tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24020826
08.03.2018
Trần Thanh Phương
Giáo sư Trần Văn Giàu – cây đại thụ của ngành Sử học Việt Nam



Trước khi kể vài mẩu chuyện về Giáo sư Trần Văn Giàu, tôi xin nói ngay rằng, tôi chưa bao giờ có vinh dự được nghe Giáo sư giảng bài ở các giảng đường. Giáo sư dạy khoa Sử của Đại học Tổng hợp, còn tôi học khóa Văn bên Đại học Sư phạm Hà Nội. Nhưng bao giờ tôi cũng gọi Giáo sư bằng Thầy. Sàu này có lần Giáo sư nói với học trò của mình: “Mấy cô, mấy chú gọi tôi là thầy, tôi không dám nhận đâu. Tôi có may mắn được là người lên lớp cho mấy cô, mấy chú chứ còn làm thầy khó lắm. Không phải cứ ai lên lớp cho mình là đã có thể trở thành thầy mình đâu. Đời tôi chỉ có hai người thầy. Đó là Cụ Hồ dạy tôi làm người có ích cho dân, cho nước mình. Còn khoa học Lịch sử dạy tôi phải trung thực. Trung thực với đời khó mà dễ. Còn trung thực với mình mới khó. Vì mình có trung thực với mình hay không chỉ có mình mình biết mà thôi”.


Giáo sư Trần Văn Giàu sinh ngày 11-9-1911 (có tài liệu ghi ông sinh ngày 6) tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An (nay là Long An), nơi phần lớn nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, rừng tràm, nước phèn, dân ít được học hành. Trước đây, những người học cao như cụ Nguyễn Thông, Nguyễn Hữu Thọ (đều quê ở Long An) không nhiều. Giáo sư kể: “Ông cha của tôi đã từng là lính của khởi nghĩa Thủ Khoa Huân, cách nhà tôi không bao xa. Gia đình thân tộc có nhiều người đã hy sinh trong khởi nghĩa. Tôi lớn lên trong bối cảnh đó của quê hương. Còn nhớ hàng năm theo gia đình đi tảo mộ, tôi được cùng mọi người thắp nhang, tảo mộ bảy nghĩa quân bị Tây bắn một loạt gọi là “Mả Bảy”. Năm 15 tuổi, tôi lên Sài Gòn học tại trường trung học Chas-seloup Laubat (nay là Trường Trung học Lê Quý Đôn)”. Năm 18 tuổi, ông xuất dương qua Pháp với ý chí học thật giỏi, “tìm một cái gì mới” ít ra cũng đạt được bằng tiến sĩ luật khoa và văn khoa để trở về viết được những bài báo xuất sắc, cổ vũ lòng yêu nước, ghét Tây, mở văn phòng Luật sư để bênh vực quyền lợi cho đồng bào mình; giúp đồng bào vơi bớt nỗi khổ.


Trong hồi ký, Giáo sư Trần Văn Giàu dành nhiều trang viết về người mẹ của mình. Ông viết: “Chuyện lớn phải lo mà chuyện nhỏ đừng quên. Việc công là trọng mà việc tư thỉnh thoảng cũng phải nhớ. Tôi suy nghĩ lẩn thẩn như vậy, khi ở chân trời góc biển, tôi luôn luôn nhớ đến mẹ, đến vợ, đến làng quê, nhớ lắm.


Má tôi cưng tôi nhất nhà, bởi vì tôi là con út, là đứa con trách nhiệm nuôi cha mẹ lúc tuổi già và giỗ cha mẹ khi mất. Nhưng bao nhiêu hy vọng của cha mẹ gởi vào tôi đều chẳng được chút gì. Cha tôi mất khi tôi còn ở tù. Không biết rồi khi má tôi theo cha tôi, tôi sẽ có ở nhà không, hay lại cũng ở chân trời góc biển?”.


Một lần ông hoạt động gần nhà, vào một đêm gà gáy mấy chập, trăng non sắp mọc, ông về nhà ôm hôn mẹ, chị và hai cháu rồi gạt nước mắt ra đi, không quên vuốt đầu, vuốt lưng con vện và để nó gặm tay, nó vừa gặm vừa ngoáy đuôi lia lịa. “Tôi lại vo quần, xuống mương, ra bằng ngõ đã vào. Đứng yên trong bụi một lúc, không thấy động tĩnh gì, tôi thong thả lên đường, chốc chốc ngoái lại mộ cha, nhà mẹ, vuông tre thân thiết đã chứng kiến mình sinh ra, lớn lên vào đời chiến sĩ. Tôi nào dè gặp mẹ lần này là lần cuối. Tháng Tám năm 1945, cách mạng thành công, tôi chưa kịp thu xếp một ngày về quê thăm mẹ, thì kháng chiến chống Pháp nổ ra. Việc lớn này chưa làm lại xảy ra việc khác lớn hơn. Má tôi mất năm 1950, khi ấy tôi đã từ mặt trận Campuchia về ở Việt Bắc. Tôi ân hận mãi không được gặp mẹ tôi ban ngày hay dưới ánh sáng đèn điện để ghi lại trong đáy mắt chân dung người mang nặng đẻ đau sinh ra đứa con bất hiếu này…”.


Đối với những người trên dưới 20 tuổi khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Giáo sư Trần Văn Giàu được biết đến với một sức hấp dẫn lớn, lòng ngưỡng mộ lớn. Tháng 8-1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhân dịp lễ Quốc khánh năm ngoái 2009, ông nhận huy hiệu 80 năm tuổi Đảng. Năm 1931, ông được cử sang Liên Xô học tại trường Đại học Phương Đông ở Mátxcơva. Hai năm sau trở về nước tiếp tục hoạt động cách mạng ở Nam Bộ. Qua hai lần bị địch bắt đày đi Côn Đảo hay biệt giam ở trại Tà Lài, ông được trui rèn trong môi trường thử thách khốc liệt.


Khi thực dân Pháp tái xâm lược nước ta, Giáo sư cùng Xứ ủy đã tổ chức cuộc họp lịch sử tại nhà số 629 đường Cây Mai (nay là đường Nguyễn Trãi) vào đêm 23-9-1945 kêu gọi toàn dân nhất tề đứng lên kháng chiến theo lời thề “Độc lập hay là chết!”. Đó là một quyết định táo bạo, sáng suốt, chính xác và kịp thời. Có nhiều chuyện kể về cuộc đời hoạt động cách mạng của ông khi ở nước ngoài hay trong thời kỳ ông là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ rồi Chủ tịch Ủy ban Hành chính Nam Bộ. Làm cách mạng chuyên nghiệp là bước ngoặt đầu tiên của tuổi trẻ Trần Văn Giàu.


Trong hồi ký của mình, ông viết: “Từ lâu, 1930, tôi thuộc vào loại cán bộ mà thời ấy được người ta gọi là “thoát ly gia đình”. Cái từ ngữ “cán bộ thoát ly gia đình” ở Việt Nam trước cách mạng cũng giống như từ “cán bộ cách mạng chuyên nghiệp” nghĩa là không làm gì khác hơn là làm cách mạng, số đồng chí đó để hết thời giờ của mình vào sự hoạt động cách mạng. “Thoát ly gia đình” để làm gì? Có thể để làm cách mạng, có thể để làm bất cứ cái gì mà trong gia đình mình không làm được, không nhất thiết phải làm cách mạng. Tuy vậy, tôi vẫn thích thú với khái niệm “thoát ly gia đình” mà anh em ta dùng thời nọ, bởi vì khái niệm ấy trong lịch sử xuất hiện của nó đã có thời bao hàm một ý nghĩa triết lý - chính trị…”.


Năm 1952, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định mở trường Đại học Liên khu Tư, do Giáo sư Đặng Thai Mai làm Giám đốc và Giáo sư Trần Văn Giàu làm Phó Giám đốc. Trường này sau đó là trường Sư phạm cao cấp Khoa học xã hội và Khoa học tự nhiên. Là tiền thân của các trường Đại học Việt Nam sau này.


Mùa thu năm 1952, thầy Giàu cuốc bộ hơn 100 cây số từ Thanh Hóa vào Nghệ An để dạy môn Triết học cho sinh viên. Tin thầy Trần Văn Giàu vào Nghệ An đã làm xôn xao các thầy giáo và trí thức Nghệ An - trung tâm văn hóa kháng chiến thời đó - về sự có mặt của nhân vật nổi tiếng này, đặc biệt là những người đã từng đọc sách của Giáo sư như cuốn Duy vật luận nước Pháp, Triết học phổ thông… xuất bản ở Việt Bắc, nhất là tập sách nhỏ ghi lại buổi diễn thuyết của Giáo sư tại Phú Thọ với nhan đề Đảng Cộng sản và Đảng trí tuệ Việt Nam. Vì vậy, bao nhiêu người mong ước được nghe thầy Giàu giảng.


Là nhà cách mạng, nhà hùng biện, nhà triết học, thầy của nhiều thế hệ người thầy của môn khoa học lịch sử, Giáo sư Trần Văn Giàu còn là hạt nhân tập hợp lực lượng nghiên cứu khoa học và đào tạo ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung. Ai đến với Giáo sư cũng được. Cổng nhà ông chỉ khép hờ ít khi khóa. Nhắc đến những bộ sử Việt Nam thế kỷ 20 là nhắc đến Giáo sư Trần Văn Giàu. Ông đóng góp cho đất nước hơn 150 công trình nghiên cứu triết học, tư tưởng, lịch sử và văn học. Sách của Giáo sư nếu đem ra cân thì chắc chắn có trọng lượng lớn hơn trọng lượng của cơ thể giáo sư; nếu đem ra xếp chồng lại thì cao hơn chiều cao của Giáo sư. Có lần Giáo sư tâm sự: “Từ lúc tham gia cách mạng đến nay, tính ra chỉ có 31 ngày tôi không lao động, đó là lúc bị thực dân Pháp cầm tù trong căn phòng chưa đầy 4 mét vuông, bốn bề cách biệt nhà lao”.


Nhà ở của Giáo sư Trần Văn Giàu toàn sách là sách. Ông bà Giáo sư có một người con, nhưng không may mất từ nhỏ - từ những năm trước cách mạng. Ông thường nói: “Tôi không có con, con tôi là những công trình khoa học, tôi thai nghén, mang nặng đẻ đau. Tôi có tới 150 công trình như thế”. Về sách vở, giáo sư Vũ Khiêu kể lại rằng: “Năm 1991, anh Trần Văn Giàu tròn 80 tuổi, tôi có viết tặng anh một đôi câu đối, ý nói anh có 3.000 tử đệ theo anh trên con đường anh đi (3.000 cuốn sách). Mỗi lần nhớ tới anh, tôi luôn luôn nhớ tới con số 3.000. Thời vua Mạnh Thường Quân, Tích Lăng Quân trong nhà luôn có 3.000 thực khách. Anh không phải Mạnh Thường Quân hay Tích Lăng Quân, nhưng anh cũng luôn có 3.000 “thực khách”. Họ không ăn gạo, thịt của anh nhưng lại sống và trưởng thành từ những món ăn quý hiếm hơn nhiều. Đó là chất xám mà anh rút ra từ trong đầu mình để nuôi dưỡng họ và dẫn dắt họ trên con đường quang vinh của cách mạng và khoa học”. Có lần ông hỏi chị Phạm Phương Thảo, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, sau này nên tặng tủ sách cho ai? Ngay lúc đó chị Thảo chưa trả lời được. Lần sau gặp lại, ông cho biết, thành phố cũng có nhiều sách, Thư viện thành phố có nhiều sách Trần Văn Giàu, có lẽ nên tặng những tủ sách này cho Long An - quê hương? Chúng ta biết, những năm cuối đời Giáo sư Trần Văn Giàu đứng ra sáng lập và tặng 1.000 lượng vàng từ việc bán căn nhà của mình để làm quỹ ban đầu cho giải thưởng khoa học Trần Văn Giàu. Theo tâm nguyện của Giáo sư, giải thưởng khoa học này trao hàng năm cho hai lĩnh vực mà cả đời Giáo sư nghiên cứu và giảng dạy, đó là lịch sử và lịch sử tư tưởng. Điều mà Giáo sư mong mỏi là các thế hệ tiếp nối sự nghiệp của Giáo sư, nhất là những nhà khoa học trẻ, sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu và sáng tạo hai lĩnh vực này trên vùng đất phía Nam của Tổ quốc (Nam Bộ và Nam Trung Bộ - B2 thời kháng chiến). Mỗi năm có hai giải, trị giá như nhau, một cho lĩnh vực sử học, một cho lĩnh vực tư tưởng. Yêu cầu của mỗi lĩnh vực là những phát hiện có tính sáng tạo, những gì mới, có ý nghĩa là những vấn đề chưa được nghiên cứu hay đã nghiên cứu nhưng chưa sâu, chưa có luận cứ khoa học giải thích chắc chắn, chưa in thành sách, hoặc đã in thành sách thì không quá hai năm kể từ ngày in và phát hành.


Một lần giáo sư Vũ Khiêu nói: “Chưa có một người Việt Nam nào khác viết nhiều như Giáo sư Trần Văn Giàu”. Hàng chục vạn trang sách đã được xuất bản. Những sách do Giáo sư viết đều là những công trình mà Giáo sư tự mình ghi chép lấy, tự mình soạn thảo đề cương… Người ta có thể viết nhiều trang và in nhiều sách nhưng khó tránh khỏi sự kể lể dài dòng, sự mô tả vô ích, sự luôn luôn lặp lại mình một cách không tự giác. Ở Giáo sư Trần Văn Giàu có một điều cần phải nêu lên và nhấn mạnh là trong tất cả các tác phẩm của mình, Giáo sư đều để lại một dấu ấn của riêng mình, một phát hiện mới với những quan điểm đầy thuyết phục, các tác phẩm về sử học của ông đều có sự hấp dẫn của văn và chiều sâu của triết.


Đọc bộ Giai cấp công nhân Việt NamLịch sử phát triển tư tưởng Việt Nam mà ông dày công viết từng chữ, từng trang, người đọc sẽ thấy những trang sử nhỏ từng giọt mồ hôi và cả máu của những năm tháng đầy biến động, đau thương của dân tộc.


Có một câu chuyện rất cảm động, rằng cuối năm 2004, Giáo sư Trần Văn Giàu đã giao bản thảo có tựa đề: Bản lĩnh Việt Nam cho Nhà xuất bản Trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh với lời tâm sự: “Bác bây giờ đọc chậm, viết chậm. Có cuốn này, bác tặng cho các con, bác tặng cho nhà xuất bản, bác không lấy nhuận bút đâu”. Đấy là tác phẩm nhỏ (không dày lắm) nhưng chứa đựng những tư tưởng lớn, được Giáo sư trình bày một cách rõ ràng, dễ hiểu, khúc chiết và mang đậm dấu ấn lời văn và giọng nói hào sảng của con người vùng Nam Bộ. Trong sách, Giáo sư lý giải vì sao nước Việt Nam đất không rộng, người không đông lắm mà trong lịch sử luôn luôn bị ngoại bang xâm lược, thôn tính mà đã đánh thắng. Tác phẩm như một lời nhắn gửi cho thế hệ sau hãy nối tiếp thế hệ cha ông, viết tiếp ngàn năm lịch sử.


Cuối cùng, tôi muốn kể một câu chuyện ít người biết. Đó là bác Giàu gái. Người ta thường nói, trong đời có nhiều điều kỳ diệu, tuyệt diệu, đôi khi tôi không tin, cho là nói cho vui. Nhưng khi nghe chuyện bác Giàu gái, tôi thấy quả là nhiều điều kỳ diệu, mà không thể nào viết ra trong vài dòng. Năm 1928, trước khi sang Pháp du học, anh thanh niên Trần Văn Giàu bị cha mẹ buộc phải đi hỏi vợ, vì “sợ anh sang bên ấy lấy vợ đầm, thành dân Tây, rồi quên quê hương xứ sở”. Vợ chưa cưới là cô Đỗ Thị Đạo, một thiếu nữ đẹp người, đẹp nết cùng quê Tân An. Tháng 5-1930, anh tham gia biểu tình trước dinh Tổng thống Pháp ở Paris để phản đối việc kết án tử hình Nguyễn Thái Học và 12 chiến sĩ của cuộc khởi nghĩa Yên Bái, anh bị bắt và đuổi về Việt Nam. Về nước, đám cưới được tổ chức, nhưng chỉ hơn một tháng sau, anh được cử sang Liên Xô theo học trường Đại học Phương Đông ở Mátxcơva (1931). Năm 1933, anh về nước nhưng không ghé qua nhà.


Trần Văn Giàu thoát ly gia đình đi làm cách mạng, rồi bị địch bắt giam nhiều nơi. Ở nhà không biết anh đi đâu, làm gì. Lúc bấy giờ có một quan huyện góa vợ xin hỏi cưới bà Đạo. Bà phải lánh vào trong chùa học dệt vải, làm tương, chao chờ chồng. Bà con luôn mang bên mình cuốn truyện thơ Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu. Hẳn bà muốn theo gương chung thủy của nàng Kiều Nguyệt Nga. Tháng 4-1940, ông mãn hạn tù. Bà Sáu Đạo đón ông ở cổng Khám lớn Sài Gòn. Thế là 10 năm sau ngày cưới, vợ chồng ông mới gặp lại nhau.


Nhưng “chưa vui sum họp đã sầu chia ly”. Chín ngày sau khi ông ra tù, ông lại bị địch bắt, giam ở Tà Lài (Biên Hòa) trong lúc bà Sáu không có ở nhà. Năm 1941, ông vượt ngục và tiếp tục hoạt động. Nhiều lần ông đi công tác qua nhà nhưng không ghé thăm mẹ già và người vợ trẻ. Cách mạng tháng Tám thành công, bà Sáu mới lên Sài Gòn gặp chồng. Nhưng vài tuần sau, ông được Trung ương điều ra Hà Nội. Bà Sáu về quê, sau đó ra bưng biền tham gia kháng chiến. Vợ chồng kẻ Bắc người Nam.


Sau này, ông Trần Văn Giàu kể: “Từ năm 1930 đến 1954, tôi bỏ nhà đi hoạt động cách mạng, bị tù đày, giam cầm hết sáu năm, rồi kháng chiến chống Pháp chín năm. Trong một phần tư thế kỷ ấy, vợ chồng tôi chỉ có mấy dịp sống bên nhau. Tôi để người vợ ở nhà vò võ một mình, đến khi gặp lại nhau thì tuổi xuân đã trôi qua…”.


Vì vậy, từ khi ra miền Bắc công tác, ông bà được sống gần nhau cũng như sau ngày thống nhất đất nước, bà trở lại sống và làm việc ở Sài Gòn, ông bà đã không rời nhau nửa bước. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9, ông bà Giáo sư Trần Văn Giàu được Nhà nước mời về Thủ đô Hà Nội dự lễ. Một nhà văn cao tuổi kể lại: Nhân dịp này, tôi được gặp lại ông bà Giáo sư Trần Văn Giàu. Tôi nói: “Lâu lắm rồi, được gặp anh chị tại Thủ đô, thật may mắn cho em. Tết Bính Tý (1996) tới đây, anh chị song toàn cùng vào tuổi 85. Em không có điều kiện vào trong đó dự lễ thượng thọ của anh chị. Xin anh chị hiểu cho hoàn cảnh của em”. Giáo sư Trần Văn Giàu nói: “Chú biết đó, cùng một tuổi Tân Hợi (1911) với nhau, lại vất vả gian lao hơn tôi mà bà nhà tôi còn sức bền để nâng giấc chăm nom, săn sóc tôi. Trong sự nghiệp của tôi, nhà tôi chiếm một nửa”.


Khi bà đã không còn nữa thì bình đựng tro xương cốt của bà vẫn được thờ ở phòng làm việc của ông, luôn luôn ấm áp khói hương. 5 giờ 20 phút ngày 16-12-2010, trái tim của Giáo sư Trần Văn Giàu ngừng đập. Ngày 26-12-2010, thi hài Giáo sư và tro cốt của bà Đỗ Thị Đạo cùng được đưa về An Lục Long yên nghỉ, để ông bà mãi mãi bên nhau trong mảnh đất tổ tiên mà ông bà nên vợ nên chồng.


Chúng tôi, những người thuộc thế hệ chỉ được nghe mà không được ít nhiều chứng kiến, càng không thể nói đến những sự đóng góp nhiều trong hai cuộc kháng chiến vừa qua. Ngày nay, chúng tôi đang tìm những bài học lịch sử trong sách vở. Có nhiều câu chuyện về các sự kiện của những ngày đã qua được người trong cuộc coi chỉ là việc bình thường, ai ở hoàn cảnh ấy ắt cũng hành động như vậy, nhưng thực ra lại rất lớn lao, rất thiêng liêng, rất quý với ngày hôm nay và cả đến mai sau. Một trong số ít những người trong cuộc đã để lại kho báu ấy là Giáo sư Trần Văn Giàu.


Thật hạnh phúc cho đất nước khi có cây đại thụ như Giáo sư Trần Văn Giàu.


TTP.


Báo Đại Đoàn Kết, ngày 6-9-2010 và 18-12-2010.


Nguồn: Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê. Tập Bút ký chọn lọc của Trần Thanh Phương, kỷ niệm 50 năm làm báo. NXB Hội Nhà văn, 04-2018.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Bội Trâm – Người đàn bà bất chấp tai ương - Ngô Minh 19.09.2018
Một chuyến làm báo ở Tây Nguyên - Thanh La 19.09.2018
Gián điệp quốc tế - Vũ Thư Hiên 07.09.2018
Ba ngôi mộ không có nấm mồ - Hà Đình Nguyên 06.09.2018
Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn - Nhiều tác giả 05.09.2018
Hồ Chí Minh - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyễn Khải - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyên Ngọc - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Syria, bóng đá & chiến tranh - Nguyễn Thu Trân 29.08.2018
xem thêm »