tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27826024
Tiểu thuyết
24.06.2019
Đỗ Quang Tiến
Seo Mỉ


A Lử vẫn ngồi yên. Hắn ngại đi làm dưới trời mưa tuyết


chỉ là một phần. Phần nữa - phần này mới khó, hắn không


muốn tỏ ra nể sợ Sùng Chí. Đoán biết thằng cháu còn do dự,


A Cấu nói một câu người Mèo thường nói:


- Nước chảy được, nước chảy. Đất không chảy được, đất


đứng. Lúc này, mày chưa chống lại chúng nó được đâu.


Bụng còn không biết khôn, mày còn phải đi làm với


chúng nó.


Uể oải, A Lử đứng lên, lấy mảnh nilông khoác vào


người. Sau đấy, lẳng lặng đẩy cửa bước ra. Quả như A Cấu


đã biết trước, đến nơi, A Lử thấy hầu hết các xã viên trẻ của


hai đội đều đã có mặt. Bóng họ giải ra, lố nhố trên các mỏm


đồi. Tốp đi lấy mo nang, lá soi. Tốp chẻ que ghim nón. Tốp


che chắn cho đám cây con. Hối hả, nhộn nhịp. Những lúc


lòng biết vui, phải có điệu hát Gầu phềnh. Một giọng trai trẻ,


đâu đây, thình lình vẳng lên giữa tiếng gió: Bên hang lá chuối


tỏa. Xòe tròn như cái nong. Đêm qua đêm tàn, ngày mai sáng lối.


Ta lê bước về nhà. Hồn như còn ngủ ở thắt lưng em...


(1). A Lử lủi vào đám đông. Tiếng hát nghe bâng khuâng như tiếng dòng


suối róc rách dưới bông lau, khiến nỗi buồn của hắn vơi nhẹ.


Tất bật, Seo Mỉ chạy đi chạy lại. Vừa ở quả đồi này, chị


đã ở quả đồi kia. Tuy thế, bóng người mặc bộ quần áo màu


tím than đã trắng hoa tuyết, đầu đội chiếc mũ lá sùm sụp,


không qua mắt chị. Cối, anh giáo Cối! Hôm nay anh cho các


em học sinh nghỉ vì trời rét đậm. Thấy các xã viên đi cứu các


__


(1) Dân ca Mèo (Doãn Thanh sưu tầm, biên dịch).


đám cây mới trồng, anh theo ra. Và anh đang cặm cụi làm


với họ. Seo Mỉ bồi hồi cảm động.


Giữa lúc Seo Mỉ đôn đốc công việc bỗng Cối chạy lại.


Anh nói, nét mặt lộ vẻ lo lắng:


- Báo cáo chị chủ nhiệm! Tôi vừa được tin một em học


sinh ở bản Xín Thàng, phải đưa đi cấp cứu ở trạm y tế. Tôi đi


thăm em, rồi tôi quay lại.


- Vâng, anh đi đi! - Seo Mỉ vội đáp - Xong công việc ở


đây, tôi sẽ ra trạm thăm em.


Cối phóng xuống chân đồi, chạy gằn ra trạm y tế xã. Em


học sinh đó là đứa con độc nhất của một người mẹ vừa góa


chồng. Nó mới đi học từ ngày Cối về đây. Cũng như đám


trẻ, nó tìm thấy niềm vui ở trường lớp, nó chăm chỉ, ngoan


ngoãn. Tất nhiên, nó được thầy giáo yêu quý như các bạn


khác. Nhưng nó làm sao mà phải đi cấp cứu? Câu hỏi đó cứ


xoáy vào đầu óc Cối. Đến nơi, anh lật đật bước vào gian


buồng có chú bé đang sốt li bì. Anh liền hỏi cô y tá ngồi


bên cạnh:


- A Pá đau ốm ra sao, cô?


- A Pá bị sốt ác tính. - Cô y tá khẽ trả lời. - Em vừa tiêm


thuốc cho em ấy xong.


- Bệnh tình của A Pá có gì đáng lo không, cô?


- Nếu chỉ sốt ác tính thì không đáng lo, em có thể điều


trị được. Nhưng nếu xảy ra biến chứng, sợ không đủ khả


năng, trạm cũng không đủ phương tiện để cứu chữa. Vì thế,


nếu đưa em ấy lên bệnh viện huyện thì bảo đảm hơn.


- Thế thì trạm nên đưa em ấy lên bệnh viện huyện.


- Em nghĩ đến việc ấy rồi nhưng ở trạm chỉ có một mình


em. Từ hôm qua đến giờ, trong xã lại có mấy người già,


trẻ em ốm đột ngột, em phải chăm nom. Khó nghĩ quá, anh


giáo à!


Cối nhìn đứa bé, rồi quay sang cô y tá:


- Tôi đưa em ấy lên bệnh viện thay cô được không?


- Em định đi báo cáo việc này với ủy ban để tìm cách


giải quyết thì anh đến. Anh đi giúp cũng được, nhưng... - cô


y tá nhìn qua ô cửa sổ vẻ lưỡng lự - Việc ấy không phải


nhiệm vụ của anh mà trời lại rét như thế này.


Cối ngó theo cô y tá ra bên ngoài. Ngay sau đấy, anh


quay mặt đi tránh khung trời nom buốt lạnh con mắt. Anh


sốt sắng nói:


- A Pá là học trò của tôi. Dù em chỉ là một đứa trẻ trong


bản, trong xã, gặp trường hợp này, tôi cũng có nhiệm vụ


đóng góp phần mình. Nếu chị đã quyết định, xin chị làm


giấy giới thiệu, chuẩn bị chăn, áo mưa cho em. Tôi đi thắng


yên cương cho ngựa xong là lên đường. Cứu bệnh như cứu


hỏa, để chậm không có lợi.


Dứt lời, Cối vòng ra tàu ngựa. Khi anh quay vào, A Pá


đã được nằm gọn trong chiếc chăn dày, bên ngoài phủ tấm


ni lông. Anh đỡ chú bé lên lưng mình để cô y tá lấy dây địu


buộc lại. Xong đâu đấy, anh lên yên. Con ngựa cất tiếng hí,


phụt khói qua hai lỗ mũi, chạy đi. Từ trên vòm trời màu xám


thép, tuyết vẫn lả tả rắc xuống. Gió vẫn mải mê thổi, đôi lúc


gào rú trong khe núi. Con đường dài ra, mất hút sau các bụi


cây nặng trĩu hoa tuyết.


Vó ngựa bổ lạo xạo trên con đường vắng lặng đã lâu


chưa? Lâu lắm rồi. Hai tay Cối ghì sợi dây cương đã tê cóng.


Mãi đến lúc hai bàn tay tê dại, người, ngựa mới tới nơi. Chú


bé được đưa ngay vào bệnh viện và ở lại đấy. Yên tâm, Cối


lên ngựa quay về. Khi màu trắng tuyết bầm lại trong ráng


chiều xám ngắt, anh về đến nhà. Từ trên mình ngựa, anh


loạng choạng bước xuống. Một cảm giác nóng hập, lạnh buốt


chạy khắp người anh. Lát sau, anh mê đi. Trong cơn mê bất


chợt, anh có ấn tượng đang bồng bềnh giữa một bầu trời và


mặt đất lấp lóa ánh bạc. Anh đi dưới mưa tuyết gần trọn một


ngày. Và cả lúc này, trong cơn mê.


*


Ngồi bên cửa, chợt bà Giàng Kả đứng lên ngơ ngác nhìn


quanh nhà. Im ắng quá! Từ lúc đi làm với các xã viên đến


giờ, bà đứng ngồi không yên. Chỗ mèn mén đồ lúc sẩm tối,


bây giờ đã nguội ngắt, bà vẫn chưa buồn ăn, bởi chú bé sáng


hôm nay thầy giáo Cối đưa lên bệnh viện, chính là con bà. Bà


chỉ có một mình nó. Lúc này nó ra sao? Chắc nó ốm to, cô y


tá mới phải đưa lên huyện điều trị. Liệu ông bác sĩ đeo kính


trắng có chữa cho nó khỏi như mấy đứa trẻ ở bản này dạo


trước không? Ngoài trời vẫn rét như chưa bao giờ rét như


thế, vậy mà ruột gan bà lại nóng như lửa đốt. Bà lại ngồi


xuống, im lặng, bên bếp. Lửa đã rạc, các mẩu củi choãi ra


chung quanh.


Cô y tá đẩy cửa bước vào rồi đóng sập cửa lại. Dáng


điệu tất tưởi của cô khiến bà Giàng Kả lo sợ. Bà ngước nhìn


cô, tỏ ý muốn hỏi bệnh tình đứa con.


Ti¬u thuy!t Ti¬u thuy!t 885


- Thầy giáo về rồi. Cháu đến hỏi thì được biết em A Pá


bị sốt nhiều nhưng được đưa lên bệnh viện kịp thời nên


không có gì đáng lo. Độ một tuần là em khỏi. Cháu sẽ lên


bệnh viện đón em về.


Bà mẹ trút hơi thở nén ép trong lồng ngực. Như những


lúc đi nương về, bà thả cái lù cở đầy ắp đeo sau lưng, xuống


đất. Bà quều quào tựa hồ muốn nắm lấy tay cô y tá.


- Dà! Bây giờ bụng tôi mới đỡ lo. Tôi ơn cô đấy, cô y tá à.


- Đấy là nhiệm vụ của cháu mà. Bà dành lời tốt cho thầy


giáo mới đúng. Thầy giáo đưa em A Pá lên bệnh viện về,


đang sốt đấy. Cháu dặn bà, từ nay bà hay em A Pá có ốm thì


nên ra trạm y tế ngay, đừng để ốm nhiều mới ra. Mới có


bệnh, dễ chữa hơn là lúc bệnh đã nặng...


Bà Giàng Kả không chú ý đến lời dặn dò của cô y tá. Bà


đang nghĩ đến thầy giáo dạy ở trường, xã.


- Thầy giáo tốt lắm. Thỉnh thoảng thầy đến đây dạy


A Pá học. Trong nhà có việc gì nặng nhọc, thầy thường giúp


đỡ. Thầy là người Kinh mà tốt với người Mèo lắm. - Chợt


nhớ ra, bà hỏi - Thầy giáo cũng ốm à? Thương quá!


- Hôm nay rét nhiều, đường lại xa nên thầy giáo bị cảm


lạnh nhưng không sao đâu. Tiêm thuốc, uống thuốc ít hôm


là thầy khỏi thôi. - Cô y tá đứng dậy - Cháu đến báo tin em


A Pá cho bà yên tâm, bây giờ cháu phải đi thăm mấy


người ốm.


Vẫn với dáng đi vội vã, cô y tá thoắt ra cửa. Rồi biến vào


bóng tối. Cái bóng mũ mờ ánh bông hoa tuyết đang buông


xuống. Không biết mệt mỏi. Còn lại một mình bà Giàng Kả


trong căn nhà im ắng. Bà chưa thật yên tâm. Dù sao cô y tá


cũng đã cất mối lo cho bà. Bà dọn mèn mén ra ăn. Bỗng có


tiếng đẩy cửa khe khẽ. Sau đấy, một bóng người luồn qua


khung cửa mở hé, bước vào. Một người già dáng thấp nhỏ,


khuôn mặt khô lạnh như đá đẽo. Bộ quần áo chàm đã bạc,


ướt gần hết trên người lão ta bã ra, buông lõng thõng. Lão


mú cống. Chẳng nói chẳng rằng, lão ta sà xuống bếp lửa, giơ


hai bàn tay xám nhợt ra sưởi. Hai hàm răng trơ lợi đánh vào


nhau thành tiếng. Bà Giàng Kả đặt bát xuống, ân cần nói:


- Tiện bữa, mời mú cống cùng ăn.


- Tôi ăn rồi. - Lão thầy cúng lơ đãng đáp, không ngoảnh


đầu lại.


Bà Giàng Kả ăn vội cho xong bữa. Rồi lấy bắp ngô lùi


vào bếp. Trong khi đó, lão thầy cúng run lập cập bên đống


lửa. Khói ở mồm lão ta phều phào phả ra. Khói ở bộ quần áo


ướt mèm bốc lên. Nom lão như đống khói hun.


Trước kia, cũng như phần đông dân bản, bà Giàng Kả


tin tưởng nể sợ các thầy cúng. Đối với lão này, thuộc từng


"cái ma" ở mỗi nhà trong bản, trong xã, bà càng tin tưởng, nể


sợ. Đã nhiều lần lão ta được uống rượu, ăn thịt gà, nhận bạc


trắng ở nhà bà. Nghe lời cán bộ giải thích, bụng bà sáng dần.


Mỗi khi trong nhà có người đau ốm, hoặc gặp chuyện gấp


khác, bà không đón lão ta về cúng "cái ma" nữa. Mặc dù vậy,


bóng "cái ma", đôi lúc còn lởn vởn trong đầu óc bà. Và mỗi


lần lão ta đến nhà, bà vẫn tiếp đãi tử tế. Lúc này cũng vậy, bà


lật đật đặt chảo lên bếp, nấu nước mời lão ta uống.


- Bà Giàng Kả à! - Lão thầy cúng ậm è lên tiếng.


Bà Giàng Kả định thả bắp ngô cháy đen, khói bốc ngùn


ngụt vào chảo nước liền dừng tay, ngoảnh lại:


Ti¬u thuy!t Ti¬u thuy!t 887


- Mú cống bảo gì?


- Sáng hôm nay trạm y tế đưa thằng A Pá lên bệnh viện


huyện phải không?


- Đúng đấy, mú cống à. Nó ốm nhiều phải đưa lên huyện


cho ông bác sĩ chữa mới chóng khỏi.


- Nó đi với cô y tá à?


- Cô y tá bận, thầy giáo đưa nó đi đấy. Thầy giáo


tốt lắm.


- Thầy giáo là người Mèo ta à?


- Không phải. Thầy giáo là người Kinh.


Lão thầy cúng hấp háy mắt. Cặp môi xám xịt bặm lại


quanh cái mồm lép kẹp. Thấy lão ta lặng ngắt, bà Giàng Kả


đâm nghi ngại:


- Thằng A Pá đi như thế có nên không, mú cống?


- Không nên đâu... - lão ta đận đà trả lời. - Chử lầu đang


làm mưa trắng, người còn không dám ra khỏi nhà, cái ma


dám đi theo thằng A Pá à? Cái ma ghét người Kinh. Thằng A


Pá đi với người Kinh, nó có đi giữa đường nó cũng bỏ thằng


A Pá đi chỗ khác. Tôi lo cho thằng A Pá đấy.


"Cái ma" bỏ thằng A Pá! Bất giác bà Giàng Kả choáng


người. Bắp ngô cầm ở tay rơi tõm xuống chảo nước. Bà nhìn


lão thầy cúng chằm chằm. Nếu như "cái ma" đôi lúc vẫn còn


làm bà lo sợ thì chính là lúc này đây. Thằng A Pá là đứa con


độc nhất của bà. Nó lại đang ốm. "Cái ma" mà bỏ nó, nó sống


làm sao được?


- Có đúng thế không, mú cống. - Bà Giàng Kả hỏi, giọng


đã hơi lạc đi.


- Để tôi xem đã.


Nói đoạn, lão thầy cúng lấy ra hai mảnh trúc, gieo


xuống đất. Rồi lắc đầu, giọng nhẽo nhợt:


- Cái ma lạc thằng A Pá rồi!


Bà Giàng Kả tái mặt.


- Làm sao bây giờ, mú cống? - Bà nói tiếp gần như nghẹn


ngào. - Tôi chỉ có một mình thằng A Pá... Chồng tôi lại vừa


tuột sức.


Lão thầy cúng ngồi gập lưng bên đống lửa chợt


nhổm dậy:


- Phải cúng cái ma, dụ nó về với thằng A Pá thôi. Cúng


ngay bây giờ, nếu không cái ma đi xa không biết đường về. -


Lão khẽ dằn giọng, vẻ trách móc - Tại bà mở lòng quá tin con


y tá người Pa Dí với thằng thầy giáo người Kinh đấy. Chúng


nó nói lời hay lời tốt, nhưng bụng chúng nó có lá độc, ác lắm.


Biết lỗi, bà Giàng Kả đứng ngây ra. Lão thầy cúng giục.


- Bà sửa lễ cúng cái ma đi. - Lão thầy cúng nhìn vọng ra


bên ngoài - Trời đất này, cái ma dễ lạc lối đấy.


Bà Giàng Kả lật đật đi làm thịt gà, nấu cơm nếp. Rồi lật


đật chạy đi mua rượu. Khi nhà chủ sửa soạn lễ vật xong,


người ngợm, quần áo lão thầy cúng đã được hong khô. Và


cặp mắt kèm nhèm của lão ta sáng lên. Lão ề à cúng "cái ma".


Chỉ một lúc sau là cúng xong. Bởi lão ta đang đói ngấu. Theo


lệ thường, gia chủ kính cẩn đặt mâm lễ vật trước mặt


mú cống. Không đợi bà Giàng Kả có lời lẽ, lão thầy cúng gập


lưng lại, mặt cúi gằm. Uống rượu. Ăn thức nhắm. Miếng thịt


gà, cục xôi vừa tọt vào mồm đã tuột xuống cổ. Vừa nhìn


trộm lão ta, bà Giàng Kả vừa nghĩ đến cái ma đang bay vật


vờ như làn khói bếp! Mấy lần bà mấp máy môi toan hỏi rồi


lại thôi. Mú cống đang hưởng lộc "cái ma". Mấy phút sau, lão


ta đưa tay áo quệt ngang mồm. Mâm lễ vật chỉ còn lại một


đống xương gà với chiếc vỏ chai nằm lăn lóc một bên. Lão ta


thì chống tay ra phía sau, phưỡn bụng thở ậm ạch.


- Mú cống à! "Cái ma" đã về với thằng A Pá chưa? - Bà


Giàng Kả rụt rè hỏi:


- Để tôi xem đã.


Uể oải, lão thầy cúng gieo hai mảnh trúc xuống đất. Rồi


ghé sát cặp mắt đã đỏ hoe xem quẻ bói.


- "Cái ma" chưa về với thằng A Pá đâu... - Lão thầy cúng


buông một câu lạnh nhạt - Nó lạc lối thật rồi. Mà nó có tìm


được đường, không chắc nó vào được chỗ thằng A Pá nằm.


Bệnh viện ghét "cái ma" mà...


Bà Giàng Kả lại biến sắc.


- Làm sao bây giờ, mú cống?


- Phải đưa ngay thằng A Pá về nhà, rồi lại cúng cái ma.


Biết nhà, biết bản, cái ma mới tìm được lối về với thằng


A Pá... Không có cái ma người Mèo ta không sống được!


Lão thầy cúng vừa nhắc lại cái câu cửa miệng của lão ta.


Nói nhiều rồi, nói mãi rồi, vậy mà mỗi khi lão ta nói lại, có


những người vẫn tưởng như tiếng gió rú, tiếng chim lạc


trong bóng đêm. Nghe rờn rợn. Lúc này, bà Giàng Kả cũng


thấy thế. Nghe rợn quá! Bà liền thốt một câu với tất cả sự oán


giận chất chứa trong lòng bà từ nãy tới giờ:


- Con y tá người Pa Dí, thằng thầy giáo người Kinh


đúng là có lá độc trong bụng. Chúng nó ác quá!


Lão thầy cúng ngửa mặt lên mái nhà, giọng lè nhè:


- Con trâu một mình không biết lội ruộng, đi cày đâu.


Phải có người cầm cái dây khiếu buộc ở lỗ mũi nó, giật nó


mới biết lối mà đi... - Có lẽ lão ta biết nói chữ nghĩa trong


bụng bà Giàng Kả không hiểu nổi. Lão ta liền hạ thấp giọng:


- Bà Giàng Kả à! Chính thằng A Dếnh, thằng Hoàng


Phúc, con Seo Mỉ... bụng mới ác. Chúng nó bắt người Mèo ra


trạm y tế uống thuốc, không được cúng cái ma để người Mèo


phải khổ. Chúng nó ác lắm.


Hình ảnh cái ma đã ngự trị trong tâm trí bà Giàng Kả. Bà


sợ cái ma. Bà thương đứa con. Phải đưa nó về ngay để cái ma


tìm về với nó. Bà xô cửa bước ra. Ngất ngưởng, lão thầy


cúng bước theo. Cơm no, rượu say rồi, lão ta phải đi tìm


chỗ ngủ.


Bà Giàng Kả đi thẳng đến nhà A Dếnh. Anh bí thư chi


bộ đang ngồi bên bếp với thằng A Páo, con anh. Anh đang


thủ thỉ với nó, chợt bà Giàng Kả xăm xăm đi vào. Ngạc


nhiên, anh nhìn bà ta không chớp mắt.


Bà Giàng Kả đang oán giận A Dếnh. Cái cảnh yên ấm,


đứa con ngồi trong lòng bố, mẹ ngồi xé lanh bên cạnh, khiến


bà càng nghĩ đến con mình. Và bà càng oán giận anh. Nhưng


thật là lạ! Bóng dáng người cán bộ lãnh đạo có cái nhìn thẳng


thắn đôn hậu đấy, thoáng chốc, đã làm cơn nóng giận của bà


dịu đi. Dường như bà chỉ còn thấy bối rối.


- Anh A Dếnh à! - Bà Giàng Kả ngập ngừng - Anh bảo cô


y tá... đem thằng A Pá đem trả về cho tôi đi.


A Dếnh sửng sốt:


- Sao lại thế, bà Giàng Kả? - Anh bồng con, chuyền cho


vợ, đoạn xoay người lại, - Bà ngồi xuống đây đã, thằng A Pá


đang được bệnh viện điều trị, độ một tuần là khỏi, sao lại


đưa nó về? Có kẻ nào xui bà làm như thế phải không?


Bà Giàng Kả ngượng nghịu ngồi xuống và nín lặng.


- Hay là mú cống xui?


- Mú cống đấy... - Bà Giàng Kả ấp úng. - Mú cống bảo


phải đưa nó về nhà, cái ma mới về với nó.


A Dếnh nhíu mày:


- Chính quyền, đoàn thể đã nhiều lần nói với bà, đừng


tin bọn mú cống mà bà không nghe. Họ chỉ nói láo để kiếm


ăn. Lão mú cống đã cúng cái ma ở nhà bà chưa?


- Vừa cúng xong.


A Dếnh thở như hắt ra:


- Thế là bà lại mất không chai rượu, con gà với ít gạo


nếp rồi. Giá bà để những thứ này, hôm nào A Pá khỏi bệnh


về bồi dưỡng cho nó có hơn không. Bà nghĩ sai quá.


Bà Giàng Kả ngẩn người ra, quen miệng, bà hỏi anh bí


thư chi bộ:


- Làm sao bây giờ, anh A Dếnh? Bụng tôi tối quá rồi.


- Bây giờ bà về đi ngủ cho thật đủ con mắt, sáng mai đi


lao động cho hợp tác xã. Còn A Pá, nó đang được ăn tốt,


uống thuốc tốt, mấy hôm nữa nó sẽ về đi học. Ở bệnh viện


chỉ có người lành người tốt, không có ai ác, ai xấu như bọn


mú cống. Bà cứ yên tâm. - Bỗng A Dếnh lại nghiêm mặt - Lão


mú cống còn ở đấy không?


- Lúc tôi đến đây, mú cống đi về.


Không mấy khi A Dếnh nổi nóng như lúc đó. Mắt anh


long lên, giọng rin rít qua kẽ răng:


- Lão mú cống này không những lợi dụng cái ma để ăn


bám mà còn muốn phá hoại hợp tác xã, phá hoại bản người


Mèo, phá hoại đoàn kết các dân tộc. Tôi sẽ nói lý phải với


lão ta.


12


Có tiếng đẩy cửa nghe như tiếng gió đùa. Không chú ý,


A Cấu ngồi yên, hai đầu gối nhô lên hai bên mang tai. Tiếp


đến tiếng bước chân êm nhẹ. Bấy giờ hắn mới ngước mặt


nhìn ra. Một người lạ mặt đang đi lại chỗ hắn, bên bếp lửa.


Ai thế? Một người đàn ông trạc tuổi hắn, mặc quần áo chàm,


bên ngoài phủ chiếc áo chẽn bằng vải thô. Khuôn mặt to, má


xệ với nước da bì bì của người nghiện rượu. Người lạ mặt


ngồi xuống cạnh hắn.


- Ông A Cấu không nhớ ra tôi à? Tôi với ông ở cùng một


trung đội lính Châu Quáng Lồ ngày trước, ông quên rồi à? -


Tiếng người lạ mặt nhỏ nhẹ như tiếng bước chân hắn.


A Cấu ngó trân trân. Quả thật, suốt ngày ngồi bên bếp,


con mắt quen nhìn ánh lửa, hắn chưa nhận ra người kia.


Ngay sau đấy, hắn "ầy!" một tiếng khe khẽ rồi nói:


- Ông Lù Dớ! Lâu lắm tôi với ông mới lại gặp nhau. Có


đến nhiều mùa lúa rồi đấy.


- Phải đến bảy, tám mùa lúa rồi. - Lù Dớ vui vẻ bắt


chuyện. - Từ ngày ấy đến giờ ông vẫn ở bản này chứ?


- Tôi vẫn ở bản này thôi. Cái chân leo núi biết mỏi rồi,


không muốn đi đâu nữa.


- Tôi thì vẫn hết quả núi nọ đến quả núi kia, bao giờ


nương gầy lại kéo cái cối xay bắp đi như người Mèo ta


ngày trước.


- Được nhiều tuổi rồi, sao ông không về bản mà ở? Các


nhà ở quanh núi Dình Chinh chuyển về bản này cả rồi.


Lù Dớ lắc đầu, rung mái tóc xõa xuống vành tai:


- Bụng tôi không muốn cái "tập thể", "đi họp", "chính


sách", "học tập"... nên phải ở xa bản làng. Các ông mú cống


nói: Ông Chày đẻ ra bầu trời. Bà Chày đẻ ra mặt đất. Đất nứt


ra con trai Dầu Âu, con gái Gầu Á, tổ tiên người Mèo. Người


Mèo ta chỉ biết ở một mình trên núi cao, làm ruộng lúa,


nương bắp mà ăn thôi.


A Cấu lặng thinh. Những câu Lù Dớ vừa nói, không


phải làm cho hắn nghĩ ngợi. Trước kia, người Mèo sống dọc


ngang như thế thật. Trên đầu là trời; dưới chân là đất; trước


mặt, ruộng lúa; sau lưng, nương ngô. Và chung quanh trùng


điệp mây mù. Nhưng bây giờ mọi sự đã đổi thay. Tốt hay


xấu? Hắn còn đang suy nghĩ. Điều mà hắn có thể biết ngay


đó là Lù Dớ vẫn như trước. Lù Dớ vẫn sống dọc ngang như


thời làm lính phỉ cho Châu Quáng Lồ. Như vậy, hắn không


phải giữ kẽ.


Lù Dớ đảo mắt nhìn quanh. Rồi dò hỏi sau phút im lặng


kéo dài:


- Ông ở nhà có một mình thôi à?


- Một mình thôi. Vợ tôi với thằng cháu đi làm cho hợp


tác xã. Rét quá, tôi không đi làm được nên ở nhà.


Lù Dớ suồng sã vỗ vai A Cấu:


- Ông còn hút thuốc phiện không?


A Cấu ậm ừ:


- Còn đấy... Nhưng mà không có thuốc hút đầy như


ngày trước. Kiếm được ít thuốc, lại phải vào rừng, vào hang


hút giấu... Khổ lắm!


Lù Dớ moi túi áo trong, lấy ra một cái gói bọc trong


mảnh vải, đưa cho A Cấu:


- Anh em lâu lắm mới gặp nhau, tôi mừng quá. Quà của


tôi đây.


A Cấu liền mở cái gói ra. Đó là một nắm giấy bản quyện


với một chất nhựa màu nâu thẫm. Một mùi ngái, hắc xộc lên


khiến hắn hắt hơi mấy cái liền. Và nước mắt, nước mũi trào


ra. Nhựa! Nhựa cây thuốc phiện. Bỏ nắm nhựa này vào cái


xanh, đổ rượu vào, đun lên rồi lọc là thành thuốc hút. Chỗ


này nấu ra phải được dăm cóng, hút mươi ngày mới hết.


Hắn không lạ gì cái chất nhựa này. Trái lại, hắn quen thuộc


nó như món mèn mén ăn hàng ngày. Vậy mà hắn vẫn ngây


mặt ra ngắm. Rồi đưa lên mũi, hít một hơi dài. Hai cánh mũi


hắn phập phồng như cánh mũi con ngựa đang thở gấp.


- Ông Lù Dớ biết thương tôi đấy! - A Cấu nói bằng một


giọng xúc động. Rồi ngước nhìn Lù Dớ. - Sao ông không để


mà hút lại cho tôi?


Lù Dớ cười nhạt:


- Tôi không nghiện thuốc phiện mà. Tôi chỉ nghiện cái


này thôi. - Hắn lấy chiếc bi đông nhựa để trong cái túi gai


đeo ở vai ra, đặt trước mặt - Ngày nào tôi cũng phải uống.


Không có nó, con mắt không biết nhìn, cái tai không biết


Ti¬u thuy!t Ti¬u thuy!t 895


nghe. Dà! Tôi thiếu rượu cũng khổ như ông thiếu thuốc


phiện đấy.


- Ngày trước, người Mèo ta không hút thuốc phiện, phải


uống rượu, đúng không ông Lù Dớ?


- Đúng đấy, ông A Cấu à! Ở trên núi cao, không hút


thuốc phiện, uống rượu buồn lắm. Ông Dầu Âu, bà Gầu Á,


tổ tiên người Mèo, nếu còn sống cũng phải uống rượu, hút


thuốc phiện thôi.


Thế là đôi bạn cũ lâu ngày mới gặp lại, hiểu nhau thêm.


A Cấu nhoài người, giấu gói nhựa vào góc nhà. Lù Dớ với


hai cái chén, rót rượu ra. Mỗi người cầm lấy một chén, uống


từng hớp nhỏ. Và cả hai đều im lặng. Hình như họ đang theo


đuổi những ý nghĩ riêng. Căn nhà đột nhiên rơi vào một sự


im lặng ngột ngạt như lúc trời sắp nổi cơn dông.


Lù Dớ chợt nói, nét mặt thản nhiên:


- Trại chăn nuôi của hợp tác xã Lù Chải hồi này to đấy.


Lù Dớ vừa lái sang chuyện khác. Hắn có tình ý gì đây?


A Cấu chưa đoán ra.


- Trại chăn nuôi này vừa nuôi thêm lợn, chăn một đàn


bò nữa. Hợp tác xã Lù Chải vừa tổ chức lại sản xuất mà. - A


Cấu nói cho xuôi chuyện.


- Giá trâu, bò hồi này cao lắm, ông A Cấu à. Có mấy con


mà bán, đếm mỏi tay không hết tiền.


A Cấu liếc nhìn Lù Dớ đang cúi xuống rót rượu. Đoán ra


một phần ý đồ của thằng bạn cũ, hắn liền né tránh:


- Tôi không có trâu bò nên không được biết giá.


- Không có, ta đi kiếm khắc có.


- Kiếm ở đâu được? Tôi còn chưa biết đấy.


Lù Dớ ngồi nhích lại, sát bên A Cấu. Rồi hạ giọng:


- Ở trại chăn nuôi. Ngoài đấy có cả một đàn mà...


A Cấu làm ra vẻ ngớ ngẩn:


- Trại chăn nuôi nào?


- Trại chăn nuôi của hợp tác xã Lù Chải chứ còn trại


chăn nuôi nào nữa? Bụng ông tối đi rồi đấy.


Ý đồ của Lù Dớ đã rõ như con đường mòn lúc ông mặt


trời dậy. A Cấu không phải dò dẫm tìm lối đi nữa. Lù Dớ lại


muốn làm thằng phỉ rồi! Nó còn muốn mình làm thằng phỉ


như nó. Chính bụng nó mới tối, tối quá đấy... Nghĩ vậy, A


Cấu bỗng thấy lo ngại.


- Không được đâu ông Lù Dớ à! Trại chăn nuôi có nhiều


người, lại có cả súng, không lấy nổi bò của chúng nó đâu... -


A Cấu can ngăn Lù Dớ.


- Ông quên ông với tôi là hai thằng phỉ cũ à. Thời Châu


Quáng Lồ, thằng phỉ muốn lấy trâu, ngựa của ai, nó kề mã


tấu vào cổ đứa ấy rồi dắt trâu, ngựa đi. Bây giờ có bộ đội


công an, dân quân, thằng phỉ không làm thế được nữa thì nó


lấy cắp. Con bò không phải cái vòng bạc, gói nhựa tôi vừa


cho ông mà đem giấu kín được. Tôi với ông mà lòng cùng


lòng ta lấy được thôi.


A Cấu lắc đầu:


- Tôi thấy khó đấy. Hay là ông cứ làm một mình. Còn


tôi, tôi thề với Chử lầu không hé việc này cho ai biết.


Lù Dớ dịu giọng:


- Nếu tôi làm một mình được, tôi không phải đi tìm ông.


Ông ở đây lâu, biết các đường hiểm, đường tắt, biết lúc nào


nên đi, lúc nào nên đến không thì khó thật đấy. Tôi chỉ nhờ


ông việc ấy thôi. - Lù Dớ kích động A Cấu - Trước khi đến


đây, tôi tưởng ông vẫn là Vàng A Cấu ngày trước, không


ngờ lá gan ông bé quá rồi.


Câu nói cuối cùng của Lù Dớ đã điểm đúng huyệt


A Cấu. Dòng máu hung bạo giần giật trong người tên phỉ cũ.


Tuy nhiên, hắn chưa hết lo sợ. Hắn lặng thinh, nét mặt đăm


chiêu. Biết cái cây sắp đổ, Lù Dớ bồi thêm mấy nhát búa nữa:


- Ông nghiện thuốc phiện mà lại không có thuốc hút. Tôi


nghiện rượu mà không có rượu uống. Con bò, lợn thì chúng


nó để đầy ngoài trại. Ông trời lòng không công nên ta mới


phải khổ. Ta chịu mãi thế này được à? Đất gầy phải đi tìm


đất. Đấy là cái lý người Mèo. Không có thuốc phiện, rượu,


thịt, phải tìm cho có. Đấy là cái lý của phỉ. Ta cũng có lý phải


chứ, ông A Cấu!


A Cấu vẫn lặng ngắt. Hắn vừa sực nhớ đến những cơn


đói thuốc phiện. Mắt mờ, tai ù. Ruột gan cồn cào. Các khớp


xương như có kiến bò. Khổ nhục quá! Một cái gì tựa như sự


phẫn nộ trào lên trong lòng hắn. Và hắn cố nén.


- Ông định thế nào, nói rõ đi, ông Lù Dớ! - Phút sau,


A Cấu khẽ hỏi.


Lù Dớ thì thào:


- Tôi định đêm nay...


- Ta nên để đêm khác. - A Cấu ngắt lời Lù Dớ. - Để tôi


xem ngoài trại chăn nuôi ra sao đã.


- Ông không cần phải xem. Đêm hôm qua, tôi rình ở


ngoài đấy rồi. Vào lúc con gà gáy lần thứ nhất, tôi thấy


Giàng Vần cầm đèn đi soi chuồng trại rồi vào nhà ngủ. Nó


ngủ say như con gấu no mật khoái ngủ trong hang, một lúc


lâu lắm không mò ra nữa. Đêm hôm nay, vào lúc ấy, ta lẻn


vào, dắt bò ra thì chỉ có ông trời, bà đất biết.


A Cấu ra vẻ còn ngần ngại. Hắn nhìn vọng ra xa, phía


cái trại chăn nuôi nằm lọt vào giữa các mỏm đất. Ở đấy có


trưởng trại Giàng Vần. Châu Quáng Lồ, Lý Seo Tả, Lìu Xính


Sình, các thằng trùm phỉ ấy có sống lại họa chăng mới dắt


nổi bò của hợp tác xã Lù Chải. Nghĩ vậy, hắn im lặng, mắt


lim dim nhìn ánh lửa. Đoán biết tâm trạng A Cấu, Lù Dớ liền


trấn tĩnh hắn:


- Không lo. Ông biết cái đồng cỏ gianh nhỏ ở cách trại


mấy tầm nỏ không?


- Biết chứ.


- Đêm hôm nay, vào lúc con gà gáy lần thứ nhất, ông ra


chỗ đấy, chui vào đấy nằm cho kín, lại đỡ rét. Còn tôi, tôi


vào trại dắt bò ra cho ông giữ để tôi quay vào dắt chuyến


nữa. Xong rồi, ta đi theo con đường hiểm ra bờ sông La Hờ,


chỗ quả núi đá con voi. Ông biết chỗ ấy không?


- Biết chứ! - A Cấu vội hỏi - Đem bò ra đấy giấu à?


- Sao lại giấu? Ta bán ngay chứ. Tôi hẹn người ra đấy


mua rồi. - Lù Dớ khẽ hích khuỷu tay vào cạnh sườn A Cấu,


nhếch mép cười, - ông làm xã viên, không biết làm phỉ nữa


rồi. Nếu được cả đàn bò của Giàng Vần, tôi bán trong đêm


nay cũng hết, - chợt hắn nghiêm mặt - Tôi dặn ông cứ nằm


trong đồng cỏ gianh đợi tôi dắt bò ra, không đi đâu cả. Nếu


Chử lầu lòng không thương ta, chúng nó biết thì ông tìm


đường về nhà ông, tôi về nhà tôi. Tôi nói thế chứ đêm nay


Giàng Vần phải mất mấy con bò với ta. Bán xong, tôi sẽ chia


cho ông ba trăm. Được không, ông A Cấu?


- Được đấy... - A Cấu gượng đáp.


Lù Dớ lại rót rượu ra chén. Rồi cầm một chén đặt vào


tay A Cấu. Giọng hắn nghe lành lạnh:


- Chắc ông chưa quên lời nguyền của phỉ, nhưng tôi


nhắc lại, nếu không may ông bị bắt, ông không được khai ra


tôi. Tôi mà bị bắt, tôi không được khai ra ông. Nếu làm sai,


khi nào gặp lại nhau, ta không uống rượu mà uống máu


nhau đấy, ông A Cấu à!


Dường như A Cấu đã hăng máu. Hắn khẽ vỗ vào ngực:


- Tôi là thằng phỉ cũ mà.


Lù Dớ đứng phắt lên:


- Cứ thế nhé! Tôi đi đây.


Hắn nhẹ chân bước ra cửa, đoạn biến đi. A Cấu vẫn ngồi


nguyên chỗ ấy. Mặt hắn bỗng đờ ra, cánh mũi phập phồng.


Hắn vẫn còn đang lo ngại? Không, hắn đang nghĩ đến số tiền


Lù Dớ sẽ chia cho hắn. Ba trăm! Ngần ấy tiền mua được bao


nhiêu thuốc phiện? Bấy nhiêu thuốc, hút được bao nhiêu


đêm? Ba trăm! Nhiều đấy!


A Cấu ngồi bên bếp, chờ đợi. Hắn mong thời gian trôi


nhanh. Hắn cầu cho đêm hôm nay, thời tiết vẫn như thế này.


Mưa trắng và rét buốt. Và Giàng Vần lại ngủ mê mệt như


đêm hôm qua. Thời gian không bay như cánh chim mà bò


như con ốc sên. Chốc chốc hắn lại nhìn qua khe cửa ra bên


ngoài. Ruột gan hắn nóng như chàm lửa. Nhưng rồi trời ngả


về chiều. Rồi bóng tối sập xuống. Sau đấy, đêm ngả về


khuya. Có tiếng gà đập cánh, cất tiếng gáy. Hắn đảo mắt


nhìn quanh. Sau một ngày đi lao động cho hợp tác xã, vợ


hắn, cháu hắn đã ngủ say. Hắn rón rén bước ra, áp tai vào


cánh cửa, lắng nghe. Chỉ có tiếng gió. Và lúc gió ngừng thổi,


tiếng tuyết rơi gờn gờn trên tàu lá. Hồi hộp, hắn đẩy cửa


đi ra.


A Cấu như cái bóng ma. Hắn len lỏi giữa các bụi cây,


dưới các khe đồi. Hai cánh tay bắt tréo trước ngực, người thu


lại. Chân bước nhanh, nhẹ, hầu như không gây một tiếng


động. Hắn chưa quên mình đã từng đeo pạc hoọc, xách mã


tấu đi theo Châu Quáng Lồ. Mặc dù vậy, lúc này hắn vẫn lo


sợ. Nhiều lúc, lo sợ quá, hắn toan quay về. Nhưng rồi hắn


bước đi. Sai lời hẹn với Lù Dớ không được đâu. Lần sau, nó


không cho thuốc phiện mà cho một nhát dao! Vả lại, số tiền


mà Lù Dớ hứa chia cho hắn không đến nỗi ít. Ba trăm! Nhiều


đấy... Hắn lấm lét đi trong bóng đêm. Rét như cắt da mà hắn


vã mồ hôi. Ra đến nơi, hắn chui vào giữa cánh đồng cỏ


gianh, nằm ẹp xuống. Lù Dớ ở đâu? Bao giờ hắn dắt bò


ra đây?


Lù Dớ đang tháo gióng một ngăn chuồng bò. Vừa làm,


hắn vừa chăm chú nghe các tiếng động. Tiếng đuôi bò quật


bình bịch vào hông, đuổi muỗi. Tiếng bò ăn cỏ, nhai sồn sột


trong bóng tối. Chỉ có thế. Còn bác trưởng trại và mấy anh


trại viên, bọn họ đang ngủ mê mệt như mấy con gấu say mật


khoái. Trong bóng tối mờ mờ, hắn đếm được bốn con bò


tháu nhốt trong ngăn chuồng. Bốn con, hai chuyến vừa gọn!


Chắc A Cấu đang đợi ở đấy. Sự suy nghĩ của hắn thình lình


bị cắt ngang bởi ánh đèn pin vừa rực sáng. Lộ rồi! Hắn chưa


kịp rút thanh mã tấu đeo bên sườn, ánh điện đã phần phật


rọi vào mặt hắn. Hoảng hốt, hắn phá chạy.


- Bắt lấy thằng phỉ!


Tiếng bác Giàng Vần thét giật giọng. Lập tức, hai anh


thanh niên choàng dậy, lao theo Lù Dớ. Hắn chạy nhanh như


con sóc. Bác trưởng trại giật vội cây súng đeo ở vai, lên đạn,


bóp cò. Chíu! Tiếng viên đạn bay ngay trên đầu khiến hắn


hoảng hồn, ngã sấp xuống đất. Ngay sau đấy, hai cánh tay


hắn bị bẻ quặt ra đằng sau. Chỗ ấy không xa cánh đồng cỏ


gianh, nơi A Cấu đang ngồi thu mình. Tiếng bác trưởng trại


thét. Tiếng súng nổ. Tiếng bước chân rầm rập... Hắn nghe


không sót một tiếng. Lù Dớ bị bắt rồi! Hắn ép người xuống


như tàu lá mục dán dưới đất. Người hắn lạnh toát đi. Mãi


đến lúc tiếng bước chân giải tên phỉ về xã nghe đã xa lắc, hắn


mới hoàn hồn. Hắn chui ra khỏi cánh đồng cỏ, thất thểu đi


về nhà.


Bây giờ A Cấu lại ngồi đây, một mình bên bếp. Lửa đã


tắt từ lúc nãy. Đám than hồng sắp vạc. Vậy mà hắn không


buồn gẩy lại. Sự việc vừa xảy ra còn đang choán lấy tâm trí


hắn. Dà! Thằng Lù Dớ ngu quá! Nó được uống nhiều rượu,


ăn nhiều thịt cướp của người ta rồi mà bụng nó còn tối. Châu


Quáng Lồ chết, xác vùi trong khe núi mấy chục mùa lúa rồi,


nó vẫn tưởng thằng tướng phỉ còn sống, nó làm gì cũng


được. Nó thua Giàng Vần đúng quá! Xỉ vả thầm Lù Dớ chán,


hắn lại xỉ vả chính mình. Hắn nghiến răng, khẽ rít giọng:


"Mày có chữ trong bụng mà cũng ngu quá, Vàng A Cấu à!".


Bên ngoài, trời đã hoe sáng. Chợt có tiếng động cửa. Một


bóng người gầy mỏng, cứng quèo như que củi, thấp thoáng


bước vào. Rồi ngồi thụp xuống cạnh A Cấu. Thầy cúng! Đêm


hôm qua, chắc lão ta lại ngủ nhờ nhà ai. Và sáng ra, lão ta lại


lang thang.


- Tôi đang nghĩ nhiều trong bụng. Bói cho tôi một quẻ


xem tốt hay xấu, mú cống! - A Cấu nói, vẻ tư lự.


Lão thầy cúng còn đang ngái ngủ. Đờ đẫn, lão ta moi hai


mảnh trúc gài ở cạp quần ra, gieo xuống đất. Xong, hắn nhặt


lên, gí sát vào cặp mắt kèm nhèm, ngắm nhìn.


- Xấu đấy, ông A Cấu à!


A Cấu lơ đãng hỏi:


- Xấu à? Làm sao bây giờ, mú cống?


- Phải cúng cái ma thôi.


Bất chợt A Cấu gầm lên:


- Mày uống rượu, ăn thịt gà của tao được à, mú cống?


Cút đi, con chó đói!


Lão thầy cúng ngơ ngác. Lão ta không hiểu tại sao A


Cấu trở mặt nhanh đến thế. Song hắn ta không tức giận. Tay


chống vào đầu gối, lão ta từ từ đứng lên. Rồi đi bước một ra


cửa. Lão ta đi đâu đấy? Đến nhà A Dếnh. Anh bí thư chi bộ


có nhắn lão ta, ngày hôm nay, đến nhà anh.


(còn tiếp)


Nguồn: Seo Mỉ, Di cảo của cố nhà văn Đỗ Quang Tiến, cuối tập bản thảo có ghi: “Hoàng Liên Sơn, mùa hè 1978”. Hơn hai chục năm sau khi nhà văn qua đời, các con ông mới tìm thấy bản thảo này. Seo Mỉ - 449 trang in khổ 14.5 x 20.5 cm- lần đầu tiên được in thành sách trong bộ Đỗ Quang Tiến – Tác phẩm chọn lọc, 1250 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm. NXB Văn học, 2017.


Nhà báo Đỗ Quang Hạnh, con trai nhà văn, gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 26.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »