tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24020983
Tiểu thuyết
06.09.2018
TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz
Thầy lang


Cô ta lao ra, mặt đỏ bừng vì tức giận, dập cửa đánh sầm một tiếng. Nhưng ngày hôm sau, cơn giận không còn chút gì trong cô. Cô lại âu yếm múc súp cho ông ăn thêm, cô rót cho ông nước chè đặc hơn những người khác và tươi cười phô ra hàm răng đều đặn, trắng nõn nà.


Ngoài Zonia, không một ai khác ở cối xay nhòm nhó đến cái nhà ngang của ông Antoni, dĩ nhiên không kể bé Natanka. Natanka thích ngồi ở đây cả ngày lẫn đêm, những khi có thể ngồi được. Em rất gắn bó với ông Antoni. Một hôm cô bé bảo ông:


- Càng ngày mợ Zonia càng diện nhiều. Hôm qua mợ ấy mua một chiếc áo màu đỏ tươi ở chợ. Cả xà phòng thơm nữa nhá. Rồi giày cao gót nữa…


- Thế thì hay lắm.


- Nhưng cháu biết vì sao mợ ấy diện rồi.


- Vì mợ ấy là đàn bà, đàn bà ai chẳng thích diện.


- Không phải - Natanka lắc đầu - Mợ ấy diện vì muốn cưới bác đấy.


- Cháu đừng nói linh tinh - ông mắng át đi.


- Đâu phải cháu tự nói, chú Witalis bảo đấy. Cả bà cũng bảo thế.


- Họ nói vớ vẩn đấy.


Cô bé vỗ tay.


- Đúng không? Đúng không?


- Cháu biết vì sao bác không muốn lấy mợ Zonia. Bác muốn lấy cháu kia, khi nào cháu lớn.


- Hẳn rồi, hẳn rồi - ông vuốt tóc cô bé và mỉm cười.


- Bác lấy thật chứ?


- Có điều phải lớn mau lên.


Ông chỉ thích trò chuyện với mỗi mình cô bé và chỉ với mình nó ông mới chỉ thoáng mỉm cười. Ông yêu mến Natanka chân thành. Vậy nên bao lần cơn động kinh hành hạ cô bé ông lại âu sầu lo lắng và tự nhủ rằng ngay đầu mùa xuân ông sẽ vào rừng tìm những cây thuốc có thể chữa bệnh cho nó. Trong cả vùng, bất kỳ nơi đâu người ta bán hoặc hái lượm để dùng các loại cây mẫu thảo, nữ lang, bạc hà, hoa gia cúc ngải, bạch hoa, sừng đen, lá bạch dương, hạt anh túc dại, bạch chỉ, ngải cứu, mã đề, cà dược, thỉ xa, hồng đen và các thứ cây cỏ thuốc khác nữa, ông đều hỏi thăm, duy chỉ không tài nào nhớ nổi tên của nó, và mặc dù ông đã cố gắng mô tả loại cây thuốc có những chiếc lá nhỏ sắc ấy nom hình dáng ra sao, song không một ai có thể nói cho ông hay tên gọi của nó, hoặc giả trong các khu rừng trong vùng quanh đấy có mọc lại ấy hay không.


Một lần ông ra tận hiệu thuốc ở Radoliszki, hi vọng sẽ tìm được cây thuốc ấy tại đấy. Nhưng người chủ hiệu, sốt ruột vì những lời giải thích dài dòng và vì ông không có loại cây thuốc đó, ông đã mời thẳng ông Antoni ra khỏi cửa. Ông ta mời ra cửa còn vì rằng nếu xung quanh thị trấn có càng nhiều thầy lang tụ họp, thì thuốc của hiệu ông bán càng ít chạy. Nhưng thành công mà vị thầy lang ngụ tại chiếc cối xay gần thị trấn đạt được, đối với ông chủ hiệu thuốc lẫn vị thầy lang địa phương - bác sĩ Pawlicki - lại như cái gai chọc vào mắt. Tiếng tăm của thầy lang đã lớn đến độ không thể không làm giảm bớt số bệnh nhân của họ ngay vùng thị trấn.


Đến hồi tuyết tan vào tháng ba, lúc người ta bị đau ốm nhiều nhất, trong khi số bệnh nhân của bác sĩ Pawlicki không hề tăng thêm, thì anh ta bắt đầu ra tay hành động sau khi bàn bạc với ông chủ hiệu thuốc. Anh viết một bản điều trần dài lê thê gửi ông huyện trưởng và gửi bác sĩ trưởng của huyện, than phiền về nạn bành trướng của các thầy lang, và đòi phải thi hành những biện pháp chính quyền nhằm mục đích v.v… Song chính quyền hành động rất chậm chạp, chờ mãi thư trả lời chẳng chịu đến cho. Trong khi đó lại xảy ra một chuyện khiến bác sĩ Pawlicki như hóa điên. Một hôm nọ, người từ điền trang Kluczew mang ngựa đến đón anh ta. Ngài Kijakowicz, chủ điền trang Kluczew, bị sỏi thận và thường phải mời bác sĩ. Chiếc xe ngựa nhẹ từ Kluczew thường xuất hiện từ sáng sớm. Việc đó cũng có lý do của nó. Tối tối, ông Kijakowicz thường đến nhà hàng xóm đánh bài và ông khó lòng kìm giữ để không nhấp vài ly rượu, và thế là trăm lần như một đến đêm là nổi cơn đau, và sáng sớm anh xà ích Ignacy phải quất đôi ngựa màu hạt dẻ chạy hay nhất đi mời bác sĩ.


Ấy thế mà lần này anh ta xuất hiện vào buổi chiều. Vì vậy, sau khi đã ngồi lên xe, bác sĩ Pawlicki hỏi xem có chuyện gì. Hoặc là không lường thật kỹ mình đang nói chuyện gì và đang nói với ai, hoặc muốn cố tình làm vị bác sĩ thường hay quên chi tiền trà thuốc này phật ý – nên anh chàng Ignacy chân thật nói toẹt ra. Té ra, người ta phái anh đi từ sáng sớm như mọi lần, nhưng không phải đến đón bác sĩ, mà đến đón cái ông lang nọ, chính cái ông Antoni Kosiba đang ngụ ở nhà cụ Mielnik gần thị trấn ấy.


- Sao lại thế? - Bác sĩ thảng thốt - Anh được cử đi đón thầy lang sao?


- Đón thầy lang ạ.


- Hình như ông chủ Kijakowicz nóng lòng muốn sang thế giới bên kia thì phải.


- Nóng lòng thì không nóng. Người ta đồn rằng hễ ông lang này mà đi chữa thì cứ là khỏi liền tay.


Bác sĩ nổi khùng:


- Ngu dốt thế là cùng! Ngu dốt thế là cùng! Các người không hiểu rằng một thằng ngốc thường tình, không những không biết chút gì về y học mà thậm chí đến cấu tạo cơ thể cũng không biết, là một mối họa to lớn thế nào cho người ta hay sao?


- Tôi hiểu chứ - người đánh xe lẩm bẩm.


- Tôi giải thích cho anh nghe. Giả sử như con ngựa hay nhất của anh bị ốm. Anh đến tìm ai nào? Đến tìm thú y hay đến tìm một thằng ngu không phân biệt nổi đâu là đầu, đâu là đuôi ngựa?


Ignacy bật cười.


- Ai mà không phân biệt nổi… Nhưng tại sao tôi lại để đến nỗi ngựa của tôi phải ốm? Nếu người chăm lo cho ngựa, còn con ngựa lại tốt, thì tại sao phải để đến nỗi sinh bệnh, phỉ thui đi.


Bác sĩ Pawlicki phẩy tay, nhưng chỉ lát sau anh ta lại vẫn tiếp tục.


- Nhưng anh thấy không, anh vẫn còn thông minh nên đến mời tôi chứ không phải đến với cái ông lang vườn kia.


- Tôi biết làm thế nào? Nếu đánh xe không về thì thể nào ông chủ cũng quạng vào mõm cho ấy chứ. Tôi bèn suy tính và nghĩ ra ông ấy đã không muốn thì ta đến mời bác sĩ vậy.


- Ai không muốn?


- À, cái ông… thầy lang ở nhà ông Mielnik ấy.


- Sao lại không muốn?


- Ông ta không muốn, thế thôi. Tôi - ông ta bảo - không có thời giờ đâu mà đến thăm bệnh cho khắp các ông chủ được. Thế anh không trông thấy bao nhiêu người ốm đang chờ kia sao? Ông ấy bảo thế, tôi nhìn, quả nhiên thấy bao nhiêu là người đang chờ. Cứ y như họp chợ vào ngày thứ năm ấy. Tôi bèn bảo ông ta rằng ông chủ sẽ trả nhiều tiền hơn tất cả bọn họ ở đây gộp lại, có điều phải đến chữa cho ông chủ. Ông ta bèn đáp: nếu ông chủ ốm, xin mời ông chủ cũng đến đây như những người khác. Còn tiền thì tôi không cần… tôi biết làm gì được nữa? Quay lại là xong. Vì chính tôi cũng biết là ông ấy không cần tiền.


- Nhưng lại lấy các thứ khác - bác sĩ Pawlicki thốt lên.


- Không, thứ khác ông ấy cũng không lấy! Ồ, chút bơ, ít trứng hay khúc dồi thì kể gì. Ông ấy không tham.


Vị bác sĩ nghiến chặt hai hàm răng lại. Khi đến nơi, anh ta hoàn toàn không chỉ trích gì ông chủ Kijakowicz nữa, nhưng trên đường về anh ta ra lệnh cho Ignacy rẽ vào chỗ cối xay.


Ngay trước cối xay, hay đúng hơn là trong sân gần nhà ngang, có mươi chiếc xe đang đỗ. Những con ngựa được tháo ra khỏi càng đang bình thản nhai cỏ khô. Những người ốm nằm trên xe. Bẩy tám người nông phu ngồi trên xà chuồng gia súc đang hút thuốc.


- Cái gã…thầy lang ấy ở đâu? - Bác sĩ Pawlicki hỏi.


Một người ông phu đứng dậy đưa tay trỏ vào cửa.


- Trong nhà ấy, thưa ông!


Bác sĩ nhảy ra khỏi xe rồi đẩy cánh cửa. Ngay trong chiếc hành lang chật chội, đậy vào mũi anh ta là mùi da hôi xì, mùi nhựa chưng và mùi bắp cải chua. Trong phòng hôi hám không thể chịu nổi. Hàng đống đồ cũ và đất bẩn chật vào sàn nhà, cửa kính và tất cả mọi thứ đồ đạc… Điều đó hoàn toàn không khác với những gì bác sĩ đã lường trước. Sát tường một mụ đàn bà đang ngồi, với những triệu chứng rõ rệt của bệnh vàng da. Một người đàn ông râu ria tua tủa, to lớn, vâm khỏe, tóc màu tiêu muối, đang đứng lom khom bên bàn, nghiền một thứ cây thuốc gì đó trong chiếc khăn tay bẩn thỉu.


- Ra người là thầy lang đấy? - Bác sĩ Pawlicki hỏi sẵng.


- Tôi là thợ của cối xay - ông Antoni đáp gọn, đưa mắt nhìn vị khách một cách thiếu thiện cảm.


- Nhưng nhà ngươi lại dám chữa bệnh! Ngươi dám đầu độc mọi người! Ngươi có biết rằng đó là phạm pháp không?


- Ông muốn gì và ông là ai mới được chứ? - Thầy lang bình tĩnh hỏi lại.


- Ta là thầy thuốc, là bác sĩ y khoa. Nhà ngươi đừng tưởng rằng ta đây sẽ lấy tay che mắt để mặc nhà ngươi đầu độc mọi người đâu nhé.


Thầy lang nghiền xong cây thuốc, cuộn nó vào chiếc khăn, đưa cái gói cho người đàn bà rồi bảo:


- Cho hai nhúm vào một cút nước, như tôi đã dặn. Uống nóng. Lúc đói một nửa, buổi tối một nửa. Bà hiểu chưa?


- Hiểu rồi ạ.


- Vậy thì nhờ lượng Chúa.


Người đàn bà cảm ơn rồi rên rẩm bước ra. Thầy lang ngồi xuống chiếc ghế và ngoảnh lại nhìn bác sĩ:


- Tôi đầu độc ai kia, thưa ngài?


- Đầu độc tất cả mọi người!


- Không đúng, thưa ngài. Không một ai chết cả.


- Chưa ai chết?! Nhưng đang chết! Ngươi đầu độc dần dần cơ thể của họ. Đó là một tội ác! Hiểu chưa? Tội ác! Ta sẽ không cho phép làm thế đâu! Ta không có quyền dung thứ chuyện đó. Trong cái nơi bẩn thỉu này, hôi hám thế này! Ngay trên tay ngươi cũng có nhiều vi trùng dịch bệnh hơn trong bệnh viện lây rồi!


Anh ta nhìn quanh vẻ kinh tởm.


- Ngươi hãy nhớ điều ta nói đây: nếu ngươi không chấm dứt ngay việc chữa chạy đầy tội ác của ngươi, ta sẽ tống ngươi vào tù!


Thầy lang khẽ nhún vai.


- Biết làm thế nào! Tôi không làm điều gì xấu. Còn tù ư? Thì nhà tù cũng lập ra cho loài người đấy, chứ có phải cho chó đâu. Xin ngài bác sĩ đừng giận.


- Ta chỉ cảnh cáo cho nhà ngươi biết thế thôi! Ta khuyên nhà ngươi nên chấm dứt ngay! Ta khuyên đấy!


Anh ta giơ một ngón tay đe dọa rồi bước ra ngoài. Anh ta khoan khoái hít thở bầu không khí trong làng. Ignacy ngồi trên ghế ngựa ném cho anh ta một ánh mắt giễu cợt. Bác sĩ Pawlicki đã ngồi lên xe thì nom thấy Wasił bệnh nhân cũ của anh ta, đang đứng trên ngưỡng của cối xay. Chắc Wasił đứng chờ anh ta, bởi cậu cúi chào rồi bước tới gần xe.


- Xin kính chào bác sĩ.


Cậu bước những bước vững chãi, và lúc này đang đứng thẳng người. Cậu đứng và nhìn thẳng vào mắt bác sĩ.


- Bác sĩ thấy đấy, tôi đã khỏi – Cậu nói đầy tự hào. – Ơn Chúa, tôi đã khỏi tật. Ông Antoni chữa khỏi đấy. Thế mà bác sĩ bảo lại rằng tôi không còn hi vọng gì nữa. Bác sĩ muốn tôi phải chịu đọa đầy suốt đời trong tàn tật.


- Ông ấy chữa cho cậu bằng cách nào? - Bác sĩ hỏi với một nỗi bực tức không cần che đậy.


- Ông ấy thấy ngay rằng xương đã được xếp đặt không đúng. Ông ấy đập gẫy và sắp xếp lại, thưa ông!


- À… à, vậy thì xin chúc mừng - bác sĩ lẩm bẩm rồi quát người xà ích: - Đi thôi!


Suốt dọc đường những ý nghĩ tồi tệ giày vò ám ảnh anh ta. Đến nhà thì quá bữa trưa. Song cả nhà đã quay trở lại bàn ăn để ngồi cùng anh ta cho đến khi xong bữa. Anh ta nuốt vội miếng thịt nướng khô khốc, cố không thể hiện ra rằng mình không hề thấy ngon miệng. Bà lão Marcysia, người ba mươi năm trước đã từng dạy cậu ta tập đi, dẫm dẫm chân lo ngại. Người cha hau háu nhìn tờ báo mà Kamila đang đọc cho ông ta nghe. Ba tuần trước đây cha anh làm vỡ mấy đôi kính mà chưa có tiền mua đôi mới. Kamila thì mặc bộ váy áo đã ngả màu, trong bộ váy áo ấy nom cô tang thương và già cỗi biết bao. Mẹ anh ta cố dùng nụ cười âu yếm che đi nét lo phiền đang hiện rõ trên khuôn mặt bà. Chỉ cần một tháng được tắm than bùn sẽ có thể khiến bà khỏe lại suốt một thời gian dài.


- Chúa tôi, Chúa tôi - bác sĩ Pawlicki nghĩ thầm khi dùng món nước quả bằng táo nghiền - Mình yêu mọi người, mình sẵn sàng làm tất cả cho mọi người, nhưng phải hàng ngày hàng giờ nhìn nỗi bần hàn của họ thì mình không đủ sức.


Anh ta ngỡ như cứ mỗi của chỉ của họ, mỗi lời nói của họ, mỗi góc phòng của căn hộ nghèo nàn này đều ném anh ta vào những lời chỉ trích cay đắng. Họ đã gắn với tương lai anh biết bao niềm hi vọng, đã trông chờ vào việc hành nghề của anh và thu nhập của anh biết bao! Nhưng thế là đã một năm trời ròng rã họ chịu ngồi trong cái xó hẻo lánh này, trong khi anh cố lắm mới kiếm đủ sống qua ngày.


Giá như anh có thể rời bỏ chốn này! Anh không ngại gian khổ. Anh sẽ sang châu Phi hay sang Greenland. Nhưng người thân của anh sẽ phải chịu chết đói ở đây hay sao? Anh ta cảm thấy trên cuộc đời rộng rãi ngoài kia đang đón chờ anh những thành công, danh vọng, tiền tài, nhưng anh cũng hiểu rõ rằng không bao giờ anh dám làm cái bước quyết định ấy cả. Anh đã là nô lệ của những tình cảm chân thành và sâu sắc của chính mình. Những tình cảm trói buộc anh vào với họ, với cha mẹ, với em gái, thậm chí với bà cụ Marcysia, trói buộc anh ta chẳng khác chi xiềng xích, trói buộc vào cái nhà gỗ nhỏ bé trong thị trấn nhỏ bé và nghèo nàn này…


Càng nhìn sâu vào vũng bùn của sự kiếm sống vô vọng này bao nhiêu, anh ta càng ân cần, càng cố gắng che giấu trước những người thân yêu của mình tình hình đó bấy nhiêu. Và anh hàm ơn họ xiết bao bởi lẽ họ cũng không hề tỏ cho anh thấy nỗi thất vọng của họ. Song những ý nghĩ của họ, những ý nghĩ chắc chắn đang tồn tại trong lòng họ, lại làm anh đau đớn. Bằng một cách bí ẩn nào đó, những ý nghĩ ấy đã thấm đẫm vào tất cả mọi thứ trong ngôi nhà này, thấm đẫm bầu không khí bằng một nỗi buồn chán vô vọng, mà ngay cả trong những nụ cười vờ vĩnh thành công nhất, những sự hài lòng biểu lộ ồn ào nhất cũng không sao xua đi nổi.


- Con đã đến chỗ tay thầy lang nọ - Pawlicki mào đầu - Con đã nói với y vài lời thật lòng và đã khuyên y nên từ bỏ hành nghề cho đúng lúc.


- Có thật ông ấy nhiều bệnh nhân lắm phải không anh? - Kamila lên tiếng.


- Nhiều không ấy à? - Anh cười khẩy - Giá như tôi có được dù chỉ một phần mười, giá như tôi có…


Anh không nói hết câu, cắn chặt lấy môi.


Mẹ anh vội vã nói rất nhanh, quá nhanh về con mèo Basia không biết theo đực đi đâu mất, về chuyện thứ năm có lễ tên ở Kozlicki, về con bò cái của cha linh mục cho thật nhiều sữa…Nhưng Pawlicki không hề nghe những câu chuyện ấy. Anh ta mỗi lúc một thêm bực. Mạch máu thái dương đập dồn dập. Đột nhiên anh đẩy mạnh cốc nước chè đang uống dở ra, đứng phắt dậy.


- Các vị có biết tại sao ông ta có nhiều bệnh nhân hơn không? - Anh ta gào lên - Các vị có biết không?


Trông ánh mắt kinh hoàng của họ, nhưng anh không còn khả năng tự chế ngự của mình nữa.


- Vì ông ấy biết chữa bệnh, còn tôi thì không!


- Jurek con! - Bà mẹ rên lên.


- Phải! Phải! Tôi không biết!


- Con nói vớ vẩn gì thế, con!


- Các người có nhớ thằng bé thợ xây bị gẫy chân ấy không? Có nhớ không? Chính tôi đã xếp sai xương cho nó. Phải, sai! Tôi không biết làm chuyện đó, còn lão thầy lang thì làm được!


Người cha đặt tay lên vai anh ta.


- Bình tĩnh nào con, Jarek. Nhưng việc đó có ảnh hưởng gì đến uy tín của con đâu. Con đâu phải là một bác sĩ ngoại khoa. Là bác sĩ nội khoa, con không có trách nhiệm phải hiểu biết mọi chuyện… ngoài chuyên môn của con kia mà.


Bác sĩ Pawlicki cười khẩy.


- Dĩ nhiên! Dĩ nhiên rồi! Tôi không phải nhà giải phẫu. Nhưng cái lão thầy lang kia, quỷ tha ma bắt lão đi, cũng không phải kia mà! Lão chỉ là một tên nông phu quèn! Là một tay thợ cối xay tầm thường! Nhưng tôi chán hết rồi! Thế nào cũng được! Tôi sẽ không chịu chết đói đâu! Rồi các người sẽ thấy! Các người sẽ thấy! Sẽ thấy rằng tôi cũng biết chiến đấu!


Anh ta bước ra, dập mạnh cửa…




 


VIII.


Ở thị trấn Radoliszki, nơi đường phố chật hẹp mang tên Napoleon gặp Chợ Thứ Hai còn có tên là Quảng trường Độc Lập, có một tòa nhà xây hai tầng bằng gạch đỏ, trong đó, tầng dưới có bốn của hiệu nhỏ. Lớn nhất và sang trọng nhất trong số đó là của hiệu ngay góc phố, thuộc quyền sở hữu của bà Michalina Szkopkowa. Trong hiệu có bán văn phòng phẩm, tem bưu chính, chỉ khâu, các dải lụa, khuy, tóm lại chỉ vá may cùng với thuốc lào, thuốc lá.


Bao nhiêu lần ông Antoni đến Radoliszki ông đều vào hiệu bà Szkopkowa để mua thuốc, giấy thuốc, và diêm, ông cũng mua tại đây cả chỉ và tơ nữa.


Bà Szkopkowa ít khi ngồi bán hàng. Thường bà chỉ ngồi bán vào các thứ năm, tức là ngày phiên chợ. Còn ngày khác, ở nhà bà cũng có nhiều việc ngập đầu phục dịch bốn đứa con và cái cơ ngơi không đến nỗi xoàng. Bà giao cửa hiệu cho một thiếu nữ còn rất trẻ, một cô gái mồ côi, lãnh nhận trách nhiệm của một cô gái bán hàng trung thực và chăm chỉ, để đổi lấy chỗ ở, ăn cơm và mười zloty mỗi tháng.


Bà Szkopkowa biết đánh giá những ưu điểm khác nữa của cô, trước hết là việc khách hàng rất thích Marysia. Họ thích cô, bởi đối ai cô cũng lễ phép, tươi cười chân thành và thêm vào đó cô còn xinh đẹp nữa. Cũng chẳng có gì phải giấu cả, không ít ông khách sộp còn lui tới của hiệu của bà Szkopkowa chỉ cốt được trò chuyện đôi câu với Marysia, được đùa cợt vài lời và được liếc mắt đưa tình với cô. Ông dược sĩ ở hiệu thuốc, thầy thư ký huyện đường, anh cháu trai của cha xứ, các chàng địa chủ quanh vùng, các ngài kỹ sư từ nhà máy – không ai chịu bỏ lỡ dịp vào mua một bao thuốc hay chiếc tem thư.


- Này, Marysia, con phải coi chừng đấy nhé - bà Szkopkowa bảo. – Chớ có bạ ai cũng liếc mắt, cũng đừng chú ý đến đám có vợ rồi, nhưng nếu gặp được một chàng trai trẻ xứng đôi vừa lứa mà lại thích con, thì con phải biết đối xử cho khéo léo. Từ những chuyện như thế biết đâu chả thành vợ thành chồng đấy.


Marysia cười.


- Cháu còn thời gian mà.


- Đối với đàn bà chúng mình, thời gian cho những việc ấy bao giờ cũng thiếu. Mà con thì chẳng mấy chốc đã hai mươi rồi còn gì. Đến lúc đấy! Vào tuổi con, bác đã có con trai lên ba rồi kia. Có điều đừng có bạ ai cũng liếc, cũng không nên chòi cao quá mà ngã đau con ạ. Bác bảo con thế đấy! Thí dụ như với cái cậu cưỡi mô tô kia chẳng hạn! Phóng xe thì cậu ta phóng xe thật đấy, nhưng lấy con thì cậu ta chẳng hề nghĩ đến đâu. Bác biết loại người ấy lắm! Biết lắm rồi! Mắt đảo đưa, tay cầm tay, thở ngắn than dài, rồi thì là… nhục ơi là nhục! Đừng có mà tạo thêm bất hạnh cho mình.


- Sao bác lại nói chuyện ấy làm gì! - Marysia cả cười - Cháu chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện ấy đâu.


- Này, này! Cha cậu ấy là một ông chủ lớn lắm đấy. Chủ cả một sản nghiệp với một nhà máy. Ông ấy phải cưới bá tước tiểu thư cho con trai chứ chẳng không. Con nhớ lấy!


- Dĩ nhiên rồi. Cũng chẳng bận gì đến cháu. Bác để ý anh ấy làm gì kia chứ? Còn nếu như cháu có đưa mắt cho ai trong đám khách hàng, cô đùa - thì cháu cứ liếc ngay ông thầy lang già ở cối xay là xong.


Đó là sự thực. Quả thực, Marysia rất mến ông Antoni Kosiba. Trước hết cô tò mò vì nghề nghiệp của ông. Trong thị trấn người ta đồn bao nhiêu chuyện phi thường về ông. Người ta bảo rằng ông đã đặt tay vào người nào, thì dù có là kẻ đang ngắc ngoải, ông cũng chữa lành, họ còn bảo ông đã bán linh hồn cho quỷ sứ rồi, người khác thì cam đoan rằng ông được chính Đức mẹ Ostbramska ban cho phép màu nhiệm; họ còn bảo rằng ông chữa không lấy công, rằng ông biết cả một thứ cây thuốc mà hễ ai uống vào là phải lòng ngay kẻ đưa thuốc cho mình. Ngoài ra, bao giờ ông cũng buồn buồn, lặng lẽ và có đôi mắt thật tốt lành. Ông xử sự cũng khác hẳn những người bình dân khác. Ông không nhổ nước bọt xuống sàn nhà, không chửi thề, không chọn lựa hàng hóa. Ông đến, ngả mũ, nói ngắn gọn muốn mua gì, trả tiền rồi lầm bầm:


- Cảm ơn cô - rồi ông về.


(còn tiếp)


Nguồn: Thầy lang. Tiểu thuyết của Tadeusz Dołęga-Mostowicz . Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên tác tiếng Ba Lan. NXB Hội Nhà văn. Bản in lần thứ 19, tháng 7-2017.


www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 21.09.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 06.09.2018
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.09.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 26.08.2018
Tử tù tự xử lý nội bộ - Trần Thư 24.08.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 23.08.2018
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
xem thêm »