tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24298851
Lý luận phê bình văn học
13.09.2018
Đặng Thị Thu Hà
Dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước 1945


Nguyễn Bính được mệnh danh là nhà thơ mang bản chất nhà quê[1]; 343] trong làng Thơ mới Việt Nam. Phong cách chân quê được thể hiện ở cả nội dung đề tài và nghệ thuật thể hiện, từ linh hồn cảnh sắc quê hương Bắc Việt đến lời thơ, giọng thơ Nguyễn Bính. Nhắc đến thơ ông, nhiều người ấn tượng với cách diễn đạt giản dị như lời ăn tiếng nói của người nhà quê, đặc biệt là những từ ngữ mang đặc trưng ngữ vực địa phương. Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, đó chính là dấu ấn ngữ âm lịch sử hết sức độc đáo trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám. Ở phạm vi bài hội thảo, chúng tôi khảo sát và lí giải vấn đề ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính qua tuyển tập thơ Chân quê (gồm 43 bài thơ) do Mã Giang Lân tuyển chọn và giới thiệu[2]. Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp so sánh - lịch sử, phương pháp khảo sát - phân tích ngôn ngữ, phương pháp tích hợp ngữ - văn.


1. Khảo sát dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính


Chúng tôi nhận thấy trong tuyển tập thơ Chân quê, có ba hiện tượng ngữ âm lịch sử cần lưu ý, đó là cách dùng các từ có phụ âm đầu gi tương đương với các từ có phụ âm đầu tr, các từ có phụ âm đầu nh tương đương với các từ có phụ âm đầu d và các từ có phụ âm đầu nh tương đương với các từ có phụ âm đầu l.


1.1. Các từ có phụ âm đầu gi được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu tr


Đây là hiện tượng ngữ âm ở các từ giầu - trầu, gianh - tranh, giời - trời, giăng - trăng, giồng - trồng, giả - trả. Trong đó, từ giầu xuất hiện 5 lần trong 4 bài, từ gianh xuất hiện 3 lần trong 2 bài, từ giời xuất hiện 23 lần trong 13 bài, từ giăng xuất hiện 9 lần trong 8 bài, từ giồng xuất hiện 5 lần trong 3 bài, từ giả xuất hiện 1 lần trong 1 bài. Chúng tôi hệ thống lại qua bảng sau:



















































































































































































TT



Từ khảo sát



     Câu thơ



     Bài thơ



 


1



 


Giầu



Lợn không nuôi, đặc ao bèo


Giầu không dây chẳng buồn leo vào giàn



Qua nhà



Chị mở khăn giầu anh thắt lại:


“Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”



Những bóng người trên sân ga



Láng giềng đã đỏ đèn đâu


Chờ em chừng giập miếng giầu em sang



Chờ nhau



Ai làm cả gió đắt cau


Mấy hôm sương muối cho giầu đổ non?



Nhà em có một giàn giầu


Nhà tôi có một hàng cau liên phòng



Tương tư



 


2



 


Gianh



Nhà gianh thì sẵn đấy


Vợ xấu có làm sao



Thanh đạm



Bỏ lại vườn cam, bỏ mái gianh


Tôi đi dan díu với kinh thành



 


Hoa với rượu



Chắc ở nơi nào dưới mái gianh


Chị em Nhi vẫn sống yên lành



 


3



 


Giời



Hội làng mở giữa mùa thu


Giời cao gió cả giăng như ban ngày



Đêm cuối cùng



Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm


Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong



Xuân về



Xanh cây xanh cỏ xanh đồi


Xanh rừng xanh núi, da giời cũng xanh



 


Vài nét rừng



Da giời ai nhuộm mà lam


Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai?



Gió mưa là bệnh của giời



Tương tư



Đêm qua mưa gió đầy giời



Lỡ bước sang ngang



Mùa xuân là cả một mùa xanh


Giời ở trên cao, lá ở cành



Mùa xuân xanh



Mình tôi giời bắt làm thi sĩ



 


Hoa với rượu



Hai đứa sống bằng hoa với rượu


Sống vào giời đất, sống cho nhau



Giời làm xa cách mấy con sông



Xuân tha hương



Chén rượu tha hương, giời, đắng lắm!



Đức vua một sớm đầu xuân ấy


Lòng đẹp theo giời, dạo Ngự Viên



 


Xóm Ngự Viên



Khoa cử bỏ rồi, thôi hết Trạng!


Giời đem hoa cỏ trả vườn tiên



Mẹ con đeo đẳng nghề ca xướng


Nuôi được con sao, giời hỡi giời!



Oan nghiệt



Một lứa bên giời chung lận đận



Suốt giời không một điểm sao


Suốt giời mực ở nơi nào loang ra



Lửa đò



Một buổi giời đi đưa đám tang



Diệu vợi



Mây trắng đang xây mộng viễn hành


Chiều nay tôi lại ngắm giời xanh


Giời xanh là một tờ thư rộng


Tôi thảo lên giời mấy nét thanh



 


 


Bảy chữ



Xe ngựa chiều nay ngập thị thành


Chiều nay nàng bắt được giời xanh



 


4



 


Giăng



Hội làng mở giữa mùa thu


Giời cao gió cả giăng như ban ngày



Đêm cuối cùng



Sáng giăng chia nửa vườn chè



 


Thời trước



Đêm qua mới thật là đêm


Ai đem giăng sáng giãi lên vườn chè



Giăng vàng đầy ngõ gió mênh mông



Hoa với rượu



Giăng non như một cánh diều



Đường rừng chiều



Có người đêm ấy khóc giăng lên



Xóm Ngự Viên



Sắt son một chuyến giăng còn sáng



Oan nghiệt



Lửa đò chong cái giăng hoa



Lửa đò



Đêm nay giăng rụng về bên ấy


Gác trọ còn nguyên gió thất tình



Một mình



 


5



Giồng



Mấy sào vườn đất mới


Giồng dâu và giồng cam



Thanh đạm



Người đi xây dựng cơ đồ


Chị về giồng cỏ nấm mồ thanh xuân



Lỡ bước sang ngang



Vườn có giồng cam có nở hoa?



Hoa với rượu



Chồng chị giồng cam ở mé sông



6



Giả



Mười năm vay mượn vào kinh sử


Đã giả xong rồi nợ bút nghiên



Xóm Ngự Viên




Qua bảng thống kê trên, chúng tôi nhận thấy tần số xuất hiện của các từ có phụ âm đầu gi được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu tr là khá cao; trong đó, từ giời và từ giăng được sử dụng với mức độ nhiều nhất.


Theo Từ điển tiếng Việt, các từ giầu, gianh, giời, giăng, giồng, giả được chú thích về phong cách, phạm vi sử dụng, sắc thái tu từ... là các từ cũ, phương ngữ (ph). Nghĩa của các từ này được giải thích bằng cách giả tá qua các từ trầu, tranh, trời, trăng, trồng, trả. Chẳng hạn, từ giăng được giải thích như sau:


giăng [cũ, hoặc ph] xem trăng [4; 513]


Như vậy, các cặp từ giầu - trầu, gianh - tranh, giời - trời, giăng - trăng, giồng - trồng, giả - trả được dùng như nhau về nghĩa, chỉ khác nhau ở phạm vi sử dụng hoặc phong cách. Các từ giầu, gianh, giời, giăng, giồng, giả so với các từ trầu, tranh, trời, trăng, trồng, trả được dùng từ thời trước, xưa hơn, cổ hơn và thường xuất hiện trong phương ngữ Bắc Bộ.


1.2. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu d


Hiện tượng này xuất hiện một lần trong tuyển tập thơ Chân quê, thể hiện qua từ nhao nhác:


Nhọc nhằn tiếng cú trong canh vắng


Nhao nhác đàn dơi lúc đỏ đèn...


(Xóm Ngự Viên)


Nhao nhác có phụ âm đầu nh, từ này đồng nghĩa với từ nháo nhác và được dùng tương đương với từ dáo dác có phụ âm đầu d. Từ điển tiếng Việt giải thích:


nhao nhác [id] như nháo nhác


nháo nhác: hỗn loạn lên, đầy vẻ sợ hãi, hốt hoảng ĐN dáo dác, nhao nhác [4; 907].


Như vậy, nhao nhác là từ có phạm vi sử dụng hẹp (ít dùng) so với các từ đồng nghĩa kể trên.


1.3. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu l


Hiện tượng này xuất hiện 2 lần trong tuyển tập thơ Chân quê, thể hiện qua từ nhỡ nhàng:


Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn


Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!


                                                                         (Mưa xuân)


Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng


Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa


                                                                   (Người hàng xóm)


Từ điển tiếng Việt giải thích:


nhỡ nhàng [kng] như lỡ làng (nhưng thường nói về những sự việc không quan trọng lắm) [4; 931].


lỡ làng: dở dang không thành, không đạt do bị trắc trở (thường nói về chuyện tình duyên) [4; 752].


Trong hai cặp câu thơ trích dẫn ở trên, ta cảm nhận sắc thái phong cách của từ nhỡ nhàng giúp câu thơ không quá nặng nề nhưng vẫn thể hiện được ý nghĩa lỡ dở của những mối tình. Tuy nhiên, trong một bài thơ khác, Nguyễn Bính vẫn dùng từ lỡ làng mà không dùng từ nhỡ nhàng:


Đoái thương thân chị lỡ làng


Đoái thương phận chị dở dang những ngày


                                                                    (Lỡ bước sang ngang)


Cách chọn từ ngữ của nhà thơ tưởng như tự nhiên mà hết sức tỉ mỉ, thể hiện đầy đủ và đa dạng sắc thái tu từ văn chương.


2. Lí giải vấn đề


Ba hiện tượng ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 chúng tôi khảo sát ở trên có thể được lí giải từ sự biến đổi ngữ âm tiếng Việt khi tách khỏi khối Việt - Mường chung. Về nguồn gốc của tiếng Việt, quan điểm thuyết phục hiện nay là quan điểm cho rằng tiếng Việt thuộc họ Nam Á, dòng Môn - Khơme, nhánh Việt Mường. Cách đây trên một ngàn năm, người Việt còn đang nói tiếng Việt Mường chung. Trong giai đoạn cuối của Việt Mường chung, cấu trúc âm tiết về cơ bản đã có dạng PNP (phụ âm - nguyên âm - phụ âm), âm tiết có trường độ cố định và đã hình thành sáu thanh điệu (thanh điệu bổng gồm ngang, sắc, hỏi và thanh điệu trầm gồm huyền, nặng, ngã). Lúc này, sự đối lập hai hệ nguyên âm dài - ngắn đã mất tính đều đặn nên có thể khẳng định, quá trình tách đôi Việt và Mường được đặc trưng ở các mặt phụ âm đầu và phụ âm cuối. Ba hiện tượng ngữ âm lịch sử mà chúng tôi khảo sát trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám đều liên quan đến phụ âm đầu. Cụ thể như sau:


2.1. Các từ có phụ âm đầu gi được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu tr


Ở thế kỉ XVII, trong tiếng Việt vẫn còn các nhóm phụ âm có/l/ như/bl/,/tl/,/ml/. Tiền thân của/bl/,/tl/,/ml/ còn lại trong tiếng Mường và trong chữ Nôm, chẳng hạn trăng (𢁋)  chữ Nôm còn ghi là ba lăng ( + ), blăng. Trong một thời gian,/bl/ và/tl/ còn có giá trị khu biệt ý nghĩa, ví dụ trong từ điển của Alexandre De Rhodes:


tlai: mẹ viên ngọc, tức con trai biển [5; 230]


blái: blái núi, blái tim, blái mlót (trái nhót) [5; 39]


tlái: tay tlái, nói tlái mlẽ (nói trái nhẽ) [5; 230]


Các nhóm phụ âm/bl/,/tl/ ở cuối thế kỉ XVII đã biến đổi thành các âm quặt lưỡi, thành/tr/ ở phương ngôn miền Trung, miền Nam và/gi/ ở phương ngôn miền Bắc. Ví dụ:


tlai > trai, giai [5; 230]


blo > tro, gio [5; 40]


blênh > trành, giành (bình có hai tai) [5; 40]


Có thể lí giải các từ có phụ âm đầu gi được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu tr tương tự theo mô hình biến đổi ngữ âm như sau:























































TTT



Các từ chứa phụ âm đầu có/l/



Các từ đọc theo phương ngữ miền Trung và miền Nam



Các từ đọc theo phương ngữ miền Bắc



Ghi chú



1



Blàu



Trầu



Giầu



[5; 40]



2



Blang



Tranh



         Gianh



[5; 167]



3



Blời



Trời



        Giời



[5; 40]



4



Blăng



Trăng



Giăng



[5; 39]



5



Blòu



Trồng



Giồng



[5; 41]



6



Blả



Trả



Giả



[5; 38]



2.2. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu d


Trong tiếng Việt Mường chung, các âm đầu đều là vô thanh. Khi tiếp xúc với âm Hán cuối đời Đường, ta lẫn lộn các phụ âm/k/ với/g/,/p/ với/b/ vì lúc đó các phụ âm hữu thanh của ta đã hoàn toàn biến mất. Khoảng thế kỉ XII, trong tiếng Việt lại xuất hiện một số phụ âm hữu thanh, trong đó có phụ âm/j/ nhưng là âm tiền thanh hầu hoá/?j/. Chúng nảy sinh từ các âm đầu nổ vô thanh/ch/ trong tiếng Việt Mường. Dựng lại quá trình này, Nguyễn Ngọc San đưa ra giả định:


ch (Mường) > ?j > ?nh > nh (Việt) [6; 35]


Về quá trình biến đổi ngữ âm ?j > nh, ta còn thấy dấu vết trong sự song song tồn tại/d/ và/nh/ trong tiếng Việt, ví dụ: dăn deo - nhăn nheo, dồi - nhồi, dúm - nhúm, dức - nhức, diếc - nhiếc, dừ - nhừ, dòm - nhòm, dường - nhường... Chữ Nôm vẫn dùng () ghi nhả, dùng dặc () ghi nhắc, dùng (輿) ghi như.


Như vậy, hiện tượng các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu d đã thể hiện dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám.


2.3. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu l


Như trên đã nói, ở thế kỉ XVII, trong tiếng Việt vẫn còn các nhóm phụ âm có/l/ như/bl/,/tl/,/ml/. Nhóm phụ âm/ml/ còn có hình thức biến thể là/mnh/. Trong từ điển của Alexandre De Rhodes còn có các từ như mnhầmmlầm, mnhẽmlẽ. Với các từ có nhóm phụ âm/mnh/, Alexandre De Rhodes giải thích nghĩa bằng cách giả tá, ví dụ:


mnhầm: xem mlầm


mnhẽ: xem mlẽ [5; 151]


Cuối thế kỉ XVII,/ml/ và/mnh/ sẽ chuyển biến thành/nh/ ở phương ngôn miền Bắc và/l/ ở phương ngôn miền Nam, miền Trung, ví dụ:


mlạc: nhạc, lạc (m lạc ngựa: nhạc ngựa, lục lạc ngựa)


mlầm: nhầm, lầm


mlang: nhãng, lãng (mlang quên)


mlanh: nhanh, lanh (mlanh mlẹn)


mlát: nhát, lát [5; 149]


mlặt: nhặt, lặt


mlạt: nhạt, lạt


mlẽ: nhẽ, lẽ


mlỡ: nhỡ, lỡ


mlời: nhời, lời


mlớn: nhớn, lớn [5; 150]


Như vậy, cách dùng từ nhỡ nhàng lỡ làng của Nguyễn Bính trong trường hợp thứ ba chúng tôi khảo sát cũng thuộc về lĩnh vực ngữ âm lịch sử.


3.Kết luận


Qua nội dung khảo sát và lí giải như trên, chúng tôi bước đầu có những nhận xét như sau:


Một là, dấu ấn ngữ âm lịch sử là một đặc trưng ngôn ngữ trong lời thơ, giọng thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng - mang đậm tính chất quê mùa của làng thôn Bắc Bộ từ thế kỉ XVII. Đây chỉ là một phương diện trong thơ Nguyễn Bính nhưng góp phần lớn trong việc khẳng định phong cách của ông. Nói như Hoài Thanh - Hoài Chân, thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta... Giá Nguyễn Bính sinh ra ở thời trước, tôi chắc người đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm... Đó chính là hồn xưa của đất nước[3] trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng năm 1945.


Hai là, phân tích vấn đề ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám là hướng tìm hiểu tích hợp phương diện ngôn ngữ học và văn hoá, văn tự học. Đây được coi là một hướng nghiên cứu có triển vọng, có thể vận dụng đối với nhiều hiện tượng thơ ca Việt Nam, nhằm đưa đến một cách nhìn tổng quan về lịch sử ngôn ngữ - phong cách thơ Việt.


Ba là, nội dung tham luận có thể được xem là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ Văn trong việc tìm hiểu thơ Nguyễn Bính - một nội dung của học phần Văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời, bài viết cũng cung cấp một cách sơ bộ hiểu biết về vấn đề ngữ âm lịch sử, giúp sinh viên bớt lúng túng trong việc tiếp cận với nội dung Văn bản Nôm trong học phần Hán Nôm.


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.


www.trieuxuan.info







[1] Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam. Nxb. Văn học, H., 2000.




[2] Nguyễn Bính: Chân quê - Thơ (Mã Giang Lân tuyển chọn và giới thiệu). Nxb. Giáo dục, H., 1993.


 




[3] Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam. Nxb. Văn học, H., 2000, tr.344.




 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thông điệp tinh thần của Tơ vò - Quang Hoài 16.10.2018
Đọc tiểu thuyết Tơ vò của Xuân Vũ - Hà Tuấn Ngọc 16.10.2018
Mỹ học Hegel (44) Lĩnh vực tôn giáo của nghệ thuật lãng mạn - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.10.2018
Mỹ học Hegel (43) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.10.2018
Tư tưởng chủ đạo của những người viết sử - Trần Văn Giàu 11.10.2018
Những mùa hoa Tú nói - Đỗ Quyên 11.10.2018
Mỹ học Hegel (42): Sự tan rã của hình thức nghệ thuật cổ điển - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 07.10.2018
Mỹ học Hegel (41) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 07.10.2018
Mỹ học Hegel (22) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 07.10.2018
Tây Nguyên trong thơ Đặng Bá Tiến - Nguyễn Minh Khiêm 04.10.2018
xem thêm »