tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30220967
01.10.2018
Nhiều tác giả
Tỉnh Hà Nam/ Làng dệt lụa Nha Xá


Tỉnh Hà Nam


Tọa độ: 20°35′09″B 105°55′26″Đ


Diện tích: 860,5 km². Dân số (2017): 811.126 người. Mật độ 923 người/km²


Dân tộc Việt, Tày, Mường, Hoa


Tỉnh lỵ  Thành phố Phủ Lý


1 thành phố, 5 huyện


Mã hành chính  VN-63


Mã bưu chính    40xxxx


Mã điện thoại    226


Biển số xe         90


Website


http://www.hanam.gov.vn/


http://hanam.tuhn.vn/


Hà Nam là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Phía Bắc tiếp giáp với Hà Nội, phía Đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, Đông Nam giáp tỉnh Nam Định và phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình. Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng Hà Nội. Tỉnh lị là thành phố Phủ Lý, cách thủ đô Hà Nội 60 km.


Diện tích: 860,5 km²,là tỉnh nhỏ,đứng thứ 62/63 tỉnh,thành phố trong cả nước


    Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.900 mm


    Nhiệt độ trung bình: 23-24 °C


    Số giờ nắng trong năm: 1.300-1.500 giờ


    Độ ẩm tương đối trung bình: 85%


    Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông. phía Tây của tỉnh (chủ yếu ở huyện Kim Bảng) có địa hình đồi núi. phía Đông là đồng bằng với nhiều điểm trũng.


Giao thông


    Quốc lộ 1A đi Hà Nội, Ninh Bình..., đã được nâng cấp từ năm 2009 với 4 làn xe ôtô và 2 làn xe thô sơ, có giải phân cách giữa.


    Quốc lộ 21A từ Phủ Lý đi Nam Định, Thịnh Long với 2 làn xe ôtô và 2 làn xe thô sơ.


    Quốc lộ 21A từ Phủ Lý đi Chi Nê (Lạc Thủy), Hòa Bình và nối với đường mòn Hồ Chí Minh, với 4 làn xe ôtô đoạn qua đồng bằng. Đoạn qua núi với 2 làn xe ôtô và 2 làn xe thô sơ.


    Quốc lộ 21B dọc theo sông Đáy đi Chùa Hương- Hà Đông, 2 làn xe ôtô.


    Quốc lộ 38: hướng từ thành phố Hưng Yên - cầu Yên Lệnh - thị trấn Đồng Văn - Duy Tiên đi Chùa Hương với quy mô 2 làn xe ôtô và 2 làn xe thô sơ.


    Quốc lộ 38B từ cầu Yên Lệnh qua Lý Nhân - Bình Lục và nối tới quốc lộ 10 Nam Định quy mô 2 làn xe ôtô.


    Quốc lộ 21 mới (Phủ Lý - Nam Định) với 4 làn xe ôtô và 2 làn xe thô sơ với giải phân cách giữa, được thông xe từ ngày 11/1/2014.


    Đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình song song với quốc lộ 1A và cách nó khoảng 3 km về phía Đông. Quy mô với 4 làn xe và 2 làn dừng khẩn cấp. Được thông xe kỹ thuật từ ngày 30/6/2012.


Quốc lộ đang thi công mới


    Đường nối Hà Nam - Thái Bình dự kiến 4 làn xe (2 làn ôtô và 2 làn thô sơ) kết nối với cầu Thái Hà (xã Chân Lý, huyện Lý Nhân) bắc qua sông Hồng. Đầu tuyến tại nút giao Liêm Tuyền (hiện là ngã tư kết nối Quốc lộ 21 mới và cao tốc Cầu Giẽ- Ninh Bình).


    Đường nối cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình với đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng mới, dự kiến 4 làn xe. Điểm đầu tại nút giao Liêm Tuyền huyện Thanh Liêm, điểm cuối là đường 5B mới qua Hưng Yên.


    Đường quốc lộ 1 mới tránh thành phố Phủ Lý (đã khởi công từ 2014)


    Mở rộng quốc lộ 38B đi Nam Định


    Làm mới tuyến quốc lộ 38 từ cầu Yên Lệnh tới khu công nghiệp Đồng Văn


Đường sắt Bắc Nam


Đường thuỷ


Trên sông Đáy, sông Châu, từ năm 2008 cải tạo Âu thuyền nối giữa sông Châu và sông Đáy. Khi dự án này hoàn thành giao thông đường Thủy thuận tiện hơn do tàu thuyền có thể từ sông Đáy qua Âu thuyền này dọc sông Châu, qua âu thuyền Tắc giang và đi vào sông Hồng một cách thuận tiện.


Theo điều tra dân số 01/04/2017 Hà Nam có 811.126 người, chiếm 5,6% dân số đồng bằng sông Hồng, mật độ dân số 954 người/km². 91,5% dân số sống ở khu vực nông thôn và 8,5% sống ở khu vực đô thị. Dân cư đô thị chủ yếu ở thành phố Phủ Lý và các thị trấn: Hòa Mạc, Đồng Văn, Quế, Vĩnh Trụ, Bình Mỹ, Kiện Khê. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên năm 1999 là 1,5%.


Hà Nam hiện có 1 thành phố và 5 Huyện, Trong đó có với 116 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 7 thị trấn, 11 phường và 98 xã.


Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Hà Nam


Tên      Dân số (người)2013      Hành chính


Thành phố (1)


Phủ Lý 136.654            11 phường, 10 xã


Huyện (5)


Bình Lục           144.760            1 thị trấn, 18 xã


Tên      Dân số (người)2013      Hành chính


Duy Tiên           125.062            2 thị trấn, 16 xã


Kim Bảng          125.713            2 thị trấn, 16 xã


Lý Nhân            175.340            1 thị trấn, 22 xã


Thanh Liêm       144.760            1 thị trấn, 16 xã


 


Cơ cấu kinh tế năm 2005:


    Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Làng nghề: 39,7%


    Nông nghệp: 28,4%


    Dịch vụ: 31,9%


    Công nghiệp: chủ chốt là ximăng, vật liệu xây dựng, dệt may, chế biến. 6 nhà máy xi măng 1,8 triệu tấn/năm đang phấn đấu đạt 4–5 triệu tấn /năm. Đá khai thác 2, 5 triệu m3 (2005) tăng 2,26 lần so với năm 2000, Bia - nước giải khát đạt 25 triệu lít gấp 4,18 lần, vải lụa gấp 7 lần, quần áo may sẵn gấp 2 lần,...


Hà Nam có trên 40 làng nghề. Có những làng nghề truyền thống lâu đời như dệt lụa Nha Xá, trống Đọi Tam, mây giang đan Ngọc Động (Duy Tiên), sừng mỹ nghệ (Bình Lục), gốm Quyết Thành, nghề mộc (Kim Bảng), thêu ren xã Thanh Hà (Thanh Liêm),.


Nghề thêu ren thu hút nhiều lao động ở Thanh Hà


Xã Thanh Hà (Thanh Liêm) nằm cạnh quốc lộ 1A, có 2.626 hộ với 9.699 người ở 7 thôn. Trong số 2.626 hộ thì có 2.002 hộ làm nghề thêu ren chiếm 76,2%, với 5.740 lao động tham gia, trong số này lao động chính có 2.684 người, lao động phụ là 2.896 người và lao động thuê là 160 người. Những con số trên chứng tỏ Thanh Hà là xã mà số hộ và số lao động làm nghề thêu ren nhiều nhất tỉnh. Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, làng nghề mở rộng về quy mô và thu hút hàng ngàn lao động, nghề thêu ren được truyền dạy rộng rãi, sản xuất không ngừng phát triển. Từ năm 1975 đến năm 1989 là thời gian thịnh vượng của làng nghề: sản phẩm đa dạng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, xuất khẩu sang Liên Xô và các nước Đông Âu. Từ năm 1990 đến nay là thời kỳ chuyển đổi cơ chế, làng thêu ren Thanh Hà đã trải qua bao trăn trở tìm cho mình hướng đi để tồn tại và phát triển trong điều kiện thị trường truyền thống bị thu hẹp và thị trường nước ngoài lại đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng và thời gian.


Công cụ, thiết bị của làng nghề thêu ren rất giản đơn. Lao động chủ yếu là thủ công. Toàn bộ làng nghề hiện có hơn 5.000 khung thêu, 30 hộ có thiết bị giặt là và in, ngoài ra còn có các dụng cụ khác như: kim, kim móc, dao, kéo.


Các công đoạn của nghề thêu ren là: chuẩn bị nguyên liệu, tạo mẫu, pha và in màu, thêu, giặt là, kiểm tra đóng gói và cuối cùng là tiêu thụ. Các công đoạn trên hiện nay đều thực hiện bằng lao động thủ công.


Để tạo mẫu đảm bảo chất lượng, chỉ có một số hộ có kỹ thuật, có vốn đảm nhiệm công đoạn này và làm dịch vụ cho cả làng nghề. Khâu kiểm tra, đóng gói và tiêu thụ sản phẩm là thuộc về các doanh nghiệp (đảm nhận bao tiêu toàn bộ sản phẩm của làng nghề). Người lao động chỉ thực hiện một công đoạn: thêu. Nghề thêu ren có đặc điểm: nguyên liệu tiêu hao ít, nhưng lao động kết tinh trong sản phẩm nhiều vì thế giá trị sản phẩm lớn. Tuy nhiên, giá cả của sản phẩm thêu lại phụ thuộc vào hai yếu tố: nguyên liệu và kiểu dáng, mẫu mã của sản phẩm đó có được khách hàng ưa chuộng hay không. Hiện nay những mặt hàng đang được ưa chuộng là: ga trải giường, gối, khăn trải bàn…


Để phát triển làng nghề, người Thanh Hà đã đầu tư cho việc tiếp thị như mở nhiều cửa hàng quảng cáo ở khắp mọi miền của đất nước, không ngừng nâng cao chất lượng hàng, cải tiến mẫu mã, đáp ứng yêu cầu của thị trường khó tính. Ở Thanh Hà, hiện nay, hầu hết các hộ đều làm vệ tinh cho các doanh nghiệp. Huyện Thanh Liêm hiện có 2 công ty TNHH và 3 doanh nghiệp tư nhân với tổng số vốn đầu tư 2,2 tỷ đồng cho sản xuất kinh doanh hàng thêu ren, đã tạo đầu mối và việc làm cho hàng ngàn lao động, trong đó có làng thêu ren Thanh Hà. Làng thêu Thanh Hà không gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu. Vải, chỉ thêu có rất sẵn trên thị trường. Tuy nhiên, họ lại gặp khó khăn về vốn. Đó là vốn để mua nguyên liệu và vốn tồn đọng trong quá trình lưu thông. Theo kết quả điều tra của Sở Công nghiệp thì toàn bộ tài sản cố định gồm toàn thể cơ sở vật chất khoảng 30 triệu đồng/hộ; vốn lưu động bình quân 250.000đ/hộ.


Hiện ở Thanh Hà nguồn vốn tự có là chủ yếu. Vốn vay thì chỉ có nguồn vốn ngắn hạn, vốn trung hạn và dài hạn còn chưa được sự quan tâm của ngân hàng đối với làng nghề. Những lúc cần huy động vốn thì vay của tư nhân. Tính đến hết tháng 6/1999, vốn vay ưu đãi cho làng nghề mới ở mức khiêm tốn: 300 triệu đồng, trong đó nhu cầu vay ngân hàng cần tới 1,6 tỷ đồng. Đối với nghề thêu ren xuất khẩu vốn rất cần thiết, vì trong điều kiện hiện nay, khách hàng chủ yếu là mua đứt bán đoạn chứ không gia công.


Năm 1999, những người thợ Thanh Hà đã làm ra 88.500 bộ sản phẩm đạt 9,44 tỷ đồng. Một con số không phải là nhỏ với bất cứ làng nghề nào. Tuy nhiên, thu nhập hàng tháng của người thợ thêu ren không giống nhau mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố: vốn, tay nghề và sản phẩm có được tiêu thụ nhanh hay không?


Những người thợ có tay nghề cao bình quân thu nhập đạt 300.000-350.000đ/tháng, thợ tay nghề thấp đạt 200.000-250.000đ/tháng. Như vậy, một hộ có 2 lao động chính, 2 lao động phụ tay nghề trung bình và khá, một tháng thu nhập từ 800.000-1.000.000đ và một năm đạt trên dưới 10 triệu đồng. Nguồn thu nhập đâu phải là nhỏ đối với người dân nông thôn!


Những người thợ ở Thanh Hà rất mong muốn Nhà nước có chính sách cho vay vốn ưu đãi đối với làng nghề, hỗ trợ đầu tư chi phí cho đào tạo thợ thêu; mong muốn các cơ quan chức năng như: Sở Công nghiệp, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Sở kế hoạch - Đầu tư… giúp đỡ trong việc Thương mại - Du lịch tích cực tìm kiếm thị trường thêu ở nước ngoài và có biện pháp hạn chế sự ép giá của các đơn vị trung gian xuất khẩu mặt hàng này.


Có làng đã đạt từ 40–50 tỷ đồng giá trị sản xuất, tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động, mây giang đan: 5,5 triệu sản phẩm; lụa tơ tằm: 0,695 triệu m; hàng thêu ren: 2,83 triệu sản phẩm,...


Cho tới năm 2010 Hà Nam đã xây dựng được các khu công nghiệp sau


    Khu Công nghiệp Đồng Văn I và Khu Công nghiệp Đồng Văn 2 thuộc địa bàn thị trấn Đồng văn: Tổng diện tích 410ha.


Với giao thông thuận tiện: Đây là một trong số ít các khu công nghiệp giáp với 3 phía đều giáp với quốc lộ lớn. phía Đông giáp với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, phía Nam giáp quốc lộ 38, phía Tây giáp quốc lộ 1A. Khu công nghiệp cũng liền kề với ga Đồng Văn thuộc hệ thống đường sắt Bắc Nam.


    Khu công nghiệp Châu Sơn 200ha - nằm trong thành phố Phủ Lý


    Khu công nghiệp Hòa Mạc 200ha - thuộc thị trấn Hòa Mạc - Duy Tiên


Các dự án khu công nghiệp khác (đang thi công)


    Khu công nghiệp Ascendas - Protrade, diện tích 300ha


    Khu công nghiệp Liêm Cần - Thanh Bình, diện tích 200ha


    Khu công nghiệp Liêm Phong, diện tích 200ha


    Khu công nghiệp ITAHAN, diện tích 300ha.


Ngoài ra tỉnh cũng xây dựng được nhiều cụm công nghiệp và đã cho các doanh nghiệp và tư nhân thuê, tạo việc làm cho nhiều nhân lực. Phát triển công nghiệp dồn dập cũng đã ít nhiều mang lại các hậu quả về môi trường, xong tỉnh cũng đã từng bước thanh kiểm tra các khu công nghiệp và dần tốt đẹp hơn. Nhiều khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý rác thải hoạt động hiệu quả và kinh tế.


    Nông nghiệp: 28,4%


Cơ cấu nông nghiệp trong GDP giảm dần từ 39,3% năm 2000 còn 28,4% năm 2005. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 4,1% (2001-2005). Trong đó: trồng trọt tăng 1,7%, chăn nuôi tăng 6,7%, dịch vụ 31%, sản lượng lương thực đạt 420 tấn/năm, sản lượng thuỷ sản năm 2005 đạt 11.500 tấn, giá trị sản xuất trên 1 ha đạt 38,5 triệu đồng. - Hình thành vùng cây lương thực chuyên canh, thâm canh có năng suất cao ở ba huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục. Tại đây đầu tư vùng lúa đặc sản xuất khẩu có năng xuất cao. Chuyển diện tích trũng ở vùng độc canh, hoang hoá sang sản xuất đa canh để nuôi trồng thủy sản là 5.188 ha. Chuyển một phần đất màu sang trồng rau sạch chuyên canh và trồng hoa. - Các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu: Tổng đàn bò 35.000 con; lợn 350.000 con; dê 16.000 con; gia cầm 3.350.000 con. Nhập bò sữa cung cấp cho nông dân là: 150 con. Đến nay đã phát triển được 355 con. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt trên 30.000 tấn/năm.


Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Hà Nam xếp ở vị trí thứ 62/63 tỉnh thành.


    Du lịch, dịch vụ:


- Về du lịch sinh thái: Hà Nam có nhiều điểm du lịch sinh thái khá hấp dẫn như: Khu du lịch đền Trúc thờ vị anh hùng Lý Thường Kiệt và Ngũ Động Thi Sơn là quả núi năm hang nối liền nhau cách thành phố Phủ Lý 7 km. Đã quy hoạch Khu du lịch Tam Chúc thuộc huyện Kim Bảng với quy mô gần 2000 ha với 9 khu chức năng. Diện tích mặt nước hồ khoảng 600 ha, diện tích phụ cận và khu du lịch sinh thái là 600 ha. Xây dựng các nhà nghỉ, khách sạn, sân gôn, quần vợt, công viên nước, nhà thuỷ tạ. Nơi đây cách chùa Hương 7 km, cách Hà Nội 60 km, Nam Định 40 km, Ninh Bình 45 km, Hưng Yên 40 km là điểm dừng chân cho khách du lịch nhiều tỉnh, nơi nghỉ dưỡng và giải trí vào các ngày nghỉ cuối tuần của khách thập phương, đang thu hút đầu tư. - Chùa Long Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Di tích Long Đọi Sơn được xếp hạng từ năm 1992. Hàng năm có trùng tu, tôn tạo để gìn giữ cho muôn đời sau. - Khu trung tâm du lịch thành phố Phủ Lý: Được xây dựng 2 bên dòng sông Đáy, giáp cửa sông Châu; có khách sạn 3 sao, 11 tầng, có khu du lịch bến thuỷ phục vụ du khách đi chùa Hương, Ngũ Động Sơn, chùa Bà Đanh, Hang Luồn. Nơi đây còn là địa điểm bơi thuyền dọc sông Châu, sông Đáy vãng cảnh nước non Phủ Lý. - Đền Trần Thương, ở huyện Lý Nhân, thờ quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Đến được xây dựng năm 1783; với diện tích 1,4 ha.


Lịch sử và văn hóa


Cách đây 225 triệu năm toàn bộ vùng đất của Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình còn nằm sâu dưới đáy biển. Cuối kỷ Jura hay đầu kỷ Creta, một vận động tạo sơn đã tạo nên vùng đá vôi của 3 tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình hiện nay. Đa số các núi đá phân bố dọc hữu ngạn sông Đáy, có rất ít ngọn nằm ở tả ngạn.


Khoảng 70 triệu năm trước đây, chế độ biển kết thúc, thay thế là một quá trình bồi tụ để hình thành đồng bằng cổ. Phù sa mới và việc hình thành đồng bằng trên cơ sở tạo nên vùng đất thấp là trầm tích trẻ nhất châu thổ Bắc bộ. Hà Nam là vùng đất được bồi đắp bởi phù sa của sông Hồng, sông Đáy và thu nhận đất đai bị bào mòn từ vùng núi cao trôi xuống. Ngoài những ngọn núi, Hà Nam còn được bao bọc bởi những con sông. Đó là sông Hồng ở phía Đông, sông Đáy ở phía Tây, sông Nhuệ ở phía Bắc, sông Ninh ở phía Nam và nhiều con sông khác chảy trong tỉnh. Chính những điều kiện tự nhiên đã tạo cho vùng đất này các đặc trưng về văn hóa lịch sử của một khu vực giao thoa hay vùng đệm kết nối văn hóa từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và chính những đặc điểm này đã hình thành nên tính cách của người Hà Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.


Theo kết quả khảo cổ thì người nguyên thuỷ đã xuất hiện ở Hà Nam trên dưới 1 vạn năm vào buổi đầu thời kỳ đồ đá mới và đồ gốm thuộc nền văn hóa Hoà Bình, văn hóa Bắc Sơn. Cũng có thể do sự bùng nổ dân số từ sơ thời kỳ đại kim khí nên bắt đầu đã có cư dân xuống trồng lúa nước ở vùng chiêm trũng. Họ được xem như những người tiên phong khai thác châu thổ Bắc bộ.


Từ thời các vua Hùng, đất Hà Nam ngày nay nằm trong quận Vũ Bình thuộc bộ Giao Chỉ; đến thời nhà Trần đổi là châu Lỵ Nhân, thuộc lộ Đông Đô.


 


Dưới thời Lê vào khoảng năm 1624, Thượng thư Nguyễn Khải đã cho chuyển thủ phủ trấn Sơn Nam từ thôn Tường Lân (xã Trác Văn) huyện Duy Tiên, phủ Lỵ Nhân đến đóng ở thôn Châu Cầu (nay là trung tâm thành phố Phủ Lý) thuộc tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lỵ Nhân, trấn Sơn Nam Thượng. Đến năm 1832 dưới thời Nguyễn, vua Minh Mạng quyết định bỏ đơn vị trấn thành lập đơn vị hành chính tỉnh, phủ Lỵ Nhân được đổi là phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội.


Đến tháng 10 năm 1890 (đời vua Thành Thái năm thứ 2), phủ Lý Nhân được đổi tên thành tỉnh Hà Nam. Ngày 20 tháng 10 năm 1908, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đem toàn bộ phủ Liêm Bình và 17 xã của huyện Vụ Bản và Thượng Nguyên (phần nam Mỹ Lộc) của tỉnh Nam Định, cùng với 2 tổng Mộc Hoàn, Chuyên nghiệp của huyện Phú Xuyên (Hà Nội), nhập vào huyện Duy Tiên lập thành tỉnh Hà Nam. Tháng 4 năm 1965, Hà Nam được sáp nhập với tỉnh Nam Định thành tỉnh Nam Hà. Tháng 12 năm 1975, Nam Hà sáp nhập với Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh, năm 1992, tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình lại chia tách như cũ. Tháng 11 năm 1996, tỉnh Hà Nam được tái lập.


Khi tách ra, tỉnh Hà Nam có 6 đơn vị hành chính gồm thị xã Phủ Lý và 5 huyện: Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm.


Ngày 9 tháng 6 năm 2008, chuyển thị xã Phủ Lý thành thành phố Phủ Lý.[4]


Văn hóa


Hà Nam là tỉnh có nền văn minh lúa nước lâu đời và nền văn hóa dân gian phong phú, thể hiện qua các điệu chèo, hát chầu văn, hầu bóng, ả đào, đặc biệt là hát dậm. Đây cũng là vùng đất có nhiều lễ hội truyền thống và di tích lịch sử.


Một số lễ hội truyền thống tiêu biểu:


    Lễ hội đền Trúc (còn gọi là hội Quyển Sơn) tổ chức ở xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng tổ chức từ mùng 6 tháng giêng đến mùng 10 tháng 2 âm lịch.


    Hội chùa Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, thờ Phật, thờ Lê Đại Hành, Nguyên phi Ỷ Lan, và Lê Thánh Tông; hội tổ chức vào 21 tháng 3 âm lịch.


    Lễ hội tịch điền: diễn ra tại Đọi Sơn, Duy Tiên là nơi vua Lê Đại Hành mở đầu nghi thức cày ruộng tịch điền trong lịch sử.


    Hội đền Trần Thương ở xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, được tổ chức hàng năm vào ngày 20 tháng 8 âm lịch và đêm 14 tháng Giêng âm lịch. Đền Trần Thương thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo), là nơi được ông chọn làm kho lương, cung cấp lương thảo cho quân đội trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên-Mông thế kỷ thứ XIII. Lễ hội phát lương đền Trần Thương là một trong những lễ hội lớn của tỉnh Hà Nam, tưởng nhớ công lao to lớn của vị Anh hùng dân tộc, góp phần phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền, giáo dục cho con cháu về truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của ông cha.


    Hội làng Duy Hải ở huyện Duy Tiên, thờ Trần Khánh Dư, được tổ chức hằng năm vào 22 tháng giêng.


Một số công trình văn hóa tiêu biểu:


    Nhà hát Chèo Hà Nam nằm ở trung tâm thành phố Phủ Lý, là đơn vị nghệ thuật chèo chuyên nghiệp của chiếng chèo xứ Nam.


Di tích lịch sử


Danh thắng Kẽm Trống thuộc xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, đây là nơi dòng sông Đáy chảy xen giữa hai dãy núi đá vôi tạo thành cảnh quan sơn thủy thơ mộng.


Đền Trúc-Ngũ Động Sơn: nằm tại thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, cách Phủ Lý hơn 7 km theo quốc lộ 21A. Tương truyền Lý Thường Kiệt trên đường chiến thắng trở về đã cho quân dừng ở đây để tế lễ và ăn mừng. Sau này để tưởng nhớ ông, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ dưới chân núi Cấm gọi là đền Trúc. Trong dãy núi còn có danh thắng Ngũ Động Sơn, là năm hang đá nối liền nhau thành một dãy động liên hoàn, có chiều sâu trên 100m.


Chùa Bà Đanh: Mới được cải tạo lại từ năm 2010, nằm ở đoạn uốn khúc của dòng sông Đáy và nằm giữa đê sông Đáy và sông đáy. Đối diện với chùa và ở phía bên kia sông là núi Ngọc. Chùa cách cầu nối đường 21A và thị trấn Quế khoảng 4 km. Xung quanh chùa là vườn cây rộng và um tùm, xa hơn là dòng sông đáy trong veo nên không gian rất yên tĩnh, vắng vẻ, thậm chí có thể nghe được cả tiếng lá rơi.


Chùa Long Đọi: được xây dựng từ đời vua Lý Thánh Tông, chùa nằm ở toạ độ 105o30-186,01 kinh độ Đông; 20o20-22,775 vĩ độ Bắc. Chùa nằm trên đỉnh núi Đọi, với độ cao 79m so với mặt nước biển, thuộc địa phận xã Đọi Sơn huyện Duy Tiên, cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Nam; cách thành phố Phủ Lý 10 km về phía Đông Bắc. Long Đọi sơn tự nằm trên thế đất cửu long. Toàn cảnh núi Đọi nhìn xa giống như một con rồng đất rất lớn nằm phục ở giữa đồng bằng vùng chiêm trũng. Tuy được xây dựng từ giữa thế kỷ XI nhưng thực sự phát triển và xây dựng bề thế vào năm 1118, đời vua Lý Nhân Tông, tháp Sùng Thiện Diên Linh đã được xây dựng với ý nghĩa cầu thiện.


Đền Lăng thuộc xã Liêm Cần, Thanh Liêm là nơi thờ các vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, tương truyền đây cũng là quê hương của Lê Hoàn.


Ngoài ra còn có hồ Tam Chúc và tượng phật bằng đồng cao khoảng 20 m


Danh nhân


    Lê Hoàn: Người sáng lập nhà Tiền Lê trong lịch sử Việt Nam


    Đinh Nga, Vị tướng nhà Đinh có công dẹp loạn 12 sứ quân


    Hoàng hậu nhà Đinh Dương Thị Nguyệt - người truyền dạy Trò Xuân Phả


    Nam Cao


    Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến


    Nguyễn Hữu Tiến


    Trần Tử Bình


    Bùi Kỷ


    Phạm Tất Đắc


    Trần Quốc Hương


    Băng Sơn


    Đinh Công Tráng


    Ngô Xuân Lịch: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng


    Nguyễn Thị Doan Phó chủ tịch nước


    Đào Ngọc Dung Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội


    Mai Tiến Dũng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, XII; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Việt Nam


Wikipedia 26-9-2018


 


 


 


Làng dệt lụa Nha Xá


nằm yên ả bên bờ sông Hồng, ngay dưới chân cầu Yên lệnh thuộc Xã Mộc Nam, Huyện Duy Tiên, Tỉnh Hà Nam, nối liền hai tỉnh Hưng Yên và Hà Nam. Vẻ đẹp của Lụa tơ tằm Nha Xá làm cho các lái buôn và du khách thập phương say đắm với sự mềm mại quyến rũ mà ghé chân lại khi đi qua nơi này..


Làng dệt lụa Nha Xá có 230 hộ với gần 800 nhân khẩu, trong đó khoảng 350 lao động chính, 90 % hộ dân tham gia dệt lụa, vận hành gần 200 máy dệt. Những xưởng lớn có hàng chục máy dệt, những máy dệt lớn chuyên sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao cấp cho thị trường Hà Nội, Huế, Đà nẵng, Sài gòn, và xuất khẩu sang Thái lan & Lào


Đến với Nha Xá, Bạn không chỉ được thưởng thức cảnh đẹp của một làng quê đậm chất đồng bằng Bắc bộ, đan xen các ngôi biệt thự cổ kiểu Pháp, mà còn có thể lựa chọn cho riêng mình những tấm lụa đẹp nhất, được dệt và nhuộm bằng phương pháp truyền thống từ bàn tay khéo léo của các nghệ nhân lâu năm giàu kinh nghiệm


Nha Xá cũng là nơi đầu tiên dùng những chất liệu đến từ thiên nhiên như Củ nâu, Cánh kiến, Lá bàng, Lá trầu không... để nhuộm Lụa tơ tằm, chính vì vậy sản phẩm Lụa của Nha xá được nhiều người ưa chuộng, tin tưởng về chất lượng, và an toàn khi sử dụng


Nhuộm Lụa tơ tằm bằng chất liệu thiên nhiên, ở Làng dệt lụa nha xá. Lụa tơ tằm Nha Xá được nhuộm bằng phương pháp truyền thống là chỉ dùng những nguyên liệu lấy từ thiên nhiên như : Lá cây, Củ, Quả... Người ta nấu thuốc nhuộm từ tự nhiên này, rồi cẩn trọng đưa mầu ấy vào từng sợi tơ óng ả, để Lụa tơ tằm có mầu sắc theo ý muốn


Nguồn nguyên liệu dệt hiện nay được người dân mua từ Nhà máy tơ Lâm Đồng, nguồn hàng ổn định, chất lượng Sợi tơ tằm đảm bảo, mỗi tháng làng nghề cho ra đời khoảng 2 vạn mét lụa, trong đó 50 % là Lụa hoa, 50 % là Lụa trơn. Cho đến ngày hôm nay, sản phẩm Lụa của Nha xá được người tiêu dùng biết đến, và ưa thích, không chỉ có chỗ đứng ở thị trường trong nước mà còn là sản phẩm được người dùng Hàn quốc, Nhật bản, Pháp rất ưa chuộng


Từ Nha Xá, nghề dệt lụa đã lan rộng sang những vùng lân cận như Hòa Mạc, Đồng Văn... tạo công ăn việc làm cho hàng trăm hộ gia đình. Trải qua bao thăng trầm, Làng dệt lụa nha xá vẫn miệt mài giữ cái nghề truyền thống quý báu mà bao đời ông cha đã truyền dạy


Hình ảnh : Chăn & Gối lụa tơ tằm thêu bong bóng _ Sản phẩm chủ lực của Hộ sản xuất tư nhân Ngọc Hải, được làm từ Lụa tơ tằm thủ công của Làng dệt lụa Nha Xá _ Duy Tiên _ Hà Nam, đã được bán với số lượng khá lớn tại thị trường Việt Nam


Nha Xá (Hà Nam): Dân vẫn phất lên nhờ khung cửi, con thoi


Ngót nghìn năm qua người ta biết đến Nha Xá là làng lụa, mà lụa ở đây mềm, mịn, bền và đẹp nên được xếp thứ 2 trong số những làng lụa của nước Việt và chỉ đứng sau lụa Vạn Phúc.


Nghìn năm thoi đưa


Làng Nha Xá, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên (tỉnh Hà Nam) ngày nay không có nhiều tiếng cửi, tiếng con thoi đưa như xưa, đến đầu làng người ta còn nghe được cả tiếng ve kêu chào đón mùa hè giữa chốn thanh bình. Ở Nha Xá toàn nhà cao, cái nào cũng tầm cỡ 3-5 tầng, còn có cả các ngôi biệt thự cổ mang dáng dấp kiến trúc của Pháp, hoa văn, họa tiết đều rất… tuyệt mỹ. Các cụ cao nhiên trong làng bảo, nhìn mấy cái biệt thự cổ và mấy cái nhà cao tầng là đủ biết cái làng này giàu từ bao giờ, nó đều là thành quả của khung cửi, của con thoi đưa”.


Làng Dệt lụa Nha Xá (Hà Nam): Dân vẫn phất lên nhờ khung cửi, con thoi - Ảnh 1


Cổng làng Nha Xá


Ông Lê Ngọc Toản, chủ nhân của một xưởng dệt cho biết: Tương truyền khi xưa có một vị tướng nhà Trần tên là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư có đi thuyền qua đây, thấy đất tốt, dân lại nghèo nên ông đã chỉ cho dân cách trồng dâu, ươm tơ và dệt lụa. Nghe lời dạy, người ta làm ra rất nhiều tấm lụa đẹp, cung ứng cho dân trong làng, trong tổng. Rồi tiếng lành đồn xa, thương lái tìm đến cũng nhiều, có thời có cả nghề gánh lụa thuê ra sông Hồng đưa lên thuyền, các thuyền chuyển về kinh thành và phân phối đi khắp nơi. Cứ như vậy, tính đến nay thắm thoát thoi đưa cũng đã ngót nghìn năm rồi!


Và để có được một tấm lụa ưng ý, người ta phải nhập tơ, quay tơ, rồi mới đưa qua máy dệt. Tấm lụa mộc dệt xong lại đem ra tẩy chuội, nhuộm màu, rồi cán khô nữa mới xong xuôi. Mỗi công đoạn đều có cách làm riêng, rất kỳ công và tỉ mẩn, đòi hỏi người thợ phải thật chuyên tâm, tinh tường.


Dù được phong là “Á hậu” trong nghề dệt song trải qua bao biến cố lịch sử, lụa Nha Xá không phải không có thăng trầm. Chẳng nói đâu xưa, những cuối năm 80 của thế kỷ trước, làng nghề chỉ còn mấy hộ theo dệt với sản phẩm hạng thấp kém như khăn, màn. “Lụa làm ra không bán được mà nguyên liệu để dệt lại thiếu thốn, làng nghề lâm vào thế khó, nhiều người đã tháo khung, có người cũng đã lên kế hoạch làm nốt vài mẻ nữa rồi cũng bỏ nghề”, ông Toản nhớ lại.


Đúng vào thời điểm gian nan ấy có người con của Nha Xá trở về với tin vui là “đã tìm được đầu ra”. Thế là làng lại cải tiến máy móc rồi nhập các loại tơ có chất lượng cao cấp hơn, dệt ra những tấm vải đẹp và bền hơn, lụa làm ra bán chạy hơn, từ đó làng lụa Nha Xá chính thức hồi sinh.


Nguồn nguyên liệu dệt hiện nay được người dân lấy từ Nhà máy tơ Lâm Đồng, nguồn hàng ổn định, chất lượng tơ bảo đảm. Mỗi tháng, làng nghề cho ra khoảng 2 vạn mét lụa, trong đó có 50% là lụa hoa, 50% là lụa trơn và các sản phẩm khác. Cho đến giờ, sản phẩm lụa hoa của Nha Xá được nhiều người tiêu dùng biết đến và ưa thích. Không những có chỗ đứng vững trên thị trường trong nước mà còn là sản phẩm được người dùng Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp rất ưa chuộng.


Kế thừa và phát huy


Theo thống kê của UBND xã Mộc Nam, Nha Xá hiện có 140 hộ sản xuất, kinh doanh lụa. Trong đó có các hộ dệt thô hoặc tham gia vào các công đoạn khác, có người chỉ chuyên làm khăn, có người chuyên dệt thô, thậm chí chỉ sắm máy rồi ngồi nhà dệt thuê hưởng công như lối làm khoán, dệt được bao nhiêu hưởng bấy nhiêu.


Số hộ làm dệt có vẻ ít song đã tạo việc làm và mang lại thu nhập ổn định cho hàng nghìn người dân. Chị Đặng Thị Xuân, chủ nhân của hai chiếc máy dệt cho biết, thu nhập bình quân của người lao động ở đây là 300 nghìn đồng/ngày. Có người có thu nhập 500 nghìn đồng/ ngày và tùy thuộc các công đoạn đòi hỏi kỹ thuật khác nhau.


“Làm gần máy móc tuy ồn một chút song thu nhập khá ổn định, hơn hẳn so với làm công nhân ở các công ty nhiều, vừa không phải chịu nắng mưa, vừa gần nhà, việc lại có quanh năm”, chị Xuân cho biết thêm.


Hoặc như nhà ông Toản, nhà ông cũng có hai máy dệt. Chỉ hai máy thôi nhưng cũng đủ việc làm cho vợ chồng ông quanh năm, đủ tiền cho ông xây căn nhà 3 tầng rộng hàng nghìn mét vuông và đủ tiền cho con cái đi học đại học.


Còn đầu tư lớn, mở doanh nghiệp ở Nha Xá thì người ta có thể kể đến hộ ông Hợp với hơn 7 máy dệt, nhà ông Hưng với hơn 10 máy dệt. Mỗi hộ như vậy tạo việc làm cho hàng chục lao động thường xuyên, các lao động này sống khỏe với thu nhập ngót nghét chục triệu đồng mỗi tháng.


Nói đến tấm gương giúp nhau cùng phát triển, cùng làm giàu thì có thể nói đến vợ chồng anh Lê Thanh Sơn. Chúng tôi đã chứng kiến, tại xưởng rộng hàng nghìn mét vuông của gia đình anh lúc nào cũng có trên chục lao động. Mỗi người làm một giai đoạn khác nhau: người quay sợi, người giặt vải, người nhuộm vải, người gấp lụa đóng gói,… Trong trường hợp khác, hộ nào muốn dệt nhưng không có vốn đầu tư thì vợ chồng anh Sơn sẽ đầu tư, lắp cho khoảng 2-3 máy dệt. Lắp xong người được giao máy chỉ việc dệt và bán lại sản phẩm cho hộ anh Sơn, như vậy là hợp tác cùng có lợi, người làm không phải bỏ ra nhiều vốn, còn anh Sơn có nguồn hàng ổn định.


Được biết thêm, để phát huy hơn nữa giá trị sản phẩm và sự phát triển làng nghề. Năm 2013, UBND tỉnh Hà Nam đã phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và Trạm xử lý nước thải làng nghề dệt Nha Xá. Đây là điều kiện tốt nhất để làng nghề yên tâm phát triển, tạo ra được thương hiệu cho sản phẩm và giải quyết bài toán việc làm cho hàng trăm lao động địa phương.


Bài của Khánh An/ baodansinh.vn


 


Làng Nha Xá (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam) nằm trên bờ sông Hồng nặng đỏ phù sa, có nghề dệt lụa nổi tiếng từ xưa. Người được dân làng tôn thờ làm Thành hoàng làng là ông tổ dạy dân dệt lụa và bắt cá hương (cá giống) Nhân Huệ Vương - Phiêu kỳ Đại tướng quân Trần Khánh Dư.


Trần Khánh Dư là một vị tướng lỗi lạc thời Trần, người đã có công lớn trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông và đánh dẹp Chiêm Thành. Cuối đời, ông về ở tại vùng đất được phong thuộc xã Dương Hòa, lộ Lý Nhân (Hà Nam). Có lần du ngoạn trên sông Hồng, ông thấy bãi sông đẹp, đã lên xem và hướng dẫn dân Nha Xá vớt cá hương trên sông về nuôi và trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa... Từ đó, nghề dệt lụa được người dân Nha Xá cần cù gìn giữ. Vào những năm đầu thế kỷ 20, lụa Nha Xá đã có mặt ở nhiều nơi. Năm 1931, lụa Nha Xá đã dự hội chợ ở Phnômpênh (Campuchia). Năm 1938, dự hội chợ Huế. Năm 1935, đã có 6 nhà tư sản Nha Xá có cửa hàng bán lụa ở Sài Gòn, Hồng Công... Năm 1939, nghề dệt, nghề cá đều thịnh vượng. Làng đã xây đình thờ Trần Khánh Dư (do KTS Tạ Mỹ Duật thiết kế xây dựng) và nhiều gia đình trong làng thuê các kiến trúc sư Pháp, Việt thiết kế biệt thự. Trải qua sự tàn phá của chiến tranh và thời gian, đến nay làng vẫn còn 18 ngôi biệt thự đẹp. Tất cả đều là từ dệt lụa, dân làng cho biết vậy.


Năm 1959, phong trào hợp tác xã phát triển, cả Nha Xá là một hợp tác xã làm gia công cho Nhà nước, cả làng ăn gạo Nhà nước. Năm 1986, chuyển sang kinh tế thị trường, người dệt phải tự bươn chải và gặp không ít khó khăn từ tìm kiếm nguyên liệu đầu vào, trang bị máy móc, cũng như tìm thị trường tiêu thụ, nhưng dân làng vẫn cố giữ nghề.


Hiện nay, hợp tác xã Nha Xá có 500 xã viên, trong đó 90% hộ dân tham gia dệt, với trên 350 lao động chính và 200 máy dệt. Có những gia đình có 2 - 3 máy dệt trong nhà, những hộ này thường khép kín các công đoạn từ thu mua nguyên liệu đến bán thành phẩm. Những xưởng lớn có hàng chục máy dệt, những máy dệt lớn chuyên dệt những sản phẩm có chất lượng cao cung cấp cho các thị trường cao cấp trong và ngoài nước là Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và xuất khẩu sang Lào, Thái Lan...


Làng dệt Nha Xá đang từng bước hiện đại hóa các khâu sản xuất, bỏ dần nếp sản xuất thủ công. Các gia đình trước đây làm đủ các công đoạn, nay đã chuyển sang chuyên môn hóa. Hộ dệt chỉ có dệt, hộ nhuộm thì chuyên nhuộm. Chính vì vậy mà chất lượng sản phẩm được nâng cao, sản lượng lớn hơn. Nhiều mặt hàng mới ra đời như hàng đũi, tơ se, hàng lụa hoa, hàng lanh..., chất lượng, mẫu mã sản phẩm tiếp tục được nâng cao. Từ Nha Xá, nghề dệt đã lan rộng sang nhiều vùng xung quanh như Lảnh Trì, Chuyên Ngoại, Hòa Mạc, Đồng Văn... và tạo việc làm cho hàng trăm gia đình.


Nhưng làm thế nào để giới thiệu và tiêu thụ nhiều sản phẩm lụa Nha Xá, trong lúc khách hàng vẫn chưa biết nhiều đến thương hiệu này mặc dù Nha Xá chỉ cách Hà Nội 60 km? Hợp tác xã có một nhà giới thiệu sản phẩm nhưng quanh năm đóng cửa và không có khách.


Hà Nam là tỉnh có nhiều lễ hội và nhiều điểm du lịch hấp dẫn: Lễ hội Đền Trần Thương, Đền Bà Vũ, Ngũ Động Sơn, Chùa Bà Đanh, Tam trúc Long Đọi Sơn, Lảnh Giang, quê hương nhà văn Nam Cao, nhà thơ Nguyễn Khuyến... Các điểm du lịch này ngày càng thu hút du khách, đặc biệt vào những ngày nghỉ cuối tuần, lễ Tết, và nhất là những ngày hội. Mỗi du khách tới đều mong muốn có một sản phẩm lưu niệm của địa phương. Và vì thế, lụa Nha Xá sẽ có thể quảng bá thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm ngay trên chính trên quê hương mình. Thuận lợi nhất là gắn làng nghề dệt Nha Xá với điểm du lịch tâm linh Đền Lảnh Giang.


Nằm bên cạnh thôn Nha Xá có đền Lảnh Giang và Đền cửa sông thuộc thôn Yên Lạc, cũng thuộc xã Mộc Nam. Đền Lảnh Giang thờ ba vị tướng của Hùng Duệ Vương, Đền cửa sông thờ Tiên Dung - Chử Đồng Tử. Đây là những ngôi đền nổi tiếng linh thiêng, hằng ngày có hàng trăm khách thập phương về lễ bái. Lễ hội Đền Lảnh Giang được tổ chức hai kỳ. Lễ hội chính vào các ngày từ 18 - 25 tháng 6 âm lịch và tháng 8 âm lịch. Đền còn là một địa chỉ du lịch hàng đầu của tỉnh Hà Nam và tuyến du lịch trên sông Hồng. Các màn diễn xướng hầu thánh với sự kết hợp giữa dân gian và đương đại cùng sự tham gia của các nghệ sĩ trình diễn âm nhạc diễn ra từ 23 - 26 tháng 7 âm lịch, dự báo số lượng du khách trong ngày lễ hội năm nay có 5.000 - 6.000 người, đến năm 2020 sẽ có 15.000 người và năm 2030 sẽ có tới 30.000 người. Những ngày rằm, mồng một và những ngày nghỉ cuối tuần, những ngày lễ hiện nay có từ 400 - 500 người, năm 2025 sẽ là 800 người và năm 2030 sẽ có hàng ngàn người... Đây thực sự là những con số đáng hy vọng đối với mảnh đất Nha Xá nói chung và nghề dệt lụa nói riêng.


Theo quy hoạch chi tiết điểm du lịch văn hóa tâm linh, Đền Lảnh Giang đã được UBND tỉnh Hà Nam phê duyệt và công bố năm 2012, có diện tích tới 184.299 m2. Và tại đây cũng đã bố trí một khu vực xây dựng nhà giới thiệu sản phẩm lụa Nha Xá, rộng tới hàng ngàn m2.


Như vậy rõ ràng nơi đây sẽ là địa điểm lý tưởng cho lụa Nha Xá lên ngôi. Hy vọng rằng công trình này sẽ sớm được thực hiện và mỗi du khách tới thăm di tích lịch sử tâm linh Lảnh Giang sẽ được tới thăm đình Nha Xá thờ vị tướng lỗi lạc và tài hoa Trần Khánh Dư, thăm ngôi chùa mà Trần Khánh Dư đã trút mũ áo đi tu. Khi ra về, các du khách sẽ có những tấm lụa đẹp cho người thân, những chiếc khăn lụa tơ tằm với nhiều màu sắc cho những người yêu dấu.


Lụa Tơ Tằm facebook


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thần thoại Hy Lạp (46) - Nguyễn Văn Khỏa 18.11.2019
Cựu thủ tướng Hungary Miklos Németh: Không ai ngờ Bức màn sắt sụp đổ nhanh đến thế - Tư liệu sưu tầm 14.11.2019
Cố vấn Võ Văn Kiệt gặp mặt các nhà văn viết về Công nghiệp - Hà Văn Thùy 12.11.2019
Ba Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa - Tư liệu 08.11.2019
Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 Đoạn? - Trương Quang Nhuệ 08.11.2019
Cuộc xung đột âm thầm - Tư liệu sưu tầm 07.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (45) - Nguyễn Văn Khỏa 07.11.2019
Về chiếc bàn làm việc của Tổng thống Mỹ - Nhiều tác giả 07.11.2019
Charlie Chaplin và đàn bà… - Tư liệu sưu tầm 05.11.2019
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc: Cần tổ chức việc Di dân! - Antonio Guterres 05.11.2019
xem thêm »