tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30444367
Những bài báo
29.02.2016
Vũ Từ Trang
Hồn thơ ở bến My Lăng



Kỷ niệm 100 năm sinh nhà thơ Yến Lan


Nhà thơ Yến Lan sinh ngày 2 tháng 3 năm 1916, quê tại thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông nội Yến Lan là nhà nho, thuộc dòng Minh Hương ở Phúc Kiến. Mồ côi mẹ năm 6 tuổi, đến tuổi trưởng thành Yến Lan sống bằng nghề dạy học tư và viết văn. Ông sáng tác thơ từ sớm và cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn hợp thành Bàn thành tứ hữu (bốn người bạn thơ đất Bình Định) nổi tiếng trên thi đàn lúc đó. Trong giai đoạn này, ông cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên sáng tác theo trường phái Thơ loạn (còn gọi là Thơ điên) với những trăng, xương, máu, hồn ma... trong thơ. Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Uỷ viên văn hoá Cứu quốc Bình Định (1947–1949); là Uỷ viên văn hoá kháng chiến Nam Trung Bộ, trưởng đoàn kịch Kháng chiến. Từ 1950 đến 1954 ông làm công tác văn hoá văn nghệ ở Bình Định. Sau 1954, Yến Lan tập kết ra Bắc, trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957, làm việc tại Nhà xuất bản Văn học và tham gia phong trào Nhân văn - Giai phẩm. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, ông trở về công tác tại Hội văn nghệ Bình Định và mất tại đây ngày 5 tháng 10 năm 1998. Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. VanVN.Net xin trân trọng giới thiệu bài viết về cố nhà thơ Yến Lan của nhà thơ Vũ Từ Trang vừa gửi đến.           


Tôi có cơ duyên thường được gặp gỡ ông vào những năm trước khi ông chuyển về sinh sống ở quê Bình Định. Ngày ấy gia đình ông ở căn phòng tầng hai ngôi nhà cổ phố Hàng Quạt. Còn tôi đương làm phóng viên cho một tờ báo ở phố Hàng Gai. Hễ khi rảnh việc, tôi lại men theo ngõ nhỏ xuyên tắt từ phố Hàng Gai sang phố Hàng Quạt để hầu chuyện ông. Nói là hầu chuyện, nhưng thực ra có khi cả buổi ngồi lặng lẽ uống trà với ông. Ông vốn không phải là người cao đàm khoát luận gì, tính ông ưa lặng lẽ. Hễ bốc lên, ông nói một thôi một hồi rồi lại lặng thinh. Có khi ông lai rủ rỉ rù rì đọc thơ khúc trầm khúc bổng. Con người ông không quá vồ vập, nhưng lại không phải là người lạnh nhạt. Ở ông luôn toát lên vẻ dễ gần, dễ thân thuộc. Ông là người cần cù chịu khó. Hầu như chưa lần nào đến tôi thấy ông ngồi yên. Khi thì thấy ông ngồi viết ngồi đọc, khi thấy ông xếp sắp mấy tập vở đang viết dở, khi thấy ông đang khâu vá vật gì đó, khi thấy ông đang say mê tưới tắm cho khóm hồng ngoài ban công. Cái ban công nho nhỏ mà hình như đã hỏng cả tay vịn lan can, nhưng hoa hồng thì luôn nở rất đẹp. Tôi biết ông yêu hoa hồng lắm. Loài hoa kiêu sa ấy ai chẳng mê, nhất là ông lại là thi sỹ, chẳng thế mà năm 1968, ông có tập thơ với tên sách “Lẵng hoa hồng”.


Với tôi, thơ của ông là một thứ ma mị. Ngay từ thuở thập thững vào nghiệp văn chương, tôi đã chép trong sổ tay nhiều bài thơ của ông. Ngày đó thơ của ông không được phổ biến rộng. Nhưng những bài “Lại về tỉnh nhỏ”, “Phù Ly”, nhất là bài “Bến My Lăng” thì ám ảnh tôi vô cùng. Tôi hình dung cái bến sông với con đò âm âm u u, như trôi trong cô tịch,


                Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách


                Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu


                Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách


                Ông lái buồn để gió lén mơn râu.


Tôi đã tự hỏi không biết nhà thơ là ông lão lái thuyền kia? Hay là chàng kỵ mã áo ngọc lưu ly nhúng đầy trăng? Hay là ngọn gió đìu hiu tịch mịch? Tôi biết đó là tâm trạng cô đơn vô cùng của ông giữa cảnh đời vừa thực vừa rất nhiều chất liêu trai.


Mảnh đất Bình Định của ông vốn là đất võ, nhưng nó lại vô cùng lãng mạn với sông Côn và biển Tam Quan xanh mát bóng dừa. Chính mảnh đất thành Đồ Bàn đã nảysinh ra nhóm tứ hữu, mà họ ngạo mạn, tự tin phong cho nhau danh hiệu tứ linh: long-lân-quy-phượng. Đó là tứ kiệt trong văn chương nước Việt: Hàn Mặc Tử-Yến Lan- Quách Tấn- Chế Lan viên.


Theo ông kể, sinh thời nhóm Bàn thành tứ hữu này sống rất thân thiết và bình đẳng. Cái mà họ tôn thờ cao nhất, ấy là thi ca. Thi ca nó là cõi đền đài cho họ gắn bó nhau và cùng soi vào đó để vươn tới vẻ đep thánh thiện. Nhà thơ Yến Lan còn lưu giữ mãi ấn tượng cuộc gặp gỡ giữa ông và thi sĩ Hàn Mặc Tử. Ấy là buổi sáng ngày chủ nhật giữa năm 1930, khi ông đang mải ngồi chép thơ mình mới sáng tác vào cuốn sổ tay bên mái chùa Ông quê hương ông, thì đúng lúc nhà thơ Hàn Mặc Tử đưa nhà văn Nguyễn Công Hoan vào viếng cảnh chùa. Hàn thi sỹ nhìn thấy chàng trai mải chép thơ và thế là họ thành bạn của nhau. Theo tuổi khai sinh, Hàn Mặc Tử sinh năm 1912, Yến Lan sinh năm 1916, Chế Lan Viên sinh năm 1920 và Quách Tấn sinh năm 1910. Tuy tuổi tác chênh lệch, vậy mà họ rất tri âm tri kỷ. Thi ca là cây cầu nối họ khăng khít lại với nhau. Sau buổi vào Quy Nhơn, tới ngôi nhà 20 Khải Định thăm thi sỹ họ Hàn, con người tinh thần của Yến Lan như thay đổi hẳn. Những vần thơ bảng lảng, mà trau chuốt và lãng mạn của ông như hồi hộp và quặn thắt hơn. Thưở ấy, nhóm Bàn thành tứ hữu xuất hiện đã gây tiếng vang và làm nghiêng ngửa nhiều nhóm thi ca đang nở rộ trong văn đàn ba miền Bắc Trung Nam. Đấy là thời hưng thịnh của thi ca nước nhà. Vị thế nhà thơ được đề cao hết mức. Đấy là thời mà ông Yến Lan cũng như các thành viên trong Bàn thành thi hữu say đắm tạo ra những vần thơ mới làm quyến rũ và đắm say bao lòng người. Lòng say mê sáng tạo với ông như khó có độ nào hơn cái thời đận ấy. Hễ ông và bạn bè viết được câu thơ, bài thơ nào mới là vội tìm nhau đọc cho nhau cùng nghe. Lầu cửa Đông thành Bình Định ngày ấy là nơi chiều chiều họ cùng đến để gặp gỡ nhau, đàm đạo văn chương. Bàn dân thiên hạ nom thấy bốn chàng trai Bàn thành tứ hữu là như thấy bốn cánh chim thi ca tung cánh bay trong con mắt tự hào và thán phục của họ.


Thời trẻ, ông trải qua nhiều nghề để kiếm sống. Nhưng có lẽ nghề gõ đầu trẻ là nghề bám đuổi dai dẳng với ông hơn cả. Nghiệp dạy học như cũng để ông gần với chữ nghĩa nhiều hơn. Ngoài dạy trẻ học chữ quốc ngữ, thầy giáo tư thục Lâm Thanh Lang - tên thật của nhà thơ Yến Lan, thường đọc thơ Đường, thơ Pháp cho lớp học trò nghe; giảng giải, phân tích và đưa các em dần tiếp cận vẻ đẹp sâu lắng của Đường thi và chất đắm say lãng mạn của thơ Pháp. Năm hai mươi tuổi, ông cùng Chế Lan Viên ôm hoài bão xuất bản một tờ báo riêng lấy tên là tờ Tiếng địch, hòng lấy đó làm nơi ngôn luận phát biểu, tuyên ngôn quan niệm của mình về thi ca nghệ thuật. Tiếc là tờ Tiếng địch mới phát hành được một số, thì hai chàng thi sỹ hết tiền không in nổi báo số báo thứ hai nữa. Tuy tờ báo bị chết yểu, nhưng đã đủ tạo tiếng vang trong văn đàn báo giới. Nó phản ánh ý chí, khát khao của những con người luôn muốn tìm cái mới, không chấp nhận cuộc sống buồn tẻ, nhàm chán của lớp trí thức trẻ thời bấy giờ.


Ông là người sớm nổi tiếng. Tập thơ đầu tay “Bến My Lăng” của ông tuy chưa được xuất bản, thơ ông mới in rải rác trên các báo Phụ nữ, Tiểu thuyết thứ Năm, Nghệ thuật... vậy mà khi Hoài Thanh - Hoài Chân soạn cuốn Thi nhân Việt Nam đã phải viết “Xem thơ Yến Lan tôi mơ màng như đi trong mây mù. Khi đầu thì cũng hay hay, nhưng dần lâu cơ hồ ngạt thở. Chỉ thấy mờ mờ những con đường chảy, êm như những dòng sông, và nhất là cái vừng trăng vẫn thường ám ảnh các nhà thơ Bình  Định. Ngoài ra chịu không biết sau màn mây mù ấy có gì không.” Bài viết vào tháng 10 năm 1941, ấy là khi nhà thơ mới có hai mươi nhăm tuổi. Thơ của ông, cũng như thơ của các nhà thơ trong nhóm Bàn thành tứ hữu sớm khẳng định giọng điệu, phong cách sáng tạo của phong trào Thơ Mới. Nói đến  thơ mới, là không thể không nói đến thơ Yến Lan.


                   Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã


                   Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly


                   Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả


                   Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.


 


                   Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách


                   Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng


                   Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách


                   Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.


Cái gốc muôn đời của thơ, ấy là cảm xúc. Cảm xúc trong thơ Yến Lan bao giờ cũng trào dâng và quặn thắt. Tuy nhiên nó lại như tinh sạch quá, kỹ càng quá. Có người nói, đó là thế mạnh trong thơ ông, và âu cũng là cái giới hạn trong thơ ông chăng?!


Bài “Nhớ”, trong tập “Bến My Lăng” và cũng được in trong tập “Thi nhân Việt Nam” cũng có những câu thơ kỹ càng tới mức kỳ tài.


                    Tôi nhớ trên đường bao vảy lá


                    Mà thu vàng rụng giữa ngày khô!


Những vảy lá và thu vàng rụng ngày khô, nghe như hơi hướng thơ xưa. Nhìn chung, thơ Yến Lan cũng như thơ Quách Tấn, có phảng phất hơi hướng của mùa cổ điển. Đó là sự ảnh hưởng trong kết cấu và trong âm hưởng cảm xúc. Tuy nhiên, thơ ông đôi lúc lại có những nét tung tẩy, buông bắt rất đáng yêu .


                    Tỉnh nhỏ


                    đìu hiu


                    mặt trời chiều


                    ngủ trên mái rạ


                   ... Tỉnh nhỏ


                    cô em


                    nằm xem


                   kiếm hiệp


Nhưng phải ghi nhận những vần thơ ông viết về quê hương đã đạt mức huyền ảo. “Trời Bình Định có thương em lẻ chiếc. Em nằm thương xanh biếc của trời buồn”. Những vần thơ đắng đót mà như chỉ ở ông mới có. Phải chăng nó là cảnh ngộ riêng của ông?! Bài thơ tứ tuyệt “Khi chị đi lấy  chồng” như xoáy vào tâm gan người đọc.


                     Khế chua chị nấu lá mồng tơi


                     Em ước cùng ăn đến trọn đời


                     Tang mẹ mãn rồi, bà mối giục


                     Chị đi - bát đũa cũng mồ côi.


Sinh thời, ông đã đọc đến mấy lần bài thơ này cho tôi được nghe ở căn gác nhỏ 37 Hàng Quạt mà ông và gia đinh ông đang trú ngụ. Đấy là thời bài thơ chưa được công bố, tình hình đất nước còn chia cắt. Phố huyện An Nhơn  khi ấy ông chưa được trở về và ông cũng chưa hình dung bao giờ ông được trở về. Kiếp sống xa quê cứ day dứt tâm khảm, làm ông không mấy khi được thanh thản. Nó như không nói được thành lời trước bạn bè, mà đôi khi chỉ thấy thốt lên trong thơ như một tiếng nấc. Tôi đã mấy lần được chứng kiến cảnh ông đang đọc thơ cho bạn nghe, bỗng ông quay mặt ra phía khác, tay gạt dòng nước mắt. Tôi hiểu, đấy là khi thơ đã nói thay ông được rất nhiều tâm trạng.


Tập thơ “Những ngọn đèn”, xuất bản năm 1957, là tập thơ hay của ông. Tuy nhiên, vì thời điểm tập thơ ra đời không được đúng lúc, nên ngay thời đó ông bị phê bình là “tư tưởng tiểu tư sản”. Như để giã từ “tính giai cấp”, ông đã tự chuyển hóa bằng cách lăn xả vào cuộc sống. Những ngả đường đất nước, những vạt đồi nông trường, những cánh đồng hợp tác xã đã cuốn hút ông và đem đến cho ông những cảm xúc tươi rói. Những bài “Bài thơ hợp tác thôn tôi”, “Theo gió xuân lên biên giới”... là kết quả của những chuyến đi thực tế và lăn xả vào cuộc sống của nhà thơ. Trong con người thi sỹ của ông, thì thái độ công dân của ông luôn rõ ràng. Thời chiến tranh chống Mỹ, ông có những bài thơ hay về chiến thắng Bình Giã, Vạn Tường. Ông là người có sở trường viết thơ tứ tuyệt. Phải chăng thể loại thơ này nó hợp với những cảm xúc cô đọng, súc tích và có chút hoài niệm?! Trong nhóm Bàn thành tứ hữu, có hai nhà thơ cự phách của thể thơ tứ tuyệt, ấy là Quách Tấn và Yến Lan. Sinh thời, nhà thơ Yến Lan rất phục tài thơ tứ tuyệt của Quách Tấn. Tôi nhớ có lần được nhìn ông trịnh trọng cởi mấy lớp giấy bóng kính để lấy ra tập thơ tứ tuyệt của bạn ông là Quách  Tấn gửi tặng. Tôi không tiện hỏi là đường dây nào đã chuyển ấn phẩm thơ in từ Sài Gòn thời Ngụy ra tặng ông. Tôi lơ mơ hiểu rằng tập thơ được chuyển đường vòng từ Sài Gòn sang Pa-ri và từ Pa-ri gửi về Hà Nội và qua rất nhiều kiểm duyệt nhiêu khê. Tôi được đọc ngấu nghiến mấy chục bài thơ tứ tuyệt và bái phục ông Quách Tấn. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mang máng, đó là những vần thơ thương nhớ quê hương và nỗi cảm khái của người không xu thời mẫn thế. Tôi còn nhớ nhà thơ Yến Lan vừa đọc vừa giải thích cho tôi nghe về một địa danh nào trong thơ, hoặc một vài ngôn ngữ địa phương. Khi đó, có bài tôi chưa hiểu lắm, hoặc không hợp tâm trạng mình; nhưng tôi thấy bài nào cũng toát lên lòng yêu nước, yêu dân tộc. Tôi còn nhớ dáng vẻ vừa suýt soa nhớ bạn, phục thơ bạn; và động tác vừa phải giấu diếm rất tội nghiệp của ông khi ấy. Bây giờ, thơ Quách Tấn đã được in ấn công khai và đầy đủ. Tôi càng thấy tình yêu quê hương xứ sở tới mức xót xa của người thi sỹ tiêu biểu của mùa cổ điển trong nhóm Bàn thành tứ hữu dạo nào và càng thấy tình bạn thủy chung khăng khít của họ.


Sau ngày đất nước thống nhất, ông vội khăn gói cùng người vợ hiền đáp tầu hỏa về quê. Có người hỏi: sao ông không vào Sài Gòn hay ra Đà Nẵng sinh sống cho thuận tiện? Ông không trả lời, mà mấy ai hiểu tâm trạng của ông. Với ông, quê hương là nỗi niềm canh cánh bao năm trời. Dòng sông, mảnh vườn, mái nhà và cái bến sông My Lăng như vẫn âm âm u u trong tâm cảm của ông đã mấy chục năm trời. Đấy là bến sông ảo vọng, nhưng nó như có đời sống thực sống cùng suốt cuộc đời ông. Tôi hình dung ngày trở về cố hương của ông, sau phút hàn huyên với người thân sau bao năm xa cách, hẳn ông lại đi tìm cái bến sông mơ hồ trong cảm xúc đó. Tôi không hình dung nổi buổi hội ngộ giữa ông và nhà thơ Quách Tấn nó chan chứa cảm xúc bao nhiêu?! Nhưng tôi chắc hẳn rằng hai ông sẽ dành cho nhau những giây phút bình yên nhất, để đọc cho nhau nghe những vần thơ gan ruột của mình; cùng nhớ lại thời trai trẻ tung hoành, cùng ôn lại kỷ niệm một thưở của Bàn thành tứ hữu như mới ngày nào, mà nay hai mái đầu đã bạc.           


Bình tĩnh đọc lại một cách hệ thống những sáng tác của nhà thơ Yến Lan, thì thấy mảng thơ đề tài quê hương luôn nặng trĩu trong tâm cảm ông. Đương nhiên, với bất kỳ nhà thơ nào, thì quê hương vẫn là niềm thương nhớ, nhưng tôi thấy nỗi nhớ quê của ông như luôn đầy, nặng. Không kể những tập thơ khác, riêng tập thơ tứ tuyệt của ông đã có hơn trăm bài ông viết về quê hương và những người thân ở quê hương ông.          


Có thể dẫn ra bất kỳ bài thơ nào của ông đều thấy nỗi niềm ấy.


                                 Khói quyện đầu ô, nửa xóm nhòa


                                 Tàu dừng đổ khách, sắp rời ga


                                 Đồng hương kẻ xuống, người ra đón


                                 Mình suốt đời đi chửa tới nhà.


                                                        (Tàu ngang quê cũ)           


Hoặc là:


                                 Đò ngang gối bãi, bóng trăng lồng


                                 Chợ khuất sương chiều mắt trẻ trông


                                 Ta ước như em còn có mẹ


                                 Dẫu cùng đăm đắm một ven sông


                                                         (Chờ)           


Bến My Lăng, cái bến tưởng tượng trong tâm trí của ông, sau hơn ba mươi năm xa cách, nay gặp lại:


                                 Thăm quê về lại bến trăng xưa


                                 Còn tưởng đêm nay đứng gọi đò


                                 Chưa kịp nhớ ra lòng có hẹn


                                 Chèo ai cập bến đã vang khua.


                                                        (Qua bến My Lăng)             


Tâm hồn ông vốn đan chéo tâm sự. Ông thèm khát về quê, vậy mà khi ở quê rồi, ông lại thao thức nhớ ngôi nhà ngoài Hà Nội một thời ông đã sống:


                                 Nghe tràn gió bấc chuyển vào đông


                                 Tìm hướng nhà xưa rợp cúc, hồng


                                 Đâu nỡ trách quê tình giục giã


                                 Chỉ lo con trẻ bỏ hồng không.


                                                       (Nhớ hoa hồng nhà 37 Hàng Quạt)


 


Cái tâm trạng vừa bảng lảng vừa quặn thắt, vừa trào dâng vừa lắng đọng, nó như đi xuyên suốt chặng đường sáng tạo thi ca của ông, tạo ra phong cách thơ riêng của ông.            


Ông có một gia đình yên ả. Tình cảm vợ chồng tao khang, tôi như nhận rõ được ở gia đình ông. Những ngày gia đình ông còn ở Hà Nội, hễ đến bất kỳ khi nào, tôi đều nhận cảm được điều đó. Bà Lan, người vợ hiền thục của ông không phải người Huế, vậy mà tôi luôn ngỡ bà là người Huế. Phải chăng phong cách sống của bà luôn gợi cho tôi liên tưởng đó. Bóng dáng người vợ dịu dàng, khuôn phép như thường thoáng hiện trong thơ ông. Bạn bè ông vẫn kể giai thoại thời trai trẻ có hai người con gái mà ông hết mực qúy mến, đấy là cô Yến và cô Lan. Ấy rồi cô Lan thành vợ ông và ông đã lấy tên hai người con gái từng ảnh hưởng tới đời sống tinh thần của ông ghép thành tên bút danh Yến Lan. Thuở ông sinh thời, tôi đã mấy lần định hỏi xác minh lại điều này, vậy mà tôi không dám, vì thấy giai thoại có gì cao đẹp quá. Những năm tháng cuối đời ông ốm đau liên miên. Trong ngôi nhà nhỏ ở ven chợ An Nhơn, người ta thường thấy cảnh bà bưng bát thuốc mời ông uống cho giảm bệnh, một tay bà cầm quạt giấy phe phẩy cho ông qua cơn nóng bức. Đã vậy, bà còn là người thư ký riêng, cặm cụi chép những vần thơ ông vừa sáng tác. Tuyển tập thơ tứ tuyệt của ông được Nhà xuất bản Văn Học cho ấn hành tháng 9 năm 2006, là do công sức lớn của bà Lan. Đọc tập thơ gần năm trăm bài thơ tứ tuyệt của ông, tôi phục sức làm việc của ông một phần, một phần phục công chăm sóc của bà để tập thơ ra đời. Tôi hình dung cảnh bà ngồi lặng lẽ chép thơ của ông và cảnh bà đi gõ cửa Nhà xuất bản xin giấy phép và bà gom góp số tiền lương hưu ít ỏi của mình để in tập thơ cho ông, tôi ứa nước mắt cảm động. Hỏi đời nhà thơ có hạnh phúc nào hơn với nghĩa cử của người vợ lo cho tác phẩm của mình như thế?!             


Tôi đã nhiều lần gặp nhà thơ Lâm Huy Nhuận, hòng kiếm tìm thêm chút tư liệu về nhà thơ của bến My Lăng. Lâm Huy Nhuận - con trai của thi sỹ Yến Lan, anh là nhà thơ trưởng thành thời chống Mỹ, với tính khí sôi động ồn ã, khác hẳn tính nho nhã của cha anh. Lâm Huy Nhuận có thể uống rượu đọc thơ ào ạt trước đám đông; nhưng khi nhắc đến người cha thi sỹ của mình, bỗng anh trầm giọng lại. Anh nói cha anh cho anh ý chí làm người và dạy anh làm nghệ thuật phải bằng tấm lòng yêu thương đích thực. Tôi nhớ một thời nhà thơ Hoài Anh, thường kể chuyện rằng rất tự hào từng là học trò yêu của nhà thơ Yến Lan. Sinh thời, ông luôn nhiệt tình kèm cặp các nhà thơ trẻ. Ông thường tâm sự, muốn làm nhà thơ, trước tiên hãy làm con người tốt. Và với thơ, điều tối kỵ là viết dối, viết cẩu thả. Với tôi, nỗi nhớ ông thường âm thầm và tự nhiên. Trên đường đi đâu đó, hễ chợt gặp một phố huyện nhỏ bé nào, tôi lại tự nhiên liên tưởng và bất thần nhẩm đọc vần thơ “Tỉnh nhỏ đìu hiu...” của ông mà tôi thuộc tự khi nào. Khi ấy, tôi như thấy  giải tỏa được rất nhiều tâm trạng của mình.


VTT


vanvn.net


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Các mối quan hệ xã hội trong làng Vũ Đại - Nguyễn Đức Mậu (Mậu Tuất) 03.12.2019
Bùi Quang Huy và nghĩa cử của kẻ hậu sinh - Thu Trân 03.12.2019
Vì sao tôi viết tiểu thuyết VN. Mafia – Sóng lừng? - Triệu Xuân 01.12.2019
Thư về Thơ - Đỗ Quyên 29.11.2019
Alexandre de Rhodes có nói như thế không? - Trần Thanh Ái 27.11.2019
Giữ gìn trong sáng tiếng Việt! - Tư liệu 27.11.2019
Tiểu thuyết "Cõi mê" của nhà văn Triệu Xuân làm xôn xao dư luận! - Thanh Chung 13.11.2019
Khi người Anh Hùng lên tiếng - Phạm Thành Hưng 12.11.2019
Nhớ thời học Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội - Triệu Xuân 11.11.2019
Chuyện cuối tuần: Chính trị, như gai nhọn dưới chân trần - Tư liệu 08.11.2019
xem thêm »