tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30207483
06.10.2018
Nhiều tác giả
Coffee và Cà phê ở Pháp


Cà phê ở Pháp


Nước Pháp không trồng được cà phê, nhưng người Pháp uống cà phê vào hàng nhiều nhất thế giới!


Địa danh thứ hai của châu Âu, sau Venice – Italy, cần phải nhắc đến là cảng Marseilles, Pháp: cà phê đã được nhập khẩu và chuyển cảng tại đây.


Từ năm 1669, cà phê Thổ Nhĩ Kỳ mới trở thành hàng hóa thời thượng tại Paris, nhờ các thủy thủ và thương nhân từ Marseilles đem đến. Thực ra trong tổng sản lượng khoảng 1.9 tấn cà phê Mocha (từ Ai Cập) đến cảng Marseilles thì chỉ có một phần ba được mang về Paris để bán lẻ cho người tiêu dùng, còn lại đều được tái xuất khẩu sang miền Bắc nước Ý, Thụy Sĩ và các quốc gia Bắc Âu khác. Tuy nhiên, Marseilles khi đó chỉ là cảng xuất nhập khẩu cà phê mà thôi – cho đến năm 1671 thì cửa hàng kinh doanh café bột đầu tiên mới được khai trương tại thành phố cảng này.


Tháng 7 năm 1669, đại sứ Soliman Aga của vua Thổ Nhĩ Kỳ (Mehmet đệ Tứ) đến Paris để yết kiến nhà vua Louis XI V. Tuy nhiên nhà vua Pháp chẳng đếm xỉa gì đến ông đại sứ này trong thời gian khá dài – còn vị đại sứ vẫn kiên nhẫn: ông ta thuê một dinh cơ hoành tráng, sang trọng ngay trong thủ đô Paris để hàng ngày đón tiếp nhiều nhân vật danh tiếng của nước Pháp. Aga dùng cà phê trong các tách sứ để chào đón khách. Ai cũng muốn được thử thức uống này và ông ta tiếp xúc được với vô số nhân vật quan trọng của nước Pháp – đàn ông cũng như phụ nữ. Giới tinh hoa Pháp tiếp xúc với cà phê lần đầu thông qua kênh này. Đến năm 1672, một người Armenia tên là Pascal đến nước Pháp và khai trương quán café đầu tiên tại Paris. Từ sau đó trở đi, hàng loạt quán khác mọc lên nhanh chóng. Tuy nhiên đến năm 1695 thì cảnh sát Pháp tuyên bố “quán café thường là nơi tụ tập của bọn trộm cắp, lừa đảo và những tên chơi bời khác”, vậy nên chúng phải tuân thủ chế độ “giờ giới nghiêm”.


Quán café xuất hiện tại Pháp từ thế kỷ 17. Ban đầu các trang thiết bị dùng trong quán của người Pháp là những dụng cụ của phương Đông được “địa phương hóa”: ví dụ như thiết bị rang không chỉ là những cái chảo mà được thay đổi thành dạng hình trụ, làm bằng thiếc hay đồng thau, không dùng ngọn lửa để làm nóng mà dùng hơi nước hay khí gas. Đơn vị nổi danh nhất của nước Pháp trong việc sản xuất các trang thiết bị cà phê là hãng Peugoet (1840). Các dụng cụ dạng truyền thống vẫn được sử dụng trong các hộ gia đình mãi đến những năm 1920. Thậm chí những cối xay cà phê dùng tay, làm bằng gỗ vẫn có thể được tìm thấy tại các ngôi nhà riêng trong những năm 1960, với ngăn kéo hình hộp.


Thành ngữ Pháp có câu “cà phê nấu sôi là cà phê đã hỏng: café bouillu, café foutu” và thực tế cho thấy họ đã biết pha chế theo cách thức khéo hơn: thay vì nấu bột cà phê trong nước sôi thì họ chỉ ngâm chất bột, do đó bảo quản được hương vị. Cách pha chế này có thể được coi là “cuộc cách mạng nhung” trong ngành cà phê Pháp từ năm 1710, với sự xuất hiện của bình và túi lọc. Bột cà phê được cho vào túi, sau đó nước sôi được tưới lên. Đến gần 100 năm sau, Jean Bapstite de Belloy đã cống hiến một phát minh quan trọng hơn: phin cà phê. Nước sôi được rót từ trên chảy xuống, giọt cà phê chảy nhỏ giọt xuống tách ở dưới cùng. Nguyên bản dụng cụ pha chế kiểu nhỏ giọt này làm bằng thiếc, sau đó được biến tấu thành nguyên liệu sành sứ. Phương pháp này được gọi là De Belloy: dụng cụ pha phin bằng sứ, có lỗ rất nhỏ để nước sôi chảy qua cà phê bột. Ngày nay các dụng cụ này vẫn còn được sử dụng.


Người ta tin rằng đại văn hào Balzac, người dùng khoảng 50 tách cà phê mỗi ngày, cũng áp dụng phương pháp pha chế De Belloy nói trên. Trong tác phẩm văn học Traité des excitants modernes (1839), tạm dịch Những điều ký thú, Balzac đã viết “khi cà phê được pha chế trong phin sành sứ theo dạng De Belloy, người ta có thể dùng nước lạnh để pha và dường như cà phê pha bằng nước lạnh còn ngon hơn so với dùng nước sôi. Đại văn hào hình như bị cà phê “ám ảnh” mới có thể viết được những kiệt tác bằng tiếng Pháp, trong đó có tác phẩm Eugenie Grandet với nhân vật Charles đã hướng dẫn người dì của anh ta pha cà phê bằng bình Chaptal. Bình pha cà phê Chaptal thực ra cũng là biến thể của De Belloy mà thôi, theo đó người ta sử dụng hạt cà phê Mocha trộn lẫn với các hạt Bourbon và Martinique được xay nhuyễn. Balzac là người sành điệu về cà phê, ông dành thời gian cả ngày trời để tìm mua cho đúng những loại hạt ưa thích.


Vua Louis XV cũng là người sành cà phê, chỉ thưởng lãm loại cà phê được trồng từ Verseilles trong các nhà kính dành riêng cho cây cà phê của ông. Nhà vua còn tự mình rang xay cà phê trong những cái chảo và cối bằng vàng. Danh sách những người quý tộc Pháp yêu cà phê còn dài nữa: Madame de Pompadour, Fontenelle, Voltaire, Jean-Jacques Rousseau và Napoleon… Còn giới bình dân cũng tiếp cận được cà phê bắt đầu từ năm 1736, khi hạt cà phê được gieo trồng từ miền Tây Ấn độ đã bắt đầu được nhập khẩu vào Pháp. Đây là loại hạt mới nên chi phí thấp hơn, kích thích tiêu dùng cà phê cao hơn. Cà phê dần dần thay thế cho món súp trong bữa ăn sáng của dân Pháp. Hiện tượng này được ghi lại trong tờ báo La Vie privee des Francaise (1782) như sau: “tại không gian thị trường của Pháp, người ta đã thấy những phụ nữ đi bán cà phê sữa nóng trên khắp các con phố.”


Trong thế kỷ 19, công nhân Pháp uống cà phê để chống lại cơn đói và lạnh. Tác giả Emile Zola trong tiểu thuyết Germinal đã mô tả: đối với những người thợ mỏ tại miền bắc nước Pháp khi đó thì vai trò của cà phê không thua kém gì so với bánh mỳ. Tương tự như vậy, tác giả Pierre Jakez-Helias trong cuốn The Horse of pride (tạm dịch: Chú ngựa vinh quang) cũng mô tả “những phụ nữ Breton có thể mua cà phê bằng mọi giá, cả làng sẽ thơm nức mùi cà phê và ai nấy đều dễ thở hơn.” Quả thật cà phê đã trở thành một truyền thống sâu sắc của dân Pháp. Người dân Pháp đến với nhau bên bàn cà phê.


Trung tâm của cà phê Pháp là Paris, nơi đây quy tụ rất nhiều nhân vật trí thức, văn nghệ sĩ và cả chính trị gia. Như đã đề cập ở phần trên: Pascal là người đàn ông đầu tiên mở quán cà phê tại Paris và mặc dù sau đó ông này phá sản nhưng đã khơi mào cho hàng loạt quán café khác ra đời. Chủ sở hữu của chúng thời bấy giờ thường là người Armenia, Syria hoặc Hy Lạp. Một đặc điểm đáng chú ý về các quán café Pháp trong giai đoạn này là: chúng thường không tồn tại lâu bởi vì người ta đánh đồng quán café với những quán rượu rẻ tiền, bình dân và khách hàng dùng cà phê không muốn bị coi là những “khách nhậu” bình dân như vậy.Họ e ngại vào quán café.


Người đầu tiên hiểu được vai trò của không gian quán café là một người Pháp gốc Sicille tên là Francesco Procopio dei Coltelli, đến Pháp khi mới 20 tuổi. Năm 1672, khi 22 tuổi, anh chàng này đã đi làm thuê trong quán café của Pascal và đến năm 1686 anh mua hẳn 3 căn nhà nhỏ liền kề nhau trên phố Fosse-Saitn-Germain, đập bỏ các vách tường ngăn cách để xây dựng quán cà phê Procope: rất trang


trọng với kính trang trí, bàn đá cẩm thạch. Vị trí quán này đối diện với rạp hát Jeu de Paume và cách vài bước chân so với rạp Odeon. Thế là quán café này nhanh chóng trở thành nơi tụ tập của thanh thiếu niên, các nhà viết kịch, diễn viên và nhạc sĩ. Phụ nữ ngại vào quán cũng vẫn được phục vụ: họ cứ ngồi trên xe ngựa, nhân viên sẽ mang cà phê ra tận nơi.


Quán Procope tồn tại khá lâu. Sang thế kỷ 18, khi phong trào Khai sáng lan rộng tại nước Pháp thì nơi này tập trung được rất nhiều nhân vật nổi tiếng: Buffon, Diderot, Rousseau và cả D’Alembert (với ý tưởng về Bách khoa toàn thư). Đó là chưa kể đến Voltaire, Fontenelle, Condorcet và Crebillon. Thành công của quán này khơi nguồn cảm hứng cho nhiều quán café khác ra đời và tính đến năm 1720 thì Paris đã có hàng trăm quán.


Quán café thực sự là nơi chốn đóng vai trò chất xúc tác cho Cách mạng Pháp. Quán La Regence và Mecanique là những nơi mà các nhà khai sáng tụ tập và tranh luận với nhau. Hầu hết những quán này đều đã không còn tồn tại đến ngày nay.


 


Một sự kiện đáng lưu ý sau cùng: tháng Bảy, ngày 12 năm 1789 tại quán café De Foy, Bộ trưởng Tài chính Pháp khi đó là Jacques Necker bị bãi nhiệm và Camille Desmoulins đã tranh thủ kích động quần chúng đứng lên vũ trang chống lại nhà vua. Các hành động sau đó là lịch sử.


 


Trong thế kỷ 19 nước Pháp chứng kiến hiện tượng: rất nhiều người thuộc tầng lớp lao động bình dân Paris đã trở thành chủ quán café, khi thành phố xuất hiện thêm nhiều đại lộ và các nhà hát Opera. Giới tư sản nước Pháp hay tụ tập tại các quán trên đường Tortoni, hoặc góc ngã tư Italiens – Taibout. Những ai có vấn đề về danh dự có thể hẹn đối thủ để đấu tay đôi tại những quán café như thế này, trong các phòng riêng. Không chỉ có cà phê, nhiều quán còn có bàn bi-da cho khách giải trí. Loại hình cà phê bi-da này đầu tiên xuất hiện tại Grand Café năm 1895. Đây cũng là nơi đầu tiên trình chiếu một thể loại phim hoạt hình sơ khai nhất, trong đó các tấm ảnh được di chuyển nhanh để tạo thành sự chuyển động. Về sản phẩm cà phê, bên cạnh các loại truyền thống như cà phê đen, cà phê sữa thì các quán của Pháp cũng phục vụ những biến thể khác: cà phê pha với rượu cognac hay rượu mạnh, được gọi là gloria. Loại rượu phổ biến nhất được pha chung với cà phê lúc bấy giờ là rượu Calvados đến từ Normandy, do đó thức uống mang tên café-calva.


Sang thế kỷ 20, quán café của Pháp là nơi tập trung nhiều văn nghệ sĩ và các nhà trí thức, học thuật. Các tên tuổi có thể nhắc đến là Guillaume Apollinaire, Andre Breton, John Dos Passos, Ernest Hemmingway, và Pablo Picasso. Sau Thế chiến II , quán Saint-Germain des Pres trở thành trung tâm văn chương của đất nước. Tác giả Leon Paul Fargue viết trong quyển Độc hại: “thời đại của chúng ta vẫn coi quán café là một trong những thứ tương tự như hộp đêm, quán rượu và chúng là điều khó chịu nhất đối với mọi thể chế của nước Pháp…”


Ngày nay Pháp có khoảng 70 ngàn quán café phục vụ 5 triệu người khách mỗi ngày. Số lượng này đang có xu hướng giảm, khi mà thói quen sử dụng thức ăn nhanh phát triển hơn và người ta thích ngồi tại nhà thay vì ghé vào quán café để gọi một ly cà phê đen. Dân Pháp bây giờ thích mua cà phê và các dụng cụ, rồi tự tạo cho mình không gian quán ngay tại nhà riêng.


Trong quán café cũng như tại nhà riêng, người ta đều muốn thưởng thức thứ cà phê gần giống như espresso Italy. Nếu là tại nhà, họ sử dụng máy pha cà phê cỡ nhỏ, sử dụng hơi nước nóng và các thiết bị pha chế sữa cho cà phê capuchinno. Tuy nhiên trong quán café thì người ta khó có thể có một tách espresso hoàn hảo đúng kiểu Ý: phương pháp pha chế không phải là đơn giản. Thêm vào đó, trang thiết bị pha chế cà phê của người Pháp cũng không ưu việt như của người Đức. Nguyên nhân của hiện tượng này là: Pháp chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực, mang tính truyền thống trong việc thưởng lãm cà phê. Đầu tiên, do thừa hưởng lối rang quá đen của Trung Đông mà người Pháp đã không thể giữ được hương vị thật của cà phê. Thứ hai, người Pháp còn có truyền thống pha chung cà phê với cây rau diếp xoăn (chicory) nên vị cà phê bị mất nhiều. Nguyên nhân thứ ba là do kinh tế: trong cuối thế kỷ 19 kéo dài đến thập niên 1960, thị trường nội địa của Pháp xuất hiện nhu cầu cà phê thứ cấp với hạt cà phê Robusta nhập khẩu từ các thuộc địa châu Phi. Vậy là một lần nữa đất nước này lại nảy sinh nhu cầu đối với sản phẩm giá rẻ, chất lượng thấp. Hậu quả là thị trường Pháp hiện diện một lượng lớn café au lait với hơn một nửa lượng cà phê nhân là robusta. Đến thời điểm ngày nay thì các nhà rang xay Pháp mới bắt đầu tìm kiếm những hạt arabica tuyệt hảo để có sản phẩm cà phê đúng.


Mùi hương thơm của cà phê là cảm nhận đầu tiên mà bạn có được khi pha cà phê, đó là mùi của cà phê bốc lên khi bột cà phê gặp nước sôi. Hương thơm là một cảm nhận về mùi rất khó phân biệt với hương vị.


Hương vị


Là cảm nhận chung về cà phê trong miệng. Vị chua, vị ngọt, hương thơm và thể chất là các thành tố cấu tạo nên hương vị cà phê. Do việc cảm thụ các mùi vị nầy hòa quyện hài hòa và đồng nhất bởi các giác quan mà tạo ra một sự cảm nhận tổng thể về hương vị của một loại cà phê.


Thể chất


Thể chất là đặc trưng của cà phê. Nó là một cảm nhận của vị giác rõ rệt, và đôi khi được gọi đơn giản được gọi là “cảm nhận trong miệng”. Cảm nhận vể thể chất của cafe là các cảm giác hay cảm nhận trong miệng và lưỡi về vị của bạn có liên quan đến độ nhớt, độ nặng, độ dày, hoặc sự phong phú về chất dầu hay vị đậm đà, quyến rũ của cà phê.


Thể chất là kết cấu và tính thống nhất, độ dày hoặc độ nhờn liên quan đến chất dầu của cà phê. Ví dụ, khi bạn uống sữa, nhận thức của toàn bộ thể chất của sữa trong miệng của bạn sẽ không giống như cảm giác khi bạn uống nước.


Vị ngọt của cafe


Vị ngọt của cà phê được cảm nhận cảm nhận ở đầu lưỡi, vị ngọt nhẹ của cà phê rất quan trọng vì nó làm quân bình vị đắng và chua của cà phê. Cà phê ngon sẽ có vị ngọt tự nhiên làm hài hòa thể chất của cà phê.


Tính axít


Tính axit , hay độ chua không có ý nói mức độ pH được đề cập trong sách hóa học ở trường cũng không giống như acid hydrochloric hoặc axit dạ dày. Tính axit không nên nhầm lẫn với vị chua là một cảm giác khó chịu về vị, không tốt theo cách đặc trưng. Độ chua là một đặc tính mong muốn trong cà phê cao cấp. Độ chua được cảm nhận bởi hai bên bờ cạnh của lưỡi.


Vị chua là đặc điểm chính của dòng café Arabica. Vị chua trong cà phê không đóng vai trò giống như vai trò của nó liên quan đến vị chua của rượu vang. Độ chua trong cà phê tạo ra 1 cảm nhận rõ rang, sắc nét về chất lượng cà phê. Nếu không đủ độ a xít, vị cà phê sẽ có xu hướng nhạt nhẽo. Do đó tính axit tạo ra một số các cảm giác thú vị và đặc biệt khi chúng ta được thưởng thức cà phê.


Vị đắng


Vị đắng là cảm nhận về cà phê từ kết quả tương tác của hợp chất Trigonelline trong cà phê với các gai vị giác nằm trên mặt sau của lưỡi. Trigonelline phát sinh tỷ lệ thuận với mức độ rang. Vị đắng thường tỷ lệ thuận màu đậm của cà phê. Vị đắng có thể làm giảm tính axit trong cà phê nên nó tỷ lệ nghịch với vị chua trong cà phê.


Hương thơm


Mùi hương thơm của cà phê là cảm nhận đầu tiên mà bạn có được khi pha cà phê, đó là mùi của cà phê bốc lên khi bột cà phê gặp nước sôi. Hương thơm là một cảm nhận về mùi rất khó phân biệt với hương vị. Mùi hương thơm được cảm nhận bới các tế bào thần kinh khứu giác trong 2 vị trí, tại khoang mũi cảm thụ mùi hương café bốc lên và và cuối hốc mũi, nơi tập trung các tế bào thần kinh cảm thụ mùi.


Hương thơm của hương vị góp phần vào việc phân biệt về khẩu vị của chúng ta. Cà phê Purio luôn phấn đấu để vươn đến đỉnh cao của hương thơm tự nhiên từ hạt cà phê qua quá trình chọn nguyên liệu từ hạt cà phê nhân hảo hạng đến quá trình chế biến rang, xay, đóng gói, bảo quản tốt nhất.


Hậu vị (hay dư vị)


Là cảm nhận về hương và vị đậm đà của cà phê còn kéo dài một quảng thời gian sau khi đã uống 1 tách cà phê, nhất là tách cà phê nóng.


Cà phê Mocha


Là hỗn hợp của cà phê và chocolate có thể pha thêm nhiều sữa là mochacino latte hoặc thêm các loại syrup tạo hương đặc trưng.


Cà phê Mocha là một dạng hỗn hợp giữa cà phê và chocolate nóng. Không như cà phê Cappucino chỉ với một lớp bọt sữa trên bề mặt, cà phê Mocha còn hòa quyện cả vị thơm béo của kem tươi và chocolate sauce.


Với mùi hương nhẹ của cà phê, vị ngọt dịu của sữa tươi và chocolate, cà phê Mocha rất thích hợp là một món giải khát trong những ngày trời nóng bức. Hương vị đậm đà của nó làm cho tinh thần sảng khoái và đặc biệt thích hợp cả với những người không quen uống cà phê.


Cà phê được dùng trong món cà phê Mocha là cà phê hột được rang lên và pha bằng hơi nước nóng. Với cách pha này, cà phê càng dậy hương thơm nhưng vị không quá đậm.


Ly cà phê Mocha trông thật hấp dẫn với màu cà phê đặc sánh bên cạnh màu trắng của lớp kem tươi, cùng màu nâu óng của dòng chocolate sauce trên mặt. Đặc biệt hơn nữa, với đá được xay nhuyễn, hòa chung cùng cà phê, bạn sẽ cảm nhận được ngay vị mát dịu, thơm ngọt tự nhiên khi những giọt cà phê Mocha đầu tiên chạm vào đầu lưỡi. Với cà phê Mocha, bạn có thể thoải mái thưởng thức mà không phải lo lắng bị nóng hay mất ngủ.


Những loại Cà phê ngon nhất thế giới


Thức uống màu nâu đã trở nên quen thuộc và được yêu thích trên khắp thế giới. Cà phê giúp chúng ta thư giãn thinh thần sau những giờ làm việc mệt mỏi. Dưới đây là một số loại cà phê ngon và được ưa chuộng nhất trên thế giới.


1.   Kopi Luwak: varying from $115,- to $590,- per 500 grams  (café chồn)


Là tên của một loại café đặc biệt, được xếp vào hàng sang trọng và hiếm nhất thế giới. Loại café này hầu như chỉ có ở Indonesia, trên các hòn đảo Sumatra, Java và Sulawesi.


Cái tên gọi Kopi Luwak được dùng để chỉ một loại hạt do loại cầy vòi đốm ăn quả café rồi thải ra.


Bắt nguồn từ từ kopi trong tiếng Indo có nghĩa là café. Luwak là tên của một vùng thuộc đảo Java, đồng thời cũng là tên của loại cầy cư trú quoanh đó. Loài cầy vòi đốm (Paradoxurus hermaphrodites) thuộc họ Cầy (Viverridae). Loài này phân bố rải rác ở các nước vùng Đông Nam Á như Indonesia, Philippines, Việt Nam và miền nam Trung Quốc. Thức uống ưa thích của chúng là trái cây và quả café. Tuy nhiên, khi vào dạ dày, chỉ có phần thịt café được tiêu hoá, còn hạt café lại theo đường tiêu hoá bị thải ra ngoài. Quá trình này tạo cơ sở chính cho sự có mặt của loại cà phê huyền thoại hôm nay.


2.   Blue Mountain Coffee: $45,- per 500 grams


 Cà phê Blue Mountain là một trong những loại hạt cà phê Arabica có giá thành cao và được ưa chuộng nhất trên thế giới. Nó có nguồn gốc ở phía đông của dãy núi Blue trên Jamaica. Người ta gọi loại hạt cà phê này là Jamaican Blue Mountain để phân biệt với những loại hạt cà phê khác.


Với độ cao từ 2000m- 5000m, vùng núi Blue Mountains là một trong những vùng trồng cà phê cao nhất trên thế giới. Khí hậu ở đây dễ chịu, lượng mưa lớn, đất rất giàu dinh dưỡng và thấm nước tốt. Sự kết hợp giữa đất đai và khí hậu tạo nên điều kiện lý tưởng cho cây cà phê. Tuy nhiên loại cà phê này không thích hợp với các điều kiện khí hậu khác. Sự thay đổi khí hậu sẽ dẫn tới sự thay đổi hương vị cà phê. Chính vì thế mà hiện nay nó mới chỉ được trồng ở Jamaica và Hawaii.


Theo những người sành cà phê thì loại cà phê này nổi tiếng với hương vị nhẹ, đượm mùi, ít chua, có chút xíu vị ngọt, đậm đà. Giá một kg cà phê loại này hiện nay khoảng 100 USD. Nhật Bản là nước nhập khẩu cà phê Blue Mountain nhiều nhất (90% tổng sản lượng). Những hạt cà phê này cũng là cơ sở cho các loại cà phê mang hương rượu Tia Maria.


3.   Bourbon Coffee:


Bourbon là giống cà phê được đặt tên bắt nguồn từ vùng đất sinh trưởng đầu tiên của nó đảo Bourbon, bây giờ là Reunion nằm ở phía đông Madagasca. Café Bourbon được sản xuất lần đầu tiên tại Réunion, được biết đến như Bourbon Ile trước năm 1789. Sau đó Bourbon được ưu thích bởi người Pháp, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh, và bây giờ là một trong hai loại cà phê Arabica được trồng phổ biến nhất trên thế giới, là một dạng của café Typica.


Café Bourbon thường được sản xuất ở độ cao từ 1.000 đến 2.000 mét và cho ra năng suất cao hơn 20-30% so với Typica, nhưng có thể tạo ra chất lượng café tương đương


Loại café này có vị chua thanh rất hấp dẫn, với mùi thơm quyến rũ. Nhấp thử một ngụm, bạn sẽ thấy có cảm giác thật thích thú. Bourbon đã di thực và và được trồng ở miền cao nguyên Việt Nam từ rất lâu. Hiện nay, đây là giống cà phê thơm ngon hàng đầu của cà phê Việt Nam.


 4.   Ethiopia:


Ethiopia có thể được ví là cái nôi của cà phê. Trong thế kỷ thứ mười, người du mục đang chăn dê trên một sườn núi Ethiopia đã là người đầu tiên nhận ra tác dụng kích thích của cà phê. Sau đó thứ thức uống này đã được lan rộng trên khắp Trung Đông bởi những người hành hương Sufi huyền bí mang đạo Hồi. Từ Trung Đông, giống café này dần được biết đến rộng rãi  ở các nước Châu Âu và Châu Mỹ.


 Cà phê vẫn phát triển tự nhiên trong rừng núi của Ethiopia. Nông dân trồng cà phê Ethiopia trong bốn hệ thống khác nhau, trong đó bao gồm cà phê rừng, cà phê bán rừng, vườn cà phê và trồng cà phê. Khoảng 98% lượng cà phê ở Ethiopia là sản phẩm của nông dân trên nông trại nhỏ và nó là xuất khẩu quan trọng nhất của đất nước. Ethiopia là nước sản xuất cà phê lớn thứ ba của châu Phi. Có khoảng 700.000 hộ sản xuất nhỏ cà phê ở Ethiopia, trong đó 54 phần trăm là trong rừng nửa diện tích. Cà phê là một phần của truyền thống văn hóa bản địa của họ trong hơn 10 thế hệ.


 Cà phê Ethiopia là một trong những nguồn gốc cà phê phổ biến nhất trên thế giới. Tuy nhiên, Ethiopia phải cạnh tranh và hợp tác với các công ty cà phê, thường có sức mạnh thị trường nhiều hơn và kiếm được lợi nhuận cao hơn. Hàng năm, người dân trồng cà phê ở Ethiopia trung bình kiếm được khoảng $ 900 mỗi năm. Chứng nhận cà phê Ethiopia bắt đầu sau khi thành lập Hội đồng Cà phê của Ethiopia (NCBE) vào năm 1957. Mục tiêu của NCBE là để kiểm soát và phối hợp sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu và nâng cao chất lượng cà phê Ethiopia.


 Mùi hương của các giống cà phê bản địa Phi Châu phong phú vô kể, có mùi xen lẫn từ socola đến mùi bánh nướng, từ mùi của đồng cỏ đến mùi của hoa trái; vị từ ngọt ngào cho đến chua thanh, từ đắng đến cay. Nơi đây quả không hổ danh là một vương quốc để suốt đời khám phá.


5.   Villasarchi:


 Villasarchi là một giống lai của cà phê Bourbon. Villasarchi sinh trưởng ở thung lũng Sarchi phía Tây thành phố Costa Rica. Các nhánh của cây cà phê này mọc xiên từ thân một góc 45 độ phân tán một vùng lá bao phủ quanh cây rất cân đối. Villasarchi sinh trưởng tốt ở vùng đất có độ cao lớn, dưới tán cây bóng mát và giống cà phê này thích hợp với phương cách canh tác hữu cơ, vì nó không ưa các loại phân bón hóa học. Trái của Villasarchi có tông màu đỏ sáng trông rất đẹp và hấp dẫn, vị khá chua một cách thanh tao xen lẫn với một độ đắng-ngọt rất huyền bí, tạo một cảm giác lạ khi uống.


 6.   Typica:


 Arabica Typica là giống cà phê lâu đời nhất, nó chính là giống cà phê đầu tiên được con người phát hiện ở vùng Kaffa của Ethiopia thế kỷ trước mà người ta hay kể như câu chuyện của một chàng chăn dê nọ. Hạt giống của cà phê Typica được mang đến Mỹ bởi một sĩ quan hải quân người Pháp vào những năm 1700. Typica có năng suất rất thấp, kích thước hạt nhỏ, hình bầu dục. Tuy nhiên, chất lượng của Typica là tuyệt vời thể hiện hương vị xuất sắc, vị đắng ngọt pha lẫn 1 chút chua nhẹ, thể chất mạnh và quân bình.


 7.   Geisha:


 Geisha là một giống cà phê cực kỳ hiếm hoi mà đã hoàn toàn chinh phục tất cả những người sành cà phê có tin xuất sắc nhất trên thế giới. Hương vị của nó phức tạp không diễn tả nỗi. Có người cho rằng , nó rất phức tạp và dữ dội! Giống cà phê nầy được phát hiện từ thị trấn nhỏ Gesha ở tây nam Ethiopia và được đưa đến trồng ở Costa Rica. Những cây cà phê Geisha này phát triển rất cao, tán đẹp, lá thuôn dài. Trái và hạt cà phê Geisha này cũng dài hơn so với các chủng loại cà phê khác. Chất lượng hàng đầu của giống cà phê này được sinh ra từ các đồn điền trên cao nguyên, và được hoan nghênh trên toàn thế giới. Geisha có vị ngọt ngào, hậu vị chua thanh và đắng dịu xen lẫn, hương vị phong phú cực độ, thậm chí có cả mùi trái cây chín như xoài, đu đủ, đào pha với mật ong, mùi cỏ cây, mùi trái dâu rừng chung với mùi đường mạch nha…


 8.   Colombia:


 Giống cà phê Colombia, là đứa con lai của hai bố mẹ Robusta và Arabica. Giống cà phê nầy được gây giống và phát triển ở Colombia để chống lại bệnh trong khi tăng năng suất. Trong nhiều thập kỷ Colombia cố gắng cho ra đời hàng chục phiên bản được gọi là F10-F1. F10, còn được gọi là các Castillo. Và cuối cùng, hiện nay, đỉnh cao là giống Colombia chính thức, tự hào mang tên 1 đất nước. Đây là giống trồng phổ biến nhất lở Colambia. Mặc dù Colombia có mùi hương thơm nồng nan, tuyệt vời, độ chua rất cao, xem với vị đắng có hậu, hầu như không thấy có dư vị ngọt, thể chất mạnh, được sử dụng trong các thương hiệu cà phê cao cấp.


 Cà phê Colombia là một sự pha trộn của hạt cà phê từ nhiều khu vực khác nhau để duy trì mức độ cao về chất lượng. Cũng như Kona và Jamaican Blue Mountain, hạt cà phê Colombia được độc quyền từ cà phê Arabica, trong đó có một, hồ sơ hương vị ít tính axit mượt mà hơn so với hạt cà phê Robusta.


Văn hóa cà phê


Đến nay cà phê đã đi vào ngõ nghách đời sống của nhiều người dân trên thế giới. Cà phê trong ẩm thực, trong giao tế, trong đời sống văn hóa nghệ thuật. Không phải ngẫu nhiên mà cà phê tồn tại trên Thế Giới hàng nghìn năm qua khi chỉ có dược tính và tính lợi ích của nó.


Thông qua ly cà phê, văn hóa phương Tây và văn hóa phương Đông trở nên gần gũi nhau hơn, thân thiện hơn bởi tính xã hội của nó. Mỗi người chắn chắn có một lần trong đời bị cuốn hút bởi một thứ cảm giác khó tả, lâng lâng mà lôi cuốn sâu đậm, trầm lắng nhưng cũng đủ nồng nàn quyến rũ.


Người ta uống cà phê trên mọi phương diện, mọi thời gian. Những người ít thời gian, nhiều bận rộn, vừa đi vừa nhâm nhi loại thức uống gía trị loại bậc nhất này trên đường phố, công sở, nơi công cộng, quán bar…


Phương Đông cũng được hấp thụ bởi nền văn hóa của cà phê một cách nhanh chóng nhưng không gấp gáp để làm mất đi tính gía trị nghệ thuật của nó.


Còn ở đất nước ta trong nghệ thuật ẩm thực. Ở phần ẩm, cà phê là một phần không thể thiếu. Nó gắn chặt trong đời sống rất nhiều người dân từ thành thị tới nông thôn. Nó mang lại sự bình đẳng cho tất cả mọi người, mọi tầng lớp, mọi giai cấp trong xã hội. Bên ly cà phê là không còn khoảng cách, một không khí thân thiện, một câu chuyện trở nên thú vị, nhẹ nhàng hơn.


Còn cách thưởng thức loại thức uống hấp dẫn này cũng thật là phong phú. Một số nước như Jamaica, Colombia, Kenya thì thích uống nóng. Một số khác vùng Phi Châu thì thích uống cà phê thêm một chút bạc hà cho có vị the; người Ả Rập thì thích trộn lẫn chocory với cà phê tạo ra mùi vị quái lạ. Người Ý uống cà phê Espresso với đường, người Đức và Thuỵ Sĩ - với sôcôla nóng, người Mêhicô - với nước chanh, người Bỉ - với sôcôla. Người Moroccans uống cà phê với hạt tiêu, người Êtiôpia thì với muối. Những người uống cà phê ở vùng Trung Đông thường cho thêm hạt bạch đậu khấu và hạt tiêu. Những người Austrian lại thích uống cà phê với kem. Tuy nhiên người Pháp và người Ý mới là người đi tiên phong khi đưa cà phê lên một vị trí mới, đó là uống cà phê pha thêm với sữa và các sản phẩm thực phẩm như: kẹo cà phê, bánh cà phê…


Bằng cách này hay cách khác cà phê xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: Bên cạnh ổ bánh mì sáng, trên bàn giấy như một chút phấn khích động lực làm việc. Mỗi sáng, trước khi đi làm uống một ly cà phê lấy tinh thần tỉnh táo, như khởi động giờ làm việc đầu tiên trong ngày. Muốn thư giãn, giảm áp lực công việc, uống một ly cà phê pha hơi loãng với đá là rất tuyệt. Dĩ nhiên có những người chỉ uống cà phê ăn với bánh biscuits, còn những người sành điệu hơn thì uống cà phê không đường. Một số khác thích cảm giác mạnh mẽ hơn; Tất nhiên là phải pha thêm một ít rượu: một chút rượu bắp bùi bùi, pha thêm chút cà phê nóng là tạo ra ngay một loại thức uống hấp dẫn đầy nam tính. Điều này tạo nên những kinh nghiệm bè bạn khó quên. Có nhiều cách thêm rượu vào cà phê. Tuy nhiên phải cẩn trọng khi chọn loại rượu nào, nếu pha một loại rượu có độ đậm đặc thấp thì mùi vị dễ phai. Rượu Workek, Irich thì rất hợp nhưng phải chú ý tới liều lượng, không nên lạm dụng sẽ có hại. Cà phê là chất gây nghiện, kích thích nên  hạn chế uống vào buổi tối sau 22h sẽ gây khó ngủ. Nếu cơ thể của bạn đã quen vơí liều lượng cũ, có nghiã là bạn đã nghiện cà phê.


Từ cách trồng cho tới nhiều cách chế biến đa dạng, phục vụ cho nhiều đối tượng thưởng thức khác nhau, phong cách, cá tính khác nhau, cách thưởng thức khác nhau. Điều đó, cho ta thấy rõ cà phê gắn chặt với văn hóa cộng đồng như thế nào. Và chắc chắn rằng con người sẽ còn phát minh ra nhiều loại thức uống hấp dẫn khác với cà phê nữa.


Cà phê Paris


Tôi không phải là người có thói quen "ngồi quán ngồi đình", dù ở Việt Nam hay khi đi công tác nước ngoài. "Đi uống cà phê” là cụm từ xa xỉ đối với tôi.


Thế nhưng, đến Paris lần này vào tiết trời cuối xuân đầu hè, dân tình kéo nhau ra quán cà phê đông như trẩy hội, khiến lòng tôi bỗng nôn nao. Tôi quyết định nhín chút thời giờ để một lần đi uống cà phê, được thư thả ngồi giữa lòng Paris, thảnh thơi nhìn ngắm người xe tấp nập qua lại, được mặc áo vải phong phanh cho nắng vàng tha hồ làm rám làn da châu Á. Những người bạn Parisiens lắc đầu khi nghe tôi mời họ đi uống cà phê tại một khu sang trọng nhất Paris. Lý do đơn giản chỉ là "mắc lắm!". Thuyết phục mãi không được, tôi giận dỗi bảo sẽ đi một mình. Cuối cùng, họ chấp nhận vì "đi cà phê mà ngồi một mình thì lố bịch lắm!" và kèo nài sẽ hùn tiền với tôi.


 Nhắc đến những quán cà phê nổi tiếng nhất Paris, không thể không kể khu Latin (quartier Latin). Đây là khu phố sang trọng, lịch lãm, nơi hội tụ toàn giới văn nghệ sĩ trứ danh và luôn là một nơi rất "à la mode" để uống cà phê. Và trong vô số những quán cà phê ở khu Latin, con đường Saint-Germain-des-Prés là nơi có "viên ngọc quý”, khi sở hữu hai quán cà phê mang tầm vóc lịch sử: quán "Les Deux Magots" và quán "Café de Flore". Hai quán này nằm cách nhau chỉ vài bước chân, và chúng tôi chọn "Les Deux Magots" vì... còn chỗ. Được xem là quán sang, nhưng khách vào đây tấp nập chẳng nề hà chuyện giá cả. Những ngày xuân hè ấm áp thế này, quán luôn không đủ chỗ, khách phải đặt trước qua điện thoại hoặc qua trang web riêng. Quán được mở từ năm 1812 cùng với một tờ tạp chí. Về sau, do quá nổi tiếng, "Les Deux Magots" được dời đến khu Latin và chính thức đặt "đại bản doanh" trên đường Saint-Germain-des-Prés vào năm 1873. Quán được mở rộng hơn, đón toàn giới văn nghệ sĩ nổi tiếng như Verlaine, Rimbaud, Elsa Triolet, André Gide, Picasso, Hemingway, Sartre, Simone de Beauvoir...


Ngày nay, chắc quán "Les Deux Magots" vẫn tiếp đón nhiều nhân vật nổi tiếng, nhưng tôi dáo dác nhìn xung quanh, lại thấy toàn khách du lịch nói tiếng Anh. Biết làm sao được, mùa này khách du lịch tràn vào Paris đông như thác. Thế nên tôi đành ngậm ngùi, không chứng kiến được cảnh các nhà thơ ngồi đọc thơ cho nhau bằng tiếng Pháp, các nhà văn tranh luận Francois Sagan chỉ có mỗi cuốn "Buồn ơi chào mi" là được và các triết gia mơ màng phả khói thuốc. Nói vui thế thôi, tôi đang ngồi giữa những người bạn cũng triết lý ghê gớm lắm. Dân Pháp nói chung và dân Paris nói riêng mắc "bệnh" trầm kha: nói nhiều. Họ nói về bất cứ đề tài gì, nói hăng hái, nhiệt tình, tranh luận sôi nổi và kết thúc bằng những câu triết lý xứng đáng... được tôi mở sổ tay chép lại. Đúng là đi cà phê phải có bạn đi cùng. Ngoài việc uống hết ly cà phê, tôi còn biết làm gì nếu ngồi một mình chơ vơ?


Về chất lượng và giá cả của các thức uống trong "Les Deux Magots", công bằng mà nói cũng chấp nhận được, ví dụ uống một ly cà phê kem, bạn phải trả 5,4 euro. Ông bạn tôi gọi thức uống có tên "café expresso + Cognac Moyet, Petite Champagne" với giá 11 euro. Bà bạn tôi gọi "Irish Coffee John Jameson" giá 12,5 euro. Họ cho rằng, giá này không mắc trong một quán nổi tiếng như "Les Deux Magots", nhưng quả là "quá đáng" nếu so với những quán cà phê vô danh khác. Một euro khoảng 25.000đ. Chầu cà phê hôm đó tôi trả khoảng 800.000đ, tính luôn tiền "pour boire" cho bồi. Chẳng mấy khi được ở Paris, lại là Paris ngày nắng ấm và bên cạnh những người bạn thân thương. Cái giá đó tôi cho là "không cần phải bận tâm", thế mà mấy người bạn cứ cảm ơn rối rít và rất áy náy vì để tôi trả một mình.


Tuy không có thời giờ vào những quán cà phê khác để nhâm nhi, nhưng tôi cũng lang thang thăm nhiều quán nổi tiếng và nhìn khách thập phương thưởng thức cà phê một cách an nhàn. Quán "Café de Flore" sát bên "Les Deux Magots" cũng là nơi giới văn nghệ sĩ thường lui tới đàm đạo văn chương và nghệ thuật. Trong một hẻm nhỏ cũng thuộc khu Latin, chúng tôi đến quán cà phê cổ xưa nhất Paris có tên "Le Procope". Quán này tự hào là hàng cà phê đầu tiên ở thủ đô, được mở từ năm 1686 và hân hạnh đón các văn sĩ nổi tiếng như Alembert, Voltaire, Jean-Jacque Rousseau, George Sand, Balzac... Một quán cà phê khác cũng trứ danh không kém là "Le Chat Noir" (Con Mèo Đen), nằm trong khu đồi Monmartre, trên đường Rochechoart. Không rõ quán có mặt từ đời nào, nhưng bà bạn già Nicole Brousse của tôi đã gần bảy mươi tuổi lại thuộc lòng bài hát đồng dao có từ thời bà còn là một cô nhóc. Bài hát dễ thương "Fermer ses portes" nhắc đến quán bằng câu "Tôi đi tìm gia tài, xung quanh Con Mèo Đen, dưới ánh trăng sáng tỏ, đồi Monmartre đêm khuya".


Nếu không có những quán cà phê hè phố, Paris thật vô vị. Người Paris sẵn sàng để mất tháp Eiffel, chứ tuyệt đối không bao giờ có thể sống thiếu những quán cà phê. Riêng tôi, dù không mê lắm thú ngồi quán nhâm nhi, tôi vẫn thích ngắm Paris cùng những quán cà phê duyên dáng. Và may thay, những quán cà phê Paris luôn giữ được cho mình cái hồn riêng rất lạ. Dù là những quán cổ kính trong khu Latin, những quán đầy khách du lịch trên đồi Monmatre, những quán sang trọng ở đại lộ Champ Elysees hay những quán vô danh nằm rải rác khắp nơi, cà phê Paris muôn đời luôn làm say đắm lòng lữ khách.


 Dương Thụy Phương Khanh


Tư liệu sưu tầm


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thần thoại Hy Lạp (46) - Nguyễn Văn Khỏa 18.11.2019
Cựu thủ tướng Hungary Miklos Németh: Không ai ngờ Bức màn sắt sụp đổ nhanh đến thế - Tư liệu sưu tầm 14.11.2019
Cố vấn Võ Văn Kiệt gặp mặt các nhà văn viết về Công nghiệp - Hà Văn Thùy 12.11.2019
Ba Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa - Tư liệu 08.11.2019
Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 Đoạn? - Trương Quang Nhuệ 08.11.2019
Cuộc xung đột âm thầm - Tư liệu sưu tầm 07.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (45) - Nguyễn Văn Khỏa 07.11.2019
Về chiếc bàn làm việc của Tổng thống Mỹ - Nhiều tác giả 07.11.2019
Charlie Chaplin và đàn bà… - Tư liệu sưu tầm 05.11.2019
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc: Cần tổ chức việc Di dân! - Antonio Guterres 05.11.2019
xem thêm »