tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28831797
Tiểu thuyết
07.06.2019
Đỗ Quang Tiến
Seo Mỉ


Có lẽ anh bí thư chi bộ rất tự tin. Anh dẽ dọt nói:


- Tôi nghĩ khác cô. Tôi không nghi cho ông Mí Cháng vì


ông ấy chỉ nặng đầu óc mê tín dị đoan, quá sợ "cái ma" chứ


không phải là kẻ phản động muốn chống lại đường lối chính


sách. Lẽ nữa, việc cho mực tím vào nước để làm cho dân bản


sợ, không dám lấy nước ở bể nữa, theo ý tôi, là hành động


của người trẻ hơn là người già. Kẻ làm việc này có tính toán,


cân nhắc trước. Nó chỉ muốn làm mất uy tín của cán bộ, làm


cho dân bản không tin ở chính quyền, đoàn thể nữa mà thôi.


Seo Mỉ ngước nhìn A Dếnh:


- Hay là... lão A Cấu?


- Tôi cũng có nghi cho lão ta vì sau khi bị phá nương


thuốc phiện, nhất định lão ta phải căm thù cán bộ, căm thù


chính quyền, đoàn thể xã. Nhưng tôi chưa tin hẳn lão ta đã


làm việc này. Lão ta là một tên phỉ cũ. Hành động của bọn


phỉ thường tàn ác, thô bạo. Chúng nó mà phá hoại là chúng


phá tan đường ống hay vò lá độc cho vào nước hoặc làm việc


gì có thể giết hại cán bộ, dân bản chúng mới nghe.


- Thế thì ai vào đây, anh A Dếnh?


A Dếnh nhíu mày, tia mắt đăm chiêu:


- Tôi chưa rõ đấy cô Seo Mỉ à! Tôi chỉ biết đây là hành


động chống đối có thể liên quan đến việc cô bị ném đất vào


mặt dạo cô đi vận động tập trung nương. - A Dếnh dằn


giọng - Bản Lù Chải cũng như các bản khác trong xã Pha


Long chưa hết phản động đâu. Trong việc tổ chức lại sản


xuất, cải thiện đời sống cho dân các bản, nếu ta không cảnh


giác, nó còn chống phá. Nhưng sớm hay muộn nó cũng sẽ bị


trừng trị. Bọn Châu Quáng Lồ, Ly Seo Tả, Lìu Xính Sình dữ


độc như con hổ, con gấu còn phải đền tội thì mấy con bọ chó


có hơi sức nào chống lại ta được.


Seo Mỉ, A Dếnh lặng lẽ bước đi. Nước ở cuộn giẻ treo ở


tay A Dếnh theo bước chân họ, thánh thót nhỏ xuống đất


những giọt tím bầm. Dòng nước chảy về làng Lù Chải chưa


trong hẳn. Trên dặm đường bản Mèo đang đi, bóng tối còn


len vào ánh sáng. Có lẽ những ý nghĩ đó quẩn vào tâm trí hai


người. Họ bước đi và cùng im lặng. Những giọt nước nhỏ


xuống mặt đường, in những hình hoa thị tím đen, đã đứt


giọt. Dường như cùng lúc ấy, bình minh xua tan bóng đêm


trong đầu họ. Rồi họ về đến bản.


Dân bản hầu hết vẫn tập trung ở đây. Nom thấy anh bí


thư chi bộ, chị chủ nhiệm hợp tác xã, họ hoan hỉ báo tin vui:


- Nước lại tốt rồi!


Đúng thế. Nước đã trong lại. Dòng nước hiền hòa đang


róc rách tuôn vào hai cái bể vừa được cọ rửa sạch sẽ. A Dếnh


đi vào giữa đám đông, cất giọng hỏi:


- Thưa dân bản! Dân bản có biết tại sao nước của ta đang


tốt lại hỏng không?


Có tiếng nhiều người trả lời cùng một lúc


- Cô y tá nói rồi.


- Người già, người trẻ biết cả rồi.


A Dếnh giơ cao cuộn giẻ lên:


- Cái chất làm cho nước tím lại là mấy cục phẩm tím gói


trong mảnh giẻ này.


Một ông già hỏi, giọng gay gắt:


- Đứa nào làm cái việc xấu, việc ác ấy, anh A Dếnh?


- Thưa người già, chính quyền chưa biết, nhưng sẽ biết.


Nó có như con bọ náu trong đám lông con chó, nó cũng sẽ bị


lộ. Lúc bấy giờ nó sẽ bị trừng trị.


Tiếng ông già lại vang dậy:


- Làm ác phải gặp ác. Phải trừng trị nó để không đứa


nào dám làm ác nữa!


A Lử cũng có mặt ở đây, hắn liếc nhìn Seo Mỉ đang


đứng gần đấy, nói bâng quơ:


- Cái chất phẩm này, nhà trường có nhiều đấy.


Câu nói của A Lử như dội vào tai Seo Mỉ. Bất chợt chị


nhớ lại cái tối Cối lấy tình đồng chí cùng chi bộ, đến thăm


gia đình mình. Lúc tiễn chân anh ra ngoài đường, chị thấy


bóng A Lử lướt qua... Có lẽ A Lử muốn dân bản nghi ngờ


thầy giáo ở trường xã đây! Bụng hắn thâm độc thật!


Seo Mỉ cũng nói trống không, đối đáp lại A Lử:


- Các em học sinh đều ngoan, không bao giờ làm một việc


dại dột như thế. Còn thầy giáo là người của Đảng, không bao


giờ thầy làm một việc ác độc như thế. Nhà trường có cái phẩm


này thật, nhưng ai muốn có, ra phố huyện Mường Khương,


thị xã Lao Cai khắc có. Không khó kiếm đâu.


Nói xong, Seo Mỉ đưa mắt nhìn về phía chỗ A Lử đứng.


Hắn đang theo mấy người đi phía trước, lấm lét quay về.


Những người khác cũng lần lượt ai về nhà nấy để còn ra


ruộng, xuống nương như thường ngày. Khi mọi người đã về


gần hết, Seo Mỉ nói với A Dếnh:


- Em lo bọn phản động lại tìm cách phá đường nước của


ta lần nữa.


- Cô không lo. Tôi sẽ huy động dân quân canh gác


đường nước, chặn tay bọn phản động lại. Tôi đi ngay bây


giờ đây.


A Dếnh quay đi. Seo Mỉ đến bên vòi nước, hứng một ít,


ngắm nhìn. Dưới tia nắng sớm, nước lóng lánh trong lòng


bàn tay. Chị bước đi song chưa yên tâm hẳn. Vừa đi, chị vừa


ngoảnh lại. Chị có ấn tượng dòng nước trắng đang đổi màu


sắc. Màu tím, màu đỏ, màu xanh... Các màu sắc lộn xộn như


bảy sắc cầu vồng, quay đảo trước mặt chị. Rồi theo chân chị


ra đến nương.


*


A Lử hé cửa, nhòm ra. Trời tối đen. Sương nặng hạt. Gió


cắt, lạnh buốt. Hắn lách qua khe cửa, bước ra ngoài. Sau đấy,


len lén đi về phía suối. Đi được một quãng, hắn chui vào bụi


rậm cạnh con đường đã trơn ướt sương đêm. Hắn ngồi đấy,


im lặng, một lúc lâu. Một lúc rất lâu nữa, mãi đến lúc gà


trong bản đã khản tiếng gáy giục, hắn mới len lén đi về nhà.


A Cấu dậy rồi. Hắn đang ngồi ngáp bên đống lửa cháy


liu riu. Thấy A Lử về, hắn hất hàm ra hiệu. A Lử vừa buông


người ngồi xuống vừa làu bàu:


- Chỉ có mỗi một người.


A Cấu ngơ ngác:


- Thật không? Người ấy là ai?


- Bà Mí Cháng.


A Cấu khẽ gằn giọng:


- Không còn ai nữa à?


- Không. Dân bản nghe con Seo Mỉ, thằng A Dếnh uống


nước chảy về bản cả rồi.


A Cấu nghiến răng, các thớ thịt quằn lên trên khuôn mặt


gày khô. Có lẽ một bên lá gan còn lại của hắn héo nốt rồi.


Hắn nói nghèn nghẹn trong cuống họng:


- Tao nói có Chử lầu biết, tao thù chúng nó! - hắn chận


bàn tay vào ngực, mắt đảo ngược. - Thằng phỉ này còn sống,


chúng nó không yên được.


8


Đã có nhiều đêm Seo Mỉ ngủ không thấy đủ mắt. Hợp


tác xã Lù Chải! Nghĩ đến nó, con mắt chị quên giấc ngủ.


Đất Pha Long xưa kia là đất rừng. Hết đời nọ đến đời


kia, người ta vung búa, dao phát phá rừng làm nương. Khi


nào nương gầy không cho ngô, lúa nữa người ta phá khu


rừng khác, làm nương mới. Mấy năm sau, nương mới cũng


gầy đi. Người ta lại phá rừng. Các cánh rừng tàn lụi dần.


Tìm được gỗ làm chuôi dao, cán cuốc còn khó đấy! - Dân các


bản khác nói thế! Rừng thu hẹp lại thì đồi trọc mọc lên. Các


quả đồi trơ trụi đều đã bị mưa lũ làm cho xói mòn. Người ta


phải vỡ ruộng bậc thang. Những thửa ruộng lắt lẻo trên lưng


đồi, đói phân tro dần cũng khô cằn. Làm cách nào cho đủ cái


ăn để sống?


Mặc dù vất vả, trước kia dân bản Lù Chải vẫn đói rách.


Từ ngày có hợp tác xã, họ không còn đói rách nữa. Mới chỉ


Ti¬u thuy!t Ti¬u thuy!t 805


được thế. Bản có nhiều đất mà vẫn thiếu đất. Đất đồi bát


ngát nhưng không biết trồng cây gì lên đấy. Trồng cây lúa


nếp, lúa tẻ hay cây ngô, cây xèo? Đất đói không thể làm cho


người no. Vì thế phải tổ chức lại sản xuất. Ban quản trị hợp


tác xã, chi bộ đã cùng nhau suy nghĩ, bàn bạc nhiều lần. Rốt


cuộc, họ đều thấy đất Lù Chải không phải là quê hương cây


lúa, cây ngô. Các cây đó chỉ làm cho con người đỡ nghèo khổ


chứ không giàu có lên được. Phải làm theo nhiều hợp tác xã


miền núi, trồng cây gây rừng. Cụ thể là phủ xanh các đồi


trọc. Song phủ xanh bằng loại cây gì? Khó quá! Seo Mỉ đã lên


huyện họp, bàn về việc này. Sau đấy, Huyện ủy, Ủy ban cử


Vàng Seo Lý về đây, nghiên cứu chất đất, xác định cơ cấu


cây trồng.


Seo Lý, chị kỹ sư lâm nghiệp người Mèo, mặc quần


“gin”, áo len, đi giầy da, đầu đội mũ kiểu trượt tuyết! Có


những cánh chim dù chỉ một lần bay ngang qua, người ta


vẫn còn nhớ. Có những bông hoa thấp thoáng bên đường, đi


xa rồi người ta vẫn chưa quên. Seo Mỉ gặp chị Seo Lý ở nhà


chị Chấn Hoa. Gặp trong giây lát như bắt chợt một cánh


chim, một bông hoa vừa xuất hiện đã vội biến đi. Nào ngờ


Seo Mỉ gặp Seo Lý tại đây, ở bản Mèo. Seo Lý đã thay bộ


cánh mặc trong những ngày mới về nước, bằng bộ quần áo


giản dị hơn. Áo bông mậu dịch. Quần kaki màu tím. Giày


bát kết. Sau lưng, là chiếc ba lô bên ngoài gài con dao phát,


cái xẻng, cái cuốc chim, tất cả đều nhỏ gọn.


Seo Mỉ không giấu nổi niềm vui đột ngột:


- Hoa chàm nở rồi(1). Chị về giúp, hợp tác xã chúng tôi


mừng lắm.


Seo Lý nắm lấy tay Seo Mỉ:


- Cảm ơn chị! Tôi cũng mong, tôi về bản ta lúc hoa


chàm nở.


Hai người con gái cùng lứa tuổi, cùng dân tộc, làm quen


với nhau một cách hồn nhiên như vậy. Sau đấy, Seo Mỉ đưa


Seo Lý đi khắp các vùng đồi trong bản. Chị kỹ sư lâm nghiệp


lấy mẫu đất, một số cây con sinh trưởng ở đấy, nhét đầy


chiếc túi gai đeo bên sườn. Mãi đến lúc mặt trời lặn xuống


chân núi, họ mới quay về. Suốt một ngày đi miết, hai bắp


chân tức găng trong đôi xà cạp, vậy mà lúc này chị chủ


nhiệm chỉ thấy náo nức vui. Con đường tuy dài nhưng câu


chuyện của chị kỹ sư về việc khoác áo chàm cho các mỏm


đồi trần trụi, còn dài hơn. Và say sưa một cách lạ. Hình ảnh


dòng nước bầm tím với nỗi buồn dai dẳng của Seo Mỉ hôm


nào, giờ đây biến hẳn. Chị chỉ nghĩ đến những cánh rừng.


Những cánh rừng sắp hiện ra, bát ngát xanh, dưới vòm trời


bản Lù Chải.


Tối hôm đó, Seo Mỉ đãi Seo Lý một bữa mèn mén với


canh rau dua. Một bữa ăn bình thường, quen thuộc nhưng


hai người đều thấy ngon. Có lẽ vì có một người Mèo đến ăn,


ở nhà một người Mèo. Nói cho đúng bụng họ nghĩ, chủ và


khách đều thấy vui. Ăn xong, Seo Mỉ, Seo Lý ngồi bên bếp


lửa. Phía bên kia, bóng bà Thào Xóa in lên bức tường đất. Bà


lặng lẽ xé lanh.


___


(1) Hoa chàm nở là điềm lành.


- Chị học ngành này giúp ích được nhiều cho miền núi


ta đấy. - Seo Mỉ thân mật gợi chuyện.


Giọng Seo Lý nghe chân thật:


- Tôi cũng như chị, sinh ra, lớn lên ở miền núi. Cho nên


hình ảnh ông bà, cha mẹ chúng ta lang thang hết quả núi này


đến quả núi khác, tay xách con dao phát, vai khoác túi bắp


giống, nghèo thật nghèo, khổ thật khổ, đã ám ảnh tôi suốt


thời gian học phổ thông, nhất là lúc học cấp ba. Qua việc học


tập, đọc sách báo, tôi thấy rất rõ là, muốn hết nghèo khổ,


trước tiên, người Mèo ta phải sống định canh định cư, tập


trung thành bản làng như người Kinh, người Tày, người


Nùng… Người miền xuôi sống bằng đồng ruộng, người


miền núi sống bằng đồi núi. Cây lúa, cây bắp thích hợp với


đất miền xuôi; đất miền núi là nơi thích hợp cho cây lấy gỗ,


cây công nghiệp. Nếu biết phối hợp cây trồng giữa hai miền,


nhân dân miền núi cũng như miền xuôi đều được no ấm, đất


nước giàu mạnh. Vì thế sau khi tốt nghiệp cấp ba phổ thông,


tôi đã trình bày nguyện vọng học đại học lâm nghiệp để sau


này được thiết thực trả ơn miền núi đã nuôi tôi khôn lớn. Rất


đáng mừng là tôi đã toại nguyện.


Từ sáng tới giờ, câu chuyện giữa chị chủ nhiệm và chị


kỹ sư thường xoay quanh việc trồng cây gây rừng. Có lẽ để


cho thoải mái sau một ngày làm việc mệt nhọc, Seo Mỉ


chuyển sang chuyện tâm tình:


- Chị học ở Liên Xô lâu không?


- Sáu năm. Một năm học tiếng Nga, năm năm học


chuyên môn. Sáu lần hoa đào nở. Bảy mươi hai lần trăng


sáng(1). Lâu đấy.


- Chị đã có gia đình riêng chưa?


Mặt Seo Lý long lanh như thể tràn ngập ánh nắng:


- Người yêu của tôi còn đang làm nghiên cứu sinh ở bên


đấy. Bao giờ anh ấy bảo vệ xong luận án, trở về nước, chúng


tôi sẽ làm lễ thành hôn. Còn chị thì sao?


Seo Mỉ bẽn lẽn:


- Tôi cũng chưa có gia đình riêng. Khi nào hợp tác xã Lù


Chải tiến vững chắc lên sản xuất lớn, vui trong bụng rồi, tôi


mới nghĩ đến chuyện ấy.


Nụ cười tươi sáng nở trên môi Seo Lý:


- Thế thì không lâu nữa đâu. - Chị nhắc lại câu nói quen


thuộc của dân tộc mình - Con chim cứ cư sắp bay về gọi mùa


bắp chín rồi. À, tục lệ cưới xin ở Pha Long bây giờ ra sao?


Cha mẹ có còn đặt giá con gái cao như trước không?


Chợt Seo Mỉ “ố” lên một tiếng, đoạn nói:


- Còn đặt giá cao đấy. Nghe người già kể lại, trước kia,


muốn có con dâu, nhà người con trai phải đem đến nhà


người con gái từ năm đến tám bộ vòng cổ, vòng tay bằng


bạc; từ một trăm đến một trăm hai mươi cân thịt lợn; từ bốn


mươi đến năm mươi cân rượu. Còn tiền thì từ một nghìn hai


trăm đến một nghìn năm trăm đồng. Nếu nghèo không lo


được lễ cưới, người con trai phải đến ở rể nhà vợ. Bao giờ có


con, lại được cha mẹ vợ cho phép, hai vợ chồng mới được ra


__


(1) Mỗi lần trăng sáng là một tháng.


ở riêng. Mấy năm nay, chính quyền, đoàn thể xã tích cực vận


động, giải thích, tuyên truyền đời sống mới nhưng việc đặt


giá mới chỉ hạ xuống được một ít. - Seo Mỉ mủm mỉm. - Giá


người con gái Pha Long còn cao lắm.


Niềm vui hồn nhiên bộc lộ trên nét mặt Seo Lý:


- Giá người con gái Pha Long cao thật đấy. Giá người


con gái của bản tôi không cao đến thế đâu. Khi đặt giá, nhà


người con gái gửi một cái que có khắc từng khấc cho người


nhà con trai. Mỗi khấc là mười cân thịt, mười cân rượu,


mười cân bắp xay. Nếu là ba khấc thì là ba mươi cân mỗi


thứ. Kể ra như thế vẫn là nhiều đối với nhà người con trai.


Bao giờ chúng tôi làm lễ cưới, tôi sẽ thưa với cha mẹ tôi cho


phép tổ chức theo đời sống mới, nghĩa là chỉ có một bữa tiệc


trà đơn giản, hai bên cha mẹ, họ hàng, bạn bè đến dự, chứng


nhận cuộc hôn nhân của chúng tôi. Tôi tin cha mẹ tôi sẽ tán


thành vì cha mẹ tôi đều là cán bộ.


- Như thế thì tốt quá rồi. - Seo Mỉ đưa mắt nhìn quanh


tựa hồ muốn bao quát cái bản lúc này nhà nào nhà nấy đã


ấm lửa bếp. - Còn bản tôi, chưa biết đến bao giờ mới thực


hiện được nếp sống mới trong đám cưới, đám ma. Nhưng tôi


tin, khi khoa học kỹ thuật đi vào đời sống, không những nó


thúc đẩy sản xuất mà còn góp phần vào việc xóa bỏ các


phong tục tập quán lạc hậu như lời Đảng dạy.


- Đúng thế. Cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng


văn hóa tư tưởng, cách mạng quan hệ sản xuất, ba cuộc cách


mạng ấy hỗ trợ cho nhau. Bởi vậy, phải làm ba cuộc cách


mạng ấy cùng một lúc mới có kết quả tốt. - Sực nhớ ra, Seo


Lý liền hỏi - Ở đây có còn tảo hôn không?


- So với trước thì bớt đi nhiều lắm nhưng chưa hết hẳn


đâu. Ở bản này hay ở bản khác trong xã vẫn còn những em


gái mới mười hai, mười ba tuổi đã phải đi làm vợ người ta.


Trông thấy các em buông sợi dây khiếu dắt trâu, cái thùng cối


xay đậu tương ở nhà mình để về nhà chồng mà cứ ngơ ngác


không hiểu mình đi đâu, để làm gì, con mắt tôi muốn khóc.


Lạc hậu quá!


Seo Lý bỗng sôi nổi hẳn lên:


- Ở bản tôi, xã tôi cũng vậy, thỉnh thoảng vẫn còn những


đám tảo hôn. Thật là lạc hậu! Không những phản khoa học


mà còn xúc phạm đến phẩm giá con người. Sao lại bắt các


em đi làm vợ trong lúc trí óc cũng như cơ thể chưa phát triển


đầy đủ? Đến khái niệm làm vợ, các em còn chưa có, làm sao


các em có thể biết bổn phận của một người vợ được. Nếu


một vài năm sau, các em ấy sinh con ra thì sao? Làm vợ còn


chưa hiểu, làm mẹ làm sao được? Làm mẹ, với tất cả ý nghĩa


thiêng liêng ấy, là một trong những việc khó nhất trên đời,


nếu không có đầy đủ tình cảm, tư cách, trình độ không thể


làm tốt được. Thật đáng thương cho những người mẹ bất


đắc dĩ, những đứa con ra đời không đúng lúc!


Ở góc kia, bà Thào Xóa vẫn lặng lẽ xé lanh. Bà đã già


song tai bà chưa già. Vừa làm, bà vừa lắng nghe câu chuyện


giữa đứa cháu gái và chị kỹ sư. Chợt bà nói với sang


góp chuyện:


- Nhà nào có ít người, phải lấy vợ sớm cho con trai để có


thêm người đi nương, làm việc nhà. Còn con gái, mú cống mà


bói quẻ, bảo phải làm vợ người ta sớm không thì cái ma bắt,


cha mẹ nó không dám giữ nó ở nhà đâu. Cho con gái đi làm


vợ làm chồng, lại được nhiều gạo, nhiều thịt, nhiều rượu.


Tiền cũng nhiều, tậu được trâu, được ngựa. Đứa con gái


không muốn nhưng vẫn phải về nhà chồng. Gầu ma nhéng có


nói đấy - bà Thào Xóa cất tiếng hát nghe như tiếng nức nở -


Em như bông hoa trân châu nở chưa hết. Mẹ em đã hám tiền, thèm


gạo nhà người. Em như đóa hoa trân châu nở chưa được trọn. Cha


em đã thích tiền, ham lễ nhà người. Trời ơi! Mẹ cha gả em qua tám


ngọn núi mờ sương phủ. Bán em qua tám cánh rừng mờ sương


rơi… - bà Thào Xóa dừng lại, thở dài. - Người con gái Mèo ta


còn khổ lắm, các cháu à.


Giọng Seo Lý đượm buồn:


- Thời gian ở Liên Xô, tôi cùng học với nhiều bạn gái


người Trung Á, Trung Đông, châu Phi, châu Mỹ La-tinh. Họ


đã kể cho tôi nghe và tỏ ý phẫn nộ trước sự bất bình đẳng


giữa nam nữ trước kia ở nước họ. Trong lúc tiếp khách, lúc


ra đường, phụ nữ Ấn Độ, Ả Rập phải đeo mạng vào mặt.


Trước khi chồng đi ra khỏi nhà, phụ nữ Nhật Bản phải ngồi


dưới đất, đi bít tất, xỏ giày cho chồng. Trong khi phụ nữ


không được phép có hai chồng thì nam giới Trung Á có


quyền lấy nhiều vợ. Thậm chí có người đến năm, sáu vợ bên


cạnh. So với người phụ nữ Mèo, nỗi khổ của họ chỉ là cái cây


mọc trên cánh rừng. Đàn bà con gái Mèo ta khổ quá. Cái khổ


nhiều đến nỗi không sao tính được. Không sao nhớ hết - như


người già nói. - Seo Lý nhìn Seo Mỉ. - Chúng ta là người


trong cuộc, lại là cán bộ được Đảng, nhà nước giác ngộ, dìu


dắt. Chúng ta phải làm hết sức mình, góp phần vào việc giải


phóng người phụ nữ của mọi dân tộc khỏi các tục lệ lạc hậu


đến dã man từ bao đời rồi.


Seo Mỉ nói, giọng rắn rỏi:


- Trong phạm vi một xã, đó là một trong những việc mà


đoàn thể chính quyền xã Pha Long hết sức quan tâm. Chúng


tôi luôn luôn tuyên truyền, giải thích các đường lối, chính


sách, đấu tranh với các tục lệ cũ nên mới được như bây giờ.


Cán bộ chúng tôi thường nói với nhau: Việc này giống như


xay bắp. Xay chậm lâu có bột. Xay nhanh quá, bột không


mịn, mèn mén không tốt. Khó thế đấy.


Mắt Seo Lý rực ánh lửa bếp:


- Từ đời tổ tiên, người Mèo ta phải sống một nơi suốt


ngày đêm mây mù phủ lên cuộc đời, phủ lên cả tâm hồn con


người. Bây giờ có ánh sáng của Đảng, ta phải xua tan đám


mây mù ấy đi.


Seo Mỉ tươi cười:


- Chị yên tâm. Trước kia, đám cưới ở đây, cha mẹ đặt giá


con gái như thế nào chị biết rồi. Bây giờ thường thường chỉ


còn một nửa, có nơi chỉ còn một phần ba. Tôi tin không lâu


nữa, xã này sẽ có những đám cưới tổ chức theo đời sống mới


như lễ cưới mà chị dự định.


Niềm vui trở lại với Seo Lý. Chị cười theo:


- Tôi mong lễ cưới đầu tiên theo đời sống mới ở xã này


là lễ cưới của chị. Nếu chị cho biết tin, dù tôi có đi công tác


xa, tôi cũng phóng ngựa suốt ngày đêm về đây dự, mừng


cho anh chị, cho nếp sống có văn hóa của xã Pha Long.


Seo Mỉ để tay lên vai Seo Lý:


- Bây giờ tôi phải đi học bổ túc văn hóa. Hôm nay chị


làm việc nhiều, chắc chị mệt rồi. Chị đi ngủ trước nhé!


Mừng rỡ, Seo Lý siết chặt tay Seo Mỉ:


- Chị bận bao nhiêu việc mà còn đi học được, thật đáng


quý. Chị học bổ túc cấp mấy?


- Tôi bắt đầu học bổ túc cấp hai phổ thông.


- Chúc chị mau chóng học hết cấp hai, cấp ba rồi học đại


học. Bà Phù, người Phù Lá, trước đây làm phó chủ tịch tỉnh


Lao Cai, chỉ học bổ túc, hàm thụ mà cũng học xong đại học


rồi đấy. Gương phấn đấu của bà ấy thật đáng cho chúng ta


học tập.


Seo Mỉ sắp sách vở đi ra. Bên ngoài đang gió rét. Ngồi


lâu bên đống lửa, bất chợt gặp lạnh, chị choáng váng. Nhưng


chị rảo bước… Mãi đến lúc gà sắp gáy lần thứ nhất, buổi học


mới tan. Về đến nhà, vai áo, gò má chị ướt sương. Gò má đỏ


hồng vì gió lạnh, lấm tấm những giọt sương trắng muốt,


nom như bông hoa nở vào lúc sớm mai. Bà Thào Xóa xay


xong đấu ngô, đã đi ngủ. Seo Lý còn ngồi bên ánh lửa, đọc


sách. Nhìn nét mặt Seo Mỉ, chị nhận thấy ngay điều đó.


- Buổi học tối hôm nay chắc vui phải không, chị Seo Mỉ?


- Vui đấy, chị Seo Lý à! Lâu lắm mới lại được đi học, tôi


vui lắm.


Đêm đã khuya. Hai người đi nằm. Sau một ngày làm


việc căng thẳng, mới đặt lưng xuống giường, Seo Lý đã thở


đều đều. Rồi đằm mình trong giấc ngủ yên lành. Còn Seo Mỉ,


cơn buồn ngủ chưa đến với con mắt chị.


Buổi học bổ túc tối hôm nay là buổi thứ hai. Lớp học cho


toàn xã mà chỉ vẻn vẹn dăm bảy học sinh người Mèo, người


Phù Lá, người Pa Dí, người Hán… Người mới học hết lớp


hai. Người đã học hết lớp ba. Chỉ có Seo Mỉ là đã học xong


cấp một phổ thông. Hầu như mỗi người cần có một chương


trình dạy bổ túc cho riêng mình. Trong khi đó, giáo viên chỉ


có một người. Anh giáo Cối! Suốt hai tiếng đồng hồ anh mải


mê hết giảng bài, ra bài tập cho người này đến người kia.


Gương mặt anh tái đi vẻ mệt nhọc. Nhưng tia sáng và niềm


vui tràn đầy trong cặp mắt hõm sâu.


Seo Mỉ rất vui. Chị có ấn tượng được trở lại ngôi trường


đầm ấm mà chị rời xa cũng đã lâu. Cây lúa, cây ngô, năng


suất, sản lượng, quy trình sản xuất… trong khoảnh khắc chị


quên hết những cái đó để tập trung tư tưởng vào bài hình


học tối hôm nay. Bài hình học với những đường thẳng,


đường cong, đường gấp khúc khô khan. Không, lúc này chị


không thấy nó mảy may khô khan bởi nó không phải là con


đường mà cha ông chị đã đặt chân lên đi tìm cuộc sống thầm


lặng, đau khổ. Các con đường trong bài hình học cũng dẫn


chị, dân tộc chị, các dân tộc khác đi tìm cái sống. Song, đó là


cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Buổi học tối hôm nay, khác hẳn


các năm tháng ngồi ghế nhà trường trước đây, chị thấm hiểu


điều kỳ diệu đó. Chị yêu biết bao các con đường trên trang


sách, trên tấm bảng đen hằn nét phấn trắng. Lát sau, bóng


dáng những con đường lồng lộng gió xanh đưa chị vào giấc


ngủ. Một giấc ngủ ngon.


*


Trưa hôm ấy, ban quản trị hợp tác xã Lù Chải họp tại trụ


sở. Chủ nhiệm Seo Mỉ, phó chủ nhiệm kiêm trưởng trại chăn


nuôi Giàng Vần, thư ký kế toán Cháng Mìn và hai đội


trưởng sản xuất: Seo Chấn và Sùng Chí - vừa được bầu vào


ban lãnh đạo, đều có mặt đông đủ. Vấn đề trọng tâm trong


cuộc họp này là xem xét lại các giống cây trồng trên nương,


rẫy, ruộng bậc thang.


Trước hết, họ nghĩ đến cái cây đã nuôi sống con người


từ khi có cái bản bốn mùa mây phủ đến bây giờ. Cây ngô!


Cái ngày đã trôi xa trên bước đường vô định của mình, có


những người già dừng chân nơi đây, đắp đất vào hốc đá,


phát nương rẫy, tra hạt giống. Lúc bấy giờ đất còn màu mỡ.


Nắm hạt giống đã biến thành những nương ngô xanh tươi.


Bắp ngô là dòng sữa mẹ, nuôi một đàn con. Đàn con đông ra


trong khi thân hình người mẹ còm cõi dần. Dòng sữa vợi đi,


trong loãng như nước suối. Đất rạc, bắp ngô phải còi cọc.


Những vụ ngô gần đây, có những bắp chỉ bằng chuôi con


dao đi rừng.


Seo Mỉ lấy ở trong túi dết ra một bắp ngô đặt lên bàn.


Bắp ngô không to hơn chuôi con dao bao nhiêu.


- Nó là loại bắp lớn trong vụ thu hoạch vừa rồi, thế mà


nó chỉ bằng bấy nhiêu. Giống bắp của hợp tác xã ta lâu ngày


không được cải tạo nên thoái hóa rồi. Năng suất thấp quá.


Năng suất cây trồng chính mà như thế, đời sống xã viên


không đầy đủ được, chưa nói là giàu có đâu - Seo Mỉ nghiêm


trang nói.


Bác phó chủ nhiệm ra vẻ băn khoăn:


- Đất bản ta như thế, giống hợp tác xã ta như thế, làm


thế nào cho năng suất cao được?


Seo Mỉ chậm rãi nói tiếp:


- Đất Lù Chải, kể cả đất Pha Long không phải đất thật


hợp với cây bắp như đất Cao Lạng hay một số nơi khác trên


miền núi. Nhưng bắp là lương thực chủ yếu của bản ta. Vì


thế, ngoài cây công nghiệp cần trồng ngay, hợp tác xã vẫn


cần chú trọng đến cây bắp. Vả lại, nếu ta thay đổi giống, áp


dụng các biện pháp kỹ thuật, năng suất cây trồng sẽ tăng lên.


Chị chủ nhiệm lấy ra một bắp ngô khác, toan đặt lên bàn,


mọi người đã chìa tay đỡ lấy, rồi đưa cho bác Giàng Vần.


Bác phó chủ nhiệm ngắm nghía bắp ngô đầy hạt, chắc mẩy


như cục đá. Nó phải to gần bằng ba bắp ngô của hợp tác xã


Lù Chải.


- Ầy dà! Giỏi tay trồng quá! - Bác Giàng Vần trầm trồ


khen ngợi - Vài quả bắp này là được một bữa mèn mén rồi.


- Ai trồng được đáng được thưởng huân chương đấy. -


Anh thư ký kế toán chen vào.


Seo Mỉ nhìn mọi người, ánh mắt tươi rói:


- Đây là giống bắp do Viện giống, bộ Nông nghiệp lai.


Tên nó là ngô lai số 5. Năng suất nó gần gấp hai lần


giống cũ.


Seo Chấn vội hỏi:


- Đất ta trồng được không chị Seo Mỉ?


- Ty nông nghiệp tỉnh nghiên cứu rồi. Đất Pha Long


cũng như nhiều nơi khác ở huyện Mường Khương, hợp với


giống bắp này. Ta sắp nhận được hạt giống để trồng trên


toàn bộ diện tích canh tác bắp của hợp tác xã.


Bác Giàng Vần xoa hai bàn tay vào nhau:


- Tốt rồi! Ta trồng ngay vụ này đi. Nhưng ta phải trồng


cho giỏi tay để có quả bắp to như thế này mới được.


- Ta cứ trồng theo đúng như lời cán bộ về hướng dẫn,


nhất định quả bắp phải to - Bấy giờ Sùng Chí mới lên tiếng.


Niềm vui bỗng như từ bắp ngô lan tỏa ra, bao phủ gian


nhà. Hào hứng, chị chủ nhiệm chuyển sang cây đậu tương.


Cây đậu tương đã gắn bó với quê hương mới của nó


trên đất này. Từ lâu rồi, từ khi cây ngô mọc trên dải đất mờ


sương. Mèn mén bùi, ngọt, bở tơi. Nhưng nó xít lấy cổ. Có


hớp canh đậu, nó dẻo nhuyễn ra, bùi, ngọt thêm. Cùng với


cây ngô, cây đậu tương đã nuôi không biết bao nhiêu đứa trẻ


thành những anh con trai khỏe mạnh, những chị con gái gò


má đỏ hây. Và rồi đến lượt họ trở thành những người già


qua sự đổi thay của cái cây đứng âm thầm trên lưng núi. Sau


khi lấn cây thuốc phiện, cây nó vươn ra ánh sáng, rực rỡ như


hoa mùa xuân.


Seo Mỉ vui vẻ nói:


- Qua sự nhận định của huyện kết hợp với kinh nghiệm


của dân bản, cây đậu tương phát triển tốt trên đất Lù Chải,


đất Pha Long. Từ vụ này, ta nên thu hẹp diện tích trồng lúa


lại. Ta chỉ trồng một số lượng lúa nếp vừa đủ cho xã viên


dùng trong những ngày giỗ, Tết, một số lượng lúa tẻ để


người ốm yếu, trẻ con ăn. Còn bao nhiêu đất ta tập trung lại


trồng đậu tương. Ta sẽ hoàn chỉnh hệ thống mương phai để


có thể trồng toàn bộ diện tích hai vụ: vụ xuân, vụ hè. Sau


đấy, ta dần dần mở rộng diện tích để sản lượng đậu tương


của hợp tác xã ta mỗi năm một tăng thêm. - Chị chủ nhiệm


mỗi lúc một sôi nổi. - Đậu tương không những đã trở thành


nhu cầu trong bữa ăn của dân bản mà còn có một giá trị xuất


khẩu cao. Cán bộ ngoại thương nói, nhiều nước trên thế giới


ưa chuộng đậu tương của Việt Nam. Muốn đổi đậu tương


lấy máy móc, vật liệu xây dựng hay hàng hóa gì cũng đổi


được. Đậu tương quý lắm.


Bác phó chủ nhiệm nghếch mặt, gãi gãi bộ râu thưa:


- Trồng ít lúa quá không được đâu chị Seo Mỉ à!


- Sao không được, bác Giàng Vần? Ta trồng đủ cho xã


viên dùng kia mà.


- Phải có thóc nộp thuế nông nghiệp cho Nhà nước chứ?


Seo Mỉ tươi cười:


- Cái đó không lo. Ủy ban huyện vừa thông tri cho các


xã trong huyện biết, hợp tác xã nào trồng nhiều đậu tương


thì lấy đậu tương nộp thuế nông nghiệp thay cho thóc.


Bác phó chủ nhiệm gật đầu:


- Thế thì tốt. Hợp tác xã sẽ trồng nhiều đậu tương.


Anh thư ký kế toán bông đùa:


- Có nhiều đậu tương, ta bảo cán bộ ngoại thương đổi


cho ta cái ô tô để ban quản trị đi họp huyện cưỡi, khỏi phải


cưỡi con ngựa chạy trắng dãi mép còn chưa đến nơi.


Sùng Chí dí dỏm xen vào:


- Đổi lấy gì chứ đừng đổi lấy ô tô, người già sợ, nhất là


bà Giàng Xay. Có một lần, đi chợ về, bà thở, hơi chạy ra lỗ


mũi không kịp. Bà là bà trông thấy con gì lạ lắm ở phố Pha


Long. Nó to hơn con trâu đàn. Hai con mắt to bằng hai ống


bương. Bốn cái chân vừa bằng bốn cái sàng. Nó há hai cái


mồm một lúc, nuốt bốn, năm người vào bụng. Nuốt xong nó


chạy đi, mồm còn kêu đói dữ hơn con hổ đói gầm. Sợ quá, bà


bỏ dở phiên chợ, chạy về nhà...


Seo Mỉ bụm miệng cười, rồi nghiêm chỉnh nói:


- Chuyện bà Giàng Xay sợ ô tô, tàu bay, kể hết đêm chưa


hết. Ta bàn việc sản xuất đã. Việc phát triển cây đậu tương ở


hợp tác xã ta, ban quản trị nhất trí rồi. Nhưng trồng nhiều


mà năng suất thấp thì sản lượng không hơn bao nhiêu. Phân


hóa học, huyện cung cấp. Phân chuồng, phân xanh, hợp tác


xã phải tự tác. Làm phân không khó nhưng có cái khó là toàn


thể xã viên có vui bụng cùng làm phân, bón phân không.


Bác Giàng Vần lại gãi gãi râu:


- Khó thật đấy, chị Seo Mỉ à! Người Mèo ta không quen


cho đất ăn phân đâu.


Bàn đến phân tro, Sùng Chí hăng hái nói ngay:


- Tôi sẽ vận động đội tôi làm phân, làm vượt mức kế


hoạch. Đất không được ăn phân, đất phải gầy. Đất gầy, cây


không tốt được. Người Mèo ta chưa có tập quán làm phân,


bón phân cho cây trồng thật đấy, nhưng nếu lấy lời tốt mà


giải thích, chắc mọi người sẽ nghĩ sáng ra.


Seo Chấn tiếp lời Sùng Chí:


- Nói cho đúng, việc này không dễ. Tuy thế, tôi cũng sẽ


vận động đội tôi làm. Tôi tin là mọi người sẽ làm theo đường


lối của hợp tác xã. Vả lại, đó không phải là một việc làm mới.


Đồng bào Kinh, Tày, Nùng... làm việc này từ lâu rồi. Ai cũng


thấy cây lúa, cây bắp của họ tốt hơn cây lúa, cây bắp của ta.


Nhưng người Mèo ta, nhất là người già, hay giữ cái lý của


mình, cái khó là ở chỗ ấy.


Sùng Chí khoát tay, vẻ tự tin:


- Đúng là người Mèo có cái lý của người Mèo. Nhưng


cái lý nào cũng không vượt qua được cái lý phải, cái lý đúng.


Bác Giàng Vần gật gù tán thưởng:


- Hợp tác xã ta có cái lý phải, cái lý đúng, nhất định các


xã viên phải theo. Ở ngoài trại chăn nuôi, chúng tôi sẽ làm


nhiều phân, cung cấp cho các đội.


Seo Mỉ lắng nghe ý kiến của mọi người. Có những người


của dân tộc chị đã dừng bước lại đây, sống thành bản, lập


hợp tác xã. Họ đã thay đổi nếp sống, hơn thế nữa, cái quan


hệ sản xuất từ lâu đời. Khó thật khó, song Đảng làm được


rồi. Bây giờ đến việc tổ chức lại sản xuất, thay đổi một bước


nữa nếp sống, tập quán canh tác. Dễ không dễ, song Đảng sẽ


làm được. Vì việc làm của Đảng chỉ đem lại lợi ích cho dân


tộc, và ở đây, cho cái bản Mèo. Là người của Đảng, chị càng


tin điều đó. Niềm vui lại đến với chị. Chị tưởng như tiếng


các quả đậu tương khô giòn dưới mảnh nương lộng gió,


đang vọng về. Tiếng động nghe ấm lạ.


Ngoài kia, chợt có tiếng vó ngựa. Giây phút sau, một


bóng người, ngựa lướt vào trong sân. Seo Mỉ nhìn ra. Seo Lý!


Gọn nhẹ, Seo Lý từ trên mình ngựa nhảy xuống đất, buộc


ngựa vào một gốc cây. Có lẽ con ngựa vừa sải vó, ngốn một


thôi đường dài. Từ Mường Khương hoặc một nơi xa hơn nữa


về đây. Bộ lông màu cánh gián loang lổ vệt mồ hôi. Bốn vó


rắn chắc phủ đỏ bụi đường. Bụi đường rắc lên bộ quần áo,


chiếc mũ tai bèo, chiếc ba lô "con cóc" đeo sau lưng Seo Lý.


Seo Lý thoăn thoắt bước vào. Gian nhà trầm lặng bỗng


chốc xao động lên trong ánh mắt lóng lánh, hơi thở ấm rực


của người con gái Mèo.


- Cháu chào bác, chào các anh các chị! - Seo Lý niềm nở


chào mọi người rồi quay sang Seo Mỉ - Tôi vừa đến nhà chị


thì được biết chị họp ở đây. Lúc nào chị họp xong, chị cho tôi


tranh thủ thời gian làm việc với chị ở đây rồi tôi lại phải


đi ngay.


Seo Mỉ kéo ghế mời Seo Lý ngồi, đoạn nói:


- Xin giới thiệu với chị Seo Lý, đây là ban quản trị hợp


tác xã Lù Chải. Cuộc họp của chúng tôi coi như xong rồi. Chị


nghỉ một lúc cho đỡ mệt, sau đấy chị làm việc với toàn thể


ban quản trị chúng tôi cho tiện.


Nhanh nhẹn, Seo Lý gạt quai, cởi ba lô đặt xuống đất:


- Thế thì tốt quá! Tôi không mệt đâu, có thể làm việc


được ngay. - Seo Lý cười để lộ hàm răng trắng muốt. - Tiến


lên sản xuất lớn, cơ thể và trí óc phải khỏe mới làm nổi.


- Nếu thế, ta phải làm việc luôn. - Seo Mỉ đỡ lời mọi người.


Seo Lý nghiêm trang đi vào công việc:


- Sau khi nghiên cứu chất đất, giống cây trồng, chúng tôi


đi đến kết luận là đất đồi ở bản ta cũng như các bản khác


trong khu Pha Long, thích hợp với cây trẩu, cây thông ba lá


và một số cây ăn quả như cây mận. Từ lâu ta đã trồng trẩu ở


các vùng trung du. Nhưng dưới chế độ cũ, cây trẩu không


phát triển ra các nơi khác được. Cây trẩu độ bốn, năm tuổi


đã bắt đầu cho hạt ép dầu. Dầu trẩu là một nguyên liệu cần


thiết trong công nghiệp. Bởi vậy, công nghiệp của ta càng


phát triển thì dầu trẩu càng có vai trò quan trọng. Ngoài ra,


nó còn đáp ứng nhu cầu xuất khẩu. Cây thông ba lá cũng đã


xuất hiện từ lâu trên cao nguyên Đà Lạt, Tây Nguyên. Đó là


một loại thông sinh trưởng ở các vùng có độ cao từ một


nghìn đến hai nghìn mét. Từ mười đến mười hai năm sau


khi trồng, nó có thể dùng làm trụ mỏ, trụ điện. Mỗi năm ta


khai thác thêm nhiều mỏ mới. Trong công nghiệp mỏ, gỗ trụ


sẽ góp cái phần không thể thiếu được. Đường dây điện cũng


mỗi năm một dài thêm. Trong công cuộc điện khí hóa, trụ


điện gỗ sẽ thay thế một phần cho trụ điện sắt. Gỗ thông ba lá


thớ dài, là nguyên liệu tốt để sản xuất bột giấy, sợi vít-cô,


chất tùng tiên cần thiết trong công nghiệp chế biến cao su.


Nhựa thông là một sản phẩm quý, phục vụ các ngành công


nghiệp sơn, điện, giấy, xà phòng... Thêm vào đấy, nó cũng có


giá trị xuất khẩu. Nhiều nước trên thế giới rất chuộng cái cây


gỗ rắn mà lại dẻo, có chất dầu nên không khô quắt, để làm


cột buồm, đóng đồ, làm dụng cụ thể dục thể thao và sản xuất


ra nhiều mặt hàng khác.


Chị kỹ sư lâm nghiệp vốn yêu nghề. Nhắc đến cây rừng


là chị say sưa. Chị uống vội chén nước Seo Mỉ đưa, rồi mải


mê nói:


- Trong một cuộc họp chuyên đề mà tôi dự, tôi được biết


một nhà máy ở Cộng hòa dân chủ Đức, thường xuyên sản


xuất ra hơn ba mươi mặt hàng từ một nguyên liệu tầm


thường: gỗ bồ đề. Đến giờ nghỉ giải lao, tôi hỏi chuyện một


kỹ sư ở nhà máy thì đồng chí ấy thân mật đáp: "Thật ra, nhà


máy chúng tôi phải dùng đến ba nguyên liệu: gỗ, hóa chất và


- đồng chí ấy chỉ vào trán - trí óc. Hai nguyên liệu sau còn


cao quý hơn nguyên liệu thứ nhất". Tôi nghĩ bụng, một ngày


gần đây, biết đâu hàng trăm mặt hàng chẳng được sản xuất


từ cây thông ba lá trồng khắp khu Pha Long. Gỗ là một


nguyên liệu quý. Nhiều nước trên thế giới tận dụng từng


mẩu gỗ, từng nắm mạt cưa thế mà người miền núi ta đốt phá


từng cánh rừng để làm nương. Tiếc lắm!


Im lặng trong căn nhà họp. Câu chuyện của chị kỹ sư đã


hấp dẫn mọi người. Không một ai muốn ngắt lời chị.


- Còn cây mận, - Seo Lý hào hứng nói tiếp, - ta trồng để


lấy quả. Tỉnh Hoàng Liên Sơn có mấy giống mận quý: mận


Cao Sơn, mận Tam Hoa. Cùi dày, hạt nhỏ, vừa giòn vừa ngọt


vừa thơm. Không những người trong nước mà người nước


ngoài cũng ưa thích quả mận của ta. Các giống mận này phải


trồng trên vùng cao Mường Khương mới không bị thoái hóa.


Bởi thế, bản ta và toàn bộ khu Pha Long sẽ dành một số diện


tích đất đồi trồng mận để thỏa mãn nhu cầu trong nước và


xuất khẩu. Khoảng dăm bảy năm nữa, Pha Long sẽ bạt ngàn


cây mận quý. Lúc bấy giờ có thể có một nhà máy chuyên sản


xuất mận hộp mọc lên tại đây. Khu Pha Long sẽ thay đổi.


Nam nữ thanh niên các bản sẽ làm kỹ sư, quản đốc, công


nhân ở nhà máy ấy. Nhà cửa sẽ được xây cao, đường sá mở


rộng, đèn điện sáng như thị xã Lao Cai bây giờ. Nghĩ mà vui


trong bụng, bác phó chủ nhiệm, các anh các chị à!


Nghe nhắc đến mình, bác Giàng Vần "ây dà!" một tiếng


kéo dài.


- Mới nghe nói mà bụng đã vui nhiều rồi đấy, chị Seo Lý


à! Bao giờ có nhà máy thật, nó kêu như con trâu rống, cái vui


không chứa hết trong bụng đâu. Bây giờ hợp tác xã chúng tôi


phải làm gì?


Seo Lý từ tốn đáp:


- Huyện đã giao đất giao rừng, phân vùng quy hoạch


cho hợp tác xã ta rồi. Bây giờ hợp tác xã ta làm đất, bỏ phân.


Việc gieo ươm giống, cây con trước mắt, đã có lâm trường


tương trợ. Ta chỉ đến đấy nhận cây con về trồng. Trồng đến


đâu phải thành rừng đến đấy. Muốn như thế, phải áp dụng


đúng quy trình kỹ thuật trong các khâu: trồng, chăm sóc, bảo


vệ. Kế hoạch phủ xanh các đồi trọc của hợp tác xã ta phải


hoàn thành trong ba năm.


Thư ký kế toán Cháng Mìn nhìn vọng ra bên ngoài,


lẩm bẩm:


- Đồi trọc của hợp tác xã nhiều lắm đấy. Làm đến đứt


sức không biết đã xong chưa...


Seo Mỉ đỡ lời Seo Lý:


- Các xã viên ở hợp tác xã ta trừ một số ít còn thì đều


tích cực, lại được các cán bộ trên tỉnh, trên huyện về giúp đỡ,


chắn chắn ta sẽ hoàn thành kế hoạch trên đề ra. Cái thời,


người Mèo ta đứng trên đỉnh núi không biết đi đâu, làm gì


để có mèn mén mà ăn, vải lanh mà mặc, qua lâu rồi. Bây giờ


ta có Đảng, việc gì ta cũng làm được, làm tốt, anh Cháng Mìn


cứ tin như thế.


Cháng Mìn ngoảnh lại nhìn Seo Mỉ:


- Lo có lo nhưng bụng tôi vẫn tin đấy. Có chị kỹ sư về


giúp, ta phải tin rồi.


Dường như để củng cố niềm tin đó, Seo Lý say sưa nói:


- Nghề rừng là phương hướng sản xuất quan trọng của


các hợp tác xã miền núi vì rừng là một nguồn lợi lớn. Ngoài


việc sản xuất gỗ cho xây dựng, nguyên liệu cho công nghiệp,


rừng còn phục vụ thâm canh, góp phần tăng năng suất cây


trồng trong nông nghiệp, bảo vệ môi trường, chống xói mòn.


Rừng còn phục vụ cho thủ công nghiệp. Nếu khai thác gỗ


tốt, tận dụng cả cành, ngọn thì ngành thủ công cũng có điều


kiện phát triển. Rừng hỗ trợ cho cả đồng bằng, thu hút lao


động từ miền xuôi lên, bổ sung cho miền núi. Rừng đúng là


một nguồn lợi lớn cho nên các nước châu Âu chăm sóc một


khu rừng như chăm sóc một thành phố, quý trọng thanh gỗ


như quý một chiếc bánh mì. Bây giờ là lúc ta phải đánh giá


cho đúng vị trí của rừng trong nền kinh tế của đất nước ta.


Bác Giàng Vần lại "dà!" một tiếng rồi than vãn:


- Thế mà người miền núi ta đã phá bao nhiêu rừng, đốt


bao nhiêu cây để làm nương. Tiếc lắm, tiếc lắm đấy.


Seo Lý xốc ba lô lên lưng, chào mọi người.


- Chị đi đâu bây giờ? Về Mường Khương à? - Seo Mỉ hỏi.


- Chưa đâu! Tôi còn phải đến mấy xã nữa trong khu này.


Nơi nào cũng có nhiều đồi trọc cần được phủ xanh. - Seo Lý


cười tươi tắn - Màu diệp lục là thế mạnh, là tiền bạc, hạnh


phúc của miền núi ta đấy.


Seo Lý thoắt nhảy lên lưng ngựa. Con ngựa được nghỉ,


đã lại sức. Nó hất vó phóng, bờm rạp xuống. Thoáng chốc,


bóng người, ngựa khuất sau rặng cây.


- Kế hoạch tổ chức lại chăn nuôi của hợp tác xã ta, huyện


duyệt chưa chị Seo Mỉ? - Bác Giàng Vần hỏi.


- Huyện vừa duyệt xong. Hôm nay cháu còn bận nhiều


việc. Ngày mai hay ngày kia, cháu sẽ ra trại bàn với bác về


việc này.


Cuộc họp của ban quản trị tan. Seo Mỉ đảo ra mấy mảnh


nương gần đấy xem bà con xã viên làm đất, gieo ngô. Chị


nán lại, bàn với họ cho đến lúc mặt trời lặn. Các tia nắng cuối


vừa tắt, bóng tối đã rập rình muốn giãi lên đồi nương, vệt


đường mòn. Chị cùng mọi người ra về. Đến một quãng


ngoặt, chị nom thấy một người dáng vóc dong dỏng, gánh


một gánh củi đi lại phía mình. Trong cái hoàng hôn phân


vân giữa bóng tối và ánh sáng, chị nhận ra Cối. Hình như


anh vẫn ăn mặc như thường ngày. Bộ quần áo ka ki màu tím


than bạc màu và chiếc mũ bông kiểu "biên phòng". Gánh củi


có vẻ nặng. Mà sao bước chân vẫn dẻo tựa hồ anh chưa thấm


mệt. Anh đi hái củi ở đâu về? Chắc ở ngoài rừng. Xa đấy.


Cánh rừng có thể lấy củi được, gần bản nhất cũng phải mươi


cây số. Xa lắm, chân con ngựa còn biết mỏi.


Seo Mỉ nhìn bóng người, gánh củi đã trĩu trên vai, mà


lòng nao nao. Dân bản đi hái củi thường đem theo ngựa, thồ


về. Những buổi đem hàng ra chợ bán, họ cũng có con ngựa


thồ đi bên cạnh, trên chặng đường xa. Chỉ đến ngày mùa,


trên nương về, cái lù cở mới đè nặng trên lưng. Nặng có nặng


song chắc không nặng bằng gánh củi kia. Đột nhiên cảm giác


nao nao trong lòng chị trở thành một cái gì như xót xa. Chị


thương xót Cối vất vả.


- Anh giáo đi hái củi về đấy à? - Seo Mỉ đánh tiếng,


giọng nhỏ nhẹ.


Đang cắm cúi bước đi, Cối giật mình đứng lại. Dường


như bóng dáng người con gái in trên bóng chiều chạng vạng,


ở một nơi khuất nẻo, khiến anh lúng túng.


- Chị Seo Mỉ! Vâng ... tôi đi hái củi về. - Cối ngập ngừng.


- Anh có một thân một mình, việc gì phải đi hái củi


xa thế?


Cối im lặng. Anh không muốn Seo Mỉ phải bận tâm về


việc này. Vả chăng đây là một việc làm mà anh hoàn toàn tự


nguyện.


- Lần sau, nếu có đi hái củi, anh đến nhà tôi lấy ngựa mà


thồ. Anh đừng gánh nữa, anh giáo nhé!


Cối gượng cười:


- Tôi gánh từ thuở nhỏ nên quen vai rồi, không khó nhọc


lắm đâu chị Seo Mỉ ạ.


Seo Mỉ đăm đăm nhìn Cối. Trong bóng chiều giờ đây đã


bầm tối, chị vẫn nom thấy những giọt mồ hôi đang lặng lẽ


đổ xuống trên khuôn mặt phủ đầy bụi đường. Bối rối, chị


chưa biết nói gì, Cối đã xốc gánh củi lên vai:


- Thôi, tôi về nấu ăn để còn ra trường. Tối hôm nay đến


buổi học đấy, chị Seo Mỉ ạ.


- Tôi nhớ rồi, anh giáo à.


Cối quay đi. Seo Mỉ ngó theo. Bóng người, gương mặt


đôn hậu, chất phác đã lẫn vào bóng tối mờ mờ mà chị vẫn


thấy rõ, rất rõ. Chị tần ngần bước đi. Có ai đấy vừa cất tiếng


hát mấy câu gầu phềnh: Mặt trời đã xế bên núi. Đôi ta như chim


khướu lạc đàn. Mặt trời đã xế bên đèo. Đôi ta như chim mi lạc


bạn... (1). Tiếng hát nghe như từ một nơi xa vọng về, bồng


bềnh, chập chờn giữa khoảng không mờ tối. Chị lắng nghe.


Không phải tiếng hát mà là tiếng gió. Gió đang lao xao quẩn


vào bước chân chị.


(còn tiếp)


Nguồn: Seo Mỉ, Di cảo của cố nhà văn Đỗ Quang Tiến, cuối tập bản thảo có ghi: “Hoàng Liên Sơn, mùa hè 1978”. Hơn hai chục năm sau khi nhà văn qua đời, các con ông mới tìm thấy bản thảo này. Seo Mỉ - 449 trang in khổ 14.5 x 20.5 cm- lần đầu tiên được in thành sách trong bộ Đỗ Quang Tiến – Tác phẩm chọn lọc, 1250 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm. NXB Văn học, 2017.


Nhà báo Đỗ Quang Hạnh, con trai nhà văn, gửi www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ông cố vấn - Hữu Mai 18.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 17.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 11.08.2019
Tắt lửa lòng - Nguyễn Công Hoan 11.08.2019
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 30.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
xem thêm »