tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28234507
Tiểu thuyết
06.05.2019
Vũ Bằng
Bảy đêm huyền thoại


Truyện thứ bảy


TRUYỆN QUẢ MÁC PHÂY NỞ TỪ HANG THUỒNG LUỒNG


Thấy Việt, người thứ bảy kể chuyện huyền thoại đưa cái đề ấy ra, cả bọn không lấy gì làm ngạc nhiên vì hầu hết đã đi rừng và biết trái mác phây là trái gì rồi.


Duy có Hảo không biết, hỏi anh Tiến ngồi bên cạnh:


- Mác phây là trái gì vậy?


Tiến chưa kịp trả lời thì Việt đã nghe thấy và đáp thay cho Tiến:


- Mác phây, theo tiếng Thổ, là trái lửa. Nhưng trái lửa đây không phải là hỏa châu của bọn thực dân từ trên máy bay xuống để soi đường tiêu diệt dân chúng ta đâu. Trái lửa đây là trái dâu da mà chúng ta thường vẫn ăn, nhất là vào dịp lễ mồng năm tháng Năm, ăn để giết sâu bọ cùng với quất hồng bì vào thuở thanh bình.


Thuở đó, chúng ta đều ăn dâu da mà không có làm sao hết. Nhưng bây giờ đi… kháng chiến thì dâu da là một thứ trái cây bị cấm ngặt, nhất là đối với quân đội, vì lẽ chỉ ăn vài quả dâu da vào buổi sáng thì buổi chiều hay cùng lắm là sáng hôm sau biết nhau ngay: sốt rét. Mười người ăn thì có nhiều phần chắc chắn bị sốt rét cả mười.


- Thế ở tỉnh thành ăn dâu da có việc gì không?


- Thường thường không việc gì.


- Thế tại sao ở rừng ăn lại bị sốt rét?


- Điều đó, chưa có ai bảo cho ta biết. Hồi còn ở trong Nam, tôi cũng nghe thấy có một giống trái cây có tính chất khó hiểu như thế mà không ai giải thích được gọn gàng. Đó là quả dưa hấu. Dưa hấu ở Bắc, ăn không có gì lạ lắm, bất quá cũng như roi, mận, dưa hay măng cụt. Ở Nam, dưa hấu có tiếng là nóng, ăn nhiều dễ bị kiết lỵ, nhưng đặc biệt không phải ở chỗ đó mà ở điểm này mà các tay buôn dưa hấu đã nhiều lần xác nhận với tôi: dưa hấu trồng ở rẫy, lấy ăn ngay và ăn rất nhiều, ăn bằng thích không hề làm cho người ta khó chịu, đau bụng hay nóng nảy trong người; nhưng chở xe đò hay thuyền về tỉnh thành để bán cho người ta ăn thì dưa hấu thuộc vào cái loại trái cây nóng vào hạng nhất.


Tại sao dưa hấu ăn ngay ở rẫy không độc mà ăn ở thành thị lại độc? Mà tại sao trái dâu da ăn ở rừng lại sinh ra sốt rét mà ăn ở tỉnh thành lại chẳng làm sao?


Có bác sĩ nào đọc đến đây, xin khoan khoan đừng viện lý do khoa học để cắt ngang câu chuyện này, tội nghiệp. Nhiều người trước vấn đề “dâu da ăn vào sinh ra chứng sốt rét” đã đọc làu làu những bài học ở nhà trường mà bảo “sốt rét là do muỗi anophèle sanh ra chớ đâu phải vì dâu da” nhưng rút cục thì ai cũng thấy rằng khẳng định như thế tức là nói như con vẹt. Chứng cứ hiển nhiên là có nhiều anh em ra kháng chiến uống ký ninh đều đều không bị sốt rét bao giờ, vậy mà hôm ăn thử mấy chùm dâu da bị sốt rét thực, không cãi vào đâu được.


Đau nhất cho người kháng chiến là đi rừng có nhiều thứ củ ăn no lòng được, nhưng khát nước thì, kể về trái cây, chỉ có dâu da là nhiều. Có khi đi cả một ngày đường mà hai bên rừng toàn là dâu da – mà không được ăn, thèm quá, thèm muốn chết…


Có một bọn người, ở trong tình trạng đó, tức quá, một hôm chỉ vào một rừng dâu da, bảo nhau:


- Uất thật. Cả một rừng cây, cây nào cũng chi chít quả to bằng đầu ngón tay cái, mà quả nào cũng mọng nước có khi ngọt lừ, có khi rôn rốt chua, mà không ăn được, thế thì trời sinh ra làm gì? Há chẳng vô ích lắm sao?


Một người trong bọn nói:


- Không vô ích đâu. Chúng tôi vẫn ăn dâu da, nhưng có một điều mà người ở dưới Kinh ít biết: ăn dâu da ở dưới Kinh không có làm sao thực, mà ăn ở rừng thì bị sốt rét thực, nhưng nếu biết cách thì ăn ở rừng cũng vẫn có thể tránh được sốt rét như thường.


- Phải làm sao?


- Không khó. Các anh bộ đội ăn dâu da bị sốt rét là vì mắc công việc, vừa ăn vừa đi, chớ không có thời giờ rảnh rỗi. Theo thói quen truyền lại hết đời này qua đời kia, chúng tôi trước khi ăn dâu da bao giờ cũng phải uống rượu cần – hoặc nếu không có rượu thì ăn xong rồi ngậm một cái lá “gơ ram” nuốt nước bọt rồi nhả cái lá ấy đi. Làm như thế thì không sợ sốt rét. Tôi chỉ biết thế thôi. Nếu hỏi tôi tại sao, tôi chịu. Tôi chỉ thấy ông cha chúng tôi bảo là mấy thứ đó “kỵ” nhau.


- Ăn uống như thế thì vất vả quá nhỉ.


- Tưởng vậy mà thôi, chớ cũng chẳng vất vả gì cho lắm. Là vì chúng tôi ở đây không có đầu tắt mặt tối như người ở dưới Kinh. Ngày của chúng tôi rộng, tháng của chúng tôi dài, chúng tôi ăn uống nhởn nha, thanh thản. Và trong khi ăn uống như thế, bao giờ chúng tôi cũng có dư thì giờ để khề khà trò chuyện với nhau. Các anh em thử tưởng tượng: ngồi trên một cái nhà sàn, đốt lửa nướng thịt trâu, uống rượu cần, trông ra chớp bể mưa nguồn ở đàng xa mà trò chuyện thú vị biết chừng nào. Đến lúc tráng miệng, nhón mấy quả dâu da, bóc vỏ ra, lột hai cái múi trắng ngà ở bên trong để lên trên lưỡi cho nước ở trong hai múi tứa ra, vừa hút rượu cần vừa ngẫm nghĩ đến sự tích trái lửa có hai múi ngà đó, và biết rằng mình ăn dâu là ăn cả một chuyện bi tình của một cặp vợ chồng chung thủy từ lúc sống cho tới khi chết, hỏi ở đời còn có thứ nào phong lưu hơn, cao cả hơn không?


- Anh vừa nói gì? Trái dâu da là một chuyện bi tình của một cặp vợ chồng chung thủy từ lúc sống cho tới khi chết?


- Chớ sao!


Việt ngưng một giây, vê một điếu thuốc cho vào đầu nõ điếu cày rít một hơi nghe muốn xé lỗ tai, hãm một ngụm nước rồi lim dim mắt, ngồi im không nói nữa.


Nhu tưởng anh ngủ, lay anh và nói:


- Chuyện chỉ có thế thôi à?


Việt nói:


- Đâu có! Bây giờ tôi mới bắt đầu. Đây, đầu đuôi câu chuyện trái mác phây mà anh bạn Phổ kể cho tôi nghe như thế này…


 


Ngày xưa, tại một bản thượng du nọ, có một cây bàng sum suê thường có tiếng đàn địch từ trong lòng cây vọng ra; người ta bảo là có thần ở bên trong. Hàng ngày, có một nàng con gái nhan sắc tuyệt trần đi hái lá kim giao và kiếm nấm xong, về qua đấy, vẫn thường nghỉ chân ở đó, nằm trên bãi cỏ, nhìn mây bay và hát theo tiếng đàn nhạc thần tiên. Bao nhiêu chàng trai trẻ trong bản nghe thấy thế đều đến vây lấy nàng, hát theo và tìm các cách để cho nàng lưu ý. Nàng là Kha Taô, con vị tù trưởng có trâu bò nhiều như kiến đen.


Kha Taô thêu phá lấy để mặc, dệt lấy mền để đắp. Ở tai, có đôi khuyên làm bằng ngà voi, cổ tay, cổ chân đeo không biết bao nhiêu vòng bằng thau. Nàng đang tuổi cập kê. Có nhiều người đến hỏi, nhưng không bằng lòng ai cả. Nàng yêu cây bàng có tiếng đàn địch từ trong vọng ra, yêu gió mơn man cỏ non xanh buổi hoàng hôn, yêu mây trắng, yêu dòng suối đời đời kể chuyện từ trời cao, yêu đất đai màu mỡ và những cánh đồng lúa thơm thơm mùi lành mạnh.


Trong các chàng trai lẩn quẩn ở bên cạnh nàng để mong được nàng để ý, có một người tên là Dam Di, gương mặt tươi hồng như thể ngà ngà say rượu, mà lại như lừ lừ giận dữ. Dam Di đeo một cái khố đủ màu, miệng tươi hơn hớn, khi cười hai làn môi nhếch ra đẹp như hai múi hành, tóc dài thõng xuống vai trông như một quả cà dái dê vừa chín. Dam Di không yêu ai cả, thấy đàn bà con gái là ngó đi chỗ khác ra vẻ như không trông thấy, thế mà từ khi được thấy mặt Kha Taô thì lúc nào chàng cũng muốn được ở cạnh nàng để đọc những trường ca hay nhất cho nàng nghe và hái những bông hoa đẹp nhất biếu nàng để ở dưới chân cho nàng thơm luôn.


Kha Taô ngẩng mặt lên trời, nhìn mây mà cười. Nàng muốn cuộc sống cứ kéo dài ra như thế mãi và tuyệt nhiên không biết rằng Dam Di yêu thương mình.


Giữa lúc đó, có một chàng trai khác ở một rừng núi xa xôi trở về bản thấy Kha Taô cũng say mê liền. Trớ trêu thay người ấy lại chính là Dam San, em ruột của Dam Di. Dam San không biết là Dam Di cũng yêu nàng Kha Taô như mình. Dam San cho rằng anh mình yêu Kha Taô như một người anh yêu một người em gái, còn mình mới yêu với cái tình trai gái yêu nhau.


Còn Kha Taô thì không biết và cũng không phân biệt hai thứ tình yêu ấy. Kha Taô yêu cả hai như hai người anh lớn tuổi, duy nàng nhận thấy hai người này tuy là anh em máu mủ nhưng tâm tính khác nhau hoàn toàn. Dam Di là một người mơ mộng y như nàng, yêu cây bàng có tiếng đàn địch từ trong lòng vọng ra, yêu gió mơn man cỏ non xanh, yêu mây trắng, yêu dòng suối đời đời kể chuyện từ trời cao, yêu đất đai màu mỡ và những cánh đồng lúa thơm thơm mùi lành mạnh. Còn Dam San thì hoàn toàn trái lại. Sau nhiều năm lội sông trèo núi, ăn gió, nằm sương ở các bộ lạc Mán, Sré, Bana, Kha, Mèo, Lô Lô, Dam San về đến làng được ít lâu thì bắt tay ngay vào việc dạy dân trồng lúa ở nương đồi núi, không để cho cỏ mọc lẫn với lúa. Dân làng nghe theo, phát cây cối ngã xuống, đốt ra than làm rẫy, tỉa lúa, tỉa bắp dễ dàng. Họ hết lời ca ngợi Dam San. Chàng nói:


- Ủa, dân làng ta đây chưa thạo nghề săn bắn!


Chàng lại dạy cho dân làng cách thức đào hầm hố, lót cành cây rồi phủ cỏ lên trên, dồn thú rừng cho sa xuống hầm, rồi lại đi tìm các lá cây đun lên nấu thành nhựa, tẩm vào mũi tên để bắn. Biết được hai thuật đó, dân làng kể từ đó săn được không biết bao thú rừng: cọp, tê, nai, voi, beo, giống nào cũng bị sa lưới hay bị tên độc bắn chết. Dân làng thừa ăn, sống một cách an vui sung sướng nên lại càng cảm ân đức của Dam San và cho chàng là một vị khắc đã đem hạnh phúc đến cho làng mạc.


Chưa hết. Một khi ngồi uống nước với các bậc già lão trong làng, Dam San lại ngỏ ý rằng người là một cái vốn rất quý, nếu có thua kém thì chỉ có thua kém Trời, Đất và Thần linh thôi, chớ tất cả tà ma quỷ quái thì nhất định không thể làm gì được ta, phải thần phục chúng và trừng trị thẳng tay là khác.


Đến đây, Dam San gặp rất nhiều sự chống đối của dân làng, mặc dầu Dam San đã hết lời thuyết phục. Là vì dân làng này rất ngang bướng và hùa theo những phong tục tập quán mấy trăm năm nay không thay đổi, cái gì chứ bảo không thờ cúng ma quỷ thì không có cách gì nghe được.


Nhưng sự chống đối ấy sẽ chỉ tiến tới đó và không thể đi xa hơn nữa nếu không có một sự đáng tiếc xảy ra chính vào giữa lúc Dam San khích lệ dân làng cách cúng vái thần linh cho phải phép và bỏ cái tục cúng vái tà ma quỷ sứ đi.


 


Sự đáng tiếc đó là một đám cháy giữa lúc già trẻ lớn bé trong làng tụ tập nhau để uống rượu cần vì có một người đàn ông trong làng bị cọp vồ.


Nhưng trước khi nói về đám cháy này, ta phải biết tâm trạng nàng Kha Taô ra sao trước những cuộc cải cách mà Dam San đem lại cho dân làng.


Không. Phải thành thực nói rằng tất cả dân làng, không phân biệt lớn bé trẻ già, ai cũng nhận Dam San là người Trời sai xuống để đem hạnh phúc đến cho họ và tất cả đều cho Dam San là một vị thần đáng kính.


Vừa kính vừa yêu Dam San là nàng Kha Taô. Mặc dầu là con gái một tù trưởng có những cái nhà dài như tiếng ngân của cái cồng, mặc dầu có voi, ngựa, trâu bò như kiến đen, mặc dầu có nhiều vòng đôi và nhiều đầy tớ, Kha Taô cũng bỏ “váy phồng lên theo mỗi bước chân đi, trông như con gà mẹ xù cánh che chở đàn con” để mặc một cái khố nhỏ đi đốt rẫy làm rừng, kêu lên những tiếng hú kỳ lạ để đi săn thay cho những tiếng gọi nhau ơi ới, và đeo một con dao dài cong lưỡi đằng sau lưng, xăm chàm ở ngực và tay để ngăn ngừa bệnh tật.


Bây giờ, Kha Taô không còn yêu gió sớm mây chiều, trăng non gió vàng, không còn yêu dòng suối xanh rót tiếng hát từ trên trời cao xuống đất, mà cũng không còn yêu những bông hoa lạ mà Dam Di đi hái để ở chân nàng cho thơm. Dưới mắt Kha Taô bây giờ mặt trời, mặt trăng vô nghĩa, chim chóc bướm hoa chỉ là không. Nàng chỉ thấy có một người, mà người đó là Dam San.


Quên làm sao được một chiều kia đứng dựa chiếc cầu tre, bên một ngọn suối cao chót vót trên đỉnh núi, Dam San, vai mang một cái gùi đã nói như rót vào bên tai nàng mấy câu ân tình thánh thót như một bài ca tuyệt tác:


Da nàng thơm hơn hoa lan trong rừng,


Chân nàng và ngực nàng trắng hơn ngà voi mới lên ba tuổi,


Làn da nàng mỏng quá tưởng chừng như lấy kéo xắt mỏng ra cũng không bằng,


Mỗi khi nàng đi rừng một mình để đào củ khoai mài, tôi muốn theo nàng vào rừng để mời nàng một miếng trầu gắn bó…


Nếu Kha Taô bằng lòng lấy Dam San thì Dam San sẽ cưới Kha Taô với một cái bát lớn bằng bạc, hai cái chiêng đồng, một cái mền vải xanh đỏ và một con trâu trắng.


Hứa với nàng, đôi ta sẽ ăn ở suốt đời bên cạnh nhau, tình duyên của đôi ta sẽ vững chắc như đôi bàn chân voi…([1])


Nghe lời Dam San, Kha Taô cảm thấy lòng nàng nở hoa nhưng làm ra bộ dỗi nguây nguẩy, không ưng chịu:


- Anh Dam San, anh đừng có nói nhiều. Ví bây giờ anh có trâu bò cả trăm con, vòng bạc ngàn chiếc, và xâu chuỗi ngọc biếc hàng đống, tôi cũng chẳng lấy anh đâu.


Trong bóng chiều tà, Dam San buồn rũ như một đám mây đen báo hiệu một cơn mưa sắp tới. Kha Taô cười, nói tiếp:


- Tôi lấy anh mà không cần gì cả. Tôi chỉ cần có một thứ: lửa lòng của anh. Và tôi tin rằng chỉ có lửa lòng của anh mới xứng đáng với lửa lòng của tôi.


Dam San và Kha Taô đưa nhau về làng. Ngày ngày, trông ra tơ trời giăng mắc trên ngàn lau bên bờ suối có tiếng gió rì rào kể chuyện ân tình, Kha Taô và Dam San hát lên những bài ca yêu đương thắm thiết làm cho đồi núi, cỏ cây, mây nước cũng phải lắng tai nghe và ghen tức cuộc tình duyên thần thoại. Trong lúc đó, ở trong một cái nhà sàn dựng lên, không xa chỗ cây bàng có tiếng đàn địch véo von mấy chút, có một người uất ức thở dài và nhai một khối hận tím không có cách gì tiêu tan được.


Người ấy là Dam Di, anh ruột của Dam San.


Uất ức vì em lấy mất người yêu của mình, Dam Di quên hẳn tình máu mủ, không kể đến ruột thịt anh em, nung nấu một âm mưu quyết diệt trừ Dam San cho kỳ được và cướp lại Kha Taô. Thì ra đến lúc quá giận mất khôn thì chẳng còn đếm xỉa gì tới nhân luân đạo lý, nhiều khi vì tư lợi, tư thù có thể tàn sát người ruột thịt của mình còn hơn cả người ngoài nữa.


Dam Di tìm một thầy phù thủy bàn mưu rồi leo ba trái núi, lội năm con suối đến động Thiên Muông, hạt Xã Xơn, kiếm một bà Chằng nổi tiếng là có nhiều ma thuật. Hơn thế, bà Chằng này lại kết giao với hai con quái vật nổi tiếng là độc ác: một con thuồng luồng và một con ác điểu. Bộ ba này làm mưa làm gió cả một vùng, ai nghe cũng khiếp sợ – nhất là con thuồng luồng mà cũng coi là một con tinh ghê gớm.


Dam Di bán linh hồn cho bà Chằng, ác điểu và thuồng luồng và nhờ ba quái vật này giúp tay mình trong việc bắt cóc Kha Taô và thủ tiêu em ruột mình là Dam San.


Được lòng tin của ba quái vật rồi, Dam Di trở về làng hành động theo đúng mưu kế của bà Chằng đã dạy. Một đám cháy lớn đột nhiên bùng lên trong làng giữa lúc già, trẻ, lớn, bé tụ tập nhau uống rượu cần vì có một người đàn ông trong làng bị cọp vồ. Lửa bắt đầu bốc lên từ căn nhà Kha Taô, lan qua những căn nhà khác rồi lém sang những nhà sàn ở đàng trước, đàng sau, không chừa một căn nhà nào. Dân làng đạp đổ những vò rượu cất đã lâu ngày để chạy – chạy mà không kịp mang được thứ gì: mền chiếu, cung nỏ, dao rựa, quần áo cũng như vòng cổ tay, hết thảy đều bị thiêu ra tro. Thê thảm nhất là trâu, bò, gà, lợn cũng chết cháy hết. Thôi rồi, bao nhiêu công của dành dụm trong bao nhiêu năm trời, bây giờ, chỉ còn là một đống tro than cao ngút như trái đồi. Tất cả mọi người ôm nhau mà khóc. Họ giậm chân, đấm ngực, vò đầu, cào mặt và tin rằng thần linh đã trừng phạt họ vì có một bọn người nào đó làm điều tội lỗi khiến cho thần linh nổi giận.


Họ bèn đi kiếm thầy phù thủy để hỏi vì tất cả yên trí rằng thầy phù thủy thả hồn đi khắp trên thiên đình và dưới âm cung có sức để mà biết rõ cái tội ấy là tội gì và do người nào đã gây ra.


Tên phù thủy, vốn đã thỏa hiệp với Dam Di từ trước, nhắm mắt lại hồi lâu trước một bàn thờ có bày thịt trâu còn máu, ba con gà và một cái đầu dê, bỗng vùng dậy hét lên: “Không phải tìm đâu xa! Kẻ gây ra tội khiến thần linh nổi giận chính là Dam San và Kha Taô. Chúng nó lấy nhau ngoài vòng lễ giáo cho nên thần Mặt Trời phối hợp với thần Sấm và thần Sét đã gây ra đám cháy này để thiêu đốt làng ta. Nếu không giết chết Dam San đi thì tai họa sắp tới còn ghê gớm và thê thảm gấp trăm ngàn lần nữa”.


Thế là già trẻ lớn bé, đàn ông đàn bà trong làng vác gậy tầy, rìu búa và dao rựa đi tìm Kha Taô và Dam San.


Nhưng họ chỉ thấy Dam San ngồi gục xuống một gốc cây đại thọ một mình mà tuyệt nhiên không thấy bóng Kha Taô đâu hết.


Tất cả dân làng hô lên:


- Đâm chết thằng đàn ông ma quái này đi! Chính nó đã quyến rũ Kha Taô, gây ra tội và làm cho làng ta cháy rụi! Chính nó đã làm cho dân làng ta khổ cực, mồ mả ông bà cũng bị bật lên vì nó, đạo lý cương thường bị xáo trộn vì nó, bây giờ ta không có bát cơm ăn vì nó. Giết chết thằng vô thần ấy đi!


Một người lại gần hét lên:


- Giết nó đi, không được. Thần linh có thể vẫn chưa nguôi giận.


- Phải làm sao?


Một ông già nhất trong bọn đứng ra:


- Bắt lấy nó. Trói nó lại. Ngày mai, ta sẽ làm lễ tạ thần linh và vứt nó vào trong một giàn củi đang cháy.


Dam San tức thì đứng thẳng dậy, vươn vai hỏi lớn:


- Các người làm gì thì làm. Ta chỉ muốn biết một điều này, khá trả lời ngay. Các người có thấy Kha Taô ở đâu không? Bảo cho ta biết, ta vui lòng chịu hết những tội lỗi mà các người gán cho ta.


Một người xông ra chỉ vào trán Dam San:


- Thôi đi, mi đừng lòe bịp nữa. Chính mi đã ăn thịt Kha Taô rồi!


Ông già khi nãy giơ tay ngăn lại:


- Không nên nói bất cứ điều gì vô căn cứ, nếu mắt ta không trông thấy thực.


Rồi nhìn vào Dam San:


- Ta trông thấy thực, ta nói. Trong khi đám cháy bốc to, ta đã trông thấy có một mụ già đến bắt Kha Taô chạy về vùng núi Khâu Song.


Dam San nhắm mắt lại như một người ngủ đứng. Mọi người im lặng đợi xem y làm gì. Bỗng đồi núi chung quanh vang lên một tiếng thét:


- Kha Taô bị nạn rồi. Hỡi hỡi dân làng, các người là một lũ điên, các người không biết rằng tên phù thủy này là kẻ thù ghét ta nhất từ khi ta trở về làng chỉ bảo cho anh em chị em làm rẫy, đi săn, cải cách việc cúng tế thần linh, ma quỷ. Tất cả những lời nó nói chỉ nhằm mục đích diệt ta. Không đời nào ta để cho nó sống.


Nghe thấy thế, tên phù thủy run lẩy bẩy, tuy miệng vẫn hò hét: “Giết nó đi! Giết thằng đàn ông ma quái ấy đi!”.


Mắt Dam San tiết ra một ngọn lửa làm cho mọi người sợ hãi. Ai cũng đứng trơ ra nhìn. Dam San lùi lại một bước, nhổ một cái cây lên. Tên phù thủy bắt quyết. Dam San cầm cái cây đập vào đầu, óc nó tung tóe ra bên ngoài. Dam San quắc mắt nhìn dân làng mà nói:


- Ta không hề muốn giết hại tên phù thủy này. Nhưng nó mê hoặc dân làng, xúi bẩy dân làng diệt trừ những người ngay thẳng như ta, nên bất đắc dĩ ta phải giết nó để trừ một hậu họa cho dân làng. Bây giờ kên kên sẽ xuống ăn xác nó. Ta không cần nghĩ tới. Điều phải làm ngay là tái thiết lại làng. Ai theo ta? Đứng cả về một phía! Ai không theo ta? Cũng đứng cả về một phía!


Không ai bảo ai, họ dạ rân rân lên vang cả núi đồi và đứng về phía Dam San.


Ngay hôm sau, già trẻ lớn bé trong làng bắt chước Dam San vận một cái khố nhỏ vào rừng chặt cây, cất lại nhà cửa, làm lại khung cửi, dệt lại quần áo. Rồi chẳng mấy lúc làng trở lại phồn thịnh gần như trước. Bấy giờ Dam San mới mời ông cụ trước đây đã nói trông thấy có người đem Kha Taô chạy vào vùng núi Khâu Song, yêu cầu thuật lại rõ ràng sự việc đó. Ông cụ nói:


- Tôi không thể lầm được. Qua đám khói bốc lên từ nhà Kha Taô, tôi trông thấy một mụ già đi với hai người con gái đến bắt Kha Taô và rảo bước về núi Khâu Song. Tôi thấy rõ Kha Taô giựt tay mụ ra để quành lại, nhưng có hai người con gái giúp sức cho mụ nọ và ghìm tay Kha Taô lại nên nàng không thể chống lại ba người đó.


- Trong lúc ấy, lão có thấy tôi đứng đâu không?


- Tôi thấy Dam San đương cởi trần ra giựt những cái nhà đang cháy và ôm những đứa trẻ ở trong nhà cháy ra.


Dam San gật đầu suy nghĩ. Bấy giờ chàng cảm thấy hơi tiếc đã giết mất tên phù thủy, phải chi bắt giữ nó được đến bây giờ thì nó đã tiết lộ biết bao nhiêu điều hữu ích. Là vì đến lúc Dam San cảm thấy rõ rệt là Kha Taô bị một mụ già và hai người con gái bắt dẫn đi có liên quan đến vụ tên phù thủy giả đò đi hỏi các thần linh, rồi vu cáo chàng là kẻ đã gây ra tội lỗi cần phải giết, kẻo không các thần linh nổi giận và còn ra tay nữa!


Tiếc thay, tên phù thủy đã chết mất rồi. Nhưng Dam San không thất vọng: chàng triệu tập dân làng lại và hỏi có ai dám cùng chàng đến núi Khâu Song không.


Những người già cả nhất lắc đầu khuyên:


- Không bao giờ nên tới đó!


- Tại sao?


- Là vì núi ấy có tiếng nguy hiểm nhất vùng này, đến đấy chỉ có chết mà không có hy vọng gì về được bởi vì ở đấy có ba quái vật: một bà Chằng, một ác điểu, một thuồng luồng thành tinh.


- Có lẽ mụ đàn bà đến bắt Kha Taô hôm cháy lớn là bà Chằng ấy chăng?


- Sao lại không thể như thế được?


- Nếu vậy, ta càng phải đến Khâu Song và ta càng phải tìm cho được con mụ Chằng ấy.


Thấy con mắt nảy lửa của Dam San và giọng nói cương quyết như dao rựa chém cây, bao nhiêu người dự buổi họp đều cúi nhìn cả xuống đất, không dám ngăn cản Dam San nữa.


 


Đúng như lời thiên hạ vẫn đồn ở Khâu Song, quả có một mụ Chằng, một ác điểu và một con thuồng luồng thành tinh thật.


Những ông già bà cả kể chuyện rằng có nhiều người đi rừng đến đấy, đến đoạn đường lên núi Sâm Khê, thường gặp hai người con gái vẫn đi lại nhởn nha dưới những cội tùng cổ thụ. Thường thường, thấy người lạ, hai người con gái đó thường bắt chuyện và cho biết rằng đất ở đây dữ lắm, khe nào động nào cũng có những con quái vật gớm ghê, nếu lỡ không biết mà đi vào đó thì có thể yên trí là mất xác.


Người nào yếu bóng vía nghe thấy thế mà sợ, nhờ hai cô gái nọ đi trước để chỉ cho con đường ngay, không lo gặp hiểm nghèo, chết chóc, nhưng chính ra thì hai cô dẫn đến động Thiên Muông cho mụ Chằng ăn thịt, bởi vì hai cô gái ấy là cháu của mụ Chằng.


Lúc Dam San và dân làng đến Khâu Song, hai cô gái ấy cũng tình nguyện đưa đường cho họ. Nhưng vừa đi được một quãng thì mụ Chằng lù lù ở đâu tiến tới. Mụ gầy như một bộ xương khô, hai mắt thì long lanh sáng, luôn luôn thè một cái lưỡi dài ba thước quay bên này, quay bên kia. Đoán rằng đây là kẻ đã đi với tên phù thủy lập mưu hãm hại mình và bắt sống Kha Taô, Dam San hô một tiếng trời rung đất chuyển:


- Bà con anh em đứng cả lại, kẻo quái vật phun độc khí. Để cho một mình tôi xử trí với nó thôi.


Nói đoạn, Dam San tuốt gươm ra tiến lên trước mặt bà Chằng, ngăn lại và bảo:


- Trả ta Kha Taô!


Mụ Chằng không trả lời, thè cái lưỡi dài ra quấn lấy những vết gươm Dam San chém vào người mụ. Cuộc giao chiến kéo dài cả một nửa ngày, nhưng rút lại vô hiệu quả. Mặt trời lên cao, mồ hôi Dam San nhỏ giọt. Dân làng đứng xem, vừa sợ hãi vừa tức giận, không biết cách gì để ứng cứu Dam San, đành chỉ biết gào thét lên.


Kết quả mụ Chằng lại thoát. Uất ức không để đâu cho hết, Dam San đuổi theo đến cửa hang của mụ ta, nằm trốn dưới một tảng đá ở cửa hang để dò xem tình hình. Thì thấy tiếng hai đứa con gái khi nãy đương hỏi thăm mụ Chằng về cuộc giao chiến vừa qua. Chúng nói:


- Rõ thật không may. Sao bữa nay lại gặp một thằng cha quái ác như vậy nhỉ!


Mụ Chằng thở hổn hển không nói. Hai đứa con gái tiếp:


- Dì phải cẩn thận. Chúng cháu e rằng nó còn lởn vởn ở đây.


Mụ Chằng cười gằn:


- Nó còn gặp ta lần nữa, chắc chắn là nó chết.


- Dì nên cẩn thận, chớ nên khinh suất. Nó mà biết sở đoản của mình, bôi đồ dơ vào gươm của nó thì lưỡi dì liếm gươm của nó để chống đỡ e mất công hiệu đi chăng?


Biết thế, Dam San khẽ rón rén bò ra khỏi chỗ ẩn, đi về phía dân làng đứng đợi. Chàng lấy phân ngựa và nước đái voi bôi vào gươm, rồi bảo tất cả người đi theo cùng lấy đồ dơ bẩn trát vào dao rựa như thế, đoạn hè nhau xông cả vào trong hang của mụ Chằng.


Xung phong, Dam San huơ gươm chém mụ Chằng đứt lìa cổ, trong khi dân làng phân ra làm hai toán: một, bồi sức cho Dam San để chém ngang người mụ, còn một thì bắt sống hai người con gái để buộc đưa đến chỗ giam giữ Kha Taô. Hai đứa con gái kêu khóc van lạy xin tha chết và thú thực là quả chúng nó đã đi với mụ Chằng bắt Kha Taô hôm xảy ra hỏa hoạn, tuy nhiên Kha Taô hiện giờ không ở đây, nhưng bị giữ ở một nơi khác kín đáo hơn.


Hỏi ở đâu thì chúng nói:


- Ở hang thuồng luồng.


- Cách đây bao xa?


- Chừng bảy dặm. Nhưng đến hang thuồng luồng phải qua một núi Son Phách là tổ của con ác điểu kêu một tiếng thì chuyển động núi rừng, kêu hai tiếng thì người mạnh đến đâu cũng phải ngất đi bất tỉnh, kêu ba tiếng thì đất lõm xuống hàng trăm thước và chôn sống những người ở đó.


“Con ác điểu này là đồng minh với bà Chằng, có nhiệm vụ trấn ải địa đầu để bảo vệ hang thuồng luồng thành tinh vốn là tổng hành dinh của mụ.


Dam San nói:


- Chúng ta đến đó.


Nói rồi, cả bọn rần rần kéo nhau đi, sau khi đã ném xác mụ Chằng xuống dòng sông Đen cạnh đó. Tục truyền xác của mụ bị băm vằm thành ra nhiều mảnh, gặp hơi nước thì sống lại, bây giờ thành ra giống đỉa ban ngày hút máu người mà ban đêm thì biến thành giống quỷ đi tìm những đất lành để cướp phá và không ngại dùng những đòn ác độc nhất, mọi rợ nhất để mưu toan tuyệt diệt dòng giống người ta.


 


Theo sự chỉ dẫn của hai người con gái, Dam San và dân làng đi về phía núi Son Phách. Dam San hỏi hai người con gái:


- Tất cả những lời chúng mày nói về con ác điểu đều là những lời xảo trá, nhằm làm cho người nghe sợ hãi, không dám động chạm đến nó đó thôi. Riêng ta biết chắc nó chỉ là một thứ “quái vật giấy”, không làm được cơm cháo gì hết. Mụ Chằng mà còn chết vì lưỡi gươm này, thì cái thứ nó có ai thèm đếm xỉa làm gì. Tuy nhiên, ta không muốn phí sức làm chi. Ta muốn có cách gì trừ diệt nó cho thiệt lẹ. Chúng mày khai cho thực, ta tha cho tội chết.


Hai đứa con gái nghe nói thế, mừng quá, rập đầu xuống đất mà thưa:


- Thưa, đúng nó là “quái vật giấy”. Nó chỉ ham ăn thôi. Nhử nó xuống núi giết nó là việc dễ ợt.


- Làm thế nào để nhử?


Hai người con gái đáp:


- Thui một con heo rồi chôn đầu xuống đất.


Dân làng vào trong một cái bản gần đấy kiếm một con heo, đem thui, rồi chôn đầu heo xuống đất. Trong chốc lát, trời đất tối sầm hẳn lại. Thì ra là con ác điểu bay từ trên núi xuống, đôi cánh xòe ra che khuất bóng cả một vùng. Nó vừa ngửi thấy mùi heo thui, bay xuống để ăn, nhưng chưa xuống hẳn, còn đứng đậu trên một cành cây cổ thụ. Cả cái cây rung chuyển, lá rụng xuống rào rào như mưa. Dam San bèn giương một cái nỏ lớn, rút ba mũi tên tẩm thuốc độc bắn ra cùng một lúc vào chim. Nhưng cả ba mũi tên chỉ làm cho chim loạng choạng thôi. Dam San phải bắn bồi thêm hai mũi tên tẩm thuốc thật độc vào chính cổ, chim mới ngất ngư. Dân làng phải tung dây thừng lên cành cây, quấn chân chim kéo xuống, lấy dao rựa bổ vào đầu nó nhiều nhát, con ác điểu mới lăn quay ra chết thật.


 


Qua đã nhiều rừng. Qua đã lắm thung. Dam San và các bạn đến hang thuồng luồng thành tinh. Vị cố lão đã từng trông thấy mụ Chằng và hai cô gái bắt cóc Kha Taô đem đi hôm xảy ra hỏa hoạn mới nói:


- Đến đây, xin các anh em phải cẩn thận hết sức, cẩn thận hơn cả đối với mụ Chằng và con ác điểu.


Mọi người hỏi tại sao. Vị cố lão nói:


- Là vì nội trong các giống quái vật, thuồng luồng là giống độc ác nhất mà cũng căm thù loài người nhất.


- Tại sao lại có chuyện như thế?


- Thế anh em không nhớ sự tích nó sao? Theo cha mẹ chúng tôi kể lại khi chúng tôi còn bé thì ngày xưa, ở vùng thượng du, có một cô gái chăn trâu ở bờ sông Tam Đường, một hôm, gặp một chàng trai mạnh khỏe và đẹp như mặt trời.


Đẹp như mặt trời, nhưng lại không phải là thiên thần, mà là một thứ ác quỷ ở cõi âm. Cô gái chăn trâu và chàng trai nọ luyến ái nhau. Chàng trai đưa cô gái về âm phủ, ít lâu sau, cô ta có chửa. Nhớ dương trần, thương cha mẹ, cô ta bèn nói với chồng cho về thăm nhà rồi lại trở về cõi âm với chàng, nhưng biết là cuộc tình duyên này đến đây là hết, chàng dặn vợ:


- Tương lai không biết ra thế nào mà nói trước, tuy nhiên anh cũng dặn em một điều. Nếu một ngày gần đây, em có hạ sanh thì nhớ nuôi con theo cách này: chỉ cho uống nước, và không bao giờ thiếu nước.


Chín tháng sau, cô gái sanh ra một con cá lớn lên như thổi. Theo lời cha nó dặn, cô chỉ cho nó uống nước, nhưng nó uống nước nhiều quá đến nỗi cả nhà gánh nước mà không đủ cho nó uống. Bần cùng bất đắc dĩ, cô đành phải đem nó ra bến sông Tam Đường thả xuống nước mà nói: “Mẹ hết lòng nuôi con nhưng bây giờ ở vào cái thế không thể nào nuôi con được nữa, nên phải rứt ruột thả con đi để cho con sống theo loài của con”.


Con cá chiếm vực sông Tam Đường mà ở. Một hôm kia nó lên nằm phơi nắng trên một bãi cát ở bến sông thì có con rể của viên chúa Bầu đi săn qua đấy, trông thấy giương cung bắn chết. Chết nhằm giờ thiêng, con vật theo dõi nhà chúa Bầu mà báo oán làm cho chúa bị lưu ly oan khổ và kết cục bao nhiêu đất cát đều bị người khác chiếm cả, không còn gì, thậm chí đến khi chết không có một manh chiếu để mà bó xác.


Thấy thế, dân làng ở những vùng quanh đấy tôn con cá ấy làm thần Tu Ngước, con cháu nó, họ gọi là Tu Ngu Nàm mà người Việt kêu là thuồng luồng và truyền tụng với nhau rằng, nội trong các giống cá ở biển khơi, giống thuồng luồng là giống vật giữ một mối thù ghê gớm nhất đối với loài người.


Kìa, mải vui câu chuyện, chúng ta đến hang thuồng luồng từ lúc nào không biết.


Theo dân chúng ít ỏi ở vùng này thuật lại, cái hang thuồng luồng này trông bên ngoài tùm hụp không mấy lớn và có nhiều cây sanh, cây si cổ thụ che phủ cửa hang. Nhìn những cái rong rêu xanh thẫm đóng từng tảng lớn ở những cái vụng chung quanh, từng chỗ lại có những đám lau lách đìu hiu có gió chạy rì rào, ai cũng tưởng đó là một nơi hoang phế từ ngàn năm không có bóng một con vật nào qua lại, nhưng sự thật thì những đêm có bóng trăng mờ mờ, ai đi qua đấy sẽ thấy sinh hoạt cả một thế giới hỗn mang, gồm cả tà ma, quỷ quái, hồ ly, mà tiếng hú xen lẫn tiếng cười, tiếng gào thét xen lẫn với tiếng nỉ non khóc lóc.


Người ta bảo rằng những tiếng khóc nỉ non đó là của những người con gái tuyết trinh bị dì cháu mụ Chằng đồng lõa với ác điểu và thuồng luồng bắt cóc đem về đó để hãm hiếp và bắt làm nô lệ, vì người ta quả quyết rằng cái hang đó đi sâu quá vào trong thì phình lớn ra và trang trí như một cung động vua chúa, đủ các kỳ châu dị bảo và suốt ngày đêm vang âm tiếng đàn ngọt hát hay.


Tất cả những lời đồn ấy, dù sao cũng chỉ là giả tưởng bởi vì thực ra đã có người nào vào hang ấy mà trở về được đâu? Những sơn nhân lảng vảng kiếm củi chung quanh đấy, con thuồng luồng thành tinh không để cho mà yên thân. Dân số mỗi năm mất tích cũng đến mươi người là ít. Có nhà có con gái sắp lấy chồng, quay đi quay lại, mất con gái lúc nào không biết. Lại có khi có cặp vợ chồng đương ngồi trên sàn nhà ăn cơm, bỗng có một trận gió hôi tanh thổi tới làm rung chuyển cả núi non, nhà cửa, làm đổ cả cây cối, làm tối tăm mù mịt cả trời đất, rồi người vợ bị cuốn đến hang thuồng luồng… Đã hơn một lần, dân cư không chịu nổi cái khổ thống ấy, liều chết cầm đuốc lửa kéo nhau rần rần đến đốt cái hang ma quái, nhưng vô ích. Là vì họ vừa tới cửa hang thì một làn gió lạnh lẽo mà tanh tưởi từ miệng hang đã bốc ra, thiêu rụi các cây đuốc, kế đó gió chạy cát bay làm cho những người mạnh nhất cũng không thể nào đứng vững. Thế là họ giẫm cả lên nhau mà chạy về để thoát lấy thân. Do đó, nhiều người bị chết oan ức, còn những người thoát nạn mà chạy về được đến cửa đến nhà cũng sinh ra đau ốm không chứng này thì bệnh kia. Nhiều người vì thế phải bỏ bản mà đi kiếm nơi khác sinh nhai. Còn những người vì không có phương tiện để tha phương cầu thực đành ở lại, nhưng luôn luôn kéo dài một cuộc đời lo sợ phập phồng, không biết sống lúc nào, chết lúc nào.


Dam San và dân làng kéo đến trước cửa hang thuồng luồng cũng theo đúng cách như những người trước đó, đốt đuốc cháy phừng phực và hò reo rầm rộ để tác oai với con tinh thuồng luồng. Nhưng, cũng như đối với dân chúng trong vùng nổi lên chống đối mấy lần trước đó, họ chưa tới được cửa hang thì bao nhiêu đuốc lửa thốt nhiên tắt hết. Từ trong hang, một làn hơi lạnh buốt và tanh tưởi xông ra làm cho mọi người nghẹt thở, muốn lăn ra chết liền. Họ không hò reo được nữa, nước mắt nước mũi trào ra. Thế là họ bỏ chạy tán loạn, người nọ giẫm cả lên người kia mà chạy. Đến một cái đồi cách đó không xa, họ trèo lên nhìn lại phía hang thì thấy sương khói bốc lên mịt mù. Dam San một mình vẫn cứ tiến vào hang Tu Ngước. Quái lạ, sao ở giữa đám khói sương ấy, ngọn đuốc của Dam San lại không tắt mà mỗi phút lại mỗi cứ bùng lên?


Bây giờ, họ trông kỹ thì không còn phải là ngọn đuốc thường như lúc đầu nữa, mà là một ngọn đuốc khổng lồ, một ngọn đuốc kỳ dị, một ngọn đuốc từ xưa đến lúc đó, chưa ai từng trông thấy bao giờ.


Thì ra cả người Dam San bây giờ là một ngọn đuốc cháy bùng bùng, bao nhiêu hơi lạnh bốc từ trong hang ra không còn cách gì làm cho tắt được. Dam San chạy tuốt vào trong hang thuồng luồng, bao nhiêu cây cỏ ở miệng hang cháy xèo xèo và rụng rào rào như mưa.


 


Về sau này, các cố lão trở về lập nghiệp ở vùng này, kể lại cho con cháu nghe cuộc chiến đấu kinh khủng giữa Dam San và con thuồng luồng thành tinh, thường kết thúc câu chuyện bằng một “Trường ca Dam San” đại để như sau:


Dam San đánh nhau với con thuồng luồng thành tinh trong hai ngày hai đêm liền. Con thuồng luồng càng phun tà khí ra thì cây đuốc thịt Dam San lại càng cháy to hơn. Ấy là vì trong mấy tháng trời nung nấu mối thù, sau khi đập nát óc tên phù thủy, Dam San đã vào rừng tìm được những thứ lá bắt lửa cổ truyền của miền thượng, đem sao tẩm theo một phương pháp bí mật, rồi dùng thoa khắp cả người. Có lửa, chất nhựa ấy bốc lên còn dữ hơn cả đình liệu nữa, mà càng có gió thì lửa lại càng cháy to hơn và cao hơn. Nhưng đặc điểm của lửa ấy không phải chỉ có thế mà thôi. Nó là một thứ lửa kỳ lạ mà không phải ai cũng luyện được và dùng được. Điều tiên quyết là người dùng lửa đó, tự mình, đã phải hun đúc từ lâu một thứ lửa linh thiêng khác: lửa lòng. Có lửa lòng thì lửa thần đó mới linh – mà linh nhất là mặc dầu nó bốc lên rất lớn, rất cao, nhưng không hề đốt cháy được da thịt người thoa thứ dầu đó, trái lại, khi nào xét ra không cần đến ngọn lửa để làm cây đuốc thịt đó nữa, thì chỉ việc niệm một câu thần chú và lấy một ít bột ra thoa vào trán thì tự nhiên lửa tắt hẳn và người tẩm dầu làm đuốc lại trở lại nguyên vẹn như người thường.


Vậy là tà khí của con tinh Tu Ngước không có cách gì làm hại được Dam San. Càng đánh càng mạnh – vì có ngọn lửa lòng trợ lực thêm – Dam San sau hai ngày hai đêm, vật ngã con thuồng luồng, bắn ba phát tên lửa vào miệng nó. Con quái vật ngã lăn như một con ma mút giẫy chết, cái đuôi nó quật vào thành hang làm rung chuyển cả một vùng chung quanh và bao nhiêu phiến đá khổng lồ ở đấy đều nát ra như sạn.


Dam San nhấc bổng xác con thuồng luồng quăng xuống nước ngập lút cả mình, chỉ thòi ra cái đầu. Dam San rút gươm chém phăng cái đầu ấy rời khỏi mình thuồng luồng. Truyền rằng đầu ấy theo dòng nước qua Xiêm và hàng vạn nô lệ của nhà vua lúc bấy giờ ra sức kéo mà không nổi.


Nói về Dam San, sau khi đã chém đứt đầu thuồng luồng rồi, chàng xông vào hang động ở phía trong, đi đến chỗ nào bao nhiêu nô lệ của thuồng luồng đều chết cháy như than cả. Đã thất vọng vì tưởng không thấy được Kha Taô đâu nữa thì chàng chợt thấy ở dưới đất một sợi chỉ xanh biêng biếc. Dam San chợt nhớ lúc Kha Taô bị bắt cóc thì đương đánh ống, màu chỉ này là màu chỉ ưa thích của nàng, mà Dam San trước đây vẫn thường thấy trên thoi dệt.


Dam San cầu nguyện cho sợi chỉ không đứt giữa quãng. Chàng lo sợ. Sự lo sợ mỗi lúc mỗi tăng thêm, nhưng sau cùng chàng thấy điều mình đoán mỗi lúc mỗi thêm chắc chắn: đầu chỉ biến trong một cái phòng đá nhỏ. Dam San bước vào thì quả là Kha Taô đương bị giam trong ấy. Lập tức Dam San lấy thuốc bột thoa vào trán. Lửa cháy bùng trên da thịt chàng phụt tắt. Dam San chạy vội lại cởi trói cho vợ. Hai người ôm lấy nhau. Nước mắt của Kha Taô đỏ như máu, rơi xuống thành một thứ hoa mà bây giờ ta vẫn gọi là hoa súng.


Ra về, Dam San nhìn lại chỗ mình vừa đánh nhau với con thuồng luồng thì thấy cây cối chết rụi cả, không còn một cây nào đứng vững. Nhưng lạ thay là tình yêu chung thủy của người đàn ông và người đàn bà: chân họ bước tới đâu thì đất lại mịn màng trở lại, cây cối có vẻ như được hồi sinh mà đá núi, nước khe như thể reo lên để cảm ơn người mạnh của núi rừng đã can trường chiến đấu chống một quái vật từng làm cho họ bao nhiêu lầm than ai oán.


Ít lâu sau, nghe tin ba quái vật đã bị Dam San hạ cả, những người đã bỏ bản ra đi cũng như những người lạ ở các phương xa kéo tới làm ăn nườm nượp. Ở hai bên bờ sông và triền núi, cây cối lại mọc lên xanh tốt, nhưng các cố lão nhận thấy rằng ở chỗ hang Tu Ngước ngày xưa, có một loài cây mới mọc từ chỗ tàn phá và lớn lên mau lẹ lạ lùng. Những cây đó mang những chùm quả đỏ rực cả bầu trời. Nhớ lại câu chuyện chiến đấu oai hùng của “cây đuốc thịt Dam San” đem lửa lòng cộng với lửa thần đốt cháy hang thuồng luồng, đốt cháy cả cây cối ở cửa hang và trong hang, họ kêu những chùm quả đó là “quả lửa” vì họ tin rằng những quả lửa đó là những khối lửa còn sót lại sau trận chiến của Dam San. Quả lửa, theo tiếng người Thượng, là mác phây, mà người dưới Kinh thì gọi là quả dâu da lửa hoặc vắn tắt là “dâu da”.


Trong đoạn kết thúc, “Trường ca Dam San” cho biết rằng quả dâu da chín vào đầu mùa hạ và cũng chính vào khoảng thời gian đó, người ta tìm thấy ở trong núi Tà Kê, trông sang hang Tu Ngước, một cái xác người bị thú rừng ăn cụt cả chân tay, duy chỉ còn cái mặt và cái cổ.


Mặc dầu cái mặt và cái cổ ấy đã bị rã ra rồi, người ta cũng nhận ra rằng người chết ấy là Dam Di, anh ruột của Dam San, người thanh niên đa tình trước đây đã say mê Kha Taô mà chỉ vì lẽ không lấy được nàng, đã cúi mặt gục đầu làm tôi mọi cho bà Chằng và câu kết với tên phù thủy để bắt cóc Kha Taô và giết em là Dam San.


Dam Di hy vọng rằng Kha Taô bị nhốt ở trong hang Tu Ngước, ngày một ngày hai, sẽ quên Dam San và sẽ cùng Dam Di nối lại mối duyên hương lửa, nhưng chẳng ngờ Dam San không những không bị hại, lại còn giết chết cả bà Chằng, ác điểu và con thuồng luồng thành tinh một lúc. Biết là đã đến thế cùng rồi, Dam Di không còn cách gì khác hơn là vào trong núi treo cổ lên một cành cây cao tự tử, một là để tránh cái hình phạt cuối cùng chắc chắn thế nào cũng sẽ diễn ra, mà hai là để thanh toán một lần cho dứt hẳn một niềm hối hận cắn rứt tim óc chàng không rời ra một phút – hối hận rằng mình chỉ vì một ảo ảnh không đâu mà nỡ lòng câu kết với quái vật và phù thủy mưu hại đời sống của chính em ruột mình!


 


Bây giờ, những cặp tình nhân cầm một chùm dâu mà lột cái vỏ chín đỏ ra, tẽ hai múi để uống cái nước ngọt mà lại rơn rớt chua ở bên trong, họ nhìn nhau không nói vì cùng cảm nghĩ hai múi đó là hai trái tim tình muôn đời ngàn kiếp ở cạnh nhau, dù sông cạn đá mòn, bể dâu thay đổi, cũng không có cách gì chia rẽ được.


Nhưng người đi rừng không nghĩ thế. Mỗi khi bứt một chùm dâu chín để ngồi trên phiến đá nhởn nhơ nhấm nhót cho đỡ cơn khát buổi trưa hè, họ không hề quên câu chuyện người anh đi mướn tay ngoại nhân từ viễn phương lại để bắt cóc em dâu và mưu sát hại chính em ruột mình.


Lột cái vỏ đầy đỏ tươi màu lửa ở ngoài mà lại trắng ngà ở phía trong, họ thấy có hai múi mòng mọng nước lộ ra, hung hung sắc trắng sữa dê, cách nhau bằng một cái màng cũng trắng và mịn như tơ nõn. Tẽ hai múi ra, để lên đầu lưỡi, đè lên khẩu cái cho nước ngọt tứa ra, họ có cảm tưởng đang nuốt vào trong lòng những trái tim bé nhỏ, kết tinh của bao nhiêu chí khí hiên ngang của người anh hùng không sợ chết, không sợ gian nguy, quyết tâm diệt trừ cho kỳ được những giống ác quỷ đem đau thương, tang tóc đến cho đồng bào.


Nghĩ như thế, họ cảm thấy ăn bao nhiêu trái dâu da lửa vào trong bụng cũng vẫn còn thèm, vì ăn như thế là tiếp thu cái máu bất khuất của người hùng ngày trước vào trong lòng trong ruột. Rồi vừa nhìn lên những cái vòm cây xanh biêng biếc, đỏ thắm những trái dâu da lửa, họ vừa ăn vừa nói với nhau:


- Nghĩ cho cùng thì cái gì ở đời rồi cũng đến tiêu ma cả, duy chỉ có cái lòng người ta ăn ở với non sông đất nước, cái chí khí cương cường không sợ uy vũ của ngoại nhân, cái tinh thần tự tin, không vọng ngoại, không rước voi về giày mộ mới có thể lưu lại đời đời kiếp kiếp, và đời đời kiếp kiếp hun đúc cho những người đến sau một ngọn lửa lòng không bao giờ tắt được, một ngọn lửa lòng lúc nào cũng sáng rực, còn sáng hơn cả các tinh tú trên nền trời, một ngọn lửa lòng bất diệt làm cho ngàn xưa nở dạ mà ngàn sau phải cúi đầu khâm phục.


Khắp chung quanh, trên đồi dưới khe, những cây mác phây trĩu trịt những chùm quả đu đưa tàn lá xanh xanh và tỏa ra trên nền trời chói lòa ánh sáng trong trong một màu rực rỡ như lửa đang bốc cháy.


(còn tiếp)


Nguồn: Bảy đêm huyền thoại. Truyện Ký. Văn học, Sài Gòn, in lần đầu 1972. Rút từ Vũ Bằng Toàn tập, tập 2. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







([1]) Theo một bài hát của đồng bào Thượng do Hoàng Trọng Miên dịch.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 18.07.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.07.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 12.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 01.07.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 29.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 28.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
xem thêm »