tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29935671
Tiểu thuyết
11.04.2015
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrook


Chương III



 



Chú Hannô phải đến lạy trước thi hài bà nội, bố chú bắt như thế. Trong bụng chú sợ lắm, nhưng chú không dám chống chế. Hôm bà cụ tham hấp hối, ông nghị ngồi ở bên bàn ăn than phiền với vợ về hành vi của ông Cơrítxtian, rằng khi mẹ nguy kịch nhất thì chú ấy bỏ đi ngủ nên mắng cho một trận. Ông nghị có ý nói chuyện ấy trước mặt con.



 



- Chú ấy thần kinh yếu, anh Tômát ạ! – Bà Ghécđa trả lời.



 



Ông nghị đưa mắt nhìn Hannô. Ông cố ý để cho con bắt gặp ánh mắt mình rồi nói, vẻ nghiêm khắc rằng chuyện đó không thể tha thứ được. Lúc đó mẹ đau đớn lắm, những người ngồi cạnh cũng phải xấu hổ thấy mình bình yên vô sự. Sao lại hèn nhát đến thế! Trước cảnh đau khổ ấy, mình tránh không muốn chịu đau khổ chút nào hay sao?



 



Nghe bố nói vậy, Hannô không dám có ý kiến gì về việc phải chiêm ngưỡng thi hài bà nội cả.



 



Trước hôm đưa đám, Hannô đi giữa bố và mẹ, từ căn phòng lớn cột tròn bước sang phòng này. Chú thấy căn phòng này đã thay đổi hoàn toàn, bày biện y hệt Nôen năm ngoái. Khi mọi người xếp hàng đi vào, chậu cảnh và cọc nến bạc to xen kẽ nhau thành hình vòng cung. Phía trước, dưới vòm lá cây xanh um, tượng đức Chúa Giêsu trắng đặt trên bệ đen bóng. Bức tượng này vốn để ở hành lang phía ngoài. Mặt tường phủ voan đen, gió thổi bay lất phất. Bức thảm màu xanh da trời và bức phù điêu thường mỉm cười với những người đến ăn bữa tiệc đoàn tụ gia đình trước đây đã bị che kín. Chú Giôhan đứng giữa những người thân thích mặc toàn đồ tang, trên tay áo thuỷ thủ của chú cũng đính một miếng lụa đen to tướng. Trong phòng, hoa bó, hoa vòng nhiều vô kể, thơm sực nức, thỉnh thoảng lại còn ngửi thấy một mùi nhàn nhạt rất lạ nhưng cũng quen quen. Cả hai mùi đó cùng làm cho chú ngây ngất. Chú đứng trước bàn thờ sợ hãi nhìn bà cụ tham nằm thẳng dưới nền vải xa tanh trắng.



 



 



 



Đó không phải là bà nội! Cái mũ có dải xa tanh trắng ngày lễ bà thường đội, mái tóc lòi ra phía dưới cái mũ vẫn là bộ tóc giả màu nâu của bà, nhưng cái mũi nhọn hoắt kia, đôi môi cụp vào trong kia, cái cằm vểnh ngước lên kia, hai cánh tay bắt chéo, nhìn qua cũng biết lạnh ngắt, cứng đờ, vàng khè, mòng mọng kia, đều không phải của bà. Hoàn toàn là một người giả nặn bằng sáp, mà chú chưa hề thấy! Nặn người giả ăn mặc như thế rồi trưng bày ở đây thì sợ thật! Chú nhìn về phía phòng phong cảnh, cảm  tưởng như lúc nào bà nội thật cũng có thể từ trong ấy đi ra. Nhưng bà không đi ra, bà chết rồi! Thần chết đã vĩnh viễn đổi bà bằng con người sáp này! Mắt và môi bà khép chặt! Thật khó mà gần được!



 



 



 



Chú đứng đấy, trọng lượng toàn thân dồn sang cả chân trái, chân phải hơi co, chỉ mấy ngón chân khẽ chạm đất, một tay nắm cái nơ thuỷ thủ trước ngực, tay kia thì buông thõng mềm nhũn. Chú nghiêng đầu sang một bên, mái tóc xoan màu vàng nhạt xỏa xuống tận thái dương. Dưới hàng lông mi nhíu lại, đôi mắt vàng thau có quầng xanh mở to, vẻ tư lự và bực dọc nhìn vào mắt người chết. Chú thở rất chậm, hầu như không dám hít không khí vào mũi, sợ phải ngửi thấy cái mùi vừa lạ vừa quen kia mà hương thơm ngào ngạt của hoa ở trong phòng không át nổi. Mỗi lần mùi đó xộ vào mũi thì lông mày chú nhíu lại,môi chú run lên một lúc… Cuối cùng chú thở dài một cái, nghe như tiếng nấc mà không có nước mắt. Bất giác bà Tôny cúi xuống hôn chú một cái rồi dắt chú đi ra.



 



 



 



Vợ chồng ông nghị, bà Tôny, cô Êrica đón tiếp người trong thành phố đến viếng ở trong phòng phong cảnh tới mấy tiếng đồng hồ liền. Khách khứa xong thì  bắt đầu cử hành tang lễ cụ bà ElIđabét Bútđenbrúc. Bà con họ hàng ở Phrăngphuốc và Hămbuốc về đây cả để được phố Manh đón tiếp niềm nở lần cuối cùng. Phòng khách, phòng phong cảnh, phòng lớn cột tròn, hành lang đều chật ních người. Dưới ánh nến sáng lòa, mục sư ở nhà thờ Xanh Mari đứng trang nghiêm trước quan tài làm lễ. Ông bắt chéo hai tay để dưới cằm, bộ mặt nhẵn thín nhô lên khỏi cái cổ áo rộng bản, ngước nhìn trời, lúc say sưa, lúc buồn rười rượi, lúc hiền hòa tươi tỉnh.



 



 



 



Bằng giọng lên bổng xuống trầm, ông ca ngợi đức tính của người quá cố, nào là ca thượng, khiêm tốn, lạc quan, chân thành, từ thiện, dịu hiền và đặc biệt nhắc tới “Dạ hội Giêrudalem” và “Trường học ngày chủ nhật”. Ông đem hết tài hùng biện làm cho cuộc sống giàu sang của người chết càng trở nên xán lạn huy hoàng… Cuối cùng, khi đả động tới sự chết chóc, ông nói một cách văn vẻ: người chết đã “yên giấc ngàn thu!”.



 



 



 



Bà Tôny biết rất rõ rằng, lúc này đứng trước những người khách đến viếng, bà phải có cái tư thế trang nghiêm, tỏ rõ mình là tang chủ. Bà và Êrica, cô con gái của bà, đứng ở một vị trí được mọi người rất chú ý, ngay trước quan tài chất đầy vòng hoa, sát cạnh mục sư, còn ông Tômát, bà Ghécđa, ông Cơrítxtian, cô Cơlốthinđơ, chú Giôhan, - cụ tham Cơruêgơ, người duy nhất được ngồi ghế, - đều đứng ở chỗ không lấy gì làm nổi lắm, chẳng khác gì những người họ hàng xa. Bà Tôny đứng thẳng người, vai nhô lên, hai tay chắp lại, cầm khăn mùi xoa vải lanh viền đen. Bà vô cùng tự hào về việc mình đóng vai trò chủ chốt trong những ngày khác thường này, tự hào đến mức quên hết mọi cảm giác đau khổ. Bà biết mọi người đang dồn mắt nhìn quanh cho nên bà chỉ nhìn xuống đất, thỉnh thoảng cũng ngước lên nhìn quan khách một lần. Bà thấy trong số những người đến viếng có vợ chồng Giunkhen, Muêlenđoóc họ Haghenxtruêm… Đúng, lần này những người ấy cũng đến, đó là người nhà Muêlenđoóc, người nhà Kítxtenmacơ hay người nhà Lănghanxơ và Uêvơđếch. Mặc dù bà Tôny Bútđenbrúc gặp phải chuyện Gơruynlích, chuyện Pécmanêdơ hay chuyện Vaisen, trước khi bà rời khỏi ngôi nhà tổ tiên để lại này, thì họ đến đây một lần nữa để chia buồn với bà, an ủi bà…!



 



 



 



Bài điếu văn của mục sư Prinhem vẫn thao thao bất tuyệt. Ông ta cố tình khơi gợi nỗi đau buồn do đám tang mang lại cho mọi người. Ông ta cặn kẽ giải thích cho họ biết là tổn thất mà họ chịu đựng to tát biết nhường nào. Ông có cách làm cho những kẻ không khóc được nữa cũng chảy nước mắt ra, mà họ cũng thực sự cảm ơn cách làm đó của ông. Khi nhắc tới “Dạ hội Giêrudalem”, tất cả những người bạn già của người chết đều nức nở, trừ cụ Kêthenden vì cụ không nghe thấy gì hết. Cụ ngơ ngác nhìn ngược nhìn xuôi theo thói quen của người điếc. Ngoài ra, hai chị em bà Kéchác cũng không xúc động gì. Hai cụ cầm tay nhau đứng trong góc tường, mắt vẫn ráo hoảnh. Trước cái chết của người bạn già, hai cụ chỉ thấy vui. Không những chỉ thấy vui mà chắc chắn hai cụ còn ghen, nếu như hai cụ biết ghen tị và tức giận.



 



 



 



Còn bà Vaisơbrốt thì người ta chỉ thấy bà ra sức vuốt mũi, lần nào cũng phát ra tiếng kêu giòn giã. Ba chị em họ Bútđenbrúc ở phố Brêten cũng không khóc. Các cô không có thói quen lau nước mắt. Nét mặt các cô tuy có bớt chua ngoa hơn ngày thường nhưng lại tỏ vẻ hài lòng lắm. Thì ra Tử thần không thiên vị một ai. Thật là chí công vô tư!…



 



 



 



Khi hai tiếng “Amen” cuối cùng của mục sư Prinhem tan vào không trung, bốn người phu khiêng đội mũ tam giác màu đen tiến vào. Họ bước nhẹ chân nhưng rất nhanh đến nỗi thân sau áo dài của họ cứ phồng lên. Họ đến ngay trước quan tài. Ai cũng quen mặt bốn người chuyên làm thuê làm mướn này cả. Những nhà giàu sang những lần mở tiệc đều gọi họ đến bê những chồng đĩa to tướng. Người ta cũng thường thấy họ đứng ngoài hành lang nốc những chai rượu vang đỏ của hãng Muêlenđoóc. Ngoài ra, gặp những gia đình loại một, loại hai có đám ma, họ là những nhân vật không thể thiếu được. Họ làm việc này cũng nhẹ nhàng thành thạo như thế. Họ rất biết những giờ phút khi chiếc quan tài bị người lạ đến khiêng đi là những phút giây hết sức nặng nề, cho nên phải làm thật gọn ghẽ, thật dứt khoát; chỉ mấy động tác nhẹ nhàng, không một tiếng động, họ đã đưa ra khỏi linh sàng đặt lên vai, hầu như không ai kịp cảm thấy cái đau khổ của giờ phút đó. Thế là chiếc quan tài có vòng hoa phủ kín đã được đưa ra khỏi căn phòng lớn cột tròn, không lề mề mà cũng không hấp tấp.



 



 



 



Các bà, các cô vây quanh bà Tôny và cô con gái, bắt tay vẻ long trọng. Hai mẹ con bà cũng sập mi mắt xuống nói mấy lời cảm tạ. Họ nói không nhiều quá, mà cũng không ít quá, đúng là vừa phải. Lúc này những người khách đàn ông sửa soạn đi ra ngoài lên xe ngựa.



 



 



 



Thế là đoàn người mặc toàn quần áo màu đen từ từ chuyển động. Họ đi qua những đường phố xám xịt, ẩm ướt, ra khỏi cổng thành, thủng thẳng dọc theo con đường cây cối hai bên rụng sạch lá đang dầm trong mưa lạnh. Cuối cùng thì đến nghĩa địa. Đội nhạc đứng sau một lùm cây thấp trơ trụi lá cử một bài nhạc buồn. Mọi người theo sau quan tài bước trên một đoạn đường mềm xốp, đến cạnh một rừng cây thấp. Ở đó có một tấm bia đá xây theo kiểu tháp, trên có tượng thánh giá đúc bằng xi măng, khắc hàng chữ đen to tướng ghi rõ đây là nghĩa trang họ Bútđenbrúc. Một tấm nắp đậy bằng đá khắc huy hiệu gia tộc nằm cạnh lò huyệt đen ngòm xung quanh cây cối xanh biếc.



 



 



 



Chỗ sâu sâu dưới đất là nơi chuẩn bị cho người mới đến. Mấy hôm gần đây, ông nghị thân hành đôn đốc mở rộng phần đất này ra, dời hài cốt những người dòng họ Bútđenbrúc ra hai bên. Trong tiếng nhạc buồn cuối cùng, chiếc quan tài đầy những sợi dây đung đưa từ từ hạ xuống. Khi chạm đất nghe “bịch” một tiếng. Mục sư Prinhem  tay đeo găng lại bắt đầu đọc kinh cầu nguyện. Giọng ông trong trẻo, nhiệt tình và chân thành đã được rèn luyện nhiều, từ phía huyệt vọng đi, bay bổng trên nền trời mùa thu thê lương, vắng lặng. Cuối cùng, ông cúi người xuống, gọi tên họ người chết rồi đưa tay làm dấu. Khi ông dứt lời cũng là khi tất cả quan khách đưa tay đeo găng lên cất mũ, lầm rầm cầu nguyện thì trên trời lóe ra một tia nắng. Mưa đã tạnh, chỉ dăm ba hột lác đác từ trên cành cây nhỏ xuống. Trong tiếng mưa rơi lách tách xen lẫn vài tiếng chim kêu ngắn ngủi, giòn tan như đang hỏi nhau điều gì. Tiếp đó, quan khách đến trước mặt hai ông con trai và ông em ruột người quá cố, bắt tay một lần nữa.



 



 



 



Những giọt mưa trắng bạc bám đầy vào chiếc áo dạ dày cộp màu sẫm của ông Tômát Bútđenbrúc. Khi quan khách lần lượt bước tới, ông đứng giữa ông Cơrítxtian và cụ Giúttút. Gần đây, người ông có hơi đẫy ra chứng tỏ ông có phần già hơn trước. Đó là dấu hiệu duy nhất của sự già nua trên con người luôn luôn chú ý giữ gìn sức khỏe này. Má ở phía sau bộ râu trê nhọn hoắt cũng đầy đặn hơn một ít, chỉ có nước da là bờn bợt như trước. Vị nào chìa tay ra, ông cũng khẽ nắm lấy một lát, lúc đó đôi mắt sưng đỏ của ông nhìn vào mặt khách tỏ vẻ ân cần.



 



 



 



 



 



 



 



 



 



 



 



Chương IV



 



 



 



 



 



 



 



Một tuần lễ sau, có một ông cụ loắt choắt ngồi trên chiếc ghế quay, đệm da, cạnh bàn giấy trong phòng làm việc của ông nghị Bútđenbrúc. Râu cạo nhẵn thín, mái tóc bạc phơ xõa xuống trán và hai bên thái dương, lưng gù, hai tay chống vào cán chiếc ba toong uốn cong, cằm nhọn hoắt, kê trên hai cánh tay bắt chéo, môi mím chặt, khóe miệng xệ xuống, đôi mắt vừa gian giảo vừa đáng ghét, ông già nhìn ông nghị chằm chằm. Thấy cảnh đó, ai cũng lấy làm lạ tại sao ông nghị không tìm cách xa lánh, mà còn đi lại với con người như vậy? Nhưng ông Tômát Bútđenbrúc thì ngả người tựa vào lưng ghế, ánh mắt vẫn thản nhiên như không. Hơn nữa, nghe ông nói chuyện với ông già nham hiểm, giảo hoạt này thì thấy không khác gì ông đang nói chuyện với một người thị dân bình thường và lương thiện. Ông chủ công ty Giôhan Bútđenbrúc đang thương lượng với cụ già Digítmen Gốtxơ về giá cả tòa nhà ở phố Manh đấy.



 



 



 



Cuộc thương lượng này mất khá nhiều thời gian, vì cụ Gốtxơ đặt giá hai vạn tám nghìn talơ1, nhưng ông nghị lại cho là rẻ quá. Người môi giới chào hàng ấy chỉ lên rời mà thề rằng, chỉ có điên mới trả thêm một đồng nữa! Ông Bútđenbrúc hết lời khen nào là địa điểm thuận tiện, nào là đất đai rộng rãi. Còn cụ Gốtxơ thì lại hoa tay múa chân nói một thôi một hồi rằng cụ liều lắm mới trả cái giá ấy và rất có nguy cơ khuynh gia bại sản. Lời giải thích của cụ lôi cuốn và sinh động, cụ nói chẳng khác gì cụ ngâm một bài thơ… Hừ! Nếu ông ta định bán tòa nhà này đi thì còn chờ gì nữa? Ai mua? Người muốn mua bỏ ra bao nhiêu tiền? Trong vòng một trăm năm liệu gặp được mấy ai thích mảnh đất này? Người bạn và là người tôn quý nhất của ông ta có thể bảo đảm với ông ta rằng, ngày mai chuyến xe lửa từ Busen sẽ có người nào đó vừa phát tài ở Ấn Độ về và có ý định ở tòa nhà cũ của gia đình Bútđenbrúc không? Tòa nhà này rồi sẽ nhất định vào tay Digítmen Gốtxơ thôi! Và như thế cụ sẽ hết sạch sành sanh, cụ chỉ chuốc lấy chuyện phiền não vào thân, bởi vì lúc đó không còn gì tất cả, cũng không còn thì giờ ngóc đầu lên nữa. Cụ đến tuổi rồi, cụ đã gần miệng lỗ rồi, huyệt của cụ đã đào sẵn rồi!…  Cụ say sưa với câu nói sau cùng ấy, thế là cụ bổ sung thêm mấy câu nữa, nào là hồn ma đang run rẩy, nào là đất cục rơi xuống nắp quan tài kêu lộp cộp!



 



 



 



Nhưng ông nghị vẫn tỏ ra không hài lòng. Ông lại nói tòa nhà ấy được cái tiện lợi là có thể chia nhỏ ra và ông có trách nhiệm với em trai, em gái ông. Dứt khoát phải ba vạn talơ mới xong! Với một thái độ nửa bực, nửa vui, ông lắng nghe cụ Gốtxơ đối đáp lại bằng những lời lẽ sắc bén. Cụ Gốtxơ nói gần hai tiếng đồng hồ. Trong hai tiếng ấy, cụ đem hết tài tấn công của cụ ra, chẳng khác gì cụ đang đóng vai một người hai mặt, vai một tên lưu manh giả nhân giả nghĩa.



 



 



 



- Chúng ta nói một lời thôi, ông nghị ạ! Ông chủ trẻ tuổi của tôi! Tám vạn bốn nghìn mác đó là giá cao nhất mà lão già thật thà này có thể trả được!



 



 



 



Cụ già nói ngọt như mía lùi, đầu nghiêng một bên, hai hàng lông mày giương lên cụp xuống, làm ra vẻ thật thà ngây thơ, một bàn tay trắng bệch giơ ra phía trước ngón tay dài ngoẵng run run. Nhưng đó chỉ  là dối trá bịp bợm mà thôi! Đứa trẻ con cũng nhìn thấy đằng sau bộ mặt giả dối kia, tên vô lại gian giảo ấy đang giở trò gì.



 



 



 



Cuối cùng ông Tômát Bútđenbrúc tuyên bố về giá cả thì ông còn phải suy nghĩ một thời gian nữa, ít ra cũng phải bàn với các em ông mới quyết định có bằng lòng bán với giá hai vạn tám nghìn talơ hay không mặc dù xem tình hình thì với giá này khó thành công đây. Ông chủ động bắt sang chuyện khác, hỏi về công việc làm ăn buôn bán và sức khỏe của cụ Gốtxơ.



 



 



 



Cụ Gốtxơ rất không được như ý. Cụ vung tay lên với một tư thế tuyệt đẹp, hết sức phủ nhận ý kiến cho rằng hoàn cảnh của cụ rất thuận lợi. Cụ già rồi, chẳng khác gì ngọn đèn trước gió, như cụ vừa nói, lò huyệt đã đào sẵn rồi. Tối tối uống rượu nâng cốc lên đến môi lần nào cũng đổ ra ngoài mất nửa! Quỷ quái! Sao mà cánh tay cứ run quá thể! Nhưng chửi rủa có ăn thua gì. Cụ không thể điều khiển được tay cụ nữa… Nhưng thôi, mặc kệ nó vậy. Dù sao thì đời cụ, cụ cũng đã từng trải nhiều rồi. Trên đời này có chuyện gì to tát mà lọt qua mắt cụ! Các cuộc cách mạng, các cuộc chiến tranh khủng khiếp, cụ đều trải qua. Hơn nữa, có thể nói như thế này chăng, những làn sóng đó cũng đã dội vào lòng cụ. Chà, nghĩ tới cuộc hội nghị đại biểu thị dân có ý nghĩa lịch sử năm ấy, cụ và cụ tham Giôhan Bútđenbrúc, thân sinh ông nghị, vai kề vai cùng nhau trấn áp quần chúng nổi loạn! Ôi cái thời buổi ấy!… Thật là làm cho người ta kinh hồn bạt vía… Ôi, cuộc đời cụ thật là phong phú làm sao! Cụ không nói suông bao giờ. Nội tâm cụ không nghèo nàn chút nào. Mẹ kiếp, cụ đã biết được sức mạnh của cụ “Sức mạnh như thế nào thì lý tưởng như thế ấy”. – Phơbách1 nói như vậy. Thậm chí đến ngày hôm nay, thậm chí bây  giờ, tâm hồn cụ cũng không phải là trống rỗng, trái tim cụ còn rất trẻ. Xưa nay, trái tim cụ chưa bao giờ mất và mãi mãi không bao giờ mất được sức cảm thụ đối với sự vật lớn lao. Trái tim cụ sẽ mãi mãi giữ vững lý tưởng của cụ một cách trung thành và sôi nổi… Dù vào nằm trong quan tài rồi, cụ cũng không từ bỏ những lý tưởng ấy, quyết không từ bỏ! Nhưng không phải lý tưởng còn thì người ta sẽ thực hiện được đâu! Quyết không phải! Lý tưởng giống như những ngôi sao sáng trên trời, có thể nhìn thấy chứ không thể với tới. “Ôi, hy vọng, chứ không phải là hiện thực. Hy vọng dù hư ảo chăng nữa, ít nhất cũng dẫn dắt chúng ta đi suốt cuộc đời bằng con đường vui vẻ”.1 Đó là câu nói của Larôsơphucô2, nhà văn ấy đến là hay bông đùa. Chứ không phải ư? Ông bạn và là ân chủ cao quý của cụ không cần nhớ những lời đó! Nhưng một người cô đơn, ở tầng lớp dưới, một người mơ tưởng trong đêm tối thì lại rất cần!



 



 



 



- Ông hạnh phúc lắm – Bỗng cụ vừa nói vừa để một tay lên đầu gối ông nghị và đưa đôi mắt đẫm lệ nhìn ông nghị. Đúng như thế, ông không nên phủ nhận, nếu không ông sẽ phạm tội không kính Chúa đấy! Ông hạnh phúc lắm, ông ôm hạnh phúc trong cánh tay! Ông xuất trận đánh nhau và dùng cánh tay mạnh mẽ của ông mà chinh phục nó… Dùng đôi vai mạnh mẽ của ông! Cụ nói chữa lại là “đôi vai” vì không muốn lặp lại chữ “cánh tay” hai lần. Cụ im lặng một lúc. Những lời nói nhún nhường của ông nghị, cụ không nghe gì cả. Cụ buồn bã mơ màng, nhìn mặt ông nghị. Lát sau, cụ bỗng đứng dậy nói:



 



 



 



- Chúng ta đang nói chuyện phiếm, lẽ ra chúng ta phải bàn chuyện nghiêm túc. Thời gian rất quý, không nên chần chừ, phí đi! Ông nghe tôi nói đây, bởi vì ông… ông có hiểu ý tôi không? Bởi vì… - Hình như cụ Gốtxơ muốn nói một thôi một hồi nữa, nhưng cụ kìm lại được. Cụ vung tay một cái, vẻ xúc động và sôi nổi, rồi nói to – Xin trả sản nghiệp này của lệnh đường hai vạn chín nghìn talơ đấy! Tức tám vạn bảy nghìn mác! Nói một tiếng thôi nhé!



 



 



 



Ông nghị Bútđenbrúc bằng lòng giá đó.



 



 



 



Đúng như dự đoán, bà Tôny cho là rẻ quá. Trừ phi có người nào tôn trọng những kỷ niệm của bà đối với tòa nhà này, trả ngay một trăm vạn mác, bà mới cho là phải chăng. Nếu không phải như thế thì bao nhiêu cũng không vừa lòng bà. Nhưng rồi bà cũng chóng quen với con số ông anh nói với bà, nhất là lúc đó, tâm trí, sức lực bà dồn hết vào mọi kế hoạch trong tương lai.



 



 



 



Thấy mình được chia bao nhiêu đồ đạc tốt, bà vui như mở cờ trong bụng. Mặc dù lúc đầu chưa ai nghĩ đến chuyện mời bà ra khỏi tòa nhà ông cha để lại này, nhưng bà đã vui vẻ đi hết nới này đến nơi nọ tìm thuê cho bà và gia đình bà một chỗ ở mới. Rời khỏi ngôi nhà cũ không phải là chuyện vui vẻ gì… nhất định như thế rồi! Hễ nghĩ tới chuyện đó, bà lại nước mắt lưng tròng. Nhưng mặt khác, lại được thay đổi hoàn cảnh, quả thật cũng có chỗ hấp dẫn… Như vậy chẳng phải là xây dựng lại gia đình, xây dựng lần thứ tư hay sao? Bà xem chỗ ở mới một lần nữa, lại bàn bạc với ông Giacốp chuyên trang trí nhà cửa, rồi lại ra phố mua rèm, mua thảm trải đất… Tim bà đập mạnh. Trong những ngày này, trái tim của người đàn bà đứng tuổi dày dạn với cuộc sống ấy, đập mạnh hơn bất cứ lúc nào.



 



 



 



Cứ thế mấy tuần trôi qua, bốn tuần, năm tuần, sáu tuần. Trận tuyết đầu tiên của năm nay đã xuống, mùa đông đã tới, lò sưởi đã nổ lách tách. Người trong gia đình Bútđenbrúc bắt đầu buồn rầu nghĩ ngợi: “Nôen năm nay sẽ thế nào đây?”. Giữa lúc đó xảy ra một chuyện, một chuyện đầy kịch tính làm cho mọi người ngơ ngác. Sự việc phát triển bỗng đến một bước rất đáng chú ý. Chuyện xảy ra… như từ trên trời rơi xuống. Bà Tôny đang tiến hành được một nửa công việc, cũng phải đứng thừ người ra!



 



 



 



- Anh Tômát này – Bà nói – Thần kinh em thất thường hay là cụ Gốtxơ nói mê đấy! Không thể như thế được! Hoang đường quá, không, không thể tưởng tượng nổi! – bà nói nửa chừng thì ngừng lại, đưa hai tay ôm lấy thái dương. Nhưng ông nghị chỉ nhún vai.



 



 



 



- Đã quyết định gì đâu, cô em ơi! Mới chỉ như thế thôi, nhưng cũng có khả năng như thế đấy. Cô bình tĩnh suy nghĩ thì cô sẽ thấy không phải là không tưởng tượng nổi đâu. Tất nhiên cũng hơi bất ngờ một chút. Khi cụ Gốtxơ nói với anh lần đầu, bản thân anh cũng đã chùn lại. Nhưng nói không thể tưởng tượng nổi, thì chả nhẽ có điều gì không ổn hay sao?



 



 



 



- Chết, em không thể giương mắt mà nhìn! – Bà nói rồi ngồi xuống ghế, không động đậy, như khúc gỗ.



 



 



 



Chuyện gì thế nhỉ? Chả là đã tìm được người mua nhà rồi hoặc cũng có thể nói có một người tỏ ra thích thú chuyện này, muốn xem kỹ tòa nhà để thương lượng giá cả với nhau mà thôi. Người ấy chính là ông Hécman Haghenxtruêm, một nhà buôn lớn kiêm chức tham nghị Bồ Đào Nha.



 



 



 



Khi tin này đưa đến tai bà Tôny lần đầu tiên, bà như tê dại đi, chẳng khác bị một đòn đánh vào đầu. Bà không thể tin và cũng không có sức để nghĩ sâu hơn nữa. Nhưng bây giờ chuyện đó ngày càng trở thành hiện thực, ông Haghenxtruêm đã đứng trước cổng ngôi nhà ở phố Manh, chờ vào xem, thì bà lại hung hăng lên như thể linh hồn đã trở về với thể xác. Bà chống lại, bà cực lực phản đối. Bà tìm những lời gay gắt nhất rồi tung ra như tung những bó đuốc, những lưỡi búa.



 



 



 



- Nhất định không thể như thế được, anh Tômát ạ! Em còn hơi thở nào là em không để như thế! Dù bán một con chó đi nữa thì cũng phải xem xem người mua là người thế nào. Huống hồ chúng ta bán tòa nhà của mẹ! Tòa nhà của gia đình ta! Phòng phong cảnh to lớn!



 



 



 



 



- Nhưng tôi hỏi cô, rốt cuộc cái gì cản trở nào?



 



 



 



- Rốt cuộc cái gì cản trở ư? Trời ơi, cản trở cái gì? Cản trở lão ta, cản trở lão béo ấy chính là mấy ngọn núi lớn! Đúng là mấy ngọn núi lớn! Nhưng lão ta có nhìn thấy gì đâu! Lão ta không chú ý! Lão ta cũng không hề cảm thấy! Chả nhẽ lão ta là con vật hay sao? Xưa nay nhà Haghenxtruêm là thù địch với nhà ta… Xưa kia ông Henrích Haghenxtruêm đã dở những thủ đoạn bỉ ổi với ông nội và ba chúng ta. Bây giờ nếu lão Hécman chưa làm cho anh bị thiệt, chưa giở trò đểu cáng ra với anh, chỉ vì chưa tìm ra cơ hội đó thôi! Hồi bé, em đã tát cho lão ta một bạt tai ở ngoài đường. Lúc ấy em có đủ lý do. Con Giunkhen, đứa em gái quý của nó, đã cào cấu em tơi bời. Tất nhiên đó là chuyện trẻ con, nên rồi cũng thôi. Nhưng lần nào gia đình ta ặp chuyện đen đủi thì chúng nó cũng đứng nhìn vẻ khoái chí lắm. Em hầu như là đối tượng cho chúng nó chế giễu… Có lẽ đó là ý muốn của Thượng đế chăng? Nhưng việc buôn bán, Hécman làm cho anh thua thiệt như thế nào, chèn anh bỉ ổi như thế nào, thì chỉ mình anh biết rõ. Anh Tom, về chuyện này, em không thể nào nói hết được. Cuối cùng cháu Êrica lấy được một người chồng tử tế, chúng nó cũng ăn không ngon ngủ không yên, tim trăm phương nghìn kế làm cho Huygô Vaisen mất thể diện, vào tù ra tội mới cam tâm. Những chuyện đó chỉ một mình ông anh trai nó làm cả. Con mèo đực ấy kiểm sát kiểm siếc gì! Bây giờ không ngờ chúng nó lại mặt dày mày dạn có những ý định lạ lùng như thế kia kìa.



 



 



 



- Cô Tôny, nghe anh nói đây này! Một là chúng ta không có quyền bàn chuyện này. Chúng ta làm xong thủ tục với cụ Gốtxơ rồi. Cụ ấy muốn bán cho ai thì bán, đó là quyền cụ ấy. Tất nhiên, anh cũng nghĩ như em. Qua chuyện này có thể thấy hình như số phận cố tình trêu chọc chúng ta…



 



 



 



- Số phận cố tình trêu chọc chúng ta ư? Anh Tom, đó là cách nghĩ của anh thôi. Còn em thì em cho là một điều nhục nhã, một cái tát và mặt. Đúng như vậy đấy!… Chả nhẽ anh không nghĩ xem nó có ý nghĩa gì không? Anh nghĩ đi, anh Tômát! Nó chứng tỏ rằng, gia đình Bútđenbrúc hết thời rồi, mãi mãi không bao giờ ngóc đầu dậy được nữa! Phải dọn đi nơi khác để cho gia đình Haghenxtruêm thích thú dọn tới ở. Không được đâu, anh Tômát ạ! Em không thể diễn màn kịch đó được! Em không thể dúng tay – dù chỉ là một ngón – vào chuyện nhục nhã ấy được! Cứ để cho lão ta đến. Nếu quả mặt lão ta dày như mặt mo thì cứ để lão đến mà xem! Em thì nhất định em không chào đón! Em sẽ cùng con em và cháu em ngồi trong phòng, khóa trái cửa lại, không cho lão ta bước vào. Nhất định em sẽ làm như thế!



 



 



 



- Cô thấy thế nào phải thì cô làm, cô em thân mến của anh! Nhưng trước khi làm, cô cũng phải nghĩ lại xem, có nên theo những lễ nghi phong tục ngoài xã hội nữa không? Có lẽ cô cho rằng ông tham Haghenxtruêm sẽ đau khổ vì hành vi của cô chứ gì? Không đâu, cô em ạ! Cô nhầm rồi! Ông ấy không vì thế mà thích thú, cũng không vì thế mà buồn rầu, ông ấy chỉ kinh ngạc một chút, chỉ kinh ngạc một chút bâng quơ mà thôi… Vấn đề là cô trút mọi nỗi oán hận của cô lên đầu ông ta, rồi cũng cho là ông ta oán giận cô, oán giận chúng ta như vậy. Nhầm rồi, cô Tôny ạ, ông ta không oán giận gì cô cả. Ông ta oán giận cô làm gì cơ chứ? Ông ta không oán giận gì ai cả. Hiện giờ ông ta đang lúc đắc chí, thuận buồm xuôi gió, nên lúc nào ông ta cũng vui vẻ. Bất cứ đối với ai, ông ta cũng dịu dàng. Cô cứ tin như thế. Anh đã nói với cô bao nhiêu lần rồi. Khi gặp ông ta ngoài đường mà cô tự kiềm chế được, đừng sát khí đằng đằng, mắt ngước lên trời, không thèm để ý đến ai, thì nhất định ông ta niềm nở chào hỏi cô cho mà xem. Ông ta ngạc nhiên vì thái độ của cô, ông ta bình tĩnh hoặc giả hơi mỉa mai mà ngạc nhiên một vài phút, nhưng rồi vì ông ta không làm gì trái với lương tâm, nên ông ta vẫn điềm nhiên không bị thái độ của cô làm cho lúng túng. Cô trách ông ta làm gì nhỉ? Nếu như trong việc buôn bán làm ăn, ông ta vượt xa chúng ta, và về mặt hoạt động xã hội, có lúc ông ta chèn ép anh, cái đó có hề gì đâu! Cái đó chỉ chứng tỏ rằng ông ta là một thương gia tài cán, một nhà chính trị có nhiều thủ đoạn hơn anh mà thôi… Cô bực tức cười nhạt như vậy là không phải lẽ chút nào cả! Bây giờ, trở về chuyện nhà cửa. Cái tòa nhà cũ kỹ này không còn ý nghĩa thực tế đối với chúng ta nữa. Thực ra, chúng ta đã đưa tất cả những gì quý giá về nhà anh rồi… Anh nói điều đó để cô yên tâm. Mặt khác, tại sao Haghenxtruêm lại nảy ra cái ý này cũng rõ ràng lắm! Nhà ấy phát tài to, số người trong nhà ấy cũng nhiều hơn trước. Từ ngày làm thông gia với gia đình Muêlenđoóc thì, về tiền của cũng như về danh vọng, nhà ấy vào bậc nhất. Nhưng họ còn thiếu một cái, bề ngoài họ còn thiếu một cái, vì họ cho họ là ưu việt, họ chưa có thiên kiến của thế tục, họ không nhận ra rằng, họ thiếu cái gọi là lịch sử vẻ vang, tức là sự hơp pháp hóa địa vị của họ. Bây giờ họ đang đi tìm cái đó. Họ muốn đến tòa nhà này chính để tạo cho họ cái đó… Cô chờ đấy mà xem. Ông tham Haghenxtruêm sẽ tìm cách giữ lấy những vật ở đây. Ông ta sẽ không tháo bất cứ một cái gì trong tòa nhà này, kể cả câu cách ngôn Dominus Providebit ở ngoài cổng, ông ta cũng để nguyên. Mặc dù nói cho công bằng thì công ty Xtrung – Haghenxtruêm thịnh vượng được như ngày này là do tay ông ta gây dựng nên, chứ chẳng phải ý trời gì hết!



 



 



 



- Anh nói hay lắm, anh Tom ạ! Nghe từ miệng anh thốt ra những lời như thế kia, em cũng thấy hả dạ! Chính em muốn nói như thế đấy. Trời ơi, nếu em có bộ óc như anh,em sẽ cho lão ta biết tay. Nhưng anh thì anh chỉ…



 



 



 



- Cô nên nhờ là bộ óc của anh chẳng giúp gì cho anh cả!



 



 



 



- Em đang muốn nói, nhưng anh thì chỉ nói chuyện này một cách bình thản và giải thích cho em biết vì sao Haghenxtruêm lại như thế. Quả thật em không thể hiểu nổi sao anh lại bình tĩnh như vậy được…! Ai chà, dù anh có nói thế nào đi chăng nữa, thì anh cũng có một trái tim như em. Em không thể tin rằng trong lòng, anh cũng bình tĩnh như anh để lộ ra ngoài. Thấy em bất bình thì anh giải thích làm vậy thôi… chưa biết chừng cũng là để tự an ủi mình đấy…



 



 



 



- Cô đến là sắc sảo, cô Tôny ạ! Cô chỉ nên chú ý anh làm như thế nào thôi, còn ngoài ra hoàn toàn là việc của anh!



 



 



 



- Anh Tom, em chỉ yêu cầu anh nói với em một điều nữa: chuyện đó phải chăng giống như một ảo ảnh làm đảo lộn hết cả?



 



 



 



- Rất giống!



 



 



 



- Một cơn ác mộng?



 



 



 



- Ai bảo không phải?



 



 



 



- Một màn hài kịch khiến người ta khóc dở, cười dở?



 



 



 



- Thôi, thôi!



 



 



 



Quả nhiên ông tham Haghenxtruêm đã đến phố Manh. Ông ta đến cùng cụ Gốtxơ. Cụ Gốtxơ tay cầm mũ con chiên đạo Gia tô, lom khom, mắt nhìn ngược nhìn xuôi, vẻ nham hiểm, theo sau ông tham. Họ đưa tấm danh thiếp cho cô hầu gái vừa ra mở cửa, đi thẳng vào phòng phong cảnh.



 



 



 



Ông Hécman Haghenxtruêm mặc cái áo bađờxuy dạ, dày và nặng, dài tận gót, không  cài khuy, để lòi bộ quần áo len Anh, màu cỏ úa, trông ra dáng một nhân vật quan trọng, một người thanh thế hiển hách ở Sở giao dịch. Ông ta béo lạ béo lùng. Không những hai cằm mà nửa mặt phía dưới cũng phì ra, bộ râu quai nón vàng óng ánh cũng không che giấu được. Lúc ông nhăn trán hay chau mày thì lớp da trên cái đầu tóc cắt ngắn cũng nhăn dúm lại. Cái mũi ở trên môi càng tẹt hơn trước, như dán chặt vào môi trên, lỗ mũi lấp sau hàng râu mép, thở đến là vất vả, thỉnh thoảng phải thở bằng mồm một hơi rõ dài. Mỗi lần hít như vậy, lưỡi tách khỏi hàm ếch và cổ họng nên nghe “tặc” một tiếng khe khẽ.



 



 



 



Thoáng nghe tiếng tặc lưỡi quen thuộc đó, bà Tôny mặt tái đi. Trước mắt bà tức khắc hiện ra cảnh cái bánh gatô chanh cặp xúc xích và gan ngỗng. Trong khoảnh khắc bà không giữ được cái vẻ kiêu ngạo lạnh lùng như  băng giá nữa.



 



 



 



Bà đội cái mũ tang trên mái tóc chải bóng mượt, bộ quần áo màu đen may rất vừa, nếp gấp trên váy lên đến tận nửa lưng. Bà bắt chéo tay, nhún vai, ngồi trên xôpha. Sau khi hai ông khách bước vào phòng, bà còn cố làm ra vẻ bình tĩnh nói với ông nghị một câu vu vơ (ông nghị không muốn để một mình bà trước cảnh lúng túng này, nên đã đến đây). Khi ông nghị bước thêm mấy bước ra giữa nhà niềm nở đón cụ Gốtxơ chuyên làm nghề môi giới chào hàng và trân trọng chào hỏi ông tham Haghenxtruêm thì bà Tôny vẫn ngồi im. Sau đó, bà mới khoan thai đứng dậy, hơi cúi xuống chào hai vị và lễ phép cùng anh trai mời khách ngồi. Bà cứ đưa mắt nhìn xuống đất, vẻ lạnh nhạt vô cùng.



 



 



 



Chủ và khách an tọa rồi, mấy phút đầu chỉ có ông tham Haghenxtruêm và cụ Gốtxơ thay nhau nói chuyện. Cụ Gốtxơ làm  ra vẻ khiêm tốn tự ti, trông đến buồn nôn, ai cũng thấy đằng sau đó ẩn giấu một tâm địa nham hiểm vô cùng! Cụ mong chủ nhân tha thứ cho cụ đã đến quấy rầy. Cụ lại nói ông tham Haghenxtruêm muốn mua tòa nhà này nên có ý đến đây xem xem… Sau đó, ông tham Haghenxtruêm nói lại ý đó bằng những lời lẽ khác. Giọng của ông khiến bà Tôny nhớ cái bánh gatô chanh cặp gan ngỗng. Đúng, nguyện vọng của ông tham là mua cho được tòa nhà này, mua cho mình hay mua cho người nhà cũng tốt. Ông mong điều đó có thể thực hiện được với mỗi điều kiện là nếu như cụ Gốtxơ không bắt chẹt quá đáng. Ha, ha, tất nhiên ông không mảy may nghi ngờ gì, việc này nhất định sẽ làm cho mọi người vui vẻ.



 



 



 



Lời ăn tiếng nói cũng như cử chỉ của ông cởi mở, không gò bó chút nào, rõ ràng ông có tài xã giao. Tất nhiên, điều đó không thể mang lại cho bà Tôny một ấn tượng gì. Nhất là để tỏ ra niềm nở, hầu như câu nào ông cũng nói với bà cả. Khi ông đề cập tới các thứ lý do vì sao phải mua tòa nhà này, giọng ông có vẻ như cầu xin ngườinghe thông cảm, ông nói:



 



 



 



- Không gian, cần phải thật nhiều không gian! Ngôi nhà của chúng tôi ở phố Xanhđơ, nói ra bà đây và ông nghị có lẽ không tin… đối với chúng tôi bây giờ chật chội quá, có lúc đến nỗi không trở mình được! Đừng nói khi có khách khứa, chỉ người nhà không thôi cũng chật rồi. Gia đình Hunêút, gia đình Muêlenđoóc và gia đình anh Môrítxơ, chật như là cá hộp. Bà xem, đó là lý do vì sao chúng tôi muốn tậu một tòa nhà rộng hơn.



 



 



 



Giọng ông có lúc như bực bội, vẻ mặt và cử chỉ của ông như muốn nói: “Chắc bà vẫn chưa hiểu làm sao tôi lại phải chịu cái tội ấy… Có lẽ là vì tôi ngốc chăng! Khả năng kinh tế của tôi, cảm ơn Thượng đế, vốn đủ để giải quyết vấn đề này cơ mà!”.



 



 



 



- Tôi  cũng muốn chờ – Ông nói tiếp – chờ khi nào hai cháu Séclin và Bốp cần, tôi sẽ nhường ngôi nhà ấy cho chúng nó, tôi sẽ tậu một cái lớn hơn. Nhưng bà cũng biết cho rằng – nói đến đây ông ngừng lại một lúc – con gái tôi, cháu Séclin đã đính hôn với Bốp, con trai cả ông anh làm kiểm sát mấy năm trước… Không thể trì hoãn được nữa, muộn lắm cũng không thể quá hai năm. Chúng nó còn trẻ lắm… thế mà lại hay! Nói tóm lại, tại sao tôi lại phải chờ chúng nó để rồi bỏ nhỡ một cơ hội rất tốt? Như vậy thì thật là vô nghĩa, thật là dại dột…



 



 



 



Mọi người đều đồng ý với những lời ông phân tích. Câu chuyện tạm dừng lại ở việc riêng của gia đình, dừng lại ở chỗ cưới xin sắp tới. Chuyện anh em thúc bá lấy nhau có lợi về kinh tế không còn là chuyện lạ lùng gì nữa ở điạc phương này, nên cũng không ai phản đối. Mọi người hỏi về kế hoạch của đôi bạn trẻ trong tương lai, thậm chí còn hỏi cả chuyện du lịch trong tuần trăng mật của họ. Cô dâu, chú rể có định đến Riviêra không, và những chuyện tương tự như vậy. “Chúng nó thích đi thì cứ để cho chúng nó đi, phải không?”… Mấy đứa bé hơn cũng trở thành đầu đề câu chuyện. Khi nói đến chúng, ông tham Haghenxtruêm một mặt tỏ ra hết sức xúc động, hết sức kiêu hãnh, mặt khác lại tỏ ra chẳng muốn nói, lúc nào cũng nhún vai. Ông có năm người con, ông Môrítxơ, anh trai ông, có bốn người, trai gái đầy đủ cả… “Đúng như thế, các cháu đều khỏe cả, cảm ơn bà”. Làm sao chúng lại không khỏe cơ chứ, có phải không? Tóm lại một câu, chúng vừa rắn rỏi, vừa hoạt bát. Tiếp đó, ông lại nói gia đình ông, số người cứ tăng liên tục, nhà cửa chật chội…



 



 



 



- Vâng, ở đây thì lại khác! – Ông nói – Bước chân lên cầu thang, tôi thấy rõ. Tòa nhà này quả là một hòn ngọc, đúng là một hòn ngọc, nếu như tôi có thể lấy hai vật to nhỏ khác nhau như thế mà so sánh được, ha ha…! Lấy những bức thảm treo trên tường kia mà nói, tôi thú thật với bà rằng, khi tôi nói chuyện với bà, mắt tôi không hề rời khỏi những tấm thảm đó. Đẹp thật, đúng như vậy! Hễ tôi nghĩ rằng bà ở trong tòa nhànày suốt đời…



 



 



 



- Vâng, nhưng khoảng giữa cũng có rời khỏi mấy lần! Bà Tôny nói giọng họng, nghe rất lạ. Thỉnh thoảng bà vẫn nói giọng ấy.



 



 



 



- Rời khỏi mấy lần, vâng!



 



 



 



Ông tham Haghenxtruêm lặp lại lời bà rồi cười nịnh. Ông đưa mắt nhìn ông nghị Bútđenbrúc rồi nhìn cụ Gốtxơ, thấy hai người nói chuyện với nhau bèn dịch cái ghế mình ngồi đến sát xôpha bà Tôny, người cũng nhấp nhô về phía bà, đến nỗi ông thở phì phò, bà nghe rất rõ. Theo phép lịch sự, bà không thể lùi xa, nên không sao tránh được làn hơi nóng ông thở ra. Bà đành ngồi im lặng, lưng ưỡn thẳng, mi mắt sụp xuống nhìn ông nhưng ông không mảy may cảm thấy dáng điệu không tự nhiên, gượng gạo ấy của bà.



 



 



 



- Bà xem – Ông nói – Tôi còn nhớ hình như trước kia chúng ta có trao đổi thương lượng với nhau một lần? Tất nhiên, lần đó, trao đổi cái gì nhỉ? Một thức ăn kẹo bành gì đấy, phải không?… Còn bây giờ thì lại là một tòa nhà…



 



 



 



- Tôi không nhớ.



 



 



 



Bà Tôny nói, cổ bà cứng đơ hơn trước, bởi vì mặt ông ghé sát quá, đến nỗi chẳng còn ra thể thông gì nữa, không thể chịu nổi…



 



 



 



- Bà không nhớ ư?



 



 



 



- Nói thực, tôi cũng không còn nhớ đến chuyện kẹo bánh nào cả. Trong đầu tôi chỉ còn mang máng cái bánh gatô chanh cặp xúc xích gì đó, một món quà sáng làm cho tôi phải bực mình… Không nhớ rõ phần quà sáng ấy là của tôi hay của ông… Lúc bấy giờ chúng ta còn trẻ con… Nhưng chuyện nhà cửa hôm nay hoàn toàn thuộc phạm vi nghề nghiệp của cụ Gốtxơ…



 



 



 



Bà đưa nhanh mắt nhìn anh trai tỏ vẻ cảm ơn, vì lúc đó ông nghị Bútđenbrúc thấy bà lúng túng đã gỡ hộ bà. Ông đề nghị các vị khách đảo qua các phòng một vòng. Họ vui lòng làm như vậy. Thế là họ chào tạm biệt bà Tôny và tỏ ý hy vọng lát nữa sẽ được gặp lại bà. Ông nghị đưa ai vị ra khỏi phòng ăn.



 



 



 



Ông dẫn họ lên gác, xuống gác, vào xem các căn phòng trên gác ba, các căn phòng cạnh hành lang gác hai rồi xuống tầng dưới còn xem cả nhà bếp và nhà hầm nữa. Họ không vào văn phòng, vì khi họ đi qua là lúc Công ty bảo hiểm đang làm việc. Họ trao đổi qua mấy câu về ông giám đốc mới của công ty bảo hiểm. Ông tham Haghenxtruêm cứ khen lấy khen để rằng ông ấy là một người thành thực lắm, còn ông nghị thì giữ thái độ im lặng trước những lời khen ngợi ấy.



 



 



 



Tiếp đó, họ đi qua một vườn hoa hoang vắng, tuyết đang tan dần, xem cái đình hóng mát, rồi trở về sân trước (nhà giặ quần áo ở ngay trong sân này). Từ đó họ đi theo con đường chật hẹp lát đá ở giữa hai bức tường đến nhà kho ở sân sau. Ở đây, ngoài cây sồi, còn tất cả đều có vẻ tiêu điều. Cỏ dại mọc giữa các kẽ đá, rêu bám đầy tam cấp, cầu thang trong phòng ọp ẹp, phòng bia đã trở thành nơi ở trọ không trả tiền của các chú mèo hoang. Họ đến thăm nhà làm cho các chú một phen hú vía. Họ chỉ mở cửa nhìn, sàn nhà không chắc nữa nên họ không bước vào.



 



 



 



Ông tham Haghenxtruêm ít lời hơn trước. Rõ ràng ông đang bận tính toán và suy nghĩ. Ông cứ luôn miệng nói “được rồi, được rồi…”, nhưng xem tinh thần thì lại như muốn nói rằng, nếu là chủ nhà thì nhất định ông sẽ sửa chữa lại hoàn toàn. Ông đứng một lúc trên nền xi măng ngang mặt đất, ngẩng lên nhìn những kho lúa trống rỗng ở phía trên, tinh thần vẫn như lúc nãy: “Được rồi, được rồi…”. Ông lại nói lầm rầm, tay cầm sợi dây tời nặng chịch lắc lắc. Sợi dây này cùng cái móc câu hoen rỉ phía dưới, treo lơ lửng giữa phòng lâu lắm rồi không ai đụng đến. Sau đó, ông quay ra.



 



 



 



Cảm ơn ông nghị, làm phiền ông nhiều quá. Tôi tưởng hình như chúng ta xem hết cả rồi.



 



 



 



Ông vội vàng trở lên nhà, hầu như không nói năng gì nữa. Ngay cả khi hai vị khách vào phòng phong cảnh chào bà Tôny (lần này họ không ngồi lại), và cả khi ông Tômát Bútđenbrúc tiễn họ xuống cầu thang, từ hành lang đi ra cổng, ông vẫn nói rất ít. Nhưng sau khi chủ khách chia tay, vừa bước chân xuống đường thì ông đã bắt chuyện ngay với ông Gốtxơ. Trông chừng hai người nói với nhau say sưa lắm!



 



 



 



Ông nghị trở lại phòng phong cảnh, bà Tôny đang ngồi thẳng người trước cửa sổ, mặt thừ ra, tay cầm que đan đan cho  cháu ElIđabét bộ quần áo len màu đen. Cứ đan được vài mũi bà lại ngước nhìn cái gương phản chiếu ngoài cửa sổ. Ông Tômát hai tay đút túi quần lặng lẽ đi đi lại lại mấy vòng trong phòng. Một hồi lâu ông mới nói:



 



 



 



Thôi được, chuyện này anh đã giao phó cho ông cụ làm nghề môi giới chào hàng rồi. Kết quả thế nào chúng ta chờ xem. Anh nghĩ chắc ông ấy sẽ mua cả tòa nhà, đằng trước để ở, đằng sau dùng vào việc khác…



 



 



 



Bà Tôny không nhìn ông. Bà vẫn ngồi như lúc nãy, tay vẫn đan liên tục, có điều đôi que đan trong tay bà đưa đi đưa lại có vẻ nhanh hơn lúc nãy.



 



 



 



À, tất nhiên ông ta sẽ mua thôi! Ông ta sẽ mua cả tòa nhà! – Lần này bà lại nói giọng cổ họng – Sao ông ta lại không mua? Không mua thì mới thật là ngốc, chẳng biết gì cả!



 



 



 



Bà dướn lông mày lên. Mắt đeo cái kính cặp mũi, chăm chú nhìn đôi que đan trong tay (Dạo này, mỗi khi khâu vá đan lát, bà thường phải đeo kính, mặc dù không bao giờ bà có thể đeo ngay ngắn được). Đôi kim đan cứ ngoáy qua ngoáy lại, kêu lách tách, làm cho ruột gan bà rối bời.



 



 



 



 



 



 



 



Lễ Nôen lại đến. Đây là lễ Nôen đầu tiên vắng bà cụ tham. Lần này tổ chức vào nhà ông nghị vào tối hai mươi bốn tháng mười hai. Không mời ba cô gái già họ Bútđenbrúc ở phố Brêten và cũng không mời vợ chồng cụ Cơruêgơ. Dạo này cũng bỏ cái ngày “nhi đồng” hàng tuần. Ông Tômát Bútđenbrúc không thích mời những vị khách thường dự những buổi lễ Nôen do bà cụ tham tổ chức đến để trao quà. Lần này chỉ mời bà Tôny, bà dẫn cả Êrica Vaisen và bé ElIđabét, ông Cơrítxtian, cô Cơlốthinđơ đang ở trong nhà tu và bà Vaisơbrốt. Cũng như trước kia, bà Vaisơbrốt tối hai mươi lăm tháng mười hai hàng năm vẫn trao tặng một số quà ở căn phòng nhỏ ấm cúng của bà, hơn nữa không năm nào bà tránh khỏi sai sót một chuyện gì đó.



 



 



 



Những bà con nghèo trước đây đến phố Manh được tặng giày và quần áo len, năm nay cũng không có quà nữa. Ban đồng ca tiếng chuông nhà thờ cũng không đến. Chỉ có những người đến dự ngồi ở trong phòng khách hát qua loa bài Đêm Nôen, đêm yên tĩnh. Rồi bà Vaisơbrốt dõng dạc đọc chương nói về đức Chúa ra đời ở trong Kinh thánh. Đó là việc của bà nghị, nhưng vốn bà không thích những chyện như vậy nên bà Vaisơbrốt làm thay. Sau đó, mọi người khẽ hát những lời ca trong đoạn thứ nhất bài Ôi, cây Nôen vừa đi xuyên qua một dãy buồng về phía căn phòng lớn. Không có gì đặc biệt làm cho mọi người vui. Trên nét mặt không thấy ai có vẻ thú vị. Chuyện trò cũng tẻ nhạt. Còn gì đáng nói nữa đâu? Những chuyện vui thú trên đời vốn không nhiều lắm! Họ nhắc tới bà mẹ quá cố, tới chuyện bán nhà, chuyện bà Tôny thuê được căn phòng sáng sủa ở trong ngôi nhà gác rất xinh trước quảng trường Cây bồ đề ngoài cổng Hônxten, khi nào ông Vaisen được tha về thì thu xếp như thế nào… Trong lúc đó, chú Giôhan dạo mấy bản nhạc trên đàn pianô mà chú học được của ông Phít, lại đệm cho mẹ kéo một bản nhạc của Môda. Chú đánh sai mấy chỗ nhưng âm hưởng rất tuyệt, được mọi người khen ngợi và ôm hôn. Nhưng sau đó bà Iđa Iungman liền đưa chú lên giường vì tối nay trông chú nhợt nhạt, mệt mỏi, bệnh đường ruột của chú vẫn chưa lành hẳn.



 



 



 



Ông Cơrítxtian từ hôm to tiếng với ông Tômát ở phòng ăn đến nay, không đả động gì đến chuyện vợ con nữa, còn quan hệ giữa hai người vẫn như trước kia, chẳng lấy gì làm đẹp đẽ lắm. Tối nay, ông không muốn nói chuyện với ai cả mà cũng chẳng buồn pha trò cười. Mắt ông long sòng sọc, chỉ để tỏ ra nửa người bên trái ông đang đau, mong mọi người thương hại. Sau đó, ông đến câu lạc bộ rất sớm, cho đến lúc cả nhà sum vầy trong bữa ăn tối như thường lệ, ông mới về. Gia đình ông Bútđenbrúc ăn mừng Nôen năm nay như thế đó, nhưng ai nấy vẫn thấy phấn khởi.



 



 



 



    Đầu năm 1872, cái gia đình ở phố Manh hoàn toàn tan rã. Những người hầu gái đều thôi không làm nữa. Bà Tôny không ngớt ca ngợi Thượng đế, bởi vì chị Sêvơrin vẫn thường lên mặt chủ nhà làm cho bà trước nay không chịu nổi, bây giờ cũng ra đi, mang theo bộ quần áo lụa được chia, chăn màn và áo quần lót. Kế đó, cỗ xe ngựa chở đồ đạc đã đến, và bắt đầu thu dọn. Những thứ vợ chồng ông nghị được chia, như tủ chạm, giá cắm nến mạ kền, vân vân, lần lượt được chở về ngõ Hàng Cá. Những thứ của ông Cơrítxtian thì chở đến căn nhà ba gian dành cho người độc thân ở gần câu lạc bộ. Còn gia đình bé nhỏ của bà Tôny dọn về căn gác ngôi nhà sáng sủa, đẹp đẽ ở quảng trường Cây Bồ Đề, ngôi nhà ấy nhỏ nhắn xinh xắn, thậm chí có thể gọi là “tao nhã”; ở cửa tầng gác của bà Tôny treo tấm biển đồng sáng choang, khắc chữ hoa: “Bà A. Pécmannêdơ Bútđenbrúc”.



 



 



 



Ngôi nhà ở phố Manh vừa được dọn sạch, thì một tốp thợ đã đến dỡ căn nhà ngang, bụi bay mù mịt, vẩn đục cả bầu trời. Mảnh đất này cuối cùng đã trở thành tài sản của ông tham Haghenxtruêm. Cho đến lúc tòa nhà ấy về tay ông ta, ông ta mới thấy thỏa mãn. Ở Pôlime có một người nữa có đến mặc cả với cụ Gốtxơ, nhưng ông tham Haghenxtruêm liền trả một giá cao hơn. Bây giờ ông ta đang vắt óc suy nghĩ tìm cách cho sinh lợi, chuyện ấy thì ông ta tài lắm, ai cũng phải phục. Đầu mùa xuân, cả nhà ông ta dọn đến tòa nhà phía trước, mọi thứ bày biện trong nhà đều cố giữ y nguyên, chỉ sửa sang đôi chút, như bỏ hết chuông giật, thay chuông điện vào… Dãy nhà ngang phía sau thì dỡ xuống, mà xây một ngôi mới đẹp đẽ, sáng sủa, cửa mở về phía ngõ Xưởng Bánh Mì, thành một gian phố to.



 



 



 



Nhiều lần bà Tôny thề với ông anh bà rằng, từ nay về sau quyết không một sức mạnh nào ở trên đời này có thể bắt bà ngó lại cái tòa nhà cũ ấy nữa, nhất định không bao giờ! Nhưng bà không có cách nào giữ được lời hứa của mình. Khi có việc, bà không thể không đi qua tòa nhà ấy, hoặc đi qua cổng gian phố cừa xây lên để cho thuê được một giá hời ở phía ngõ Xưởng Bánh Mì, hoặc đi qua bức tường tam giác của tòa nhà cao to, tráng lệ. Ở đây, dưới dòng chữ Latinh Dominus Providebit, bây giờ là tên Hécman Haghenxtruêm. Lúc ấy, bà Tôny đứng giữa đường khóc òa lên trước mặt mọi người. Bà ngửa đầu ra phía sau giống con chim sắp cất tiếng hót, đưa khăn tay lên che mặt, thế là khóc thảm thiết, nghe có vẻ vừa như phản kháng, vừa như oán giận. Người đi qua đường nhìnn ngó, hoặc cô con gái khuyên can, bà cũng mặc kệ, nước mắt bà cứ thế chảy dòng dòng.



 



 



 



Trong đời bà, bà đã trải qua không biết bao nhiêu phong ba bão táp, lúc chìm lúc nổi, nhưng tiếng khóc của bà vẫn ngây thơ, ấm ức như thời còn bé.



 



 



 



 



 



 



 



 



 



 



 



PHẦN MƯỜI. Chương I



 



 



 



 



 



 



 



Mỗi lần ông Tômát Bútđenbrúc cảm thấy buồn trong lòng, ông thường tự hỏi mình là người thế nào đây, mình có lý do gì để tự cho mình hơn những người thị dân chất phác, cần cù, đầu óc giản đơn  ở thành phố này? Đã tan biến rồi tất cả những ước mơ sôi nổi và những lý tưởng đẹp đẽ thời trai trẻ! Vừa làm vừa chơi, hoặc lấy công việc làm trò chơi, theo đuổi mục đích chỉ có ý nghĩa tượng trưng với tâm tính nửa đùa nửa thật, cái biện pháp thỏa hiệp ấy, cái cách xử thế thông minh, không coi việc gì là quan trọng ấy của kẻ hoài nghi mà lạc quan, chỉ  có được ở người đầy sức sống, vui tính, thích khôi hài… Nhưng ông Bútđenbrúc thì lại thấy mình mệt mỏi lắm rồi, chán nản lắm rồi!



 



 



 



Tất cả những gì đáng được hưởng trong cuộc sống trước kia ông đều đã được hưởng, hơn nữa, ông còn biết rất rõ đỉnh cao trong cuộc sống của ông – ông nói thêm, nếu như cuộc sống tầm thường, dung tục này còn có cái gì gọi là đỉnh cao – thì ông đã vượt qua rồi!



 



 



 



Chỉ nói đơn thuần về mặt tiêu tiền của thì vốn liếng của ông đã giảm đi nhiều lắm, việc kinh doanh của Công ty ông sút kém hẳn. Nhưng tính cả tài sản bà mẹ để lại cho và tiền mặt bán nhà và đất ở phố Manh thì ông vẫn còn sáu mươi vạn mác. Duy chỉ có vốn đầu tư vào công ty mấy năm lại đây, không làm sao sử dụng được hết. Đến khi mua hoa màu ở trang trại Puêpenrađơ, thì ông nghị ấm ức hồi đó chẳng lợi lộc gì. Từ lần thua thiệt ấy, tình hình không tốt đẹp lắm mà ngày càng xấu đi. Trước mắt, lúc này mọi việc đang lên như diều gặp gió. Hơn nữa, từ ngày thành phố này gia nhập đồng minh thuế quan, nhiều cửa hiệu bé tí mấy năm nay đã thành hãng buôn lớn, chỉ có công ty Giôhan Bútđenbrúc là lẹt đẹt hoài, không hưởng được chút gì do thời đại đưa tới. Có ai hỏi đến công ăn việc làm, ông lại xua tay uể oải trả lời: “Ai dào! Chẳng có gì phần khởi cả!…”. Một người cạnh tranh ráo riết với ông nghị và cũng là bạn thân, - ông tham Haghenxtruêm có lần nói, ông Tômát Bútđenbrúc chỉ là đồ trang trí của Sở giao dịch mà thôi. Câu nói đùa ấy vốn chỉ châm biếm cái bề ngoài bệ vệ, oai nghiêm của ông nghị, nhưng người trong thành phố lại rất tán thưởng, cho là câu nói đầy ý nghĩa.



 



 



 



Nếu về đường buôn bán, ông nghị thua thiệt đủ điều là do ông mệt mỏi, không phấn chấn, tận tâm tận lực cho cái công ty cũ kỹ này nữa, thì về hoạt động chính trị, ông lại bị những cái khách quan hạn chế làm ông không thể vươn lên được. Mấy năm gần đây, ông được bầu vào nghị viên; những gì ông đeo đuổi, ông cũng đạt được cả rồi. Bây giờ trở đi, chẳng qua là cố giữ lấy chức vị cũ mà thôi, không còn gì mà đeo đuổi nữa hết. Chỉ là hiện tại, chỉ là hiện tại, trong khoảnh khắc không có những mưu đồ to tát! Cố nhiên, ông rất biết lợi dụng chức vị của ông, người khác ở vào địa vị ông, sẽ không có quyền thế như vậy đâu, mà địch thủ của ông cũng không có cách nào phủ nhận ông là “cánh tay phải, cánh tay trái của ngài thị trưởng”. Nhưng làm thị trưởng, thì ông không đủ tư cách, bởi vì ông là thương gia, không phải là nhà trí thức; ông không tốt nghiệp trường văn khoa nào, không phải luật gia, chưa từng học ở học viện nào cả. Từ lâu, vì hay đọc sách lịch sử, văn học để qua thì giờ nhàn rỗi, ông cảm thấy về tinh thần, về trí lực hay về học vấn, ông đều hơn hẳn những người chung quanh, cho nên khi ông nghĩ rằng, chỉ vì mình chưa học luật mà không được ngồi vào cái ghế hạng nhất của tiểu vương quốc, nơi  ông sinh trưởng này, thì ông ấm ức hết sức. “Trước kia chúng ta dại quá!”, có lúc ông phàn nàn với ông bạn chí thân thường sùng bái ông là ông Xtêphan Kítxtenmacơ như thế. Những chữ “chúng ta” ông nói đó chỉ là bản thân ông mà thôi. – “Chúng ta vội vã chui ngay vào hãng buôn, chả chịu học hành cho đến nơi đến chốn!”. Ông Kítxtenmacơ trả lời: “Ừ, ông nói phải đấy, nhưng mà việc gì cơ?”.



 



 



 



Bây giờ phần lớn thời gian ông nghị làm việc ở cái bàn gỗ đào hoa tâm trong phòng giấy riêng. Trước hết vì căn phòng này kin đáo, không ai nhìn thấy ông chống đầu lim dim mắt suy nghĩ, nhưng chủ yếu là vì người bạn của ông, ông Máccút, ngồi trước mặt ông, cứ luôn tay sắp xếp giấy tờ, vê râu, làm bộ làm tịch khiến ông không chịu nổi, nên ông không thể không bỏ chỗ ngồi sát cửa sổ ở cái phòng giấy chung kia được.



 



 



 



  Cái tính tỉ mẩn của ông Máccút nay đã trở thành cố tật rồi, một cố tật quái gở, gần đây ông Tômát Bútđenbrúc trông càng ngứa mắt, thậm chí cảm thấy như bị sỉ nhục, bởi vì ông phát hiện ra rằng chính ông cũng như thế, và điều phát hiện đó làm ông giật nẩy mình! Đúng rồi, xưa nay ông ghét cay ghét đắng cái tính tỉ mẩn ấy, mà gần đây ông lại tỉ mẩn như thế, mặc dù nó có một tính chất khác và do một tâm tính khác.



 



 



 



    Lòng ông trống trải, ông không thấy có một kế hoạch nào làm cho ông phấn chấn, không có một công việc nào hấp dẫn, đáng để ông hồ hởi dốc hết tâm trí vào. Nhưng mặt khác ông chưa mất hết bản năng hoạt động; đầu óc ông không thể nghỉ ngơi;  ông còn hoạt động mặc dù sự cần thiết đó không giống tính tham công tiếc việc tự nhiên và bền vững của các vị tổ tiên. Bởi vì sự cần thiết hoạt động của ông là giả tạo, có tính chất thần kinh. Cơ bản mà nói, đó là một chất ma túy, cũng như lúc nào ông cũng phải ngậm trên môi điếu thuốc lá Nga loại nặng… Không những ông không mất đi bản năng hoạt động, mà càng ngày ông càng không thể khống chế nổi. Bản năng ấy ở ông đã chiếm ưu thế và trở thành một cực hình. Nó phân tán vào vô số việc nhỏ nhặt linh tinh, và ông bị những việc nhỏ nhặt linh tinh vô nghĩa ấy giày vò. Phần lớn là việc nhà cửa, việc ăn mặc. Vì tâm tư ông không được thoải mái nên thường thường những việc ấy, ông cũng làm lung tung, không ra sao cả. Nhưng ông cũng mất khá nhiều thì giờ và tâm sức vào đấy.



 



 



 



    Những cái mà người trong thành phố gọi là “hình thức”, “hư vinh” của ông, thường ngày cứ tăng mãi, tăng đến mức làm cho ông cũng phải thấy đến xấu hổ. Mặc dù vậy, ông chẳng thể dứt bỏ được những thói quen mới có kia. Đêm đêm, ông ngủ yên giấc nhưng mê mệt, tưởng chừng như chưa được nghỉ ngơi. Buổi sáng thức dậy – lúc ấy đã chín giờ, trước kia ông dậy sớm hơn nhiều – từ lúc ông mặc bộ quần áo ngủ đi sang phòng thay quần áo với ông thợ cắt tóc Venxen, cho đến lúc ông thấy mình đã chỉnh tề, chuẩn bị cho một ngày làm việc, mất tròn nửa tiếng đồng hồ! Bấy giờ ông mới xuống gác hai uống trà sáng. Ông sửa soạn con người ông rất chu đáo. Từ việc tắm nước lạnh trong buồng tắm đến việc chải bụi lên áo, cuối cùng uốn lại bộ râu bằng cái cặp nóng, mỗi chi tiết đều theo trình tự nhất định, không được đảo lộn, đến nỗi về sau những động tác nhỏ nhặt ấy cứ diễn đi diễn lại hàng ngày làm ông bực bội điên lên được. Nhưng ông biết chưa làm đủ động tác nào đó, hoặc làm qua quýt một chút, thì nhất định ông chưa đi ra khỏi phòng. Ông rất sợ mất cái cảm giác sạch sẽ, tinh khiết, không để vương hạt bụi nào. Nhưng rồi, mấy tiếng đồng hồ sau, cái cảm giác ấy cũng biến mất, thế là ông lại phải sửa soạn con người ông một lần nữa.



 



 



 



   Chỉ cần đừng để cho người ngoài bàn tán, có thể tiết kiệm được cái gì là ông tiết kiệm cái đó. Nhưng ăn mặc thì ông không tính toán. Tất cả quần áo của ông đều do thợ may cừ Hămbuốc cắt đo, và để giữ gìn, bổ sung những bộ quần áo ấy, ông không hà tiện. Trong phòng thay áo quần của ông, cứ mở cánh cửa trông giống cánh cửa lớn thông sang phòng bên cạnh, thì có thể thấy cái tủ chìm trong tường, rất lớn, trong đó hàng dãy mắc áo, giá áo bằng gỗ, treo đầy đủ các kiểu áo quần từng mùa, mặc trong trường hợp khác nhau: áo sơ mi, y phục ngày lễ thường, y phục ngày lễ lớn, áo đuôi én; quần thì gấp gọn, xếp đầy các ngăn. Trên cái bàn gương năm ngăn kéo, nào là lược, bàn chải đầu chải tóc, chải râu, trong ngăn kéo là các loại áo may ô, những thứ này giặt luôn, thay luôn và luôn luôn được bổ sung.



 



 



 



Không những mỗi buổi sáng ông mất rất nhiều thì giờ ở trong cái phòng tối này, mà mỗi lần đi dự tiệc, đi họp ở nghị viện, mỗi lần tham gia míttinh với công chúng, tóm lại hễ có dịp xuất hiện trước mặt người khác, ông đều mất thì giờ trong căn phòng này. Thậm chí, trước bữa ăn trong gia đình, chỉ có vợ ông, Giôhan, bà Iđa mà ông cũng phải tô điểm lại. Chiếc sơmi mới thay, chiếc áo vét là thẳng đứng, mặt mũi sáng sủa, mùi nước hoa bơm lên bộ râu, thậm chí vị mằn mặn của nước súc miệng cũng làm ông sảng khoái y như một diễn viên suốt đời đóng một vai kịch lớn. Trừ những lúc ngồi một mình, hoặc những lúc nghỉ ngơi ngắn ngủi, mỗi chi tiết trong cuộc sống hàng ngày ông đều như đóng kịch. Bất cứ cái gì ông cũng đem tất cả tinh lực ra ứng phó và không một điều gì không làm ông mỏi mệt. Bởi vì lòng ông mỏi mệt, tâm hồn ông trống rỗng – trống rỗng đến ghê sợ, thậm chí lúc nào ông cũng cảm thấy mơ màng, đầu óc bí rì rì – thêm vào đó chức vị mà ông không thể thoái thác được và lòng quyết tâm không gì lay chuyển nổi của ông là ăn mặc phải xứng với thân phận, bằng mọi cách che giấu các biểu hiện suy đồi của mình mà giữ thể diện, nên trong cuộc sống, ông nghị trở thành giả tạo, không tự nhiên, mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của ông trước mọi người đều kiểu cách đến khó chịu.



 



 



 



Tình hình đã như vậy, ông lại có một số hành vi kỳ quặc, một số thị hiếu quái gở làm cho chính ông cũng phải ghê tởm. Trong đời, có người không muốn đóng một vai trò nào cả, họ ngồi một chỗ kín đáo, không ai để ý mà quan sát người khác. Ông nghị thì không phải là người như thế. Ông không thích ẩn náu một nới để người khác xuất hiện trước mặt mình trong ánh sáng huy hoàng. Ông muốn ánh sáng chiếu vào người ông cho thật chói chang để ông nhìn người khác ngồi trong bóng tối, và ông sẽ chi phối họ với tư cách là người nổi danh và được sùng bái trong giới xã giao, hoặc là một thương gia năng nổ, hoặc là một chủ công ty có tiếng tăm, hoặc là một nhà diễn thuyết hùng biện… Chỉ có như thế, ông mới có cảm giác an toàn, cách bức, và có cảm giác mình đang đóngkịch say sưa, mọi thành công trong sự nghiệp của ông là nhờ vào cảm giác này. Đúng vậy, năm tháng trôi qua cái thú say sưa của người đóng kịch làm ông quen dần. Khi ông đứng trước bàn, tay nâng cốc rượu, mặt tươi hớn hở, cử chỉ tiêu sái, hòa nhã, chúc tụng mọi người bằng những lời lẽ hoa mỹ, cái hoa mỹ trong lời lẽ của ông thật đến kinh người, thì ai cũng phải hoan hỉ. Lúc ấy, mặc dù mặt ông trắng bệch, ông vẫn là Tômát Bútđenbrúc của năm xưa. Nhưng khi ông không có việc gì, ngồi một mình, thì ông không thể nào tự kiềm chế được. Bấy giờ, một cảm giác mệt mỏi chán ngán trào lên trong lòng, nét mặt của ông ảm đạm và tư thế của ông rã rời. Ông chỉ còn mong muốn có mỗi một điều là đầu hàng trước tâm trạng tuyệt vọng buồn nản kia, chuồn thẳng về nhà mà nằm khểnh, gối đầu lên cái gối mát mẻ!



 



 



 



   Hôm ấy, bà Tôny đang ăn bữa tối ở ngõ Hàng Cá, nhưng chỉ một mình bà mà thôi. Lẽ ra con gái bà cũng đến, có điều chiều hôm đó, cô ta vào nhà lao thăm chồng; như mọi lần cô ta thấy mệt mỏi nên ở nhà.



 



 



 



Ngồi trước bàn ăn, bà nói chuyện về Huygô Vaisen, bảo rằng anh ta rất đau khổ, sau đó, mọi người bàn bạc không biết có thể viết đơn lên nghị  viện xin ân xá được hay không. Lúc bấy giờ, vợ chồng ông nghị và bà Tôny ngồi quanh cái bàn tròn ở phòng khách, trên bàn treo ngọn đèn măngsông lớn. Bà Ghécđa Bútđenbrúc ngồi đối diện với bà Tôny, tay cầm kim đang thêu. Khuôn mặt xinh đẹp trắng trẻo của bà nghị cúi xuống chiếc khăn tay, mái tóc dày, đen mượt của bà phản chiếu ánh đèn. Cái kính cặp mũi của bà Tôny nằm nghiêng trên sống mũi như thừa, bà đang chăm chú buộc cái nơ đỏ lên quai cái làn màu vàng, chuẩn bị làm tặng phẩm sinh nhật cho một người quen. Ông nghị ngồi nghiêng trên cái ghế đệm lò xo có lưng tựa, ngả người ra phía sau, chân gấp lại, đọc báo, chốc chốc lại rít một hơi thuốc Nga, rồi nhả một làn khói trắng qua bộ râu.



 



 



 



Đó là một tối chủ nhật ấm áp mùa hè. Cánh cửa sổ rộng lớn mở toang, không khí dịu mát tràn vào. Từ bên bàn nhìn sang bức tường tam giác màu tro của tòa nhà đối diện, có thể trông thấy những ngôi sao lấp lánh giữa các đám mây đang trôi chầm chậm. Phía trước đường, quán bán hoa tươi của vợ chồng Ivơđen vẫn chưa tắt đèn. Xa hơn một chút, trong cái ngõ yên tĩnh có tiếng đàn phong cầm vọng ra, rất nhiều âm sai, người chơi đàn hình như là bạn của anh xà ích. Ngoài cửa sổ thỉnh thoảng lại có tiếng cười đùa. Mấy người thủy thủ quàng tay nhau vừa đi vừa hát, miệng ngậm thuốc lá, họ từ một nơi nào đó khả nghi gần bến tàu đi tới một nơi càng khả nghi hơn. Tiếng nói oang oang và bước chân loạn xạ của họ mất dần trong cái ngõ chạy ngang.



 



 



 



Ông nghị để tờ báo xuống cái bàn bên cạnh, cho kính mũi vào túi áo gilê, đưa tay lên xoa trán và dụi mắt.



 



 



 



- Chẳng có quái gì, tờ báo này chẳng có quái gì! – Ông nói – Tôi đọc, lại nhớ đến các cụ ngày xưa nói đến các món ăn “nhạt như thè lưỡi ra ngoài cửa sổ”… Xem ba phút hết ngay. Chẳng có quái gì!…



 



 



 



- Đúng, anh nói đúng đấy…! – Bà Tôny dừng tay nói, nhìn ông anh qua cặp kính – Báo này có gì đâu! Trước kia, hồi em còn bé, em cũng đã nói, tờ báo này đến là nghèo nàn. Tất nhiên, em cũng xem, biết làm thế nào? Còn tờ nào khác nữa?… Suốt ngày cứ phải đọc tin đại thương gia này, ông nghị nọ sắp tổ chức lễ cưới tiền, cưới bạc… phát ngấy lên được. Phải có một tờ báo khác, ví dụ như tờ…



 



 



 



(còn tiếp)



 



 



 



Nguồn: Gia đình Buddenbrock. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.



 



 



 



www.trieuxuan.info



__



1 Mỗi talơ bằng ba mác.



 



 1 Ludwig Feuerbach (1804-1872), nhà duy vật chủ nghĩa kiệt xuất thời kỳ trước Mác. (ND).



  



1 Nguyên văn bằng tiếng Pháp: L’espérance toute trompeuse qu’elle est, sert au moins à nous  mener à la fin de la vie par un chemin agréable.



  



2 La Rochefoucauld (1613-1680), nhà văn Pháp.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
xem thêm »