tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24299021
Tiểu thuyết
16.10.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


18. CHUỒNG CỌP CÔN SƠN


Nhưng cũng tại đây xuất hiện một nhân vật mới: Anh Don Luce.


Hôm đi hướng dẫn người Thượng ở Pleiku làm đất trồng lúa nước thay vì du canh như ông bà tổ tiên họ, anh đã gặp Đại đức Thiện Trí, Vụ trưởng vụ Sắc tộc thuộc Tổng vụ Cư sĩ. Trí nói:


- Dân biểu H. và Tâm Quang đang cùng thầy Nhựt Minh xây cất một bệnh viện miễn phí.


Don Luce vốn là một kỹ sư nông nghiệp theo đạo Tin lành Quaker từng mạnh mẽ lên án chiến tranh Đông dương. Anh đã sang Việt Nam đi khắp nơi giúp đỡ những người bị nạn như một cách chuộc lại lỗi lầm mà đất nước anh đang mắc phải.


Anh thường bận bộ bà ba vải thô màu chàm của người dân quê Bắc bộ, đội nón lá, đi dép râu, cầm đũa tre ăn cơm độn khoai với rau muống chấm mắm nêm. Nếu giọng nói tiếng Việt của anh không lơ lớ, cái mũi bớt lõ quanh bộ râu quai nón luôn cạo nhẵn thì thân hình không mấy đồ sộ với trang phục và cách sống đó, ít ai nghĩ anh là người Mỹ. Rất sành tiếng Việt, anh hỏi Thiện Trí:


- Tôi có lần được nghe bác sĩ Phiêu nói chuyện về dân biểu H. còn ông Tâm Quang thì tôi chưa biết.


Thầy Thiện Trí cười nhe cái miệng vốn đã hơi rộng của mình:


-  Anh đã gặp Tâm Quang nhiều lần tại chỗ tôi rồi chớ.


Luce nhíu mày cố nhớ nhưng cuối cùng lắc đầu. Mặt anh nhăn quéo lên, tuyệt vọng làm Thiện Trí không còn nhịn được:


- Ờ nhỉ, tôi quên đi mất, ở lưu học xá Huyền Trang người ta gọi Tâm Quang là Thích Trí Ngôn.


Luce nói:


- Ồ! Tưởng ai chớ Trí Ngôn thì quá quen!


Chuyến đó về Sài gòn, Don Luce tìm tới chùa Linh Sơn gặp Tâm Quang và cả hai đã đến nhà chàng 80 Nguyễn Thiện Thuật dùng bữa. Họ bàn chuyện tìm thêm nguồn tài trợ cho bệnh viện miễn phí.


Nhỏ hơn chàng hai tuổi, anh còn độc thân và hỏi ra mới biết, là bạn tâm giao của hai vợ chồng Earl Martin thuộc giáo phái Menonite đang dạy tiếng Anh thiện nguyện ở Quảng Ngãi. Don Luce và chàng rất hợp tính nết nhau và sớm cùng nhau trở thành đôi bạn thân.


Có Luce, chàng lại tự dưng được dịp tốt để dợt thêm ngoại ngữ. Don Luce rất thích thằng Hoa, con trai thứ hai của chàng bấy giờ mới hơn mười tuổi. Có khi anh mất nguyên cả một buổi sáng Chủ nhật cùng nó đánh cờ tướng. Nhờ đó, nó cũng bập bẹ tập nói tiếng Anh, bổ sung cho cái vốn từ ngữ ít ỏi ở trường. Những dịp đi Vũng Tàu, anh thường xin cho bé Hoa cùng theo. Giao thiệp nhiều với Don Luce, chàng thấy anh làm công tác xã hội chỉ là phụ mà cái chính là dựa vào công việc nầy, anh có phương tiện để sang Việt Nam, thu nhập càng chính xác, càng nhiều càng tốt tài liệu về cuộc chiến tranh tàn khốc, vô nhân đạo và phi lý nầy để tố cáo ra dư luận thế giới.


Điều nầy rất phù hợp với mục đích chính trị đối ngoại của cách mạng bấy giờ. Phước biết được sự việc cũng khuyến khích:


- Rất nên. Nhưng chúng ta cũng phải thật kín đáo.


Chính tại nhà chàng, 80 Nguyễn Thiện Thuật, quận 3, tập cáo trạng về chuồng cọp Côn Sơn nổi danh của Don Luce được cùng nhau trao đổi khá kỹ càng trước khi tung ra thế giới và đã tạo nên một tiếng vang rất lớn, góp phần không nhỏ làm cho chế độ tàn ác miền Nam bị ghê tởm, cô lập. Cuối cùng nó rệu rã và sụp đổ như đã thấy.


Don Luce thật can đảm. Năm 1973, anh bị mật vụ Thiệu cho là Cộng sản, bắt đánh đập tàn nhẫn, mình mẩy đẫm máu. Chúng trói anh lại rồi quăng lên xe Dodge mang lên Tân Sơn Nhất tống xuất về Mỹ. Nếu là người Việt Nam, anh đã phải chịu cùng số phận với Nguyễn Thái Bình.


Chàng rất ân hận đã không sao tìm ra cách đưa tiễn anh. Nghe nói về Mỹ, anh vẫn đeo đuổi lý tưởng hòa bình của mình, hợp tác với thượng nghị sĩ Fulbright, thành lập Ủy ban người Mỹ ủng hộ việc kiến thiết Việt Nam. Vậy mà, sau 75, có người nói anh là nhân viên CIA. Chàng không hiểu nổi đâu là sự thật. Khoảng những năm cuối 80, Don Luce có vài lần đến Việt Nam, làm việc với Bộ Xã hội và Bộ Ngoại giao.


Anh có ý tìm thăm chàng nhưng cán bộ phụ trách từ chối, nói thác rằng chàng không còn ở Sài Gòn. Thượng đế ơi! Xin hãy mở cánh cửa bí nhiệm của ngài để loài người luôn biết nhớ ơn, không vì quá hoài nghi như Tào Tháo mà trở thành bất nghĩa. Đạo nghĩa dân tộc ta đã dạy vậy, cha đã dạy vậy.


Trở lại với Tổng y viện Phật giáo ở xã Phước Long, Thủ Đức vốn được thành lập với mục đích tập hợp và tìm hiểu. Nhưng các nhà sư đều có ý đồ riêng khi tham gia theo cá tính của mỗi người: Nhựt Minh, Huệ Thành, Giác Nhiên... Gặp họ, chàng nhớ lại lời anh Tùng:


- Cái sở đắc của ta trong đời sống là được gặp những khuôn mặt lạ.


Tại sao ta phải đọc Tam Quốc Chí, Les Trois Mousquetaires?


Nếu cứ sống cuộc đời thường, và giả sử như không bao giờ đọc truyện, thì làm sao ta thấy được cái cốt cách hiếm thấy của những con người như Khổng Minh, Trương Phi, d'Artaignan...?


Nhớ có một lần chàng cùng quí sư Huyền Quang, Hộ Giác và Giác Nhiên đi cứu trợ nạn nhân chiến cuộc ở Gò Dầu, Tây Ninh.


Các vị nầy, trong giáo phái của họ, cũng như dưới mắt nhiều Phật tử miền Nam bấy giờ, là thần tượng tối cao. Gặp họ, quần chúng sụp xuống lạy, thành kính như có duyên lành được Bồ Tát thị hiện. Đặc trưng của tôn giáo là vậy. Không có cái ngưỡng vọng tâm linh đến gần như mê tín đó thì không còn đúng nghĩa là tôn giáo nữa.


Nhưng giữa chàng, một Phật tử tầm thường và các thầy, từ Thiện Hoa, Trí Phủ... từng được xem là Thánh tăng, không hề có sự phân biệt, của một bên là những vị tu hành đạo cao đức trọng với một bên là một đạo hữu, vừa mải vui chơi trong kiếp sống, vừa dọn mình để mỗi khi việc nghĩa cần đến, thì cũng hết lòng, dấn thân.


Có lẽ các thầy cũng biết vậy, nên đối với chàng, họ không hề giấu giếm cách sống riêng của mình. Ví dụ như thầy Thích Pháp Lan, bấy giờ bí mật làm Chủ tịch Tổ chức Phật giáo Cách mạng, thường khi chàng đến chơi bàn công việc xong, hai người uống trà. Chàng tâng bốc tài làm đối liễn của ông. Nhà sư khoái trá:


- Về khoản đó, đâu không biết chớ ở đất Sài Gòn nầy, tôi chưa thua ai.


- Lấy gì làm chứng?- chàng hỏi.


Ông vỗ đùi tự đắc:


- Anh coi, câu đối nôm Da trắng vỗ bì bạch nghe nói là của bà Đoàn Thị Điểm ra cho vị cống sinh nào đó muốn tới dê bả. Tương truyền là ổng bí tới ôm hận mà chết. Thì tôi, mời ông giáo sư văn chương kiêm dân biểu dỏng tai lên nghe nhá, Pháp Lan đã đối: Lưỡi đỏ ngó thiệt hồng.


Chàng phản bác: - Chưa ổn, lưỡi đỏ là cái gì?


Nhà sư cười ngất: - Giáo sư gì mà dở ẹt. Lưỡi đỏ, bác sĩ Tây ngày nay, người ta dịch là tiểu thần âm đó.


Petite lèvre, chàng không ngờ nhà sư bạo tới thế. Nhưng chàng cũng không khỏi cảm cho cái chân tình của ông, ông trò chuyện với chàng như với đứa con trai của mình. Người ta đồn là ông có vợ con rồi và mê đổ bát, sạt nghiệp tới phải vô chùa, mới đi tu, bán thế xuất gia.


Cũng như thế, ngày nọ chàng và ba thầy Huyền Quang, Hộ Giác, Giác Nhiên đi cứu trợ ở Trảng Bàng. Họ qua một cây cầu hư, xe phải dừng lại trong chốc lát, bên một cái quán đang thơm sực mùi thịt nướng. Chàng hỏi đùa:


- Đã quá bữa, các thầy nghe thấy cái mùi nầy ra sao, thơm không?


Thầy Huyền Quang trả lời, cũng giọng hài hước:


- Có chứ, tới ngài Huệ Trung Thượng sĩ mà còn ăn thịt nữa là.


Rồi ông cười tiếp:


- Riêng ngài Hộ Giác Nam Tông của chúng ta đây, thì đâu có cữ.


Hộ Giác vốn là tay bặt thiệp, rất thông minh, đối đáp nhanh trí:


- Thì đâu có cấm, Nam Tông chúng tôi đang mở cửa, mời các ngài cứ tự nhiên vào mà tu theo Tiểu thừa để... ăn thịt!.


Tất cả cười như pháo nổ ran, làm người đi đường trông thấy cũng vui lây. Ôi! Đã có một thời kỳ như thế: tu hành, chống Mỹ đòi hòa bình, cứu trợ kẻ khổ, đi trong hầm hố đầy mìn mà lòng vẫn cười vui thoải mái. Việt Nam muôn năm! Việt Nam của những tấm lòng tự vô phân biệt (chữ của Trần Thái Tông trong Thiền Tông Chỉ Nam), giữa một anh Việt cộng nội thành và những nhà sư, những ông cha đạo hiền như ông Bụt, như maxơ từ cổ tích hiện ra.


Đùa nhau thế thôi, nhưng chỉ mười lăm phút sau, vì xe đợi quá lâu gần quán, thầy Huyền Trang và Giác Nhiên nôn mửa thốc tháo vì không chịu nổi cái mùi thịt của chúng sanh, dù đang được xiên nướng trên bếp lửa hồng béo ngậy khiến cho chàng, kẻ phàm phu tục tử đang đói lại càng thêm thèm rỏ dãi.


Với thầy Trí Thủ, chàng cũng có một kỷ niệm khó quên. Lần đó chàng lên Già Lam[1] cùng thầy đàm đạo đến khuya mới về. Thầy đưa chàng ra đến tận cổng. Bên bờ rào bỗng đâu vẳng lại một mùi hoa huệ ngọt ngào. Chàng nói:


- Chao ôi, cả cái hàng giậu chùa thầy, cũng thoang thoảng đưa hương.


Thầy dạy:


- H. thấy không? Mọi nơi, mọi lúc ta đều thọ ơn chúng sanh. Dân quê hát bằng ca dao: Hỏi hoa xin mượn mùi hương. Nhưng cần gì phải hỏi mượn? Hoa cho không chúng ta đó, cốt làm sao là ta phải đền đáp.


Ý tứ như thế, phải chịu là Hòa thượng Thích Trí Thủ cực kỳ thâm thúy. Thầy là linh hồn của Phật giáo Việt Nam sau 1975.


Hồi đó, không phải chỉ làm Tổng Y viện ở xã Phước Long, Thủ Đức, chàng cùng Tâm Quang đã xây dựng nhiều chùa chiền, chợ búa, trường học tại Hàm Tân (Bình Thuận), Tân Rai (Lâm Đồng), cả một Cô nhi viện ở 498 Lê Văn Duyệt nối dài (nay là Trường Chinh) gần chợ Bà Quẹo, hai trường Bồ Đề tại Vũng Tàu, Bạc Liêu. Không ở một nơi nào họ để lại tên tuổi, theo kiểu những du khách đến Ngũ Hành Sơn, như lời thơ Hồ Thấu:


Từ những bao giờ ai đến đây


Ghi tên vào đá, gửi làn mây


Người đi mấy kiếp luân hồi nhỉ


Tên tuổi chơ vơ, cát bụi đầy.


 


19. KARMA: NHỜ CỤM TRƯỞNG SÁU THẢO


MÀ KHỎI TỬ NẠN


Tháng Mười một, mưa bão định kỳ ở miền Trung năm đó gây tai nạn thảm khốc trên đường quê hương Quảng Ngãi. Mưa như thác đổ bất tận nhiều ngày, trời đất tối sầm, rồi những cơn lốc lớn, mạnh cực kỳ chưa từng thấy đã xoáy nhiều vòng như thiên binh vạn mã âm binh, ù ù hú một cách ghê rợn trên làng mạc, thị trấn, bốc nguyên những ngôi nhà gạch trong nháy mắt mà tung lên không trung, xóa sổ nhanh chóng nhiều ngôi trường học của bao trẻ em nghèo. Trên những cánh đồng Sơn Tịnh, Mộ Đức... nước loáng mênh mông như bể cả, sóng ở đất liền mà to bằng cả ngôi từ đường nhà họ Trần. Gió vê những cột nước lớn hơn trái núi, cao cả trăm mét đưa đi nhẩn nha đâu đó dìm biết bao là nhà tranh vách đất của dân quê xuống Địa phủ, bắt đi bao sinh mạng người cho vua Thủy tề. Trận bão Hester năm 1973!


Tạ Thanh Hối, người học trò cũ bấy giờ cũng là đồng viện của chàng đã mua cho mình và cho chàng mỗi người một vé máy bay về quê. Nhưng tối hôm trước ngày đi Quảng Ngãi, Phước nhắn tin là chị Sáu Thảo từ cứ[2] xuống, có chuyện gấp. Chàng cầm mấy trăm ngàn đồng bạc đến đưa cho Hối: - Nhờ em về trước, mua giùm ít gạo giúp những đồng bào lâm nạn. Thầy có chút chuyện riêng, phải nán lại vài ngày.


Chị Sáu vẫn bộ bà ba muôn thuở của miền Nam nhưng cải trang thành cô thợ may, áo cổ tròn vạt thêu hoa vàng, nón lá bài thơ và mang guốc kiểu. Họ gặp nhau trong một cửa hiệu áo dài sang trọng trên đường Nguyễn Văn Thoại[3].


Nhìn một người lính Mỹ đi tản bộ kiếm gái ở cái khu vực nổi tiếng nhiều ổ nhện nầy, chị nói:


- Mấy ảnh gửi lời thăm và có lời khen hai anh em. Sắp tới, nhất định địch sẽ không thi hành thỏa hiệp Paris. Chúng ta có ba mũi giáp công: một là chính trị, phải tổ chức quần chúng đòi thi hành thỏa hiệp Paris. Hai là, đẩy mạnh công tác binh vận. Ba là, điều nghiên thật kỹ âm mưu, kế hoạch hành quân của địch. Đánh rắn phải đánh vào đầu chúng.


Chị khuyên chàng và chú Út phải cực kỳ chú trọng ba bảo vệ:


- Bảo vệ bản thân mỗi anh em, đừng để cho đối phương bắt và mưu hại. Bảo vệ đường dây liên lạc cực kỳ cẩn thận, hộp thư nhanh và chắc, không cho lộ. Và cuối cùng, bảo vệ sức khỏe.


Chị đưa ít tiền cho chàng và chú Út. Chàng khoát tay:


- Tôi đã lên trên ấy, thấy anh em nằm gai nếm mật như thế nào rồi. Ở đây, dù sao vật chất vẫn đầy đủ hơn. Ngược lại, tôi có cậu học trò vừa đi Đại Hàn về biếu chai thuốc bổ nhờ chị mang lên giúp, tôi tặng anh Sáu.


Sáu Thảo không nhận, thế là chẳng ai chịu lấy của ai một cái gì, họ chỉ nhận ở nhau tấm lòng. Thời ấy, ai nói họ cách mạng không nặng tình?


Truyền đạt chủ trương chớp nhoáng, chỉ thị miệng nhập tâm, đem quả tim ra mà sống cho lý tưởng, cho tổ chức, chàng cảm thấy hạnh phúc vô biên. Mỗi người, Phước và chàng có duyên đọc ít nhiều sách vở, của tiên hiền liệt thánh Á Âu, kim cổ nhưng họ chỉ tìm được niềm bằng an tuyệt đối ở đây: lòng thương yêu đất nước, trong đó có bao triệu con người. Giác ngộ hay lầm lạc tất cả đều đáng thương. Đất nước sẽ phải hòa bình, độc lập và thống nhất. Sáu Thảo về rừng với đôi mắt rực sáng niềm vui.


Tối hôm đó, Đài Phát thanh Sài Gòn loan báo tin chiếc máy bay Hối đi ngộ nạn. Vô hình trung sự xuất hiện bất ngờ của Sáu Thảo đã cứu chàng không phải chịu chung số phận. Nếu không phải số mệnh thì khó ai có thể giải thích được sự an bài kỳ lạ đó của thiêng liêng?


Miền Trung tiếp tục mưa bão, ôi cái quê cha đất tổ của chàng, nơi ông bà trải bao thế hệ đã đổ hàng mấy trăm năm mồ hôi để biến rừng rậm hoang vu thành cánh đồng nhỏ nhoi tội nghiệp nhưng khá màu mỡ đang bị dìm vào nước bạc mông mênh. Mãi ba hôm sau đài mới báo tin trời tạnh. Chàng chạy lên Hàng không. Cẩm Nhung, cô tiếp viên trẻ đẹp đưa cho chàng tấm vé máy bay, cười rất tươi:


- Ông Dân biểu ra sớm thế, thời tiết còn xấu lắm.


Chàng đùa:


- Tôi biết hãng máy bay có ngoại quốc bảo hiểm nhân mạng thật lớn, cô làm ơn lựa hộ cho tôi lên chiếc phi cơ nào đó cực kỳ rách nát. May ra lại rơi một cái, thì số tiền hai chục ngàn đô la Mỹ, kẻ hèn nầy xin viết di chúc chia cho người đẹp Trúc Giang[4] một nửa.


Cô nguýt. Chàng vui vẻ huýt sáo miệng xách túi xuống Đà Nẵng, gió bấc đầu đông trong nắng ngọt ngào, nhưng nơi nơi nhà cửa đổ, cây cối ngã sóng soài chặn cả lối đi. Mảnh đất nghèo nầy dựa lưng vào Trường Sơn, mặt nhìn ra biển, làm nhà phải đào móng sâu cỡ mét rưỡi.


Từ ngày Huyền Trân Công Chúa nước non ngàn dặm ra đi giúp mở rộng biên cương cho nước Việt đến nay trải gần sáu thế kỷ, xứ Quảng luôn hứng chịu những cơn giận dữ của sơn thần thủy quái, hiếm thấy một vườn cây ăn quả nào tồn tại được đến mười năm mà không bị bão lớn tàn phá. Phải đi qua cầu Trà Khúc ngày hôm ấy, gió đuổi nhau trên con nước bạc mênh mông, nhại lời Xích Bích phú của Tô Đông Pha Đông nhìn Thiên Ấn, Tây thấy Trường Sơn[5] thì mới thấy hết được cái hùng vĩ của nơi đã phát tích ra Lê Văn Duyệt, Trương Công Định…


Dòng sông hoành tráng, cuồn cuộn phun bọt trắng xóa, nối liền đại dương và rừng thẳm từ dãy Ngọc Ang, chỉ thấp hơn Fansipan một chút, đâm vút lên ngút ngàn mây trắng. Từ đây núi non dần dần thanh thản sau những ngày dài vần vũ xám xịt vì cơn thịnh nộ của đất trời. Đối cảnh, chàng càng nhớ lời thơ Văn Thiên Tường: Thiên địa hữu chính khí, tại thiên viết Hạo Nhiên, tại địa viết Hà Nhạc... và mỉm cười hồi tưởng lại tháng trước cùng nhà văn Vũ đi thư giãn, hai đứa đùa với nhau.


Chàng nói:


- Khổng Tử dạy: Thiên địa chi đại đức viết Sinh[6]. Việc nầy khởi thủy là bản năng của con người để truyền nòi giống. Vậy thì vào chốn bình khang, tui và ông lúc nói chuyện nhau, để bảo mật, phải có những cái tên thật lớn lao cho xứng với tầm vóc của đại sư chứ?


Vũ đáp:


- Ý hay. Ta xài chữ của Văn Thiên Tường đi, tôi là Hạo, ông là Nhiên, chúng ta là Hạo-Nhiên. Với tư cách chúng sanh, chúng ta trở thành Hạo Nhiên. Và cuộc đời đều thế cả.


Nghĩ ngợi lan man, chàng tự mỉm cười. Người hành khách cùng ngồi ô tô với chàng không hiểu sao chàng bỗng nhiên vui vẻ trong khi các ngôi phố xá trong thị xã ngấn bùn đen lên tới hai phần ba bức vách và mọi người đang dùng đồ chùi nhà hì hục đẩy lầy ra cửa. Còn mặt đường nhựa thì khỏi nói, nước ngập tới đầu gối. Xuống xe, chàng gặp ngay người quen, một học trò cũ. Anh ta nói:


- May quá, ai cũng mừng khi được biết thầy không đi trên chuyến bay ngộ nạn. Tội nghiệp thầy Diễn, chiều hôm đó, nghe tin dữ, thầy lội nước quá rún, mặt đầm nước mắt, chống gậy lụm cụm dò từng bước, ra tận trạm Hàng không, chen lấn với người ta mà dò danh sách của chuyến bay. Không thấy có tên thầy, thầy Diễn mới chịu an tâm về nhà, mưa như thác đổ, trời tối đen như mực.


Chàng không nói gì, lòng thấm thía hạnh phúc cho cái nghĩa anh em và cùng trăn trở: bên kia tất thắng. Mình sẽ không xin xỏ bất cứ điều gì, chỉ đổi lấy một việc: anh Sáu đừng tù tội.


Nhưng điều nầy về sau không toại. Anh Sáu Ngọc hứa sẽ can thiệp cho anh Sáu Diễn nhưng không kết quả: người anh ruột chàng, một giáo sư Tiến sĩ, vào Quốc dân đảng chỉ để chống Diệm và chống Thiệu, ngoài cái khí khái khó ưa, chưa hề làm gì hại ai, suốt đời bán cháo phổi nuôi vợ con và nuôi anh em, phần mình không hề biết gì ngoài mắm nêm và cơm rau, cũng đã phải vào vòng lao lý những sáu năm trời.


Quảng Ngãi đang nhốn nháo vì tai nạn phi cơ.


Cuộc tìm kiếm từ ba ngày qua chưa có kết quả. Một người học trò cũ, bác sĩ Phan Ngữ, đang làm y tế Không quân ở Đà Nẵng, mượn cho chàng một chiếc L.19 bay vòng vòng vùng núi Quảng Ngãi, Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng[7], dùng ống nhòm quan sát khắp chốn nhưng phần vì viên phi công còn quá trẻ, phần đôi mắt trần tục của chàng chỉ giỏi liếc gái nên họ trở về, không mang một chút tin tức gì thêm.


Ấy vậy mà khi đến cổng, thì Biền, một người bạn khá thân của Hối, cũng trong ban hướng dẫn Phật tử đã hỏi chàng:


- Thầy thấy anh ấy đã chết như thế nào?


Quá buồn lòng cho cái tâm địa của con người, chàng nói toạc thẳng vào mặt y:


- Sao ác tâm thế. Anh dư biết rằng rớt máy bay thì tan xương nát thịt. Nhưng anh vẫn hỏi để chờ một câu trả lời thỏa lòng ghen tức của mình, ganh với cái chức dân biểu của Hối chứ gì. Chừa nhé.


Nhưng con người đó không bao giờ chừa. Trời Phật đã sinh anh ta như vậy. Không biết chúng ta có công bằng không khi bắt mỗi người chịu trách nhiệm về cái số phận kể cả cái tốt, cái xấu mà ngay từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, ta đã được định mệnh trao cho, bất khả kháng.


Cũng trong đám ma nầy, một số nghị sĩ dân biểu đã ra Quảng Ngãi đi viếng: các Nghị sĩ, cựu Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu, Giáo sư Phạm Đình Ái, Dân biểu Lê Đình Duyên, Kiều Mộng Thu... Riêng nàng Kiều, người đẹp Hạ viện[8], tác giả thi tập Lá đổ trên mười đầu ngón tay mà báo chí thường gọi đùa là nàng Kiều lá đổ thì đã nán lại quê hương chàng mấy ngày thăm thú cứu trợ vài nơi.


Về sau nàng đã trở thành người bạn thiết cốt của chàng trong những năm cuối cùng chống chế độ cũ ở miền Nam. Nàng đã viết cho chàng một bài thơ khá cảm động về chuyến đi nhớ đời đó:


Em từ sóng nước Long Xuyên


Bềnh bồng theo gió ra miền quê anh


Đem tình yêu ủ mộng lành


Câu thơ núi Ấn, bức tranh sông Trà


Ba Tơ, ta ngắm rừng già


Sáng đi Mộ Đức, chiều ra Nghĩa Hành


Đường quê như trái tim anh


Nửa thương Sơn Tịnh, nửa giành Bình Sơn


Yêu người yêu cả quê hương


Tấm lòng đồng chí, con đường đấu tranh


Hẹn nhau: ngắn ngủi, chân thành


Trăm năm chút ngãi xin dành cho nhau


 


20. TÌM HIỂU TƯỚNG TÁ VÀ TRÍ THỨC


Vào Sài Gòn mấy ngày thì có Trung tướng Phan Trọng Chinh[9] đến chơi. Chinh cùng tuổi chàng, là một tướng trẻ Bắc kỳ, nổi tiếng trong sạch, Thiệu rất nể nhưng luôn gờm, chỉ để làm Tổng cục trưởng Quân Huấn, chuyên coi các trại huấn luyện, không có quân lính gì.


Chinh nói anh vừa sang Đài Loan về, cùng đi với Trung tá bác sĩ Huy, Giám đốc Tổng Y viện Cộng hòa, Gò Vấp[10]. Cả hai ở trong khách sạn.


Đêm nọ, nửa khuya có một ông già người Tàu ở buồng bên lên cơn đau tim. Trời gần sáng, để kịp cứu cấp khỏi mất công tìm thầy, nhân biết Huy làm nghề y, Chinh cho Huy đến thăm mạch và tiêm cho cụ vài mũi thuốc, cắt được cơn bịnh. Để trả ơn, ông lão bịnh nhân bất ngờ nầy tặng cho vị Trung tướng Việt Nam vốn mê bói toán một cuốn sách chữ Nho, nói là của gia bảo truyền đời. Chinh đưa chàng xem, thì ra đó là cổ thư về tướng số của ông tổ bói toán Hi Di Trần Đoàn đời Tống bên Tàu. Sách in trên giấy rất xưa, bìa nâu, gián gặm loang lổ vài chỗ.


Truyền thuyết nói rằng Trần Đoàn cực kỳ tinh thông Dịch lý, sống vào thời Ngũ Đại loạn lạc. Một hôm ông cưỡi lừa dạo chơi, thấy có bà cụ chạy giặc, vai quẩy đôi thúng, hai đầu có hai chú bé ngồi trong. Ông bèn vỗ tay cười nói rằng:


- Nhất lão ẩu đảm đắc nhị thái bình Thiên tử[11].


Quả nhiên về sau hai cậu trẻ con đó chính là anh em Triệu Khuông Dẫn đã chinh đông phạt bắc, mở ra triều đại nhà Tống, đem tới cho Trung Quốc một thời gian dài yên lành thịnh trị.


Tướng Phan Trọng Chinh và cựu Phó thủ tướng Đỗ Mậu rất mê toán số nhưng cả hai không rành chữ Hán. Họ đã tới chơi nhà chàng, kể lại chuyện và nhờ chàng dịch ra tiếng Việt.


Nói cho phải lẽ, chàng thì đang nhiều công việc nên đã liên lạc với cụ tú tài Lê Kỉnh, người Quảng Ngãi, thầy dạy chữ Nho cũ của mình cùng làm. Nhân việc dịch sách đó, chàng quen với bác sĩ Huy.


Chi tiết vặt vãnh nầy vậy mà về sau hữu ích. Thỉnh thoảng chàng đến anh Nguyễn Hiến Lê, bấy giờ đang ở đường Kỳ Đồng để bái lĩnh một số ý. Anh là một học giả uyên bác, thận trọng và có nhiều công trình. Bộ Lịch sử Triết học Trung Quốc anh viết chung với cụ Giản Chi thật hữu ích cho tất cả những ai muốn học hỏi.


Giữa anh và chàng hình thành một tình bạn một già một trẻ yêu mến lẫn nhau. Sau 1975, anh bị bệnh bao tử, chàng đã cố kiếm cho anh mấy lọ Caved's gửi xuống Long Xuyên, quê vợ, nơi anh về hưu dưỡng. Năm đúng bảy mươi tuổi, trong một bức thư gửi thăm chàng, anh tả cảnh tịch mịch chỗ mình ở và lạ lùng thay, anh chép tặng chàng một đoạn thơ lãng mạn khá hay của ai đó, ngược lại với cái tính tình rất nghiêm cẩn của anh:


Anh về sóng nước Hậu Giang


Trăng mùa thu cũ rụng vàng bên sông


Tóc em xuôi chảy một dòng


Mênh mông mây trắng bềnh bồng nẻo xa


Buồn ơi, rụng lá thu già


Nửa đời vẫn chuyện bướm hoa lỡ làng...


Tết Nhâm Tuất, trong chuyến về thăm ông bà ngoại bé Hoàng Anh[12], con gái út, chàng lại ghé chúc anh năm mới.


Trước đây, anh từng giúp đỡ và cưu mang nữ nhà văn Lệ Hằng, người có phong cách trẻ trung, hơi giống Quỳnh Dao, bấy giờ là một cây bút đang lên.


Anh Nguyễn Hiến Lê, cũng như Vương Hồng Sển, Lê Văn Siêu, Nguyễn Đăng Thục, và giáo sư Nguyễn Văn Xung, anh Nguyễn Ngu Ý... đều hợp tác với Nhà xuất bản Trí Đăng của người bạn cùng quê chàng là Nguyễn Liên. Nhà gần nhau trên đường Nguyễn Thiện Thuật, quận 3, lâu lâu họ lại bách bộ đến chỗ chàng. Sẵn trà tàu, thuốc lá và bún bò cây nhà lá vườn, họ nằm khoèo bên nhau tha hồ mà tán chuyện chính chị chính em, đông tây, kim cổ. Thỉnh thoảng lại có anh Quách Tấn, Thạch Trung Giả ở Nha Trang vào, linh mục Thanh Lãng từ nhà thờ giáo xứ Thanh Hóa ở đường Trương Minh Giảng tới góp mặt.


Chúa và Phật, ca dao Việt Nam và văn học Pháp với thơ Đường trộn lẫn vào nhau, khi nổ giòn giã, khi êm ái thiết tha. Trong máu lửa đấu tranh, mọi người vẫn tìm cách làm dịu lòng mình bằng thơ ca và tình bạn.


Thế mà, đến khi anh Nguyễn Hiến Lê mất, chàng cũng không hay để đến thắp cho anh một nén hương. Còn anh Quách Tấn, một con người có khi phải thắt gióng mang ra chợ bán để kiếm sống, có khi bị đe dọa bắt bỏ tù để lấy nhà, thì khi chết đám ma lại quá to, báo chí nói mấy tuần chưa hết, chàng rất chạnh lòng.


Còn anh Lê Văn Siêu? Mười hai năm sau, năm 1995, đang lúc thăm gia đình ở Melbourne, nghe đài nước ngoài báo tin anh đã ra người thiên cổ, chàng đã thắp một nén hương dưới gốc cây sồi trước nhà, bái vọng về phương bắc, Tổ quốc ngàn trùng. Quả là ai rồi cũng phải có ngày ra đi.


Ai ngô sinh chi tu du, tiễn trường giang chi vô cùng


(Thương cho đời sống của ta ngắn ngủi mà khen cho dòng sông lâu dài)


Tô Đông Pha đã viết vậy trong bài Phú Xích Bích. Xin nguyện cầu hương linh các anh sớm tiêu diêu trong cõi ấy.


Người có khả năng thu hút các nhà văn, nghệ sĩ đến nhà là anh Bảy của chàng, giáo sư Nguyễn Văn Xung. Anh có mấy cuốn sách được giới văn học hai miền chú ý và mang ra mổ xẻ trên các tạp chí, khen có, chê có: Phạm Thái và Sơ kính tân trang, Thẩm mỹ học thông khảo, Văn học đại cương...


Đây là húi các cụ như lời gọi đùa của đám trẻ Hoàng Hương Trang, Thế Uyên, để phân biệt với nhóm chính ủy của Vũ Hạnh, Phương Đài. Cũng có băng chống Cộng chết bỏ của Lý Đại Nguyên, Chu Tử, tác giả Sống, Yêu… chửi vung vít cả bàn dân thiên hạ.


Phước khuyên chàng chơi với tất cả ba bên bốn phía, cho đúng với hỗn danh bá đạo mà chàng thường tự trào lộng mệnh danh cho mình.


Ngày nọ, Thái Lãng cùng Thế Uyên tới chơi. Hai nhà văn trẻ nầy lẽ ra cùng nhau một mất một còn. Thế Uyên là em ruột nhà văn đại tá Duy Lam, cháu kêu Nhất Linh bằng cậu, đảng viên Quốc dân đảng trong khi Thái Lãng, tác giả Nhật ký của người chứng đã bằng một giọng rất xúc động kể lại thảm cảnh mà cuộc chiến đã mang lại cho người dân thường Việt Nam.


Anh kể, tại một thị trấn nhỏ ở Tây nguyên, có những cô gái trinh trắng đã phải bán tiết hạnh của mình cho đám lính để đổi lấy mấy ký khoai lang. Tất nhiên nhà cầm quyền Thiệu rất hầm anh. Nhưng con người, nhất là nhà văn và trí thức, trong ước vọng, luôn cố vượt khỏi những quyền và lợi tầm thường của giai tầng mình, cương quyết phản kháng sự thối nát của chế độ miền Nam bấy giờ. Vì thế Thế Uyên và Thái Lãng đã gặp nhau.


Ngày nọ, họ từ nhà chàng ra, đi bộ đến ngã ba Nguyễn Thiện Thuật và Hồng thập tự thì bị mật vụ ông Thiệu chờ sẵn trong bóng tối đón lõng.


Họ nói vừa vô thăm ông Dân biểu.


Mặc kệ, cả hai đều bị điệu về bót. Uyên bị đưa đi lao công, được anh ruột là Đại tá Duy Lam xin cho về, tuy vẫn phải vào lính, nhưng là lính kiểng, ngồi văn phòng cạo giấy. Còn Lãng, tứ cố vô thân, như câu đối mà anh Bảy chàng, giáo sư Xung đã đi[13] cho Hồ Hữu Tường sau nầy:


Văn chương hiển mệnh, văn chương tằng lụy mệnh.


(Nghĩa: Văn chương làm cho người ta vinh hiển, nhưng văn chương cũng làm người ta lụy, đúng như cuộc đời của Hồ Hữu Tường)


Sách của Lãng bị qui là thân Cộng, nhồi thêm tội trốn lính, anh lập tức bị tống vào quân lao Gò Vấp. Thế Uyên tới báo. Chàng thừ người ra thật lâu nghĩ kế cứu. Cuối cùng, ánh sáng cũng đã lóe lên, chàng bảo Uyên và người nhà của Thái Lãng:


- Eurêka! Bây giờ nhờ Uyên tìm cách nói với Lãng trá bệnh cho thật giỏi, để xin đi khám ở Tổng Y viện Cộng hòa nhé


- Rồi làm sao nữa?- Uyên lo lắng hỏi.


- Vô bệnh viện Cộng hòa xong, tìm cách đi cầu tiêu và tam thập lục kế, đào vi thượng sách[14]. Nghề của nhà văn, mấy ông ở chế độ nầy. Phải biết lách khi viết và phải biết trốn khi bị truy tố.


Chàng đem kể chuyện với Trung tá bác sĩ Huy, không ngờ Huy cũng chẳng ưa gì ông Thiệu. Huy lại có đọc Nhật ký của người chứng của Thái Lãng, chịu là người viết có nói lên sự thật tàn nhẫn của chiến tranh.


Cũng cần nêu thêm một yếu tố, cả ba: Thái Lãng, Thế Uyên và Huy đều là người Bắc. Việc giải thoát Lãng có kết quả. Lãng giả đau từ nhà lao xin ra Bệnh viện Cộng hòa. Đám em út của Huy xác nhận bệnh trạng của Lãng. Lãng ở đó vài tuần chờ cơ hội và anh đã lấy cớ đi cầu, trốn an toàn ra khỏi trại, dông một mạch lên núi. Sau giải phóng, nghe nói Lãng làm trong Hội Văn nghệ Đà Lạt. Chàng không có dịp gặp lại anh ta để biết Lãng bây giờ người béo gầy ra sao.


Ở Quảng Ngãi, thì anh Sáu sau khi suýt bị cái Đảng Quốc Dân mà anh yêu mến toan dìm xuống sông Hội An. Thoát chết, anh đã trở về làm một ông giáo tầm thường, ngày ba bữa cơm rau, nuôi đàn con mười ba đứa của mình. Một hôm, anh có giờ dạy ở Sông Vệ cách nhà mười cây số. Vì dậy trễ, anh phải chạy bộ đến Cống Kiểu. Thấy một chiếc Lambretta 3 bánh do một người học trò cũ lái đang chở hành khách, anh giơ tay đón nhưng người tài xế lắc đầu nói xe đã chật. Anh nhìn thoáng chỉ thấy lơ thơ mấy người. Anh ngạc nhiên và rất buồn rầu, không hiểu sao. May sao bấy giờ có cậu học trò cũ là Huỳnh Châu đi qua, anh nhờ quá giang. Ngồi sau lưng Châu, anh kể lại sự việc đó và thắc mắc. Châu giải thích:


- Thầy đúng là người của thế hệ trước, của Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nên thầy không thể hiểu được đời sống giành giật miếng cơm manh áo hôm nay. Người học trò cũ, tài xế xe lam, miệng có thể nói với thầy những lời thương yêu, nhưng tâm anh ta cần những người buôn lậu hơn thầy.


Quả nhiên, chỉ một đoạn ngắn, cả hai đã thấy chiếc xe lam dừng giữa đường đón đám con buôn quen thuộc. Nhân đó, Châu nhắc anh Sáu:


- Em rất thân với anh H, em thầy. Em xin góp với thầy một ý: thời buổi nầy làm chính trị chỉ toàn quỉ ma. Thầy trong trắng chân thành quá, không tráo trở như người ta được, xin thầy từ bỏ cái nghiệp chính trị cũ đi.


Ở tỉnh lẻ, không tránh được nỗi buồn, anh Sáu viết thư bảo chàng vận động cho anh đổi vô Sài Gòn:


“... Chú ạ, mấy đứa con tôi đều đã lớn, đang học trong ấy. Tôi muốn gần gũi, dạy dỗ chúng ít nhiều trước khi chúng trưởng thành tự lập”.


Trong thư trả lời anh, chàng tán thành việc anh vô Nam. Nhưng riêng ý nghĩ có thể làm đấng nghiêm phụ ban lời giáo huấn cho con cái vào cái thời mà Triết học hiện sinh đang tràn lan trong giới trẻ bấy giờ, thì chàng xin can.


Chàng viết:


“Anh Sáu à, thằng Uyên sắp tốt nghiệp bác sĩ. Con Thúy đã xong cử nhân đang đi dạy giờ ở Bình Dương. Hãy ở xa chúng để thỉnh thoảng được chúng gởi cho một hộp thuốc bổ, kèm theo những lời thương nhớ thì còn hơn là gần gũi chúng sáng mai chiều tối. Khi đó, mỗi cái tóc dài bồm xồm của gã con trai yêu quí cũng đủ đâm vào mắt anh thêm xốn xang thôi”.


Thế nhưng, chàng vẫn đến ông Giám đốc nha Trung học Đàm Xuân Thiều trình bày hoàn cảnh của anh. Chỉ trong vài tuần, anh đã có giấy thuyên chuyển vào trường Trưng Vương, quận I, Sài Gòn. Không dùng gắn máy được, mà xe đạp thì qua đường cũng ngại, anh bắt buộc khi thì xe buýt, khi xích lô tới trường.


Ở cái vương quốc Quảng Ngãi nhỏ bé của mình, anh là bậc thầy, cả tỉnh đều biết. Nhưng giữa Sài Gòn to rộng phình trướng ra nhanh chóng vì chiến tranh, anh chỉ là chiếc bóng như hàng bốn, năm triệu con người khác lẫn trong bụi đường, chảy thành dòng cuồn cuộn qua lại như mắc cửi, nhất là tại các bùng binh những sớm tinh mơ hay những chiều đèn đường bỗng nhiên bật sáng.


Tội nghiệp thay cho bất cứ ai bị tách khỏi vương quốc của mình. Vương quốc đó có thể là một làng quê hay thị xã nhỏ bé nơi một người có thể được trọng vọng như một nhân vật khả kính. Như với anh Sáu, vương quốc đó, có thể là một lũ con mà có khi anh phải nhẫn nhục khom lưng, rụt cổ trước kẻ khác để có miếng cơm manh áo nuôi chúng nên người và được chúng coi như thần tượng khi chúng chưa tự đứng lên được bằng đôi chân của mình. Còn với Giáo sư Xung, vương quốc đó có thể là hàng tấn sách vở đông tây kim cổ ngổn ngang trong nhà, được xếp ngăn nắp trong tủ, cũng là thế giới của những con mọt sách lúc loài người chưa phát minh ra được thuốc trừ sâu.


Tội nghiệp anh Sáu, thằng con đầu lòng rất thông minh nhưng nó thừa hưởng đầy đủ nơi cha chú cái tính lãng mạn và ngang ngạnh. Mái tóc bù xù dài chấm quá cổ, điếu thuốc trên môi, ngón tay đầy cáu bẩn nicotin, bộ áo quần luôn nhàu nát của một dân hippy thứ thiệt và những cuộc đi chơi về khuya đã làm ba nó, nhà giáo nghiêm khắc câm nín phiền lòng không ít. Những buổi chiều tan dạy, trên vệ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đầy lá me bay đến trạm xe buýt, anh bước những bước thẫn thờ, tự cảm thấy mình trơ trọi trên thế gian, cô độc hơn bao giờ hết giữa sự náo nhiệt của Sài Gòn chiến tranh, một Sài Gòn yêu cuồng sống vội, một Sài Gòn làm ăn chụp giựt.


Cho nên, đúng như chàng đã dự đoán, chỉ cố chịu đựng chưa đầy một niên khóa, anh lại xin đổi về Quảng Ngãi. Cuộc sống chẳng có gì khá hơn, âm thầm nhạt nhẽo. Không làm chính trị nữa, bạn bè thì một số lớn đã bỏ quê đi nơi khác.


Câu thơ viết đắn đo không viết,


Viết đưa ai, ai biết mà đưa,


Nguyễn Khuyến đã từng than như thế. May mắn thay, trong vườn nhà anh có một ngôi mộ nhỏ, chẳng biết của ai, nhìn bề thế khiêm tốn của nó, người nằm dưới có thể là một trẻ em. Chết khi chưa phạm tội ác, người ta sẽ thành thần, anh nghĩ.


Thú vui duy nhất ở Quảng Ngãi hồi đó cho toàn thể nam phụ lão ấu của cái tỉnh đa nghĩa nhân (lời vua Gia Long) nầy là đánh đề. Anh bỏ tiền bán cháo phổi ra mua xi măng, vôi gạch, bột màu xây ngôi mả vô chủ thật khang trang tươm tất. Và cả xóm được cái hồn ma đó ủng hộ.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 


 







[1] Tên chùa ở 498 Lê Quang Định, Gò Vấp, TPHCM.




[2] Căn cứ Cách mạng.




[3] Nay là đường Lý Thường Kiệt.




[4] Quê Nhung ở Bến Tre.




[5] Phía Đông nhìn Thiên Ấn, phía Tây thấy núi Trường Sơn.




[6] Đức lớn của Trời Đất là Sinh Đẻ.




[7] Tên ba huyện miền núi Quảng Ngãi.




[8] Tức nữ Dân biểu Kiều Mộng Thu.




[9] Trung tướng, không cùng cánh với Thiệu.




[10] Nay là Quân y viện 175.




[11] Một bà già gánh hai vị vua thời thái bình.




[12] Tên đứa con gái thứ tư của chàng.




[13] Đi: Tặng, cho.




[14] Trong 36 kế, trốn là trên hết.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 16.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 13.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »