tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24963651
Tiểu thuyết
05.12.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


Về sau Cử gặp chàng trong phiên họp đã kể lại câu chuyện.


Cũng ngang qua đường Pasteur, chàng trông thấy một mẹ già đang bưng một chiếc rổ đầy những chiếc bánh ít lá gai, sản phẩm đặc biệt của quê chàng, nhất là trong những ngày giỗ. Chắc mẹ cũng đã bỏ buổi bán hàng để gia nhập vào cái dòng người đông đảo cuồn cuộn nầy. Mẹ nhìn chàng, ái ngại:


- Mẹ trông thấy con có vẻ mệt mỏi quá rồi. Hãy dùng vài cái bánh và uống bịch nước mía nầy của mẹ cho khỏe. Có thực mới vực được đạo, con à!- Đó là cái bánh mà từ bé giờ chàng cảm thấy ngon nhứt trần đời.


Tất nhiên bao giờ thì những cuộc đấu tranh loại nầy thì cũng có lựu đạn cay, hơi ngạt, đạn mã tử và kẻ bị thương, người bị bắt, cái giá đương nhiên phải trả của mỗi bên.


Chàng rút vào Hạ viện, nước mắt ràn rụa vì hơi cay, lại ăn trưa bằng bánh mì cầm tay với Phan Xuân Huy. Mãi xế chàng mới lái xe về. Đến đầu đường, 14 Nguyễn Thiện Thuật, chàng ghé vào Nhà xuất bản Trí Đăng nói chuyện tào lao, giải trí một chút thì gặp các anh Nguyễn Văn Xung, Nguyễn Ngu Ý[1], Lê Văn Siêu[2] và Nguyễn Hiến Lê[3]. Anh Siêu than phiền từ Thủ Đức vô mà bị chặn đường, bây giờ mới tới. Anh Lê không biết có cuộc biểu tình lớn mới xảy ra. Anh Ngư không đi dự nhưng đã tường thuật lại khá cặn kẽ, căn cứ theo những điều anh nghe được, với những chi tiết cả chàng cũng không rõ.


Ví dụ như một chiếc xe Jeep của quân đội Mỹ bị lật đốt ở đường Phạm Ngũ Lão. Chàng nghe, dửng dưng như chẳng hề có liên quan gì tới mình. Rồi chàng mời mấy anh một chầu bún bò ngon nhất nước tại quán nhà mình, như chàng hằng quảng cáo miễn phí cho vợ trên những tờ báo mà chàng hợp tác biên tập. Giữa chỗ bè bạn thân tình, anh Ngư vừa bưng tô bún bò nóng, vừa nhe răng cười, cặp kính cận như muốn nhảy khỏi cái mũi vốn đã rất cao của anh:


- Năm năm mốt, trong kháng chiến chống Pháp đi dạy học mưu sinh lưu lạc tới Bình Sơn- Quảng Ngãi, tôi vốn có những bất bình trước sự hẹp hòi của địa phương. Một đêm trăng sáng rợn người, đợi cho mọi người yên ngủ, tôi lùng sục hố xí phân bắc mấy nhà, bê nguyên sáu bảy thùng, dùng tay hốt, trét vào bàn ghế của bốn lớp học.


Sau, tôi tán thành anh Hồ Hữu Tường, mong phát kiến được một nền văn minh trung lập, phi chính ủy cũng phi kỹ thuật. Giờ đây:


Tuổi ướm sáu mươi thèm giấc ngủ,


Đời trôi ngàn vạn nhớ cơn say


(Trích kịch Kiều Loan của Hoàng Cầm)


Mới thấy rõ quả là không có giải pháp nào khác. Cuộc biểu tình sáng nay, hàng vạn người đổ ra đường: em bé, cụ già, sinh viên, học sinh, người thợ, người dân cày, anh phu xích lô... trong một khát khao là sớm chấm dứt cuộc chiến. Nguyện vọng đó chính đáng, đơn giản và bình thường, gần như tất nhiên.... Anh Lê Văn Siêu, với bản tính thâm trầm điềm đạm:


- Nhưng anh có nghĩ là họ thân Cộng không?


Nguyễn Hiến Lê ngắt lời:


- Bây giờ thì thân Cộng hay không, không còn là vấn đề nữa. Chiến tranh thế giới lần thứ ba, giả sử như nó xảy ra, thì, tôi nói đùa, bất phân thắng bại, chẳng ai thắng, cũng chẳng có người thua, vì vũ khí nguyên tử và hóa học sẽ hủy diệt tất cả, ai cũng chết hết, trái đất trở thành một quả cầu lửa, nơi nơi điêu tàn. Việt Nam mình bây giờ tuy chưa tới nỗi vậy, nhưng nếu cứ đánh nhau mãi, thì dù ai thắng, kết thúc tang thương của nó vẫn đáng nguyền rủa. Cho nên, chấm dứt chiến tranh, hiện nay là nhiệm vụ hàng đầu.


Chàng là chồng của chủ quán, nhưng với các anh thì chàng chỉ vào vai em út, nên chàng im lặng phục vụ. Thay vì sai bảo con cái, chàng tự tay bưng dọn. Anh Ngư thấy vậy nói đùa:


- Sao, ông nghị, phải có chính kiến gì chứ?


Chàng cũng chọc lại:


- Mỗi một trong quí anh, đối với thằng em nầy đã là một núi Thái Sơn rồi. Vậy mà ở đây còn có anh Lê, anh Siêu, anh Ngư và cả anh Xung nữa, bốn dãy Thái Sơn to đùng họp lại làm sao em dám có ý kiến được.


Vừa tháu cáy như vậy chơi, chàng vừa nhìn lên mặt mọi người thăm dò xem có ai phát hiện là mình dính dáng tới cuộc biểu tình ấy không, thì chàng bị ngay anh Nguyễn Hiến Lê lật tẩy.


Anh quăng xuống chiếu cho cử tọa một tờ báo Điện Tín đề ngày hôm sau 11-10-1974[4], phát hành 3 giờ chiều hôm ấy, tờ báo mới rợi như còn mùi mực in, trong đó có bài thơ của một thi sĩ học trò cũ, sinh viên Thái Đình San vừa viết tặng chàng. Anh cười thật hiền lành:


- Thôi, chú em đừng giả vờ ngây thơ cụ lừa mấy anh. Bộ chú tưởng các anh đây của chú lẩm cẩm lắm sao mà không biết chú đứng sau, ném đá giấu tay? Chú tâng bốc anh em tôi là Thái Sơn của chú, thì đây, có người vốn tên Thái San mà còn gọi chú bằng thầy nữa đó. Mời mấy anh đọc. Đây bài Bút sử ngày ký giả đi ăn mày. Anh Ngư cầm lấy ngâm:


NGÀY TA ĐÃ KHÓC


Cảm xúc cho ngày Báo chí đi ăn mày.


Riêng kính tặng nhà thơ Ngũ Hà Miên, thầy của tôi


10 tháng 10 ơi!


Ngày ta đã khóc


Ta đã khóc như chưa bao giờ biết khóc


Kể từ khi khó nhọc đến nay


Kể từ khi cha ngã trên luống cày


Kể từ khi cha mẹ phơi thây gió bụi.


Cũng có lúc ta ướt lòng hận tủi


Như roi đời rong ruổi quất vào da


Nhưng hôm nay ta đã rất thật thà


Ngay cả với bọn người ta đối mặt


Sáng hôm nay ta nghe lòng se thắt


Niềm đớn đau từng dằn vặt bấy lâu


Ta đứng lên, hàng lớp lớp đi đầu


Đường chân lý, phép nhiệm mầu ta tiến.


Tháng 10 ơi, như một hồi còi lệnh


Dậy mà đi, kìa vận mệnh về tay.


                                                       (Thái Đình San)


(Nhật báo Điện Tín ngày 11-10-1974 của Sài Gòn dưới trào Tổng thống Thiệu). Xong, anh Lê nhìn chàng thông cảm, anh nói:


- Vậy thôi, tha cho chú em. Ai ở hoàn cảnh chú cũng phải làm thế.


Thế chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế[5].


Chúng tôi đã già rồi chớ còn trẻ thì cũng phải xông ra như chú thôi. Nhất là chú bây giờ đang làm dân biểu, dân biểu thứ thiệt, dân biểu trí thức, dù gì vẫn còn lương tâm con người, kiến nghĩa bất vi phi dõng dã. Chỉ có điều là chú tưởng đám tụi tui thích Thiệu lắm sao mà chú mãi giấu?


Chàng vâng dạ, cáo lỗi cho qua chuyện.


- Không phải em muốn qua mặt quí anh. Nhưng em nghĩ, ông Thiệu hay bất cứ ai, cầm quyền chánh, dù như các triều đại cha truyền con nối ngày xưa, thì cũng phải có thời gian. Và một ngày nào kia rồi cũng tàn.


Chống cái bạo lực nhất thời của Thiệu là công việc của lũ tụi em, những kẻ không có cái khả năng của những áng văn chương Khuất Bình từ phú huyền nhật nguyệt[6] của những Lê Văn Siêu, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Ngu Ý, Hào Nguyên[7]… Nguyễn Xung[8], bào huynh của em đây. Trước tác của các anh sẽ để lại cho đời sau. Trong khi nhiệm vụ của em chỉ là trước mắt.


Phật giáo có kinh Tứ Tất Đàn, bắt đầu là Đối trị tất đàn và rốt là Đệ nhất nghĩa tất đàn, tức Phật tất đàn.


Em, một con người tầm thường, em xin chọn cho mình cái việc tầm thường và nhỏ bé dù có phần nguy hiểm, của phép Đối trị, chống lại sự bạo ác, cũng là một thứ bất đắc dĩ nhi vi chi mà thôi.


Anh Ngu Ý hồi xưa ở Thi Phổ- Quảng Ngãi vốn được mẹ chàng xem như con, thân ái vỗ vai chàng:


- Nó khiêm nhượng nói vậy chớ tôi coi cái Cứu đói nó làm bài bản lắm: xuất phát từ Sài Gòn mà lan ra khắp nước chỗ nào cũng có, từ Quảng Trị tới Cà Mau. Coi báo Điện Tín thấy tận châu Âu, châu Mỹ, châu Úc. Tui hỏi thiệt chú, làm sao lan rộng được như thế?


Còn ngay tại đây, tui thấy chú làm sao mà Phật giáo từ ông Hiển Pháp, Quảng Long, bà Huỳnh Liên cho tới Công giáo cha Từ, cha Luân Tin lành, mục sư Châu rồi ông Hồng Sơn Đông, ông chấp cơ Bạch Vân bên Cao đài, cả dân biểu Vũ Công Minh- Hòa hảo cũng đứng vô?


Mà không phải chỉ có mặt góp vui như cái Lực lượng Dân tộc Việt của ông Phan Bá Cầm đâu nhé. Đằng này sống chết với nhau lên đường xuống phố, chia nhau nếm mùi lựu đạn, ma trắc của công an, cảnh sát liên tục ngày đêm.


Chàng không ngần ngại.


- Nếu anh coi đó là công trạng của em thì xin nói theo ngôn từ ngày nay là hơi bị bốc thơm đấy. Không dám qua mặt cái Hán rộng của anh Siêu và anh Lê, nhưng em xin viện dẫn câu của Khổng Tử: Hữu ư trung tất hình ư ngoại[9]. Ông Thiệu không đặng lòng dân thì người ta cứ thấy ai chống ổng là người ta theo, chớ em tài cán gì.


Quả vậy, sau đó ít lâu, các Khu bộ Mặt trận cứu đói miền Trung, cao nguyên, miền Tây ra đời với những nhân vật uy tín nhất ở địa phương: Hòa thượng Mật Hiển, Thượng tọa Đức tâm, Linh mục Nguyễn Văn Bính, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn… (Huế), nhà thơ Đông Trình, nhà giáo lão thành Phạm Phú Hưu, Thượng tọa Long Trí… (Quảng Nam), Thượng tọa Thiện Bình, nhà văn Quách Tấn (Nha Trang)… bác sĩ Thuấn (Cần Thơ), Giáo sư Nguyễn Văn Mốt (Sa Đéc), cả bà Cao Văn Viên, vợ Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam Cộng hoà cũng theo gương bổn sư mình mà gia nhập Cứu đói.


 


26. TỔ CHỨC HÒA GIẢI, BIỂU TÌNH LỚN NHẤT MIỀN TRUNG


                                              17 - 10 - 1974


Giữa tháng Mười, chàng được Giáo hội Quảng Ngãi mời về dự thành lập Lực lượng Hòa giải tỉnh. Đây là tổ chức chính trị của Phật giáo Ấn Quang bấy giờ, tại khu vực Trung bộ có một Lực lượng quần chúng nhất định, do thầy Trí Quang giao cho anh Nghị sĩ giáo sư Vũ Văn Mẫu và dân biểu Đoàn Mại, Lê Đình Duyên tổ chức. Cầm bức thư, chạy đến nhà anh Mẫu, ở 132 Sương Nguyệt Anh, quận 1, chàng hỏi:


- Anh nghĩ sao? Tôi có nên đứng vào đây không?


Anh cười cởi mở, rung cả cái nốt ruồi to trên má, vừa nhìn bức tranh mirage de la vie do anh vẽ và rất đắc ý về một cô gái đang khỏa thân soi gương làm đẹp, mà nhìn nghiêng thì ra một cái đầu lâu:


- Hay lắm chứ. Anh cũng đã là thành viên của Lực lượng Trung ương rồi mà. Nhưng anh để tôi vài ngày, tôi dò ý ông Râu xem sao. Biết đâu ổng lại đã không nhắm ai đó ở ngoải rồi.


Chàng thầm phục anh Mẫu cái tính cẩn thận, nên chỉ anh ấy làm chính trị và rất thành công ở cái môi trường tư sản này. Mấy hôm sau họ lại gặp nhau. Anh Mẫu nói:


- Ông Râu bảo ở Quảng Ngãi ổng có sẵn một người tên Lê Mỹ Đại, anh có biết người này không?


Chàng làm bộ thừ người suy nghĩ. Thực ra chàng không lạ gì Đại. Đó là một người học trò cũ của chàng ở lớp Sáu trường cấp hai An Phong thời kháng chiến. Anh ta lớn hơn chàng vài tuổi, con địa chủ. Sau khi ông Diệm tiếp thu Nam Ngãi, anh ta ra làm công an trong cánh họ Lê, đại gia ở Mộ Đức. Năm 1964, Đại làm Phó thủ lãnh Quốc dân đảng Kỳ bộ ở Quảng Ngãi, từng chỉ huy biểu tình tuần hành ngang qua nhà chàng, đòi bắt tên Vici H. thị uy vì nghi chàng thân Cộng.


Nhưng năm 1966, Đại không còn theo hệ phái Quốc dân đảng thân chính phủ Thiệu- Kỳ, anh cùng anh Sáu Diễn tố cáo Kỳ bộ Quốc dân đảng Trung Việt theo Nguyễn Cao Kỳ đàn áp Phật giáo nên bị khủng bố phải chạy vào Sài Gòn. Chàng gặp Đại, cưu mang anh ta và giới thiệu Đại với thầy Thích Trí Quang. Có lẽ do mối quan hệ đó mà Đại năng lui tới Ấn Quang và trở thành thân tín với ông Râu chăng? Chàng trả lời anh Mẫu, không thật lắm:


- Người đồng hương, đồng chí của anh Sáu tôi, Quốc dân đảng. Nếu ông Râu chọn Đại thì càng tốt, tôi sẽ được rảnh tay lo cho Mặt trận cứu đói. Tuy nhiên, là dân biểu của tỉnh Hội, họ mời về, thế nào tôi cũng phải ra.


Trước khi lên máy bay đi Quảng Ngãi, chàng phải làm hàng núi công việc linh tinh. Về sau khi giở trang nhật ký cũ, chàng không hiểu sao mình có thể hoàn tất ngần ấy thứ trong ngày: gặp anh Lý Chánh Trung và Kiều Mộng Thu, ni sư Huỳnh Liên, dặn dò các bạn sinh viên Thiết và Nghiệp đẩy mạnh hoạt động trong giới trẻ, chuẩn bị chương trình hai tuần tới tại đây cho thầy Hiển Pháp, vẫn không quên đến dạy hai giờ Tâm lý học để giữ chân học trò.


Và, quan trọng nhất, gặp thăm thầy Trí Quang, xem thầy có ý gì về nhân sự ở Quảng Ngãi chăng? Thầy không nói gì. Chàng cũng lặng thinh. 13 tháng 9, nhằm Chủ nhật, không kiêng cữ, xuống phi trường chàng đi thẳng vô Đà Nẵng, một cuộc họp Liên tịch giữa anh em Mặt trận cứu đói (thân Cộng) và Lực lượng Hòa giải (của Phật giáo Ấn Quang) ở đấy. Có chân trong Ban chấp hành Trung tâm Văn Bút Việt Nam tại Thủ đô, chàng dễ dàng thêm một nhà thơ, Hải Nguyên tức giáo sư Trần Như Cảnh và giáo sư đại học Tri Hành Nguyễn Văn Diên cùng tham gia. Để che chắn thêm cho họ, chàng lợi dụng mối quen biết với ông Chủ tịch Tối cao Pháp viện Trần Văn Linh kéo luôn vị Chánh án Đà Nẵng vào phong trào. Một số thành viên quá khích phản đối. Nhưng chàng ôn tồn thưa với anh em.


- Công việc chúng ta còn lâu dài và khó khăn. Tuy họ chống Cộng, nhưng trước mắt lực lượng Thiệu còn mạnh. Ta phải tranh thủ bất cứ ai chịu đứng ra đương đầu với Thiệu, kể cả kẻ đồng sàng dị mộng với ta. Chiến lược cách mạng cốt yếu phải phân biệt ta, bạn, thù. Biết các giai đoạn và cái trường cửu, biết quyền biến sử dụng phép biện chứng linh hoạt thì mới mong thành công.


Tất nhiên Albert Francis Tổng Lãnh sự Mỹ tại Đà Nẵng 1974, mà chàng biết rõ là trùm CIA ở miền Trung cùng bà vợ xinh đẹp của ông, sẽ có dịp làm món spagetty ngon lành và hợp khẩu cho chàng. Không giấu được anh ta đâu về việc mình thành lập Lực lượng Hoà giải dân tộc ở Quảng Ngãi. CIA luôn thấu rõ nguồn cơn. Chàng nghĩ tiếp: Kissinger  với ông Lê Đức Thọ, cả hai đều được Stockhom tặng giải Nobel Hòa bình đó. Kể cũng oái oăm thật!


Vậy mà cái việc bao giờ thay Thiệu ở miền Nam thì sao họ không thông báo cho nhau mà phải đi hỏi cái thứ tôm tép vốn chỉ là một anh giáo hò lơ ở Thi Phổ như mình?


Đông đảo người Mỹ sang Việt Nam đã hai mươi năm, họ nhiễm cái thói quen dùng bữa trưa đồ sộ với đủ các món của dân bản xứ. Nhưng quan chức cấp cao CIA, Albert Francis thì không. Anh ta vẫn miếng bít tết, ly sữa và ít trái cây for lunch[10] kiểu Mẽo. Chàng vừa bưng tách trà vừa nói đùa:


- Tôi tuân thủ Hiệp Định Paris mà chính phủ Mỹ kí với miền Bắc, nay đã gần hai năm rồi. Ông Thiệu không chịu lập Hội đồng Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc. Nay tôi về góp phần làm công việc đó tại đơn vị dân biểu của tôi đây.


Francis trả lời thật bất ngờ:


- Tốt lắm. Tổ chức của nghị sĩ Vũ Văn Mẫu. Chùa Thiên Ấn sẽ giúp dân biểu thành công.


Chàng cảm thấy nổi da gà ở khắp mình. Cái anh chàng này, tuổi không hơn con trai đầu lòng mình bao nhiêu mà cái gì cũng biết, biết tường tận nữa là khác, cả mối quan hệ thầm kín của mình với sư Hồng Ân, Viện chủ chùa Thiên Ấn, ngôi chùa Tổ đình thiêng liêng của bản xứ Quảng. Trên xe giã từ sông Hàn để trở về với dòng sông Trà Khúc đang cơn cuồng nộ mưa nguồn nước lũ, chàng thấy không mấy vui.


Theo chương trình, chàng sẽ củng cố Ban chấp hành cứu đói tỉnh do Hiệu trưởng trường Bồ Đề- Mộ Đức Đại đức Thích Nguyên Minh làm Chủ tịch, rồi giúp tỉnh Giáo hội thành lập Lực lượng Hoà giải dân tộc [11]


Căn cứ tập quán bấy giờ thì việc này phải do các thành viên Phật tử trong các Nghị viên Hội đồng tỉnh phụ trách. Nhưng các vị này thường cá mè một lứa, giành nhau tiếng gáy, ganh tị nhau cả tới việc xướng tên nhau sau hay trước, nên họ mời chàng đứng ra chủ trì vì về tuổi tác và học vị chàng vốn là thầy cũ của họ như nhà thơ Phan Như Thức- Chủ tịch Hội đồng tỉnh và Nguyễn Cao Can, nghị viên, đều thân thiết với chàng. Chàng đã mời Thượng tọa Thích Giải Tân, Chánh đại diện Phật giáo Quảng Ngãi và Thượng tọa Thích Hồng Ân cùng các cư sĩ tên tuổi Nguyễn Văn Chánh, Bùi Toàn… tới dự.


Đầu tiên là ai sẽ cầm đầu Lực lượng Hoà giải dân tộc Quảng Ngãi?


Tỉnh nhỏ nhưng có một vị trí chính trị đặc biệt ở miền Nam bấy giờ: Luật sư Trương Đình Dzu với chiêu bài hòa bình đã về phiếu số một tại đây trong kỳ bầu cử Tổng thống năm 1967. Và tại sao nhân vật thân Tây, CIA kỳ cựu Trần Văn Đôn đã về đây ứng cử dân biểu? Thầy Trí Quang chắc đã có ý đồ gì đấy khi chọn Lê Mỹ Đại, học trò cũ của chàng, nhưng là nhân vật Quốc dân đảng cộm của địa phương làm Chủ tịch Lực lượng Hoà giải dân tộc Quảng Ngãi?


Ông Râu, nhân vật huyền thoại, người làm rúng động nước Mỹ theo Times[12], đã có lệnh, ai dám không nghe? Nhưng thầy đã không lường được phản ứng của Phật giáo Quảng Ngãi đối với Quốc dân đảng. Thông Thuận và Bùi Toàn, những người từng bị chụp mũ Cộng sản cực lực phản đối: - Không được. Phật giáo, nhất là Phật giáo Quảng Ngãi, không thể chấp nhận một thứ đảng phái nào dính dáng vô đây được cả. Nếu thầy Trí Quang quyết áp đặt như thế, xin mời thầy về đây tự làm lấy mọi thứ.


Rất mê tín ông Râu, nhưng thầy Hồng Ân cũng lắc đầu trước mối bất đồng, mồ hôi túa ra nách áo nâu sồng. Thượng tọa Giải Tân, ông lão ngoài bảy mươi, thực sự chỉ muốn đi tù như nàng Kiều:


Mùi thiền đã bén muối dưa


Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng


Sự đời đã tắt lửa lòng


Còn ham tìm chốn bụi hồng mà chi.


Thời cuộc trớ trêu đã đặt thầy Giải Tân vào cái ghế đầy tranh chấp này, lòng ông buồn xiết bao. Làm trái với ý kiến số đông Phật tử, ông không muốn. Nhưng cãi lời thầy Trí Quang, ông chẳng đành. Đại hội đã dứt khoát là không chấp nhận Lê Mỹ Đại. Vậy thì phải tới Nguyễn Văn Minh tức nhà thơ Phan Nhự Thức. Nhưng:


- Tao mày cùng cỡ, mày với chủ tịch, che tịt tao sao?


Người trẻ nghĩ vậy. Thế là họ lấy cớ cần phải có một nhân vật đứng tuổi, có uy tín, kiến văn rộng rãi, có tài ngoại giao, bậc thầy... Họ phong cho chàng đủ thứ tốt đẹp trước mặt. Chàng ngồi đó thừ người ra suy nghĩ: Trong cảnh này, giá dám gọi mình đủ ba mươi hai tướng tốt của đức Phật, có khi họ cũng chẳng từ. Cái thằng kia, sau lưng nói xấu mình xoành xoạch mà giờ đây đang ráng gân cổ lên cố bốc thơm mình, chỉ cốt gạt được thằng Minh đi! Ôi! Cuộc đời, c’est la vie. Chàng phì cười nhớ lại thời thơ ấu, hồi còn tiểu học hay đùa với bạn câu này.


Còn Minh thì nãy giờ làm thinh. Rốt cuộc, thấy đã tới lúc nói hùa theo:


- Em thấy trong tình hình nghiêm trọng này, lại ở tỉnh lẻ nữa, tay chân của ông Thiệu còn hơn quỉ dữ. Vậy thì chỉ có quí thầy ở Trung ương đứng ra gánh vác mới ổn thôi. Vả lại còn phải đề phòng trường hợp bị khủng bố trắng…


Ngày 15-10-1974, Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu- Chủ tịch Trung ương Lực lượng Hòa giải dân tộc Việt Nam cùng phái đoàn bay ra Quảng Ngãi, chàng đón về 38 Trần Hưng Đạo, nhà anh Sáu Diễn nghỉ ngơi.


Tối hôm đó họ khai trương văn phòng báo Điện Tín tại đây, có Chánh án Vương Quốc Cường, nhà thơ Minh Đường, Trung tá Lê Xuân Diệu, nhà thơ Vũ Hồ, Giáo sư Nguyễn Liệu, Hiệu trưởng Quảng Ngãi nghĩa thục, họa sĩ Phạm Cung, đại úy Trần Hữu Lễ cùng rất nhiều trí thức trong tỉnh.


Một ngọn nến trăm oát được bắt ra sân, dưới hàng bông giấy không gặp mùa hoa, quanh những chiếc bàn gỗ tạp vốn để dạy thêm của một nhà giáo nghèo, đầy những kẹo gương, mạch nha và đường phèn. Lần đầu tiên, những người dân quê và trí thức tỉnh lẻ gặp ông thạc sĩ đồng đạo, vị ngoại trưởng từng cạo đầu chống Diệm năm 1963.


Trong cuộc hội thảo, để trả lời cho thắc mắc về sự ra đời của lực lượng, Giáo sư Mẫu đã xác định tổ chức của ông không chống ai, chỉ chống Thiệu ngoan cố không thi hành thỏa hiệp Paris.


Về sau chàng được biết ngày đó, Hiến đã bí mật liên lạc với ông Lê Tấn Tỏa, Bí thư Tỉnh ủy Cộng sản Quảng Ngãi bí mật và ông đã phái đại úy Khương Thế Hưng, con nhà thơ Khương Hữu Dụng (bạn vong niên của chàng), bây giờ phụ trách An ninh Thị ủy, bố trí người về nhà thầy Diễn, thầy học cũ của Hưng theo dõi cuộc họp.


Chàng cho biết ngày mai, nhân ra mắt Lực lượng Hoà giải Dân tộc có thể có biểu tình. Hai anh Lê Đình Duyên và Đoàn Mại, nhân vật trụ cột của Lực lượng Hòa giải Trung ương[13] tỏ vẻ bất bình trước việc tỉnh Giáo hội không triệt để tuân thủ lệnh của Thượng tọa Trí Quang về vấn đề nhân sự.


Đặc biệt, họ quyết liệt chống lại bất cứ cuộc tuần hành quần chúng nào. Chàng đã tung các thành viên Cứu đói tỏa đi khắp nơi, kể cả các quận miền núi như Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà, Trà Bồng… để điều quần chúng về thị xã. Hiện dân quê đã được ếm trong các ngôi chùa trong thị xã.


Học sinh các trường Trung học như Trần Quốc Tuấn, Bồ Đề, Quảng Ngãi nghĩa thục, Thu Xà, Kỹ Thuật… đều được thông báo. Tất cả nao nức đổ về thị xã.


Thấy thái độ các vị khách từ Sài Gòn, trừ anh Mẫu, không có vẻ tán thành xuống đường với lý do ở tỉnh lẻ, biểu tình có lợi cho Việt cộng, chàng phải kín đáo gặp riêng anh em, dự liệu tình huống xấu nhất nếu bị ngăn trở bởi phe ta thì làm sao?


Tất cả đã quyết định, trong đó có cả ý kiến của cánh An ninh Thị ủy bí mật: Bắn! Bắn bất cứ ai cản trở nhân dân Quảng Ngãi bày tỏ thái độ đối với Tổng thống Thiệu. Chàng quýnh lên sợ hãi trước mệnh lệnh này của tập thể, trong đó có một số lâu nay vẫn chưa hoàn toàn thống nhất lập trường với thầy Trí Quang và Giáo sư Mẫu, kể cả người học trò tích cực được chàng vô cùng yêu mến: Huỳnh Ngọc Hiến!


Tối đó chàng không ngủ, nghĩ rằng, nếu có súng nổ thì chưa phải lúc. Vả, cũng phải đề phòng trường hợp chính quyền bắn người biểu tình rồi đổ cho ta tội quá khích thì sao?


Theo dự kiến của anh em phong trào Quảng Ngãi, lễ ra mắt Hòa giải làm trong buổi sáng, đợi cho xong mọi tiết mục mới bắt đầu biểu tình, nghĩa là cũng phải tới đầu giờ chiều.


Từ chùa Tỉnh Hội, nơi diễn ra Đại hội, các nòng cốt sẽ cầm đầu đồng bào chia làm hai cánh, chàng cầm đầu một cánh, theo đường Trần Hưng Đạo. Cánh bên kia là Huỳnh Ngọc Hiến và Nguyễn Liệu xuống Ngã tư chính. Lê Văn Thành, cây văn nghệ của tỉnh và Trần Thuật Ngữ, nhà thơ có hai câu trứ danh:


Cuối khúc sông buồn tôi lớn khôn


Tuổi trôi con nước bỏ xa nguồn.


Bộ ba Hiến, Thành, Ngữ là ba người học trò tâm phúc của chàng.


Hiến đã chịu ba năm tù ở Tam Hiệp, được chàng mệnh danh là Đông Tà Hoàng dược sư. Thời đó truyện kiếm hiệp thịnh hành, Hiến tự xưng Đại Hiệp vì sinh năm 42, lớn tuổi hơn cả. Thành cùng tuổi, cùng hoạt động với Nguyễn Đình Mai, Lê Hiếu Đằng… những năm 65… 67 ở Sài Gòn, là Trung Hiệp. Thuật Ngữ có cha tập kết ngoài Bắc, nhỏ tuổi hơn hết: Thiếu Hiệp. Chính ba vị hiệp khách này đã giúp chàng ở địa phương Quảng Ngãi, gây sóng gió một thời.


Ngày 17-10-1974, trong một khung cảnh vô cùng huy hoàng của cái địa phương dân số hơn một triệu mà Phật giáo chiếm gần 100% này, hội trường ngạt ngào hoa thơm cúng Phật, đèn treo sáng choang. Một ngọn giáo kỳ năm màu rực rỡ to bằng cả tấm vách làm nền cho tượng Đức Bổn Sư đường bệ tĩnh tọa giữa vòng hào quang rực sáng và bánh xe pháp luân thiệp thế. Khẩu hiệu, băng rôn giăng mắc khắp chốn.


Dưới hàng các vị sư áo cà sa màu vàng tươi, phái đoàn Lực lượng Hoà giải Trung ương gồm đông đảo dân biểu, nghị sĩ, các nhà trí thức trong tỉnh và các tỉnh lân cận, tất cả đều bận đồ lớn đĩnh đạc, bấy giờ là complet và cravate.


Sau hồi chuông trống Bát Nhã, hành lễ theo nghi thức Bắc Tông, thầy Thích Giải Tân, trong hơi thở yếu ớt luôn bị ngắt đoạn bởi cơn hen suyễn kinh niên, cố đọc bức thông bạch của Phật giáo tỉnh, tuyên xưng thái độ nghiêm túc tuân thủ giáo quyền từ Trung ương, nhất là chủ trương thành lập Lực lượng Hòa giải Dân tộc này. Tất cả im ắng và nghiêm trang lắng nghe.


Trong phát biểu tiếp theo, nhân danh một dân cử ở địa phương, chàng khẳng định:


- Giờ lịch sử đã điểm.


- Sự chọn lựa duy nhất và bắt buộc đối với bậc thiện trí thức hôm nay là: Phải dấn thân và thề chết vì lợi ích của nhân dân. Không có con đường nào khác, ngoài hòa giải dân tộc.


- Riêng tại đây, Mặt trận Cứu đói và Lực lượng Hòa giải Dân tộc là một.


Có tiếng hoan hô ở bên ngoài, không biết do ai tổ chức.


Chàng biết với lập trường đó, những kẻ ngồi trong hội trường này, sư hữu và bạn bè chàng, có nhiều người chưa chấp nhận. Nhưng cũng đành. Tiếp theo, Cư sĩ Nguyễn Văn Chánh, người làm Phật sự kỳ cựu nhất ở đây, thay mặt Giáo hội tỉnh công bố mời chàng vào chức vụ chủ tịch và một số anh em khác vào Ban chấp hành.


Lê Đình Duyên và Đoàn Mại hơi sửng sốt. Nhưng anh Mẫu không mấy ngạc nhiên. Anh đã ra đây hai lần, một lần đi đám ma Tạ Thanh Hối, một lần nữa ở lâu hơn, đi cứu trợ đồng bào nghèo với chàng. Anh đã chứng kiến tận mắt sinh hoạt của chàng tại địa phương và nhận biết cả mối cảm tình dịu dàng và sâu thắm mà người dân và anh chị em trí thức, phần lớn là học trò cũ tại đây dành cho chàng.


Tới phiên Giáo sư Vũ Văn Mẫu, vị Chủ tịch Trung ương Lực lượng Hòa giải Dân tộc Việt Nam đứng dậy. Đúng là một nhà ngoại giao sành sỏi, anh cảm ơn địa phương đã quan tâm tới tổ chức chính trị của anh. Nhân danh chủ tịch, anh tuyên nhận Lực lượng Hòa giải Dân tộc Quảng Ngãi, chúc phát triển mạnh mẽ và hoàn toàn thắng lợi.


Tới đây tiếng hò reo nổ ra, rồi bản Dậy mà đi bất hủ của thời đó được cất lên, ai cũng biết hát. Nó lan ra, đều khắp, rung chuyển, vang vọng như một khúc John Peel mà chàng từng học trong bài tiếng Anh hồi bé:


Peel’s tally-ho would awaken the dead,


Or the for in his lair in the morning.


(Giọng hát gọi những hồn ma kẻ chết


Thức con chồn, từ hang thẳm, ban mai)


Chàng cho rằng nhân loại luôn có tính đại đồng, vượt không gian mênh mông giữa Trung Hoa cổ kính với một Anh Quốc xa mù, bất chấp thời gian miên man bất tận giữa Peel và Tô Đông pha[14], khi cả hai cùng diễn tả tâm trạng con người? Khác gì tiếng sáo trên sông Xích Bích:


        Hang sâu múa cái thuồng luồng,


Thuyền con thổn thức gái sương một mình.


                            (Tản Đà dịch)


Kể từ  khi châu Hóa được Hồ Quý Ly đặt tên (1400) cho tới nay, có lẽ đây là lần đầu tiên Cẩm Thành đông người đến thế.


Họ từ Ba Tơ khí thiêng, từ Ba Gia liên tiếp rừng già, từ Mỹ Lai nơi đã có hàng trăm người chết trong một cuộc tàn sát mấy năm về trước. Họ tích tụ đau khổ của nhiều đời, nhiều nghịch cảnh. Họ là mẹ già tuyệt vọng chờ con bên cửa mỗi chiều, là người thanh niên học sinh mù tịt trước tương lai phải làm bia đỡ đạn rồi sẽ ngã xuống chiến trường.


Cho nên, ngần ấy tiếng kêu than biến thành lòng căm thù. Họ thét lên, đập phá, đốt. Họ chửi Thiệu, chửi tay sai Thiệu, những đại tá tỉnh trưởng, những thiếu tá cảnh sát, những chánh án, dự thẩm, những dân biểu, nghị viên… xin ai đừng trách. Khi người ta quá đau khổ. Lửa cháy ở một vài nơi, rồi ở nhiều nơi. Rồi tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ. Khói mù bay, khói mù bay mịt mờ, chiều thu năm ấy.


Hai hôm sau, ngày 19, chàng còn ở quê, thì nhận được tờ nhật báo Điện Tín Sài Gòn đề ngày 18-10-1974 có hàng tít to như sau trên trang nhứt:


Quảng Ngãi, Đặc phái viên Điện Tín gửi thêm chi tiết về Biểu tình chống tham nhũng được đối phó bằng phi tiễn lựu đạn cay.


Quảng Ngãi 17-10: Một cuộc biểu tình vĩ đại và sắt máu chưa từng thấy trong lịch sử đấu tranh của quê hương Cách mạng Quảng Ngãi, đã diễn ra hơn 2 tiếng đồng hồ hồi chiều 17-10-1974 và kết thúc khi lực lượng cảnh sát bắn vào đám biểu tình làm cho một học sinh bị thương nặng và gần 100 người khác bị thương.


Đám biểu tình xuất phát từ Trung tâm Bảo trợ Thiếu nhi, đường Phan Bội Châu, nơi lễ ra mắt của Lực lượng Hòa giải Dân tộc tỉnh Quảng Ngãi với sự chủ tọa của nghị sĩ Vũ Văn Mẫu vừa kết thúc, di chuyển theo lộ trình Trần Hưng Đạo, Võ Tánh, Quang Trung. Tại ngã tư Võ Tánh - Quang Trung, lực lượng cảnh sát đã bắn phi tiễn M.16 sau khi tung hàng trăm quả lựu đạn cay mà không giải tán nổi.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Nhà văn, nhà thơ điên.




[2] Nhà khảo cứu, tác giả Văn Minh Việt Nam và Quốc Sư Vạn Hạnh.




[3] Nhà trước tác danh tiếng ở Sài Gòn.




[4] Báo thời ấy, phát hành lúc 3 giờ chiều, đề ngày hôm sau. Buổi sáng ký giả theo dõi biểu tình, buổi chiều báo ra, đã có tường thuật.




[5] Câu đối của Ngô Thời Nhậm.




[6] Thơ Lý Bạch: Lời phú của Khuất Bình treo được cao và vĩnh hằng như mặt trời, mặt trăng. Ý nói công trình nghệ thuật có giá trị lâu dài.




[7] Tức Nguyễn Hóa, sử gia.




[8] Tác giả Thẩm mỹ học thông khảo, văn học đại cương, Phạm Thái và Sơ Kính Tân Trang




[9] Cái gì đó.




[10] Cho bữa ăn trưa.




[11] Lực lượng Hòa giải dân tộc.




[12] Tuần báo nổi tiếng của Mỹ.




[13] Lực lượng Trung ương, 2 nhân vật này, 1 là Quốc dân đảng, 1 là Thiếu tá An ninh Quân đội VNCH.




[14] Phú Xích Bích của Tô Đông Pha: Vũ u hát chi tiềm giao/ Khốc cô châu chi ly phụ… Nghĩa là: Tiếng sáo làm cho con thuồng luồng ở đáy sông sâu phải thức dậy, múa và làm cho người cố phụ trên chiếc thuyền con phải khóc.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 12.12.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 06.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 05.12.2018
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.12.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 28.11.2018
Số đỏ - Vũ Trọng Phụng 28.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
xem thêm »