tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24057251
Tiểu thuyết
20.12.2017
Triệu Xuân
Cõi mê



Chuyến đi Nhật Bản, Bắc đi một mình. Từ ngày Minh Thảo vô Toàn Cầu, cô được đi nước ngoài với anh ba lần rồi. Lẽ ra chuyến này cô tháp tùng Bắc, nhưng công việc triển khai đợt hai của dự án Ngọc Viễn Đông quá nhiều. Khách đổ xô tới khiến cho Ngọc Viễn Đông có lúc quá tải. Trên bán đảo Thủ Thanh, trước khi Ngọc Viễn Đông khánh thành, nhà hàng Hội Nhập Bảy vô cùng đông khách. Từ khi Ngọc Viễn Đông hoạt động, khách đổ xô đến, khiến cho Hội Nhập Bảy thành ra ế ẩm… Thực trạng này khiến chủ Công ty Tri Âm điên tiết lên. Chủ của Hội Nhập là X.O chứ có phải là con nít đâu mà chịu thua thằng cha Bắc Kỳ con!


Điều ấy Ngọc Bắc không hề hay biết! Anh quá say mê khi ý tưởng của anh đã thành hiện thực, cơ ngơi của anh, mới đưa vào khai thác giai đoạn một mà đã gây tiếng vang lớn trong thiên hạ, tiếng thơm lan xa từ Nam chí Bắc. Càng đông khách càng dễ sơ hở khiến khách mất lòng. Trong kinh doanh, Ngọc Bắc hiểu rằng chỉ cần một người khách không vừa lòng là anh sẽ mất đi rất nhiều người khách khác! Trong những chuyến đi Mỹ, anh hiểu được tín niệm của giới doanh nhân Hoa Kỳ là luôn luôn bảo đảm 100% customer satisfaction! - thoả mãn khách hàng một trăm phần trăm! Phương châm của Ngọc Bắc mà anh yêu cầu nhân viên phải tuân theo là không bao giờ được nói không khi khách yêu cầu, chỉ được nói , và không bao giờ làm điều gì khiến mất lòng khách. Ai vi phạm điều này, không có chỗ đứng trong Toàn Cầu! Bắc vừa quyết định cho anh chị em nhân viên luân phiên đi nghỉ mát một tuần tại Đà Lạt. Năm sau sẽ đi Nha Trang hoặc xa hơn, ai ở Sài Gòn thì đi Hạ Long, ai ở Hà Nội thì vô Vũng Tàu. Đối với các phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ thì một tuần đi nghỉ cũng là một tuần training1, Ngọc Bắc mời chuyên gia người nước ngoài đến giảng. Rất tốn kém, chi phí cho một chuyên gia nước ngoài đắt gấp mười chuyên gia nội địa, nhưng hiệu quả có thể sờ thấy được! Đầu tư lớn thì sẽ có lợi nhuận lớn. Đó là những phương sách mà Minh Thảo đề nghị Bắc áp dụng.


Tình cảm giữa Thảo với Bắc ngày càng thắm thiết, không phải lửa rơm mà là cầm sắt, là lửa đượm giữa vỉa than đá… Sự nghiệp Ngọc Bắc giao cho cô quán xuyến thật lớn, đòi hỏi sự thông tuệ và lịch thiệp, đã đành, nhưng còn là tính cẩn trọng, chi ly, và phải quên mình. Nếu không yêu sự nghiệp này, không coi nó chính là một phần của cuộc đời mình thì sẽ không thể làm tròn trách nhiệm mà Ngọc Bắc giao cho. Quả là khó có ai có thể làm việc hiệu quả được như Minh Thảo.


Cô yêu anh bằng cả trái tim cô.


Tình trong như đã, mặt ngoài còn e… Ngọc Bắc và cô đều hiểu họ đã thuộc về nhau, nhưng chưa ai dám ngỏ lời.


Đêm đêm, cô thường mơ thấy anh. Giờ này anh đang ở đâu, làm gì? Anh bảo đi chậm nhất là năm ngày sẽ về, hôm nay là bốn ngày rồi, vẫn không thấy gọi điện thoại cho em? Hay là… có một thiếu nữ xinh đẹp xứ Phù tang quyến rũ anh? Anh là đa tình số một! Em biết người như anh, có nhăn nhăn nhó nhó khó khăn mấy, các cô gái đẹp vẫn đua nhau lao vào!


Mười hai giờ đêm, Minh Thảo bật dậy, mở máy, cô viết thư cho Bắc:


Ngọc Bắc vô cùng yêu dấu của em!


Em chỉ sợ những dòng chữ không mang dấu này, lại gửi qua internet, chứ không phải là lá thư truyền thống có dán con tem ngày xưa… không mang nổi nỗi nhớ anh trong em. Nên em gửi vào mây, vào gió, vào nắng, vào mưa, vào đất trời vô tận này nỗi nhớ anh khôn cùng... Để, dù bất cứ anh đang ở đâu, và đang làm gì thì trong từng giây, từng phút, từng nhịp thở của đất trời... em vẫn luôn luôn ở bên anh, mãi mãi... Em yêu anh! Anh là người mà bấy lâu nay em hằng ao ước! Em yêu anh đến trọn đời!


Minh Thảo


Thảo đọc lại thư bốn năm lần và lưỡng lự không dám nhấn nút send1. Anh đã bao giờ ngỏ lời yêu mình? Mình đã bao giờ chủ động nói yêu anh? Có nên đốt cháy giai đoạn thế này? Liệu cuộc tình này sẽ đi tới đâu, hay là bế tắc, hay là có đi tới một bước để rồi… cầm bằng theo gió bay đi? Hay là thành duyên cầm sắt để suốt đời thủy chung như nhất bên nhau, hy sinh cho nhau, mang hạnh phúc đến cho nhau? Hay là chỉ được vài năm hương lửa nồng nàn rồi tắt lịm như là cha mẹ mình đã từng yêu nhau, đã từng hạnh phúc, đã từng thất vọng, rồi hành nhau, làm khổ nhau bao nhiêu năm đằng đẵng trước ngày ra tòa ly dị?


Ôi kiếp con người, sao mà phức tạp, sao lắm buồn đau? Một mình trong căn phòng riêng mà ông bà nội dành cho, Minh Thảo suy nghĩ trong nỗi nhớ Bắc ngày càng bỏng rát. Cô hướng con chuột vào chữ send rồi khựng tay lại. Chỉ cần ngón trỏ của cô nhẹ nhàng ấn xuống phím trái con chuột, những dòng chữ nhỏ bé mong manh kia sẽ trở thành có cánh, sẽ thay cô bay đến với anh, sẽ nhập vào mắt anh, óc anh, tim anh. Liệu anh tiếp nhận nó như thế nào? Trong suốt thời gian qua, tuy chưa là dài, nhưng hầu như lúc nào cô cũng thấy anh hiển hiện trong tâm mình. Dù công việc bộn bề cách mấy, tuần nào họ cũng ít nhất một hai lần gặp nhau, khi thì ở phòng làm việc, khi thì ở phòng ăn của công ty. Thỉnh thoảng anh mời cô đi nhà hàng. Thú vị nhất là nhà hàng bên sông, nơi có cửa sổ ngó ra mặt sông, qua một mảnh vườn nhỏ toàn hoa hồng, lúc nào cũng tươi rói, hương thơm của hoa bay qua cửa sổ vào ôm tỏa lấy gương mặt anh, gương mặt Thảo. Họ ăn uống, chuyện trò, và bao giờ tay anh cũng tìm đến tay Thảo. Bàn tay to, những ngón tay dài quấn quýt lấy những ngón tay búp măng của cô. Bàn tay anh, to và ấm, ôm ấp bàn tay cô. Cô cảm thấy mình trở nên mong manh, bé nhỏ trước anh! Những giây phút ngắn ngủi ấy, Thảo cảm nhận được máu anh đang chảy qua sắc da tay hồng hào, cánh tay rắn chắc và gợi cảm quá chừng. Ước gì dù chỉ một lần được ngạt thở trong vòng tay ấy! Liệu anh có cảm nhận được nhịp đập tim em, mạch máu em đang tăng tốc khi anh ấp bàn tay anh lên bàn tay bé nhỏ của em? Liệu anh có nhận ra tín hiệu của con tim em muốn gửi tới anh với tất cả tình yêu thương mãnh liệt và sự chân thành, khao khát? Tất cả chỉ có thế, mới dừng lại ở điểm đó. Không lẽ chỉ mãi mãi như vậy sao?


Hai giờ sáng. Thêm một ngày mới bắt đầu. Nếu đúng hẹn thì tối nay anh bay về tới Sài Gòn. Nghĩa là… em lại được ở bên anh! Ngón tay trỏ của Minh Thảo toan nhẹ nhàng nhấn xuống phím trái con chuột. Nhưng cô ngừng lại. Chưa thể, cần phải để cho thật chín mùi! Cần nghe thêm tiếng lòng mình một thời gian nữa! Hai mươi lăm tuổi, Thảo vẫn chưa thể nghĩ rằng tình yêu đến với mình lẹ như thế, thì ra đúng là có cú đờ phút thật! Du học nước ngoài, bạn bè từ Việt Nam cùng sang một lượt với Thảo có năm cô gái. Hai người ở Hà Nội thì đã lấy chồng Australia, ở lại sống, làm việc bên đó. Ba người ở Sài Gòn thì hai người đã lập gia đình sau khi nhận bằng cử nhân, chỉ có Thảo là phòng không, người yêu cũng chưa có nói chi lấy chồng? Vì sao? Vì cô từ chối thẳng thừng những lời tán tỉnh, cầu hôn… tập trung cho việc học thành tài. Cô có cực đoan? Muốn đạt mục đích, người ta phải cực đoan thôi. Lịch sử chiến tranh và cách mạng đã chứng tỏ điều đó. Lịch sử của những danh nhân cũng vậy. Thảo biết mình không là danh nhân hay vĩ nhân chi cả, nhưng muốn học cho ra học thì khoan nói chuyện tình ái. Nay học xong rồi, đã tới lúc nói chuyện ấy chưa? Tại sao không nhấn ngón trỏ vào phím trái chuột? Tại sao? Mi còn e ngại? Mi thiếu tự tin hay là mi e ngại anh sẽ khinh khi mình, cho mình là kẻ tham tài sản của anh chứ yêu đương gì mà lẹ thế? Ôi, bối rối quá, không biết hỏi ai? Mẹ thì đi bước nữa, theo người ta qua Mỹ định cư rồi, ba thì đang đau khổ trong tù, hỏi ai bây giờ? Hỏi ông bà nội? Nhưng ông nội thì dành trọn thời gian còn lại của ông cho việc minh oan cho con trai. Chỉ còn bà nội. Hỏi bà nội là phải nhất! Bà nội cũng đang mụ cả người về chuyện con trai lâm vào lao lý, phải lựa lúc nào thích hợp mà hỏi chứ?


Thảo quyết định chưa gửi lời của trái tim cô tới Bắc, cô lưu vào một thư mục riêng, định bụng từ nay cứ mỗi ngày cô lại viết cho anh, những lá thư không gửi, khi nào anh ngỏ lời với cô thì cô đưa những lá thư đó cho anh, bằng không, cô cứ viết, viết cho đến… già! Rồi, như một cái máy, cô check mail1 hy vọng nhận được thư anh từ Nhật gửi về. Không hiểu sao cô lại nghĩ rằng thế nào anh cũng mail cho cô.


Một thanh niên của thế hệ hiện đại, du học ở Australia hơn sáu năm trời về mà không hề tiêm nhiễm lối sống phương Tây, kể cũng lạ! Đó là cảm nhận đầu tiên của Ngọc Bắc trong lần gặp đầu tiên để phỏng vấn Minh Thảo. Toàn bộ con người cô từ dáng vẻ, nụ cười, ánh mắt, cử chỉ, giọng nói, lối nói, nhất là tri thức của cô đều mang vẻ đẹp của truyền thống, nói chính xác hơn, mang tinh hoa của truyền thống phụ nữ Việt Nam: dịu dàng, nhân hậu, kín đáo, khiêm nhường... Bắc rất có lý khi nghĩ cô giống hệt ca sỹ Hương Quỳnh. Thời kỳ còn là Quỳnh Hương đi hát trong nước, Quỳnh Hương đẹp như một nàng tiên, luôn luôn ra sân khấu trong chiếc áo dài càng tôn lên vẻ đẹp thân hình và giọng hát! Thi thoảng xem một VCD, có Hương Quỳnh biểu diễn, Bắc rất hài lòng khi thấy nữ ca sỹ này vẫn trung thành với chiếc áo dài Việt Nam. Minh Thảo mặc áo dài cũng rất đẹp, vẻ đẹp nền nã nhưng càng nền nã lại càng quyến rũ. Trừ những ngày đi công tác bằng xe hơi hoặc khi ra hiện trường, Thảo mặc đồ tây: quần jean, áo thun trắng bỏ trong thùng, thắt giây lưng da, gọn gàng, khỏe mạnh; còn ở văn phòng, cô chỉ mặc áo dài. Người như cô mặc chi cũng đẹp, mặc đồ đầm càng đẹp, nhưng Thảo luôn mặc áo dài. Ngọc Bắc ghen với những chiếc áo dài ấy.


Máy báo có thư! Thảo sung sướng quá! Ước chi được nấy! Chắc chắn là thư của anh rồi! Thảo nhấp chuột, quả nhiên! Bõ công cô thao thức chờ mong mấy ngày nay. Thư Bắc viết:


Minh Thảo thân yêu!


Em đừng giận anh khi anh viết như thế! Anh đã tính, sau chuyến đi này, sẽ chính thức ngỏ lời cầu hôn với em, nhưng anh không thể đợi đến ngày về. Anh nóng lòng muốn thổ lộ cùng em tiếng nói của con tim mình. Nhưng, nói thật em đừng cười, anh nhát lắm! Trước mặt em, anh lúng ba lúng búng, muốn nói A thì lại nói chuyện B, muốn thố lộ tâm tư mình với em thì lại nói chuyện công việc, rất nhiều lần như thế rồi. Tại anh nhát quá, Thảo ơi! Thành thử, tốt nhất là anh nói lúc này, khi ở xa em gần chục giờ bay, anh nói qua mạng! Mấy ngày qua, anh cố ý không e-mail, cũng không phone cho em, cốt để làm gì em biết không, cốt để coi xem trái tim dễ vỡ của anh có chịu nổi những ngày hai đứa mình xa cách. Nó không chịu nổi, Thảo ơi! Nó trỗi dậy phản kháng anh, nó đòi anh phải nói ngay với em rằng nó đã thuộc về em ngay từ cái ngày Trời định cho anh phải mời em đến công ty để phỏng vấn! Không có một người chủ công ty nào, ngay sau khi phỏng vấn lần đầu tiên để tìm người giúp việc mà lại chân thành mời người đó đi nhà hàng ăn trưa. Có thể có, nhưng với anh, điều đó thật khó hiểu. Điều đó chỉ có thể giải thích rằng trái tim anh đã thuộc về em, rằng từ giây phút đó, anh sẽ mãi mãi không bao giờ xa em.


Thảo ơi! Bữa đi Đà Lạt làm việc với Chủ tịch tỉnh về dự án nâng cấp các hồ ở Đà Lạt thành địa chỉ du lịch đạt tầm cỡ quốc tế, anh làm việc xong rồi, ký bản ghi nhớ rồi, lẽ ra đêm ấy phải có giấc ngủ thật sâu để sớm hôm sau về Sài Gòn. Lạ thay, bữa đó trời mưa thật nhiều, mưa suốt ngày. Từ trong khách sạn nhìn ra rừng thông Đà Lạt, anh nhớ em kinh khủng! Giá như có em lúc đó, anh sẽ dắt em đội mưa đi vào rừng thông, để hai đứa mình chìm trong mưa, chìm trong hương sắc hư ảo của rừng thông Đà Lạt trong mưa. Anh không biết làm thơ, nhưng mê thơ. Vậy là trong khoảnh khắc vô cùng thương nhớ em, anh đã đọc to lên những câu sau đây, nó chắc không phải là thơ, em ạ, nhưng nó là tiếng nói của trái tim anh đang thổn thức. Em đừng giận anh nghe! Anh yêu em, Minh Thảo! Em là giấc mơ của anh! Xin đừng giận anh, em nhé. Anh phải ở lại Tokyo thêm hai ngày, do công việc. Nhận được thư này, em nhớ hồi âm cho anh đỡ nhớ em! N.B.


Minh Thảo mở bài thơ, những câu thơ hiện ra:


KHAO KHÁT TRONG MƯA ĐÀ LẠT


Đà Lạt trong mưa rừng thông xanh như ngọc


Hương đất trời lặng lẽ ngấm trong anh


Đà Lạt trong mưa rừng thông xanh như ngọc


Nỗi nhớ nào đang cứa nát lòng anh


Đà Lạt trong mưa rừng thông xanh như ngọc


Đỉnh Lang Biang chìm dưới mây ngàn


Trái tim anh khao khát vô vàn


Được nắm tay em trên đồi thông ngọc bích


Được kề vai em ngồi câu cá bên hồ


Được tung tăng cùng em


Giữa rừng Ái Ân không than mà nghẹt thở


Bởi nụ hôn dài


Hôn mãi


Như mơ…!


 


Người yêu em đến trọn đời!


N.B


Thảo muốn khóc! Cô sung sướng đến run người. Anh cũng dùng từ đến trọn đời y như mình! Tuyệt quá! Đúng là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Cả hai, xa nhau hàng chục ngàn kilômét, chả ai hẹn ai mà cùng viết thư cho nhau, cũng giãi bày tình cảm xuất phát từ đáy lòng. Rồi cô đọc nữa… Đọc xong lần thứ hai, Minh Thảo thuộc làu bài thơ. Cô nhớ anh đến tê dại…


Mười hai: Khủng bố


- Nội ơi nội! Nội ơi! Sếp con tới rồi!


Minh Thảo rối rít gọi trong khi bà Ngọc đang lúi húi trong bếp làm món chả cá Lã Vọng đãi khách quý.


Từ khi ông Hoàng chạy đôn chạy đáo minh oan cho con trai, bà Ngọc dường như khỏe lại phần nào. Tình cảm của vợ chồng già được sưởi ấm thông qua con cháu. Mấy ngày nay bà rất vui. Ba niềm vui đến cùng lúc! Niềm vui lớn nhất của cả gia đình là ông Hoàng nhận được hồi âm sau hai năm trời bôn ba đi Nga, Đức, Hungary và Ba Lan, cốt để tìm cho ra cô Kim Chi, người cuối cùng trong số những phiên dịch viên có ký hợp đồng chính thức với công ty của Đạt. Kim Chi sau khi mãn hợp đồng, rời công ty của Đạt sang Nga làm ăn, rồi theo dòng đời, bươn chải ở Đức, ở Ba Lan và cuối cùng dừng chân tại một nước Đông Âu nhỏ bé và ít dân: Hungary, bởi đó chính là quê hương của người đàn ông mà cô đã kết hôn hai năm nay. Ông Hoàng đi tìm Kim Chi chẳng khác nào mò kim đáy biển. Nhưng rất may là ông quen biết nhiều ở các sứ quán Việt Nam tại các nước Đông Âu, đồng thời biết tận dụng thành tựu của công nghệ thông tin, kể cả việc đăng báo tìm người và nhắn tin trên kênh truyền hình đông người xem ở Đông Âu… Nhờ vậy, Kim Chi đã nhận được lời thỉnh cầu của Đạt, ông Hoàng. Với Kim Chi, Đạt là một giám đốc mà cô quý mến. Kim Chi viết thư cho Đạt để hiểu rõ nội tình, rồi cô làm tờ trình, gửi bằng ba ngả: Thứ nhất, gửi qua sứ quán Việt Nam tại Budapest. Thứ hai, gửi thẳng về Tòa án tối cao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Và thứ ba, gửi cho ông Hoàng. Ông Hoàng nhận được tờ trình của Kim Chi cùng lúc với lá thư xác nhận của ông Satchencô, nguyên Thứ trưởng Bộ Khai thác Thủy sản Liên Xô, đã nghỉ hưu, người trực tiếp lãnh đạo ngành ở miền Viễn Đông. Tờ trình của Kim Chi khớp với những gì Đạt đã ghi trong sổ tay cũng như lời khai trước cơ quan điều tra và khai trước tòa. Sổ tay của Đạt ghi lại, giống hệt sổ chi của phòng kế toán về số tiền chi, chỉ khác vài chi tiết về ngày, giờ. Theo đó, Kim Chi đã ký tên vào sổ tay của Đạt và sổ chi của phòng kế toán nhận mười lăm bao thư gửi cho đoàn Nga trước khi họ rời Sài Gòn bay đi Australia. Trong số này, có năm bao thư chứa hai ngàn đôla. Còn lại, mỗi cái chứa một ngàn đô. Chỉ riêng việc này đã là hai chục ngàn rồi. Còn mười ngàn, Kim Chi viết: Tôi tận mắt thấy giám đốc Đạt giao cho ông Cổ, giám đốc chi nhánh tại Hà Nội. Ông Cổ đi Nga đàm phán về những khoản phát sinh trong quá trình thi công hợp đồng thứ nhất, sau đó quyết toán hợp đồng này lấy tiền thực hiện hợp đồng thứ hai”. Lúc này, Kim Chi mới biết ông Cổ đang lâm trọng bệnh thì bị bắt, bệnh bột phát lẹ quá, đã chết trong trại giam! Kim Chi là cái phao cuối cùng mà cả nhà ông Hoàng mong đợi. Cô chính là người cứu rỗi cho Đạt đang gánh chịu oan khuất tày trời gần bốn năm qua.


Niềm vui thứ hai là sau đúng mười hai năm kể từ ngày bà Ngọc viết thư kiến nghị Chủ tịch nước công nhận cha mình là liệt sỹ đã hy sinh vì sự nghiệp đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc, nguyện vọng chính đáng của bà đã thành sự thật. Nói cho đúng, ngay từ những năm đầu thập kỷ Sáu mươi của thế kỷ Hai mươi, khi Nhà nước xem xét công nhận những người có công với nước, liệt sỹ, thương binh…, gia đình bà Ngọc đã rất nhiều lần làm đơn đề nghị. Thế nhưng trường hợp của ông giáo Hải, cha bà, vẫn bị gạt ra. Bà Ngọc buồn vô cùng. Mộ cha không tìm thấy, danh phận không rõ ràng. Lúc đó, có kẻ ác tâm còn nói rằng cha bà mang mười hai ngàn đồng bạc Đông Dương tót vô Nam chứ đâu có bị địch bắt mà đòi liệt sỹ liệt xiếc gì! Cả gia đình chịu tiếng dơ, tiếng nhục! Năm 1986, khi mà mô hình Tổng Công ty Biển do chồng bà làm Tổng giám đốc đang phất lên rực rỡ, bà Ngọc xin về hưu. Bà dành hai tháng trời đi khắp vùng nhà thờ Phát Diệm tìm mộ cha, nhưng vô vọng. Bà về quê, họp mặt chị em, con cháu, làm lễ chiêu hồn cho cha. Cha mẹ bà sanh con một bề, bà là con gái đầu lòng, sau còn bốn người em gái. Con rể nhà này có hai giáo sư, hai thứ trưởng, một ông thiếu tướng. Lễ chiêu hồn diễn ra đúng ba ngày. Sọ dừa làm xương sọ, những cây trúc vàng óng của quê hương làm xương tứ chi, cành dâu làm xương sườn… Bộ cốt của cha được hình thành thật khéo, thật giống, sau đó mộ cha được lập. Năm đó, tính theo ngày cha bị tự vệ nhà thờ Đá bắt là chẵn bốn chục năm. Lễ chiêu hồn cha, lập mộ cha hoàn tất, bà tiếp tục viết đơn kiến nghị cấp trên công nhận cha bà là liệt sỹ. Gửi kèm với đơn là giấy xác nhận của nguyên Chủ tịch thành phố Hải Phòng xác nhận rằng ngày mười hai tháng Mười hai năm đó, chính ông đã giao nhiệm vụ cho ông giáo Hải dẫn mười hai người gánh mười hai bánh thuốc lào, cầm theo mười hai ngàn đồng bạc Đông Dương vượt vùng tạm chiếm vào vùng tự do Thanh Hóa để làm kinh tế cho Ủy ban kháng chiến Kiến An. Đơn gửi đi, cả năm trời, bặt vô âm tín. Quá buồn, quá giận, bà Ngọc giấu chồng, viết thư gửi các vị lãnh đạo cao nhất. Trong thư có câu:


Cha tôi là một trí thức, con nhà giàu, vì yêu nước nên đã theo tiếng gọi của Bác Hồ, của Việt Minh đi làm cách mạng. Khi cha tôi bị giặc bắt, thà chết không khai báo, bị sát hại dã man: chặt làm ba khúc, chôn ba nơi… Vậy mà tại sao Nhà nước không công nhận cha tôi là liệt sỹ?!


Thế rồi tiếng kêu oan của bà đã động thấu thiên đình! Cách đây ba ngày, tức là đúng mười hai năm sau ngày bà viết thư cho các vị lãnh đạo cao nhất, cha bà đã được công nhận là liệt sỹ. Bà được mời đi nhận Bằng Tổ quốc ghi công. Bà mang tấm bằng về đặt lên bàn thờ, nhìn ảnh cha, bà đứng chết trân, không khóc, không nói được lời nào. Còn nước mắt nữa đâu mà khóc!


Niềm vui thứ ba: Cháu gái Minh Thảo chính thức báo cáo với ông bà nội rằng cháu có người yêu! Không ai xa lạ, người ấy chính là sếp của Minh Thảo. Bữa nay chủ nhật, bà bảo cháu gái mời sếp tới nhà chơi để bà coi mặt cháu rể tương lai! Bà Ngọc là một đầu bếp giỏi. Bà được cha mẹ dạy dỗ theo tiêu chí, khuôn phép công dung ngôn hạnh. Bà được mẹ truyền cho đức tần tảo, khéo tay, hay làm. Căn bếp của bà, những món ăn do bà nấu nướng, pha chế, cho dù là thời kỳ gian khó thiếu thốn trăm bề ở miền Bắc trước kia, cũng như hiện nay, luôn luôn xứng đáng là điển hình của một phần văn hóa ẩm thực dân tộc. Bà Ngọc có tài làm tương - tương Bần, kiểu Bắc, làm các loại mắm, muối dưa: dưa hành, dưa kiệu, cà pháo, cải chua và nhất là muối tỏi. Mùa nào thức ấy, bà Ngọc luôn cho chồng con, cháu mình thưởng thức những món ăn ngon, bổ dưỡng, những vưu vật mà trời đất ban cho con người. Ông Hoàng tự hào về tài đảm đang, nội trợ của vợ. Họ hàng, bạn bè, trong đó có không ít người nước ngoài, khi được mời đến ăn tiệc, đều hết lời ngợi khen, thán phục tài nấu ăn của bà Ngọc.


Nói riêng về món chả cá hôm nay bà làm để thết cháu rể tương lai, quả là một kỳ công. Cả nhà bà Ngọc thích ăn món chả cá, nhưng mê nhất có lẽ là hai cha con Đạt, Minh Thảo. Đã có mấy ai khi ăn chả cá mà biết được công phu của món này. Thứ nhất, cá để làm chả không phải cá nào cũng được. Tất nhiên, cá lóc cũng có thể dùng làm nguyên liệu, nhưng ăn bở, không dai, không thơm ngậy, ăn nhiều mau ngán, không đạt yêu cầu. Chả cá bắt buộc phải làm từ cá lăng sống tự nhiên ở vùng đầu nguồn sông đá vôi. Nhờ khí hậu và thủy thổ, hơi đá, hơi đất, hơi rừng, nhờ nguồn phù du và những thức ăn sinh sản tại đầu nguồn sông mà cá lăng có thịt thơm như thịt gà, dai, ngọt và ngậy, ăn nhiều bữa liền nhau cũng không ngán, khó có loại cá nào sánh kịp. Con cá lăng làm chả ngon phải có trọng lượng từ bốn ký lô trở lên, nhỏ quá, không đủ độ dai và không ngọt, kém thơm. Bà Ngọc có mối quen ở chợ, nguồn cá lăng ngày càng hiếm, mấy năm nay có cá lăng hồ Dầu Tiếng và hồ Trị An bổ sung. Bà Ngọc đã từng gợi ý với chồng, nên kêu gọi đầu tư nuôi cá lăng vì đây là loại cá có chất dinh dưỡng cao, là thực phẩm mà cũng là thuốc, không sợ béo phì, không cholesterol, ai bị tiểu đường cũng ăn tốt!


Cá lăng đang bơi, bắt lên làm sạch, lọc lấy thịt nạc rồi xắt lát thật đều, cỡ bằng hai ngón tay, sau đó ướp ngay với các loại gia vị. Không bao giờ nên dùng bột ngũ vị hương bán sẵn, vì không biết liều lượng từng vị trong đó thế nào! Bí quyết là ở cái liều lượng từng loại gia vị và cách ướp cá. Sau khi ướp tối thiểu ba chục phút, đem nướng trên hỏa lò than đước, ngày trước người Bắc gọi là than hoa hoặc than Tàu. Khi nướng tưới mỡ lên. Cá vừa chín tới, gắp vào chén, ăn chung với đậu phộng rang giã nhỏ, rau mùi, thì là và hành hương chẻ nhỏ ngâm dấm. Dứt khoát phải chấm mắm tôm! Phi mắm tôm bất thành chả cá! Món chả cá khởi thủy ăn bằng cách nướng như thế. Thời của bố mẹ bà Ngọc, cũng là thời của các nhà văn như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Vỹ… trở về trước, chả cá là phải nướng, chứ không đem xào mỡ hoặc dầu như ngày nay. Đã gọi là chả thì phải nướng chứ xào thì sao gọi là chả? Người Tàu nói khoái chá, là nói nem nướng! Chỉ có nướng mới ngon. Giữa nướng và xào trên chảo mỡ có một khoảng cách khá xa. Cái khoảng cách ấy chính là một trong những khía cạnh của Dịch lý: Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái; làm nên sự tế vi của hương của vị, do lửa than trực tiếp ngấm vào thịt cá. Khi xào trên chảo mỡ, tức là đã vô tình ngăn cách lửa than với cá rồi. Âm dương cách trở thì còn gì! Thi vị làm sao làn khói hỏa lò nướng chả bốc lên quấn lấy ánh mắt, làm xao động tinh thần, làm hồng hào gương mặt của thực khách, khiến cho lòng người thơ thới, tiết ra dịch vị để mà thưởng thức cho đã mùi đời. Cứ mỗi lần ăn chả cá, Minh Thảo lại nhớ tới bài thơ Gửi Trương Tửu của Nguyễn Vỹ, bài thơ thâm thúy, đã vẽ được rất sắc sảo tâm thế, gương mặt điển hình của giới nhà văn nhà báo một thời… Chính là trong cái làn khói và mùi hương của hỏa lò nướng chả cá, trong men rượu nếp cái hoa vàng thơm ngon, rất bốc nhưng say một cách vô cùng đằm thắm, quyến rũ, người ta bảo rượu nếp cái hoa vàng có thể sánh với bất cứ loại mỹ tửu nào trên cõi mê này! Chính là trong cái không khí và mùi hương ấy, giữa lúc ngà ngà say, vào một buổi chiều đầy gió và mưa, nhà thơ Nguyễn Vỹ đọc cho bạn bè nghe bài thơ vừa viết nhan đề Gửi Trương Tửu, ông bảo rằng ông viết trong lúc say:


Nay ta thèm rượu nhớ mong ai!


Một mình rót uống chẳng buồn say!


Trước kia hai thằng hết một nậm


Trò chuyện dông dài mặt đỏ sẫm


Nay, một mình ta, một be con


Cạn rượu rồi thơ mới véo von!


Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác


Mà coi đồng tiền như cái rác


Kiếm được xu nào đem tiêu hoang


Rủ nhau chè chén nói huênh hoang


Xáo lộn văn chương với chả cá


Rồi ngủ một đêm mộng với mê


Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê!


Thời thế bây giờ vẫn thấy khó


Nhà văn An Nam khổ như chó!


Mỗi lần cầm bút nói văn chương


Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương


Và nhìn chúng mình hì hục viết


Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết


Mà thương cho tôi, thương cho anh


Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh!


Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng?


Tôi làm Trạng nguyên, anh Tể tướng


Và anh bên võ, tôi bên văn


Múa bút tung gươm há một phen?


 


Chứ như bây giờ là trò chơi


Làm báo làm bung chán mớ đời!


Anh đi che tàn một lũ ngốc1


Triết lý con tiều văn chương cóc!


Còn tôi bưng thúng theo đàn bà


Ra chợ bán văn, ngày tháng qua!


Cho nên tôi buồn không biết mấy!


Đời còn nhố nhăng, ta chịu vậy!


Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa


Bực chí thành say mấy cũng vừa!


Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ!


Chơi nước cờ cao lại gặp bĩ!


Rồi đâm ra điên, đâm vẩn vơ


Rút cục chỉ còn mộng với mơ!


Kết bài thơ, tác giả viết: Viết rồi vẫn còn say!


Bài này đăng lần đầu trên tờ Phụ nữ Tân văn, Hà Nội. Theo Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam: “Với Nguyễn Vỹ, chúng ta mất hẳn cái cười kiêu ngạo ấy2 và ngơ ngác thấy sắp hàng cùng với… chó”. Cái lối sắp hàng kỳ quái ấy đã làm phật ý Tản Đà. Một hôm say rượu, Tản Đà trách Nguyễn Vỹ: “Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó? Anh không sợ xấu hổ à?”. Nguyễn Vỹ đáp lại, cũng trong lúc say: “Tôi có ví như thế thì chó xấu hổ, chứ chúng ta xấu hổ nỗi gì?”! Minh Thảo đọc chuyện này từ thời còn học trung học, cô cười đến đau cả quai hàm. Các nhà văn tếu thật! Thảo thương giới nhà văn, những người mà cô hằng ngưỡng mộ. Nói về các vị ấy, Aragon viết rất chí lý rằng: … Bóng các người làm thơm bao buổi sớm! Nhà văn trên toàn cầu, xưa nay vốn nghèo, ít người giàu có và sung sướng về vật chất. Nhà văn Việt Nam càng nghèo. Khi cả dân tộc bị nô lệ, lầm than, dân lành đói ăn thì họ cùng chung số phận là phải thôi. Nhưng cái kiếp làm thi sỹ dường như khổ hơn người thường gấp bội. Họ đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh mà không Trạng nguyên cũng chẳng Tể tướng, rút cục chỉ còn mộng với mơ!


Văn học làm cho con người lương thiện và hoàn thiện hơn. Nhà văn và những người yêu thích văn chương thường mang bản tánh lương thiện. Thảo đọc nhiều, cô cứ nghĩ mãi về cái câu Rút cục chỉ còn mộng với mơ! Đời cô rồi sẽ ra sao? Mê văn chương nhưng lại đi theo nghề quản lý kinh doanh. Ông Ăngghen thuở hàn vi là một nhà buôn, nhưng lại là thiên tài triết học. Người ta bảo thế là trái khoáy, nhưng trái lại, Thảo thấy chả trái tí nào. Lại bảo tuổi Giáp Dần thông minh nhưng cao số, nên lấy chồng trễ, ngoài ba chục mới cưới thì chỉ một lần đò, nếu thành hôn trước ba mươi tuổi thì phải hai lần đò, nhưng mà rất giàu… Minh Thảo nghe vậy, chỉ cười. Tuổi cô là tuổi đầy tự tin! Cô vẫn làm nghề quản lý mà vẫn thích văn chương! Mỗi lần bà nội làm món chả cá, cô lại nhớ đến quán chả cá Lã Vọng ở Hà Nội, nhớ cái bàn ở lầu một, kế cửa sổ. Lần đầu bố cho cô tới ăn, đã giới thiệu: Chỗ này ngày xưa các cụ Tản Đà, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng… thường ngồi ăn và cao đàm khoát luận… Và cô đã hơn một lần cười phát sặc sụa khi đọc bài thơ Gửi Trương Tửu của Nguyễn Vỹ. Cứ ăn chả cá là cô lại nhớ đến những ngày gia đình đã từng đầm ấm, hạnh phúc. Mỗi lần nhớ đến chả cá cô lại nhớ bài thơ này, nhớ bố cô, người có thể ăn chả cá trừ cơm hàng tuần liền.


Bà nội Minh Thảo cũng đang nhớ tới con trai. Nếu con bà ở nhà lúc này, thế nào Đạt cũng vừa bốc bải ngồm ngoàm ăn từ trong bếp ăn ra, vừa giục ầm cả nhà lên:


- Mẹ ơi, nướng nhanh tay lên, con đói cồn cào ruột gan rồi!


Trong tù, Đạt mắc trọng bệnh, không biết có thể trụ được đến ngày mọi sự trắng đen rõ ràng? Lòng người mẹ như lửa đốt. Chưa có đêm nào bà ngủ yên giấc, vì thương con, chỉ lo chưa minh oan được mà con trai có mệnh hệ nào thì dưới suối vàng làm sao thanh thản! Ông Hoàng, bà Ngọc biết bệnh tình của Đạt, chỉ có Minh Thảo là không, mọi người giấu cô. Dù bận rộn cách mấy, tháng nào cô cũng cùng ông bà nội lên Z30 D thăm bố một ngày.


- Nội ơi nội! - Giọng nói trẻ trung ngọt ngào của Minh Thảo ríu rít từ ngoài cửa, giờ cả hai đứa đã sát ngay bên bà - Thưa nội, đây là anh Ngọc Bắc…


- Cháu chào bà nội!


Bắc cười rất tươi, cái miệng này sang lắm đây! Bà Ngọc nhìn và nhận ngay ra điều ấy.


- Chào cháu! Bà rất mừng được đón cháu đến chơi. Em Thảo kể về cháu hoài, nay bà mới được gặp. Cháu vô dùng bữa nghe cháu!


- Nội ơi, con đói muốn xẻ ruột ra rồi nè!


- Bố cô, đói thì rửa tay rồi mời bạn ăn cho ngon miệng, bà dọn xong cả rồi đấy. Món này vừa nướng vừa ăn mới ngon, mới vui các cháu ạ!


Ông Hoàng không có nhà. Ông đang ở Thủ đô. Những tài liệu mới nhận được cần đến tận tay những địa chỉ cần thiết. Ông đã nộp cho Chánh án Tòa án tối cao, cho Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao, và tất nhiên, cho lãnh đạo Bộ, nơi ông đã từng làm việc. Gần ba năm qua, ông dành hết công sức, tiền bạc và nhất là ý chí, nghị lực, cho những chuyến đi nước ngoài tìm nhân chứng. Ông quyết tâm tìm ra sự thật. Ông tin rằng con trai ông vô tội! Một cán bộ, là sản phẩm của nền giáo dục của chế độ Xã hội Chủ nghĩa, là sản phẩm của Đảng, nếu không gìn giữ nhân cách, có thể tha hóa. Nhưng, con ông được vợ chồng ông dạy dỗ tỉ mỉ, chu toàn, nền tảng đạo lý của gia đình không thể nào băng hoại được. Là người cha, ông hiểu con ông chứ!


(còn tiếp)


Nguồn: Cõi mê. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, in lần đầu năm 2005; in lần thứ sáu tháng 12-2013.


www.trieuxuan.info


 







1 Training: Huấn luyện nâng cao tay nghề, năng lực chuyên môn.




1 Send: gửi




1 Kiểm tra thư điện tử.




1 Trương Tửu làm ở tạp chí Hữu Ích của Lê Văn Trương, người chủ trương triết lý sức mạnh. Nguyễn Vỹ làm cho Tạp chí Phụ nữ của Nguyễn Thị Thảo tòa soạn ở Ngõ Hội Vũ. Sau, Nguyễn Vỹ vô Sài Gòn, mở tạp chí Phổ thông, chuyên về văn học. Tác phẩm chính của Nguyễn Vỹ: Tiểu thuyết: Đứa con hoang; Chiếc bóng; Hai thiêng liêng (2 tập); Giây bí rợ; Chiếc áo cưới màu hồng...




2 Trước câu này, Hoài Thanh viết: Nhưng ta đã xa lắm rồi cái cười kiêu ngạo phi thường của Lý Bạch, chỉ biết có văn chương còn khinh hết thảy: Khuất bình từ phú huyền nhật nguyệt/ Sở vương đài tạ không sơn khâu/ Hứng cam lạc bút giao ngũ nhạc/ Thi thành tiếu ngạo lăng thương châu.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 24.09.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 21.09.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.09.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 26.08.2018
Tử tù tự xử lý nội bộ - Trần Thư 24.08.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 23.08.2018
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
xem thêm »