai anh ra đánh nhau trên sân khấu một hồi lâu mà không biết anh nào phải thua hay phải chết, rồi phải vừa đánh vừa hỏi nhau: “Tao chạy hay mầy chạy? - Mầy chết mà ... chết đi!” Đó, cái nghề diễn kịch của Nam Kỳ trong lúc sanh ra điệu hát “cải lương” là vậy đó.


Ông nói về cách làm cải lương thời đầu: Cải lương là sửa đổi điệu hát bộ cho hay cho tốt chớ chưa phải là chế ra một điệu hát mới; bỏ tuồng “cương” thì bỏ, song trong óc những người lập gánh hát bao giờ cũng còn nhớ anh “nhưng” ngày xưa, bao giờ họ cũng còn coi những tác giả của mấy tấn tuồng họ đã đem ra hát chẳng khác gì mấy anh “nhưng” ở trong mấy gánh hát bộ ...


... Mỗi gánh hát bộ có một “nhưng” thì mỗi ban cải lương cũng đều có một vài người mà họ đặt cho một cái tên tây rất mới mẻ là “Mr. X., rédacteur de la Troupe A.B.C.”. Ngày sau ai có làm tự vị Pháp-Việt hay Việt-Pháp chi thì cũng nên nhớ mà thêm vô hai chữ: rédacteur là nhưng, nhưng là rédacteur vậy!”


Theo Diệp Văn Kỳ, “trong điệu hát cải lương sở dĩ càng ngày càng có nhiều điều lố lăng khuyết điểm, là chỉ do bởi tuồng không có tác giả (auteur), hát không có người xếp cảnh (metteur en scène), chớ chẳng chi khác.”


Tạm không động đến việc nhận định tình trạng sân khấu cải lương những năm 1930s, xin thu hẹp câu chuyện trong việc định danh một vài vị trí nhân sự trong lao động sân khấu. Diệp Văn Kỳ cho biết vai trò người “nhưng” trong các gánh hát xưa, đến thời ông, được mượn từ tiếng Pháp rédacteur để gọi. Câu ví dụ “Mr.X., rédacteur de la Troupe A.B.C.” dịch ngược về thời xưa sẽ là “Ngài X., người nhưng tuồng của gánh hát A.B.C.”, tức là giống với cách Vũ Trọng Phụng gọi ông Cửu Giò. Nhưng đặt trong khung cảnh thời hiện đại, từ rédacteur sang tiếng Việt thường được dịch là “biên tập”. Công việc “biên tập” ở Việt Nam từ đầu đến giữa thế kỷ XX được hiểu như là soạn, biên soạn. Những cây bút viết cho Đông Dương tạp chí (11913-1919) như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục ... đều được gọi là những nhà biên tập. Những ở báo chí, xuất bản, sân khấu từ những năm 1950 trở đi thì “biên tập” không phải là người viết ra tác phẩm, anh ta cũng cũng không nhúng bút vào tác phẩm của người khác, thế mà sự có mặt của anh ta lại là cần thiết trong suốt quá trình chuẩn bị, dựng diễn, in ấn công bố một tác phẩm (của tác giả khác), -- đó là nghề của anh ta.


Trở lại cách hiểu và cách dùng chữ ở nửa đầu thế kỷ XX thì việc gọi người “nhưng tuồng” là rédacteur có cái lý của nó.


Ta nhớ rằng đến lúc ấy ở sân khấu Việt Nam đã xuất hiện kịch nói, nhưng vai trò người tổ chức hành động nghệ thuật trên sân khấu mà tiếng Pháp gọi là metteur en scène vẫn chưa định hình trong tiếng Việt: có lúc người ta gọi là “người xếp cảnh”, có chỗ người ta gọi là “nhà dàn kịch”; chỉ đến sau những năm 1960 mới ổn định cách gọi vị trí ấy là “đạo diễn” (người làm cái nghề tương đối mới này cũng được gọi khác nhau ngay trong các thứ ngôn ngữ gần nhau về nguồn gốc, ví dụ tiếng Pháp gọi là metteur en scène hoặc metteur en onde; tiếng Anh gọi là director, còn tiếng Nga thì gọi là rezhissër, mượn từ régisseur mà người Pháp chỉ dùng để trỏ người trợ lý đạo diễn).


Công việc của người “nhưng” trong các gánh hát xưa, như Diệp Văn Kỳ mô tả, cũng có chỗ gần với công việc của nghề đạo diễn, đó là “dàn lớp một cách sơ sài” từ các sự tích trong sách trong truyện, và “cắt nghĩa sơ sài cho đào kép ra hát” tức là chỉ dẫn diễn xuất cho diễn viên.


Tuy vậy, công việc dàn dựng, chỉ dẫn diễn xuất nói trên không mang tính sáng tạo độc đáo, vì người “nhưng” và các đào kép làm việc trong khu vực nghệ thuật cổ truyền vốn mang tính khuôn mẫu hóa, hình thức hóa khá cao. Như Diệp Văn Kỳ viết, “bất kỳ ông tướng nào, anh kép nào, chị đào nào, ở đời nào, thuộc về sự tích nào, mà hễ đã là tướng là đào kép thì cũng chỉ nói bấy nhiêu câu giống hệt nhau không khác một chữ”. Các đào kép cũng thông thạo các khuôn mẫu tương tự người “nhưng”. Vì vậy người ta đã gọi vai trò ấy là rédacteur chứ không phải metteur en scène.


Đặt trong quan hệ với việc tổ chức hoạt động nghệ thuật trên sân khấu, người “nhưng” của các gánh hát xưa có vai trò can thiệp, can dự vào đó ở mức nhiều hơn, tích cực hơn so với người biên tập phim truyện nhựa, phim truyện truyền hình, sân khấu truyền hình ... song vai trò của người “nhưng” ấy lại không thể so với vai trò người đạo diễn của sân khấu, điện ảnh và truyền hình hiện đại trong việc in dấu những giải pháp cá nhân, phong cách cá nhân của mình lên tác phẩm sân khấu, điện ảnh, truyền hình.


Đó là thu nhận của tôi về chức danh người “nhưng” trong các gánh hát xưa, qua việc tìm tòi hàm nghĩa một từ “nhưng” còn sót lại.


1/9/2003


LNA/ facebook  18-4-2018.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tìm hiểu số lượng cống thuế hàng năm dưới thời Trung Quốc đô hộ nước ta - Hồ Bạch Thảo 25.09.2018
Campuchia ngả theo Trung Quốc có ý nghĩa gì cho chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ? - Charles Edel 24.09.2018
“Vành đai con đường” (BR): Tương lai của bẫy nợ và phụ thuộc - Nhuận Quảng Trí 24.09.2018
Cô gái làm sụp đổ nền ngụy khoa học - Tao Babe 18.09.2018
Văn tế tướng sĩ trận vong - Tư liệu sưu tầm 18.09.2018
Nhìn lại mùa Xuân khói lửa 1789 - Chính Đạo 17.09.2018
Huyện Phòng Thành - Quảng Tây - nguyên là đất Việt Nam/ Tài liệu “Dân tộc Kinh ở Quảng Tây”. - Tư liệu sưu tầm 16.09.2018
Nghĩ về đất - Vũ Thư Hiên 16.09.2018
Phòng Thành: Cộng đồng người Kinh trên đất Trung Quốc: 500 năm nét Việt không phai nhòa - Tư liệu sưu tầm 16.09.2018
Biên giới Việt Nam và Trung Quốc qua các triều đại quân chủ - Tư liệu sưu tầm 14.09.2018
xem thêm »