tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28830862
Tiểu thuyết
07.06.2019
Đỗ Quang Tiến
Seo Mỉ


9


Ngày và đêm cuối thu, triền miên trong gió lạnh và


sương muối đón mùa đông trở lại bản Mèo. Mùa đông về từ


dạo nào không ai biết rõ. Ngày ngắn đi. Và đêm dài ra như


bước chân con sâu đo. Buổi sáng, mặt trời không thức dậy


__


(1) Dân ca Mèo, (Doãn Thanh sưu tầm, biên dịch).


như lệ thường. Nhiều hôm, tia nắng ngủ quên dưới khe. Gió


lạnh ngắt. Sương xen dày. Vòm trời bản Lù Chải sà xuống


thấp, u uẩn mây mù. Người già kéo sụp chiếc mũ quả dưa,


xoa hai bàn tay vào nhau: Dà! Thấy cái rét rồi!


Sáng hôm đó, Seo Mỉ cùng các xã viên ở đội sản xuất


của Sùng Chí, bổ hố trên một mỏm đồi, chuẩn bị trồng trẩu.


Gần đấy là ngôi trường dạy tiếng phổ thông của xã. Về mùa


đông, buổi học thường bắt đầu muộn để các cháu đỡ lạnh.


Hôm đó cũng vậy, lúc ấy ngôi trường vẫn im lìm. Chỉ thấy


gió lay động đám cỏ lợp trên mái và hai cánh cửa liếp khép


hờ. Thầy giáo sắp đến chưa?


Cối đang đi đến. Gánh củi anh đi lấy hôm vừa rồi, trĩu


nặng trên vai. Phía sau anh, lố nhố một đám trẻ vừa trai vừa


gái, xấp xỉ tuổi nhau. Chúng theo thầy giáo ra trường học. Đi


gần đến nơi, Cối dừng lại, đặt gánh củi xuống. Quãng này,


đá nhấp nhô. Đêm hôm qua, có lúc trời đổ mưa. Đá rêu đã


trơn, gặp nước mưa càng trơn. Anh dắt tay từng đứa trẻ,


thong thả vượt qua quãng đường khó đi. Khi đám trẻ đã


sang hết bên kia, anh mới đặt gánh củi lên vai, đưa chúng


vào lớp.


Seo Mỉ vừa làm vừa đưa mắt nhìn. Có lẽ lần đầu tiên


con mắt chị nom thấy cảnh tượng ấy. Chị có ấn tượng người


thầy giáo trẻ vừa đưa đám học trò nhỏ của mình từ trong


bóng tối ra ánh sáng. Bàn tay nóng hổi của thầy thật đáng tin


cậy. Các bàn tay bé nhỏ kia thì đầy niềm tin yêu ở người dìu


dắt. Seo Mỉ bồi hồi. Mỗi lần một đứa trẻ trượt chân, loạng


choạng, thầy giáo vội ôm chầm lấy nó, đặt nó đứng ngay


ngắn lại, chị bồi hồi cảm động. Một cảm giác là lạ, vừa êm


dịu vừa xao xuyến, choán lấy chị. Chị cũng hiểu vì đâu từ


ngày anh về trường này, số học sinh mỗi ngày một tăng. Và


bây giờ nó tăng lên gấp rưỡi. Chị còn đang nghĩ về Cối, chỗ


kia, khói đã bắt đầu tuôn qua mái trường. Từng cuộn khói


màu lam bò quẩn quanh trên mái cỏ đang tìm hướng gió,


bay theo. Ánh lửa bập bùng hằn lên khe cửa. Tiếng bầy trẻ


tập đọc vang lên, ấm áp. Bây giờ chị mới hiểu, buổi chiều gió


lạnh, sương rắc sớm ấy, Cối đi lấy củi để làm gì. Để sưởi ấm


lớp học của anh trong những ngày giá lạnh như hôm nay.


Cối như thế đấy! Cảm giác khác lạ vừa nãy lại xâm chiếm lấy


chị. Chị bỗng thấy ran ran ở khóe mắt.


Dường như có một sức mạnh, một niềm vui rộn rã đến


với Seo Mỉ. Chị vung tay cuốc mải mê. Mãi đến khi mồ hôi


vã ra, chị mới ngừng tay. Giữa lúc đó, đến giờ nghỉ giải lao.


Chị đi về nhà, rồi địu một lù cở củi quay ra.


- Đem củi đi đâu đấy, chị Seo Mỉ? - Sùng Chí lấy làm


lạ hỏi.


- Ủng hộ trường học. - Seo Mỉ đáp, ánh mắt ấp ủ ngôi


nhà, khói đang bay vật vờ trên mái cỏ - Trời lạnh như thế


này, không có củi sưởi, các cháu ngồi học rét lắm.


Seo Mỉ bước đi. Sùng Chí nói với theo:


- Bụng chị nghĩ đúng đấy. Tôi cũng phải ủng hộ một


lù cở.


Câu nói đầy nhiệt tình của Sùng Chí không lọt qua tai


đám xã viên ngồi quanh đấy. Một lù cở! Đúng rồi, mỗi gia


đình xã viên nên ủng hộ trường học một lù cở củi. Mình cũng


có con, em đi học mà. Nếu không phải con, em mình thì


cũng là con, em dân bản, dân xã, không phải người lạ đâu...


Họ bảo nhau như vậy. Mấy người, nhà ở gần đấy, bắt chước


chị chủ nhiệm, đi về lấy củi. Họ cũng muốn góp ngay phần


mình vào ngọn lửa đang sưởi ấm ngôi nhà co ro trong


gió rét.


Seo Mỉ bước vào ngôi trường, dáng điệu nghiêm trang:


- Tôi có ít củi đem đến cho các cháu sưởi trong giờ học,


xin thầy giáo nhận cho.


Cối nghiêm trang đáp lại:


- Tôi xin thay mặt nhà trường và các em, thành thật cảm


ơn chị chủ nhiệm.


Dứt lời, Cối đỡ tay Seo Mỉ lấy thanh củi chất trong cái


lù cở ra, xếp vào một chỗ. Vừa làm, Seo Mỉ vừa ngắm nhìn


bầy trẻ. Chúng ngồi chung quanh đống lửa, quyển sách tập


đọc mở ra, để trên đùi. Ánh lửa chập chờn trên các tròng mắt


xinh nhỏ. Hơi lửa đỏ hây trên các gò má bụ bẫm. Những bộ


bàn ghế chưa phai hết màu xanh tre nứa, chiếc bảng đen,


những bức tường vàng đất thó... tất cả dường như đã ấm ran


và náo nức vui. Hơi ấm, niềm vui giản dị vây quanh Seo Mỉ.


Chị chủ nhiệm quay ra, mang theo hình ảnh vừa len vào


tâm trí. Khuôn mặt trái xoan, gầy và xanh, ánh mắt ấm hơi


lửa. Có lẽ, cảm thấy hình ảnh đó đến với mình có phần đột


ngột. Chị cố quên đi mà sao nó vẫn thấp thoáng như tia nắng


sớm, lúc đậm lúc nhạt, trong tâm trí mình. Ra đến chỗ quả


đồi làm dở, chị vung cuốc bổ mạnh. Hố này đến hố khác lùi


nhanh về phía sau.


Các lù cở mà các bà vừa địu ra, ủng hộ trường học, khiến


Seo Mỉ lại nghĩ đến củi. Chao! Người Mèo sao lắm cái khổ.


Đã khổ vì hạt bắp còn khổ vì hạt muối. Đã khổ vì giọt nước


lại khổ vì thanh củi. Biết làm sao được! Trên núi cao giờ đây


chỉ còn hang hốc đá và những mỏm đồi trọc. Và mây mù mù


mịt trên các bản làng. Nhiều triền núi đã rạn nứt. Nhiều con


suối đã đổi dòng. Biết bao ngày đêm, năm tháng đã trôi qua.


Vậy mà mây mù vẫn đứng đấy, chứng kiến nỗi khổ truyền


kiếp của người Mèo.


Bản Lù Chải cheo leo trên núi cao. Một mùa mát, se


lạnh. Ba mùa kia lạnh hẳn, có khi lạnh đến băng giá. Dân bản


không ai biết cái quạt mà chỉ biết ngọn lửa. Muốn có ngọn


lửa xua tan gió rét, sương muối, phải có củi. Các cánh rừng


gần bị phát quang hết cả rồi. Đến khúc gỗ làm chuôi dao tìm


còn khó, làm sao có gỗ làm củi được? Phải đi hái ở rừng xa.


Rừng xa cũng hết dần. Phải đi xa hơn nữa. Thanh củi cứ kéo


bước chân con người, con ngựa thồ ra xa, xa mãi.


Nhưng người Mèo không trồng cây hay sao? Có đấy. Họ


trồng cây ngô, cây lúa, cây sèo, cây đậu tương, cây rau dua để


có cái ăn hàng ngày. Chỉ có thế. Bởi khi mảnh nương đã gầy,


họ phải đi nơi khác làm ăn, có trồng những thứ cây khác


cũng đến để lại cho nếp nhà giờ đây đứng chơ vơ trong mây


mù. Chử lầu lòng độc địa không muốn người Mèo dừng chân


lâu một chỗ! Tuy nhiên, đến nơi nào đất rộng, đất tốt, có thể


ở lại lâu, họ trồng thêm cây đào, cây lê, cây mận, cây mắc


coọc, cây óc chó ngoài vườn. Và một ít cây xá xủi(1) trên ngọn


đồi, sườn núi gần chỗ ở, để làm nhà, sửa nhà. Cây tông che,


gỗ vàng như gỗ mít, thơm như gỗ long não, dùng để đóng


thùng đựng nước, khi nào cần đến, lên các ngọn núi cao, tìm.


___


(1) Cây thông.


Nó sống đã từ lâu trên ấy. Còn củi đun nấu thì mỗi khi đi


nương, chặt các cây con, cắt cỏ tươi nhét vào lù cở, đem về


phơi khô. Chỉ có củi sưởi trong những ngày đêm đằng đẵng


trong giá lạnh là cần. Cần như mèn mén để cho no lòng, như


muối để cho mặn miệng.


Người bản Lù Chải đã tự nguyện ở lại nơi đây với triền


núi, khe lũng, sương muối, mây mù này. Phải có củi để sưởi,


đun nấu trong những ngày giỗ, Tết, ma chay, cưới xin...


Rừng thì đi xa rồi. Làm thế nào bây giờ?


Chẳng biết từ bao giờ, hình như từ lâu lắm, có những


ngọn gió đôn hậu rải những hạt lên khắp núi đồi Pha Long


và nhiều nơi khác trên vùng cao. Mặc dù phơi ra nắng mưa,


gió rét, không một bàn tay người chăm sóc, đám hạt ấy vẫn


nảy mầm. Rồi vươn lên rất nhanh trên mảnh đất, gió đã gieo


hạt xuống đấy. Khoảng bốn năm sau, cây nào cây nấy đã to


gần một vòng tay ôm. Người ta hạ xuống, bổ ra, đem về


làm củi đun. Mỗi cây phải chất đầy dăm lù cở. Đó là cây tống


quá xủi.


Từ đấy, dân bản Lù Chải cũng như các bản khác ở khu


Pha Long, chú ý đến cây tống quá xủi. Người già đã gán cho


nó nhưng điển tích đẹp như ánh trăng lồng đáy suối, đôi bờ


rủ bóng hoa lê, mận:


"Ngày xưa, ở bản Mèo kia, có anh con trai tên gọi Tống


Quá Xủi. Cha chết, mẹ chết, vợ con chưa có, anh sống cô đơn


trong túp nhà tường đắp đất, mái lợp cỏ. Ngày ngày anh vác


búa vào rừng đốn củi, bán làm kế sinh nhai. Nghèo thật


nghèo, nhưng anh hiền lành, thật thà nên được mọi người


mến yêu.


Theo lệ thường, một buổi sáng nọ, lúc ông mặt trời còn


ngủ, anh vác búa vào rừng. Bỗng anh sững sờ. Cả cánh rừng


anh thường đến đốn củi, chỉ còn lại một cái cây mà con mắt


anh chưa trông thấy bao giờ. Khi anh lại gần tỏa ra một mùi


thơm phảng phất mùi hoa mẫu đơn. Nghi ngại, anh toan


quay về thì mùi thơm thoang thoảng như níu lấy chân anh.


Hơn nữa, nếu về không, ngày hôm đó anh sẽ đói. Anh đứng


lại, vung búa bổ vào gốc cây. Mới bổ được một nhát, anh đã


nghe thấy một giọng dịu dàng từ trong thân cây vẳng ra:


"Chàng hãy nhẹ tay kẻo chạm vào người em!". Anh liền lựa


búa, chém từng nhát nhè nhẹ. Lát sau, cây từ từ đổ. Cùng lúc


đó, một người con gái đẹp tuyệt trần từ trong cái cây thong


thả bước ra. Rồi nàng dịu dàng nói: "Em là con gái út vua


trời. Thấy chàng là người nhân đức, vua cha cho em xuống


trần gian để cùng chàng nên vợ nên chồng... " Mừng rỡ, anh


dắt con gái vua trời về nhà.


Tống Quá Xủi mới có người vợ đẹp tựa nàng tiên. Tin


đó như cánh con chim dì li bay đến mọi nhà trong bản. Bay


đến cả nhà cha con tên thống lý có tiếng là độc ác. Thằng con


tức tốc chạy đến nhà Quá Xủi, hỏi chuyện. Sau đấy, nó vác


búa chạy một mạch ra chỗ Quá Xủi ngả cây lúc sáng. Lạ quá!


Cái cây Quá Xủi vừa hạ, đã biến đi nhường chỗ cho một cây


khác đứng yên lặng trên bãi đất hoang. Nó dang tay búa


chém vào gốc cây. Lại có tiếng từ trong đó vẳng ra: "Chàng


hãy nhẹ tay kẻo chạm vào người em!". Sướng như điên lên,


nó vung búa chém lia lịa, chỉ một thoáng sau, cây đổ sập.


Cùng lúc đó, một con hổ xám lao ra, cắn đứt cổ thằng con


tên thống lý.


Biết chuyện tên thống lý căm thù Quá Xủi hết bụng. Nó


liền phao tin Quá Xủi có "cái ma ác". "Cái ma ác" đã hiện


thành người, làm vợ anh. Thông thường, khi người nào bị


nghi là có "cái ma" đã làm ác người khác thì dân bản kéo đến


đập phá nhà, đánh người đó đến chết mới thôi. Nhưng có


những người già nhân đức đã lẻn đến báo cho vợ chồng Quá


Xủi biết. Đôi vợ chồng trẻ tình duyên mới bén đã phải nhìn


nhau, nước mắt ròng ròng. Rồi con gái vua trời buồn bã nói:


"Em phải đi thôi. Nếu chàng chưa hết dạ yêu em, chàng cứ


theo gió mà đi, theo mây mà đến, sẽ tìm thấy em... ". Nói


xong, nàng biến mất. Quá Xủi trút nắm ngô còn lại vào túi,


xách búa bước ra khỏi gian lều. Ra đến đường, anh thấy một


cơn lốc bất thần hiện ra trước mặt. Cơn gió xoáy cuốn theo


bụi cát, từ từ lăn đi. Anh lẳng lặng bước theo. Khi anh đã


vượt đủ chín núi tám khe, cơn lốc đi phía trước, dừng lại,


xoáy quanh cái cây thơm ngát mùi hoa mẫu đơn. Và anh


nghe thấy giọng nói thân quen: "Chàng hãy nhẹ tay kẻo


chạm vào người em!". Quên đói khát, mệt mỏi, anh lựa từng


nhát búa, hạ cái cây.


Giữa lúc cái cây ngả sang một bên, vợ anh khoan thai


bước ra. Hai vợ chồng nắm tay nhau, nước mắt chan hòa. Họ


quyết định ở lại đấy, không trở về cái bản có tên thống lý tàn


ác kia nữa.


Quá Xủi bổ cái cây ra, lấy gỗ làm nhà. Thật kỳ lạ! Cái


cây chưa được một vòng ôm mà đủ gỗ làm một ngôi nhà


khang trang. Ngôi nhà vừa được dựng lên, gió liền thổi một


đám hạt đến, rắc chung quanh. Rặng cây lớn nhanh, cành lá


xum xuê. Đêm đến, một mùi thơm tỏa ra, ấp ủ ngôi nhà. Đôi


vợ chồng trẻ sinh con đẻ cái, sống yên vui bên nhau…"


Seo Mỉ đang nghĩ đến cây tống quá xủi. Đó là giống cây


mau lớn, gỗ cháy đượm, sống ở đâu cũng được. Vậy mà dân


bản không mấy ai chú ý trồng. Có lẽ họ trông chờ ở gió gieo


trồng cho họ. Hoặc giả họ chưa quen trồng loài cây đó. Dù


sao, như thế cũng là sai. Phải vận động dân bản trồng cây


tống quá xủi như người Dao trồng cây quế.


Hàng năm, già trẻ trai gái, mỗi người Dao trồng một vạt


quế. Năm nào cũng trồng. Sau mười lăm năm, quế già thì


bóc vỏ. Từ đấy, năm nào cũng có quế trên cây. Nếu bản Lù


Chải mỗi nhà trồng một đồi tống quá xủi. Năm nào cũng


trồng. Chỉ bốn năm sau, họ sẽ có đủ củi. Và chẳng bao giờ họ


phải đi chặt từng cây con, cắt từng nắm cỏ tươi về đun.


Chẳng bao giờ con ngựa phải đi đến một cánh rừng xa, thồ


củi về sưởi. Seo Mỉ nghĩ thầm. Bất chợt những hình ảnh


quen thuộc hiện lên, diễn qua trước mắt chị. Từng bóng


người, lưng đèo những thuồng nước, chật chưỡng bước đi


trong bóng đêm. Họ vừa ở ngoài suối về. Từng bóng người,


đằng trước địu con, đằng sau địu lù cở củi, lần bước trong


bóng chiều. Họ vừa ở dưới mương lên. Những bóng người


đàn bà, con gái Mèo! Khổ quá! Họ khổ từ bao đời nay rồi.


Đến lúc này họ vẫn chưa hết khổ. Bây giờ đã có nước, nếu lại


có củi, dân bản phải vui. Nhất là các mẹ, các chị…


Niềm vui lại dấy lên, rạo rực trong lòng Seo Mỉ. Các hố


càng lùi nhanh về phía sau. Chị tưởng chừng mỗi hố sẽ đem


theo một phần cái khổ năm tháng đã nén lại với mảnh đất


khô cằn trên mỏm đồi. Chị bập mạnh từng nhát cuốc


xuống đất.


- Đào hố đến đâu, bỏ phân đến đấy, rồi trồng cây ngay


à, chị Seo Mỉ? - Ở quả đồi bên kia, Sùng Chí hỏi với sang.


Seo Mỉ dừng tay cuốc:


- Làm đất xong, ta huy động thanh niên đến lâm trường


lấy cây con về trồng ngay. Ta phải làm trước mùa mưa lũ


cho cây con chóng cứng cây.


Bóng chiều muộn đã bao phủ núi đồi. Tiếng cuốc vẫn


vang lên. Mãi đến lúc lưỡi cuốc bập khắp nơi vào hòn đá,


sáng lóe lên như tia chớp giật, mọi người mới ra về. Tối rồi.


*


Cơn nghiện chụp xuống người A Cấu. Hắn ngáp. Như


con cá dưới suối bị đưa lên cạn, hắn há hốc mồm ra ngáp.


Quai hàm kêu răng rắc. Nước mắt, nước mũi đổ ra. Râu ria,


mái tóc kênh trên vành tai, chảy dài. Mặt hắn rúm ró, khô


quắt lại.


A Cấu đã nhịn hút từ mấy hôm nay. Thuốc hết. Một ít


sái còn lại, hắn chiêu nước nuốt mỗi khi lên cơn nghiện, giờ


đây cũng đã hết nhẵn. Cơn nghiện đang hành hạ hắn. Hắn


không khỏi nghĩ đến nương thuốc phiện của hắn trong cánh


rừng kia. Nếu nó không bị phá, hắn không đến nông nỗi


này. Những ngày này, hắn có thể nằm khểnh trong cái hang


gần đấy mà hút. Hút cho đến lúc đầu óc tê dại rồi ngủ thiếp


đi. Khi nào tỉnh dậy, lại hút cho thật say. Say đến mức toàn


thân như bồng bềnh trong mây gió, không còn biết trời đất


gì nữa… Nhưng không còn nữa, tất cả những khoái lạc ghê


tởm ấy! Hắn điên lên. Trong giây phút bất giác, “máu phỉ”


lại trỗi dậy trong con người tên phỉ cũ chưa cải tạo. Con


Seo Mỉ, thằng A Dếnh, chúng mày làm ác với tao, tao phải


làm ác lại! Hắn vòng ra sau nhà, lấy con dao găm giấu ở đấy,


gài vào cạp quần. Rồi rảo bước đi về phía nhà Seo Mỉ. Tối đã


được một lúc lâu. Bóng tối nhạt xao động trong hơi gió chạy


dài. Và tiếng con chim lợn vừa bay qua, rơi xuống nghe


rờn rợn.


- Đi đâu đấy ông A Cấu? - Thình lình có tiếng người hỏi.


Đang mải bước, A Cấu giật mình đứng lại. Hắn căng


mắt nhìn. A Dếnh, anh bí thư chi bộ! Hắn luống cuống:


- À… tôi đi chơi thôi, anh A Dếnh à.


- Ông đi chơi mà cái chân bước nhanh thế? Ông lại đi


hút thuốc phiện phải không?


A Cấu gãi đầu gãi tai:


- Không đâu. Tôi thề có Chử lầu biết, tôi không hút


nữa mà.


- Ông vẫn hút hay thôi rồi, việc đó bụng ông biết rõ hơn


tôi cũng như dân bản. Không cần đem Chử lầu ra thề. Ông


nghe tôi, kiên quyết bỏ thuốc đi.


A Cấu nín lặng. A Dếnh vỗ vào vai hắn, làm hắt giật


thót người.


- Nếu ông đi chơi, ông nên đi về ngồi sưởi lửa hoặc đi


ngủ cho đủ mắt. Dạo này dân quân trong xã đi canh phòng


các bản suốt đêm. Công an vũ trang thì đi tuần tra khắp các


nơi trong khu vực Pha Long. Bắt gặp ai có hành động khả


nghi, họ bắt giữ ngay. Ông hãy chú ý!


Nói đoạn, A Dếnh quay đi. Trời rét mà A Cấu vã mồ


hôi. Cơn điên giận theo đám mồ hôi vừa toát ra đã se lạnh,


nguội lạnh theo. Vả chăng, hắn vốn là kẻ tinh ma. Hắn nhận


ra ngay, ý định vừa nãy của hắn thật là ngu dại. Hành động


liều lĩnh kia nhất định không thể qua mắt mọi người. Càng


không thể qua mắt anh bí thư chi bộ với cái nhìn xoáy sâu


vào ruột gan hắn. Hậm hực, hắn lủi về, giấu con dao găm


vào chỗ cũ. Sau đó, buông người ngồi xuống bên bếp. Hắn


nhìn ngọn lửa, đôi lông mày ngắn ngủn chởm lên. Cơn điên


dại tiêu tan song hắn chưa hết thù Seo Mỉ, A Dếnh. Hắn đẩy


cửa bước ra, nhìn trước nhìn sau. Không có ai cả, yên tâm,


hắn mò sang nhà ông Mí Cháng.


Nhà ông Mí Cháng ở bên kia đồi. Lúc đó, ông ngồi sưởi


lửa một mình. Và đầu óc đang ngầu đục như con suối mùa


mưa. Ông đang buồn thì có bạn già đến chơi. A Cấu đến thật


đúng lúc.


- Ngồi xuống đây, ông A Cấu. Ta uống nước nhé! - Ông


Mí Cháng vồn vã nấu nước. Được dịp, A Cấu liền thăm dò.


- Nhà ông vẫn uống nước bể đấy chứ? Nước về bản tiện


quá, ta không phải ra suối lấy nước nữa. Hợp tác xã nghĩ


giỏi thật.


Nỗi buồn bực do cái đường ống gây ra, tưởng đã vợi bất


ngờ lại bật lên như cái cần cối giã gạo. Ông Mí Cháng khẽ


dằn giọng:


- Nhà tôi vẫn uống nước ngoài suối, không uống nước


trong cái ống của hợp tác xã. Người Mèo ta chỉ uống nước


suối, nước sông, nước trong hốc đá thôi.


Bà Mí Cháng đang xay ngô ở góc nhà. Câu nói của


chồng khiến bà bực bội. Bà nói với sang:


- Bắt đầu từ ngày mai, tôi không ra suối lấy nước nữa


đâu. Sáng nào cũng đi một mình, về một mình. Đã vất vả,


người ta lại còn bảo là lạc hậu. Có nước về bản rồi, còn ra


suối lấy nước là lạc hậu thật đấy.


Ông Mí Cháng đập cái que cời xuống đất làm than lửa


bắn tung tóe:


- Mày im cái mồm đi, đừng có nói chín phương tám


hướng nữa! Tao còn sống ngày nào, mày phải ra suối lấy


nước về cho tao uống.


Bà Mí Cháng luôn luôn nhớ mình là một người đàn bà


Mèo. Từ xưa tới nay, người đàn bà Mèo vẫn chịu như thế.


Chồng to tiếng, vợ phải lặng im. Chồng đánh đập, vợ phải


đứng yên. Chồng say rượu, vợ phải ngồi một bên cho đến


lúc chồng tỉnh. Vợ muốn đi đâu một mình, phải được chồng


cho phép mới được đi… Suối đời, người đàn bà Mèo phải


kính sợ hai vị thần: vua trời và chồng.


Sau Cách mạng Tháng Tám, ánh sáng đã tỏa ra khắp nơi


trên vùng cao. Ánh sáng của Đảng đã xua tan bóng đêm ngự


trị trong các bản Mèo. Vua trời mất thiêng. Uy quyền của


người chồng giảm sút. Nhiều người vợ - nhất là những


người vợ được giác ngộ, đã mạnh dạn đấu tranh với các thói


hư tật xấu, sự đàn áp, độc đoán của người chồng. Riêng bà


Mí Cháng, bà chưa hết kinh sợ Chử lầu và ông Mí Cháng. Bà


im bặt. Nỗi bực bội của bà hòa tan vào tiếng rù rù nhẫn nại


của cái cối xay ngô.


Ông Mí Cháng quay sang A Cấu dịu giọng:


- Ở cùng một bản lại là người Mèo cả, mình đi một


đường, mọi người đi một lối, bụng mình không vui được.


Nhưng dân bản không tin cái ma mà lại tin Seo Mỉ, là lạc lối


rồi, ông A Cấu à!


A Cấu phụ họa dè dặt:


- Tôi cũng nghĩ như ông… có lẽ dân bản lạc lối rồi.


Nhưng, mà… ông Mí Cháng à, hết đêm trời lại sáng. Bụng


họ có lúc phải sáng ra. Bấy giờ họ sẽ lại ra suối lấy nước. - A


Cấu nhìn trộm bà Mí Cháng rồi hạ giọng. - Cái ma không


chịu thua Seo Mỉ đâu. Nó làm cho nước trong ống tím rồi


đấy. Có lúc nó còn giữ nước ngoài suối, không cho chạy về


bản nữa kia. Dà! Lúc ấy, mọi người lại phải ra suối thôi.


- Từ ngày nước về bản, nhà ông uống nước ở đâu? Ở


ngoài suối hay trong bể? - Ông Mí Cháng ngay thật hỏi.


Câu hỏi bất ngờ của ông Mí Cháng không làm A Cấu


lúng túng. Hắn ấp bàn tay vào ngực, nét mặt thiểu não:


- Ông lạ gì tôi là thằng phỉ cũ. Mồm tôi cũng biết thèm


nước suối, nhưng chân tôi không dám ra suối. Tôi đi khác


đường mọi người, tôi không yên được như ông đâu. - Hắn


thở dài. - Trâu non được ăn cỏ tươi. Trâu già phải gặm cỏ


héo… Ông còn không biết à?


Ông Mí Cháng ngước mặt nhìn lên mái nhà. Nếp trán


ông xếp lại, vẻ ngẫm nghĩ. Té ra mình là con trâu non, con


trâu quý! Ông ta cảm thấy hể hả, có phần tự hào. A Cấu rầu


rĩ nói tiếp:


- Ngày xưa người già nói, người trẻ phải nghe. Bây giờ


người trẻ giơ tay chỉ, người già phải làm theo. Người ta sợ


cán bộ còn hơn sợ Chử lầu. Núi Dình Chinh sắp sập, sông La


Hờ sắp cạn rồi.


- Không biết rồi đây người trẻ làm cái gì nữa. Cái bản


này, cái hợp tác xã này sẽ ra sao ông A Cấu? - Giọng ông Mí


Cháng lại đượm buồn.


- Bản này ấy à? Người trẻ bảo nó sắp thành thị xã Lao


Cai đấy. Còn hợp tác xã này, người ta sắp cho phân để cây


lúa, cây bắp được nhiều để đổi lấy cái ô tô cho ban quản trị


đi họp. Ấy dà! Dân bản Lù Chải sắp sướng thật rồi. - A Cấu


mỉa mai kín đáo.


Hình ảnh “cái ma” lại choán lấy tâm trí ông Mí Cháng.


Ông nhìn A Cấu chằm chặp:


- Tôi nghe nói chỉ bón phân cho cây trẩu, cây thông


thôi mà?


- Ông nghe chưa hết lời đấy. Người ta bón phân cho cả


cây lúa, cây bắp, cây đậu tương. Hợp tác xã áp dụng khoa


học kỹ thuật mà! Ông không nghe ông bí thư, bà chủ nhiệm,


bà kỹ sư nói à?


Chiếc que cời run run trong tay ông Mí Cháng. Giọng


ông ta run lên theo:


- Bón phân cho cây lúa, cây bắp, đến ngày giỗ tết, đem


cái lúa, cái bắp ấy cúng tổ tiên được à? Nhà có người ốm hay


gặp vận hạn, cúng cái ma, mời mú cống ăn cái lúa, cái bắp ấy


được à? Đúng là núi Dình Chinh sắp sập, sông La Hờ sắp


cạn rồi Chử lầu à!


A Cấu chêm vào:


- Ông nói đúng đấy. Cái lúa, cái bắp ấy không cúng tổ


tiên, cái ma, cho mú cống ăn được đâu. Khó thật rồi! - A Cấu


lấp lửng. - Hay là ta trồng cây lúa, cây bắp riêng để có cái


mà cúng?


Ông Mí Cháng như bị chọc tức. Cái tức đang trào lên cổ


ông với câu hỏi xẵng.


- Trồng thì trồng ở đâu?


- Trồng dưới ruộng, dưới nương chứ còn đâu nữa.


- Ruộng nương hợp tác xã lấy hết rồi, chỉ còn hốc đá


thôi. - Ông Mí Cháng “hừ” một tiếng tức nghẹn trong cuống


họng. - Hợp tác xã làm người Mèo khổ rồi!


A Cấu làm ra vẻ ngớ ngẩn:


- Thật à? Thế mà tôi quên đấy. - A Cấu đưa mấy ngón


tay, móng cáu ghét gãi gãi trán. - Khó quá rồi đấy, ông Mí


Cháng à! ... Bây giờ chỉ còn có một cách thôi.


- Cách gì? - Ông Mí Cháng ngắt lời A Cấu.


- Xin ra hợp tác xã.


- Xin ra được không, ông A Cấu?


A Cấu đảo mắt nhìn về chỗ bà Mí Cháng, rồi đáp:


- Được chứ. Cán bộ nói rồi, vào hay ra là tự nguyện mà.


- Nhưng có lấy được ruộng nương ra không?


- Sao không được? Ruộng nương ấy là của ta, ta phải lấy


lại chứ.


Ông Mí Cháng lại suy nghĩ. Lần này ông suy nghĩ nhiều


đấy. Các vết nhăn trên trán hằn sâu. Hai bên má bóp vào. Bộ


râu lưa thưa dài ra. Y như những lần ông đứng trên núi, âm


thầm ngắm dải đất - đất không ba thước bằng, ngày không


ba ngày nắng - chưa biết đi đường nào cho khỏi lạc. Gia đình


ông vào hợp tác xã cũng đã lâu. Ông không thể không mến


hợp tác xã, bà con xã viên. Hiềm một nỗi ông sợ "cái ma".


Không có cái ma, người Mèo không sống được! Ông tin như


vậy. Và hầu như chưa một lúc nào "cái ma" buông tha ông.


Lúc này lại bị "cái ma" A Cấu kích động, ông càng chán ghét


hợp tác xã.


- Ông có xin ra hợp tác xã với tôi không ông A Cấu? -


Ông Mí Cháng thẫn thờ hỏi.


- Tôi nói với ông rồi mà. Tôi mà được như ông, tôi xin ra


hợp tác xã lâu rồi. Ông nói đúng quá, hợp tác xã chỉ làm


người Mèo khổ thôi. Thế mà tôi vẫn phải bám lấy hợp tác xã


như bám lấy mảnh nương gầy, con suối khô. - A Cấu trút


một hơi thở nặng trịch. - Con trâu già phải gặm cỏ trên mô


đá. Bụng tôi buồn lắm, ông Mí Cháng à!


Chợt có tiếng nói xen vào tiếng bước chân, từ bên ngoài


vọng vào. Có lẽ dân quân đang tuần tra đâu đây. Hai người


cùng im lặng. Một mùi khét đắng dậy lên, đầy ắp căn nhà.


Mùi bắp ngô lùi trong bếp, quên không lấy ra, đã cháy đen.


Tiếng động lảng ra xa. A Cấu lấm lét đứng lên.


- Ông mà xin ra, nhiều người già sẽ theo ra. Cả người trẻ


nữa, họ chỉ đợi người già ra là họ xin ra hợp tác xã. Người


Mèo ăn mèn mén Chử lầu cho chứ không ăn mèn mén có lẫn


phân trâu, phân ngựa, phân lợn hợp tác xã cho. Seo Mỉ là


người Kinh, người Tày, người Nùng rồi, không phải người


Mèo ta nữa.


A Cấu gài mấy câu nữa rồi mới đi về. Ông Mí Cháng


vẫn ngồi đấy, cằm kê lên đầu gối. Hai cái túi da lùng nhùng


phía dưới mắt, chảy xuống gò má. Nếp nhà nhạt mùi bắp


ngô cháy, bỗng vắng lặng hẳn đi. Bà Mí Cháng dừng tay xay.


- Ông đừng nghe ông A Cấu. Mồm ông ấy có lá độc,


không nói được lời hay lời tốt đâu. - Bà Mí Cháng nhỏ


nhẹ nói.


Ông Mí Cháng quay phắt lại, mắt gườm gườm:


- Mày là đàn bà, mày chỉ giỏi tay xay bắp, dệt vải, thêu


áo thôi, không khôn hơn đàn ông được đâu. Tao là chồng,


mày là vợ mà mày lại dạy cái khôn cho tao à!


Già nửa đời người sống bên người chồng độc đoán, con


người bà Mí Cháng như chảo nước đặt trên bếp lửa. Nước


trong chảo lạnh tanh. Song đun mãi, đun mãi, nó sẽ reo. Rồi


đến một lúc nào đấy, nó sẽ sôi. Bà không nín nhịn được nữa.


Mặc dù vậy, giọng bà vẫn nhẹ nhàng:


- Chị Chấn Hoa trên huyện là đàn ông hay đàn bà?


Chị Seo Mỉ ở bản này là đàn ông hay đàn bà? Thế mà chị ấy


đứng đầu hợp tác xã Lù Chải này đấy. Ông nói không


đúng rồi.


Ông Mí Cháng như con gà mắc tóc. Ông ta khẽ rít giọng


cố che giấu sự lúng túng đột ngột:


- Mày im cái mồm đi! Con Seo Mỉ không phải là người


Mèo ta nữa. Cái ma bỏ nó rồi.


Lẳng lặng, bà Mí Cháng đẩy cái tràng cối. Hai thớt cối cà


vào nhau nghe như rên rẩm. Cái tiếng rù rù khiến ông Mí


Cháng không ngồi yên bên bếp lửa được nữa. Ông ta đứng


bật dậy, xăm xăm đi ra. Đi đâu? Đến nhà chị chủ nhiệm hợp


tác xã. Seo Mỉ đi hội ý với các đội trưởng đội sản xuất,


vừa về đến cổng. Chị toan đi vào nhà, ông Mí Cháng đã gọi


giật lại.


- Chị Seo Mỉ à! Tôi xin ra hợp tác xã thôi. - Ông Mí


Cháng nói ngay không úp mở.


Seo Mỉ sửng sốt. Chị nhìn ông Mí Cháng, con mắt không


muốn chớp. Ông ta say rượu ư? Có lẽ không phải. Dưới ánh


sao, chị thấy ông ta tỉnh táo như mọi lúc. Chỉ có điều ông ta


sắt lại, nom u uất.


- Sao ông lại nói thế? Nói thế không nên đâu, ông Mí


Cháng à! - Seo Mỉ nói trong lúc bối rối.


- Tôi nói thật đấy. Tôi nghĩ nhiều trong bụng rồi mới nói


với chị...


Seo Mỉ như chợt tỉnh sau giấc mê. Qua nét mặt, giọng


nói, rõ ràng ông Mí Cháng đã suy nghĩ kỹ chứ không bông


đùa. Bất chợt, một nỗi buồn da diết xâm chiếm lấy chị.


- Ông làm xã viên lâu rồi. Hợp tác xã đang đi lên sản


xuất lớn, đời sống xã viên sắp được đầy đủ, sao ông lại xin


ra? Hay là ban quản trị có khuyết điểm đối với ông?


- Ban quản trị đối với tôi tốt đấy, không có khuyết


điểm đâu.


- Thế thì vì lý do gì ông xin ra hợp tác xã? - Seo Mỉ


gặng hỏi.


Ông Mí Cháng không tự kiềm chế được nữa. Giọng ông


ta trở nên gay gắt:


- Người Mèo, tổ tiên người Mèo, cái ma, mú cống không


ăn lúa, bắp bón phân con trâu, con lợn. Tôi là người Mèo mà!


Thì ra thế! Seo Mỉ liền tìm lời giải thích:


- Muốn có nhiều lúa, bắp, muốn cho cây thông, cây trẩu


phát triển nhanh, phải bón phân...


Nhưng ông Mí Cháng đã hầm hầm quay đi. Seo Mỉ như


người đang mải bước thình lình sa xuống hố, bước chân


hẫng đi, mồ hôi toát ra. Chị đờ đẫn ngó theo bóng người đi


dưới trời sương. Và trong cơn gió thổi ngược chiều. Bỗng


nhiên chị liên tưởng đến một người đi chơi chợ. Chợ đang


đông vui thì người đó bỏ về. Cái bóng thui thủi trước mặt


chị, đã lẫn vào vầng sáng mù mờ của mấy vì sao xa tắp.


Buồn bã, chị đi vào nhà.


Bóng dáng cái người bỏ dở phiên chợ đông vui, đang


ám ảnh Seo Mỉ chợt một người bước vào. Lềnh! Người đàn


bà góa chồng, vì hoàn cảnh gia đình phải đi bước nữa, vừa


về thăm con. Chị chào bà Thào Xóa, Seo Mỉ rồi đon đả nói:


- Tôi ở Tả Ngà Trù về đến đây lúc chiều, cô Seo Mỉ à!


Nhìn nét mặt, Seo Mỉ đoán biết Lềnh đang vui. Phút


chốc nỗi buồn của chị vợi nhẹ đi. Chị niềm nở tiếp


chuyện Lềnh:


- Hai cháu của chị vẫn khỏe mạnh. Thầy giáo đã đến tận


nhà đón các cháu ra trường học. Nghe thầy giáo nói, các


cháu học chăm đấy.


- Các cháu kể hết cho tôi nghe rồi. Tôi mừng lắm.


- Thấy chị về thăm các cháu, thái độ ông cụ với chú em


chồng ra sao?


Lềnh cảm động:


- Ông cụ với chú em chồng đã không khinh ghét tôi như


con chim bỏ tổ mà còn thương tôi đấy. Ông cụ nói, tôi muốn


về thăm các con lúc nào cũng được, không ai cấm. Tôi ơn cô


Seo Mỉ nhiều lắm.


Seo Mỉ bỗng ngượng nghịu:


- Đừng nói thế, chị Lềnh à! Sau khi chị về Tả Ngà Trù,


tôi có thay mặt chi bộ, cùng với chị bí thư phụ nữ xã đến nói


chuyện với ông cụ, chú em chồng, dặn dò các cháu thật,


nhưng cái chính vẫn là thái độ đúng đắn của chị lúc về nhà


chồng mới. Hơn nữa ông cụ với chú em chồng đều là người


tốt nên khi được nghe cái tình, cái lí của Đảng thì bụng sáng


ra ngay. Tôi thành thật mừng cho chị. Tôi mong từ nay ở bản


ta cũng như các bản khác, tất cả những người đàn bà Mèo


góa chồng sớm đều được như chị, không một ai phải làm vợ


em trai chồng mình nữa. Tục lệ ấy lạc hậu lắm, phụ nữ phải


đấu tranh, xóa bỏ nó đi.


Xúc động, Lềnh kéo vạt áo thấm nước mắt:


- Không có người trồng cây chàm, làm sao có hoa chàm


nở. Không được nghe cô nói lời của Đảng, tôi đến phải làm


vợ chú em chồng thôi. Tôi không bao giờ quên ơn cô đâu, cô


Seo Mỉ à.


Seo Mỉ lảng sang chuyện khác.


- Người chồng mới của chị đối xử với chị ra sao?


- Tốt đấy. Anh ấy bảo tôi, nếu ông cụ với chú em chồng


bằng lòng cho hai cháu về ở với chúng tôi, anh ấy sẽ về đón


các cháu ngay. Anh ấy biết thương tôi lắm. - Giọng Lềnh


líu ríu.


- Thật đáng mừng cho chị gặp được người chồng


độ lượng.


Ngấn nước mắt còn đọng trên gò má Lềnh. Nhưng


gương mặt chị đã lại tươi tắn. Chị ra về để lại trong lòng Seo


Mỉ một niềm vui bâng khuâng. Chừng như bà Thào Xóa


cũng đang nghĩ đến chuyện ấy, bà lẩm bẩm bên guồng lanh:


- Cháu đến tuổi nhận vòng tay của con trai rồi đấy.


Seo Mỉ mủm mỉm:


- Nhưng bà đừng đặt giá cháu nhé!


- Bà không đặt giá cháu đâu. Bà muốn vợ chồng cháu ở


với bà mà.


10


Đêm hôm qua, bác trưởng trại Giàng Vần ngồi bên bếp


lửa mãi đến lúc tiếng cú rúc trong bóng tối, nghe đã đuối


hơi. Chốc chốc bác lại cầm lấy chiếc điếu cày, nạp thuốc,


châm lửa. Rít nửa chừng, bác thường ngừng lại, úp bàn tay


lên miệng điếu, trầm ngâm nhìn cụm khói bếp đang ngún


lên. Ngún lên theo, sau vầng trán cao, bao nhiêu ý nghĩ về


cái trại chăn nuôi của hợp tác xã. Đêm qua, đêm kia, mấy


đêm nay đều như vậy.


Cách đây dăm năm, hợp tác xã Lù Chải đã có trại chăn


nuôi. Trại được xây dựng tại đây, trên khoảnh thung lũng lọt


vào giữa các mỏm đồi. Gọi là trại nhưng thật ra, nó chỉ có


vẻn vẹn một dãy chuồng lụp xụp với mấy chục con lợn,


giống pha tạp. Lợn nái, lợn bột, lợn con sống chen chúc bên


nhau. Thức ăn cho lợn là một ít cám, ngô do hợp tác xã cung


cấp và đám dây, rau cằn cỗi trồng dưới chân đồi. Trại viên


gồm bác trưởng trại và vài ba bà xã viên. Tối đến các bà về


nhà. Bác Giàng Vần ở lại đấy, trong túp nhà trống trải, với


bếp lửa, chiếc điếu cày. Và tiếng con cú từ trên ngọn cây rọi


xuống trong bóng đêm. Mỗi năm, trại cung cấp cho cửa hàng


thực phẩm huyện khoảng dăm ba tạ thịt cân hơi. Chỉ có thế.


Nói cho thật bụng, các trại viên, nhất là bác Giàng Vần, đều


tận tâm. Ai nấy đều coi con lợn của hợp tác xã không khác


con lợn nuôi ở chuồng nhà mình. Song chuồng trại, con


giống, thức ăn, cách chăn nuôi như thế, các trại viên có cố


gắng hơn nữa, đàn lợn cũng không phát triển được. Trại


chăn nuôi cứ như thế mà tồn tại. Y như con ngựa thồ với hai


mã làn đè nặng hai bên sườn. Ngựa gầy yếu. Đường gập


ghềnh. Nó chưa đứt sức nhưng không bước nhanh được.


Đầu cúi xuống, bờm rủ xuống, nó lần từng bước...


Mấy hôm nay, hợp tác xã Lù Chải khác trước rồi. Khác


đến nỗi, mỗi khi nghĩ tới, bác Giàng Vần tưởng chừng ngủ


mê. Những lúc đó, bác thả tay bịt miệng điếu, rít nốt điếu


thuốc. Rồi ngửa mặt, nhả đám khói xám đặc lên mái nhà. Từ


ngày ra đây làm trưởng trại, chưa bao giờ bác vui trong bụng


như những ngày này. Tất cả chuồng trại đều được làm lại,


rộng rãi, sáng sủa hơn chuồng trại cũ. Bên này, đầy chuồng


lợn. Gần một trăm lợn bột, lợn nái giống Mường Khương


thuần chủng. Lợn bột phàm ăn phải tăng trọng nhanh. Lợn


nái nhiều vú, lắm sữa chắc giỏi nuôi con. Con nào con ấy


thật ưa nhìn. Bên kia, dãy chuồng bò. Đàn bò có độ dăm


chục con, nuôi để lấy thịt. Lù Chải sẵn đồng cỏ. Giống tốt, cỏ


sẵn, con bò cũng sẽ chóng lớn. Và ở đây, túp nhà của bác


trưởng trại đã biến thành ngôi nhà cao ráo có nhiều buồng.


Một buồng dành cho bác; các buồng kia, cho mấy anh thanh


niên vừa được ban quản trị cử ra đây đỡ tay bác trong lúc


đêm hôm. Cái trại chăn nuôi hiu hắt trước kia bỗng nhộn


nhịp hẳn lên. Bò rống, lợn rít... Tiếng động vang ấm trong


lòng thung. Tiếng động rộn rã trong lòng bác Giàng Vần.


Bác trưởng trại vẫn ngồi đấy. Lâu lâu bác lại đứng lên,


xách đèn pin đi soi các dãy chuồng. Chuồng trại vẫn im ả.


Yên tâm, bác quay vào, ngồi xuống chiếc ghế thấp, hình tròn,


mặt căng mây, mua của đồng bào Xá. Bác ngồi đấy, hút


thuốc, ngẫm nghĩ về cái trại chăn nuôi. Mãi đến lúc thấy mỏi


lưng, bác mới đi nằm. Lúc đó, thường thường đêm đã chếch


về sáng.


Sáng hôm nay, Seo Mỉ lại đảo ra trại chăn nuôi. Cùng đi


với chị, có một anh thanh niên trạc ngót ba mươi, vận bộ


quần áo bộ đội đã cũ. Khuôn mặt vuông vức, lông mày


thẳng, tia mắt điềm tĩnh. Nom anh có vẻ cần cù, chất phác.


Đó là anh kỹ sư trên huyện, người Tày, phụ trách việc chăn


nuôi ở khu Pha Long. Anh đã về đây mấy lần, giúp ban quản


trị tổ chức lại cái trại của hợp tác xã. Đến nơi, anh đi thẳng ra


khu đất trồng rau củ cho chăn nuôi. Seo Mỉ đi tìm bác Giàng


Vần. Bác đang thái rau cùng với các trại viên ở chỗ chế biến


thức ăn. Thái xong mớ rau, bác mới đứng dậy đưa Seo Mỉ về


buồng mình. Seo Mỉ vừa ngồi ghé xuống mép giường, bác


đã hỏi:


- Chị chủ nhiệm có rỗi không?


Seo Mỉ nhìn bác Giàng Vần. Và chị ngạc nhiên. Từ lâu


rồi, từ khi hai người ở cùng trong ban quản trị hợp tác xã


đến giờ, ít khi bác gọi chị qua chức vụ. Mà thân mật gọi chị


bằng tên: chị Seo Mỉ. Còn chị, chị xưng hô với bác một cách


thân tình như với các cán bộ có tuổi trong bản, xã.


- Hợp tác xã ta đang tổ chức lại sản xuất, nhiều việc lắm,


rỗi làm sao được, bác Giàng Vần! Nhưng nếu bác có việc cần,


cháu xin trao đổi với bác ngay.


Bác Giàng Vần ngồi xuống, đối diện Seo Mỉ. Dáng điệu


nghiêm chỉnh của bác khiến Seo Mỉ phấp phỏng. Có chuyện


gì đây?


- Tôi muốn thôi chức phó chủ nhiệm, chức trưởng trại, chị


chủ nhiệm à! - Bác Giàng Vần đận đà mở đầu câu chuyện.


Dường như Seo Mỉ giật mình. Trong giây phút bối rối,


chị ngó bác Giàng Vần chằm chằm. Chị có ấn tượng người


ngồi trước mặt mình không phải là bác phó chủ nhiệm mà là


ông xã viên Mí Cháng. Bởi câu bác vừa nói, đột ngột, dứt


khoát giống như câu nói của ông Mí Cháng tối hôm vừa rồi.


Không, bác Giàng Vần đấy! Bác vốn mộc mạc, chân chất. Khi


thành lập hợp tác xã, bác là một trong những xã viên đầu


tiên. Từ bấy đến nay, bác gắn bó với tập thể kể cả những lúc


hợp tác xã sa sút, nhiều xã viên dao động muốn xin ra. Chỉ


phải cái bác không lanh lợi, tháo vát như người ta. Mặc dù


vậy, nghĩ đến công lao, lòng thủy chung của bác đối với hợp


tác xã, các xã viên vẫn nhất trí bầu bác vào ban quản trị. Và


bác làm phó chủ nhiệm kiêm trưởng trại chăn nuôi đã mấy


năm nay. Vì lẽ gì bác xin từ chức ấy? Bác chỉ muốn làm một


xã viên bình thường hay bác còn muốn xin ra khỏi hợp tác xã


như ông Mí Cháng? Đầu óc Seo Mỉ nóng hập lên như chõ


mèn mén.


- Bác Giàng Vần à! Từ bao giờ hợp tác xã ta được như


thế này sao bác lại có ý định ấy? Bác cho cháu biết lý do được


không? - Seo Mỉ cố trấn tĩnh, nói bằng một giọng lễ độ mà


tình cảm.


Bác Giàng Vần chưa trả lời vào câu hỏi. Bác kề cà nói


sang chuyện khác:


- Mấy đêm nay, tôi ngủ ít. Thấy trại chăn nuôi của ta


khác trước, bụng tôi vui quá, con mắt không ngủ được.


- Cháu cũng thế, bác Giàng Vần à. Trại chăn nuôi của ta


to rồi. Ta mà làm ăn tốt, đàn lợn đàn bò có thể phát triển hơn


nữa. - Seo Mỉ vui vẻ nói theo.


- Có vui mà cũng có lo. Lo nhiều đấy chị chủ nhiệm à.


- Ta cùng làm cùng ăn. Có gì khó khăn, mọi người cùng


gánh vác, bác không lo.


Quả thật bác Giàng Vần không biết nói sai. Nỗi lo trong


lòng bác đã bộc lộ ra đôi mắt đói ngủ, mi mắt cứng đờ:


- Phải lo chứ, chị chủ nhiệm! Anh kỹ sư nói rồi, muốn


làm việc chăn nuôi tốt, phải biết khoa học kỹ thuật. Tôi


không có cái chữ trong bụng, làm sao có khoa học kỹ thuật


được? Đảng, Chính phủ đã tín nhiệm mà lại để đàn bò, đàn


lợn gầy ốm hay mất mát là có khuyết điểm to đấy. Mấy đêm


nay, cứ một lúc tôi lại phải đi đếm bò, lợn xem có thiếu con


nào không. Nói thật bụng, tôi lo nhiều hơn vui.


Rõ rồi. Seo Mỉ đã rõ vì lẽ gì bác Giàng Vần xin từ chức.


Chị cảm động:


- Bác có tinh thần trách nhiệm như thế thật đáng quý.


Nhưng bác nên phân công cho các thanh niên ban quan trị


đã điều ra đây, làm việc ấy cho bác đỡ vất vả. Còn việc chăn


nuôi, đúng là phải biết khoa học kỹ thuật mới làm tốt được.


Nhưng bác yên tâm. Không biết, ta học dần khắc biết. Người


Mèo ta không ai biết vỡ ruộng, phát nương từ thuở bé. Thế


mà lớn lên, ai cũng biết làm, biết cả trồng lúa, tra bắp để có


cơm xôi, mèn mén mà ăn. Khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi


cũng thế thôi, không khó lắm đâu.


- Ầy dà! Khoa học kỹ thuật khó chứ. Anh kỹ sư nói


nhiều lắm mà tôi chỉ nhớ mấy việc, - bác Giàng Vần cau trán,


hấp háy mắt, bấm vào đốt ngón tay. - Tuyển lựa giống; phân


loại con; thành phần bữa ăn; phòng chống bệnh... Nhớ có


nhớ mà làm tốt thì tôi chưa biết đâu. Tôi lo lắm.


Seo Mỉ im lặng. Chị chợt nhớ đến ý kiến của chị Chấn


Hoa về việc hợp tác xã tổ chức lại sản xuất, tiến lên sản xuất


lớn xã hội chủ nghĩa. Rõ ràng công cuộc này đòi hỏi ở ban


quản trị cũng như các xã viên nhiều điều: Sự giác ngộ xã hội


chủ nghĩa, tinh thần trách nhiệm, văn hóa, kiến thức, sự hiểu


biết về khoa học kỹ thuật... Các mặt đó có quan hệ hữu cơ


với nhau. Thiếu phần nọ, phần kia chịu ảnh hưởng. Và kết


quả sẽ không tốt. Trường hợp bác Giàng Vần làm sáng tỏ


thêm điều đó.


Bỗng nhiên Seo Mỉ lại bối rối. Trình độ văn hóa, kiến


thức của ban quản trị, các xã viên hợp tác xã Lù Chải, nói


chung, còn thấp. Nhiều bà con còn chưa biết đọc, biết viết.


Ai thay bác Giàng Vần chăm lo trại chăn nuôi này? Khó thật!


Bằng một giọng chân thật, bác trưởng trại cắt ngang dòng


suy nghĩ của chị chủ nhiệm:


- Tôi thấy nên để người trẻ làm trưởng trại chăn nuôi.


Người trẻ có chữ trong bụng, biết khoa học kỹ thuật, phải


làm tốt hơn tôi. Còn tôi, tôi xin ở lại trại, đi chăn bò, - bác


Giàng Vần nhìn vọng ra ngoài đổng cỏ. - Việc này không cần


nhiều khoa học kỹ thuật, tôi làm được. Đàn bò của trại sẽ


được ăn no, không con nào lạc vào rừng, sa xuống hốc đá,


gãy chân. Tôi nói thế có hợp bụng chị không, chị chủ nhiệm?


Seo Mỉ vẫn im lặng. Nhân chuyện này, nhiều chuyện


khác len vào tâm trí khiến chị phải suy nghĩ. Bác Giàng Vần


nói thêm:


- Tôi còn ăn mèn mén của hợp tác xã, tôi phải làm tốt cho


hợp tác xã. Cái chân trèo núi biết mỏi, cái tay cầm con dao


phát biết run mà lại muốn phát mảnh nương rộng là sai.


Phát nương hẹp mà đánh gốc kỹ, đốt không lỏi, còn tốt hơn.


Tôi nói thật đấy, không tự ái đâu nhé.


Seo Mỉ đáp, niềm vui, nỗi buồn lẫn lộn:


- Cháu rất quý tấm lòng bác đối với hợp tác xã, nhưng


nguyện vọng của bác, một mình cháu không có quyền quyết


định. Hôm nào họp ban quản trị, cháu sẽ đưa việc này ra bàn


chung. Vả lại, bác được toàn thể xã viên bầu thì nên để đến


đại hội tới, các xã viên có ý kiến thêm. Trong khi chờ đợi, xin


bác cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Ban quản trị, các trại viên sẽ


giúp đỡ bác. Anh kỹ sư phụ trách chăn nuôi của các hợp tác


xã ở khu này, sẽ hướng dẫn bác. Anh ấy cũng như chị Seo


Lý, sốt sắng, tận tụy với công tác trên giao cho. Bác Giàng


Vần, bác yên tâm nhé!


Từ khi làm xã viên, bác Giàng Vần đã mở lòng, vui lo


cùng với hợp tác xã. Chính vì thế, lúc này bác chưa yên tâm


được. Đang rít thuốc, bác ngừng lại, quên lấy tay úp lên


miệng điếu như mọi lần. Khói trong chiếc điếu chui ra, bay


vật vờ. Bác lặng thinh. Nỗi băn khoăn của bác, như đám khói


thuốc, còn đang quẩn quanh sau vầng trán.


Hình ảnh ông Mí Cháng vẫn ám ảnh Seo Mỉ. Từ ngày


chị trở về bản, làm ăn tập thể, đó là người thứ hai xin ra hợp


tác xã. Người thứ nhất, ông Sùng Dín Páo. Mâu thuẫn với


đội trưởng đội sản xuất, ông ta bỏ hợp tác xã, bỏ bản Lù


Chải, đưa vợ con sang tận Sin Ma Cai rồi ở lại đấy. Một lần,


một cán bộ xã Pha Long sang Sin Ma Cai có việc, đã tìm đến


nhà ông Dín Páo. Thấy gia đình ông ta ở heo hút trên đỉnh


núi, làm ăn riêng rẽ, anh cán bộ lấy tình quen biết, khuyên


ông ta nên trở lại bản Lù Chải, sống với hợp tác xã, với bản.


Ông Dín Páo cầm con dao phát chỉ xuống đất, nói: "Chỗ này


cỏ mọc được!". Ông ta chỉ nói có bấy nhiêu. Tuy thế, anh cán


bộ hiểu ý ông ta muốn nói: "Chỗ nào cỏ mọc được, người


Mèo sống được". Quả nhiên ông ta ở lại đấy đến bây giờ.


Đúng, ông Mí Cháng là người xã viên thứ hai bỏ hợp tác


xã Lù Chải. Còn các xã viên khác, dù cho hợp tác xã đã có


những ngày mưa ngày nắng, thậm chí những lúc dông bão,


họ vẫn không rời xa. Cho nên việc ông ta xin ra chẳng phải là


một việc bình thường. Lại còn những tiếng xì xào bên bếp


lửa. "Người già sẽ theo ông Mí Cháng, xin ra hợp tác xã.


Nhiều người đấy". "Hợp tác xã không còn tốt nữa. Xã viên


sắp phải ăn rau tàu bay, cây chuối rừng thay mèn mén". Tiếng


xì xào lọt qua khe cửa bay ra. Rồi đến tai Seo Mỉ.


Seo Mỉ thoáng nhìn bác Giàng Vần. Bác đang nạp thuốc


vào chiếc điếu cày. Đột ngột, một ý nghĩ lóe lên như ánh


chớp trong đầu chị chủ nhiệm. Hay là...


- Bác Giàng Vần à! - Seo Mỉ nói nhẹ nhõm. - Tình bác


cháu, cháu hỏi thật nhé: Có phải ông Mí Cháng đã xui bác từ


chức phó chủ nhiệm không?


Dứt lời, Seo Mỉ hồi hộp. Bác Giàng Vần sẽ trả lời ra sao?


Bác quay lại, trỗ trỗ cái điếu xuống đất, dằn giọng:


- Seo Mỉ! Cháu nói thế là ta tự ái đấy. Ta ăn mèn mén đến


bạc tóc rồi, ta còn phải nhờ ông Mí Cháng chỉ đường cho ta


à? Chính ta đã đến tận nhà bảo ông ấy: "Người Mèo ta đã đi


chín núi tám khe, bây giờ mới tìm thấy con đường đúng. Bỏ


con đường ấy là gặp rừng gai. Ông nghe lời phải của tôi,


quay về hợp tác xã". Ông ấy chưa quay về nhưng ta tin ông


ấy không theo bước chân ông Sùng Dín Páo. Hợp tác xã ta


tốt rồi, bụng có tối cũng phải thấy.


Bác Giàng Vần vốn hiền lành. Không mấy khi bác nặng


lời. Nói như thế là bác nổi nóng rồi đấy. Seo Mỉ hối hận.


- Cháu nghĩ sai về bác rồi. Bác tha lỗi cho cháu!


Cơn nóng giận của bác phó chủ nhiệm như ánh nắng


giãi trên mảnh sân thấp thoáng bóng cây lê, cây đào đang trổ


lá non. Nắng mà không gắt. Thấy Seo Mỉ biết lỗi, bác cười,


ngượng ngùng:


- Tôi cũng có cái sai đấy, chị chủ nhiệm à. Làm cán bộ


mà nói lời nặng là sai rồi. Thế là ta giải quyết xong mâu


thuẫn nội bộ, - bác Giàng Vần lại cười, cười thoải mái như


mọi lúc. - Bây giờ tôi phải sửa soạn bữa ăn cho lợn. Phải cho


nó ăn đúng giờ mới đúng khoa học kỹ thuật, anh kỹ sư


dặn thế.


Lật đật, bác trưởng trại trở lại chỗ chế biến thức ăn cho


đàn lợn. Seo Mỉ cũng đứng lên đi ra cổng. Rồi đi về phía


đồng cỏ.


Đồng cỏ trải ra, nhấp nhô dưới chân đồi. Các làn sóng


xanh rờn xô nhau chạy ra xa, mất hút trong khe núi. Nơi ấy


mặt trời đang ngoi lên, đỏ màu hoa chuối rừng. Tia nắng


sớm phủ lên đồng cỏ còn long lanh sương đêm. Những giọt


sương trắng muốt đậu chon von trên ngọn cỏ, êm ả nhỏ


xuống, trả lại màu xanh hiền hòa cho cánh đồng. Đây đó,


đàn bò lặng lẽ gặm cỏ. Những con bò tháu hông phẳng, chân


mập, chắc lẳn, bứt từng búi cỏ nhai sồn sột. Mấy con bò mẹ


ăn nhỏ nhẹ, đầu cúi xuống, chiếc yếm dãi khẽ động đậy. Các


con bê thì vừa lớp chớp gặm được miếng cỏ đã tung cẳng


nhảy quẫng lên, đuôi dựng ngược. Các tiếng động loãng ra,


biến đi trong im lặng mênh mông của đồng cỏ. Bất chợt tiếng


đàn môi đâu đây vẳng lên. Tiếng đàn của anh trại viên đi


chăn bò, ngồi trên đỉnh đồi. Nồng nàn, thiết tha, tiếng đàn


nghe như tiếng người con trai nhắn hỏi người con gái: Em có


thổi lá(1) theo đường; ta mới dám đi trước. Em có thổi lá theo lối; ta


mới dám theo sau(2)


... Seo Mỉ vừa đi xuống đồng cỏ vừa lắng


nghe. Tiếng đàn môi đã xua tan nỗi băn khoăn về việc bác


Giàng Vần còn vấn vương trong tâm trí chị.


Anh kỹ sư chăn nuôi đang ngắm đàn bò ăn cỏ. Hết con


này đến con khác, anh quan sát một cách chăm chú. Seo Mỉ


đến bên anh, hỏi:


- Cỏ tốt không, anh?


- Cỏ mật, tốt đấy. Chị cứ nhìn nó ăn khắc biết.


Seo Mỉ ngó con bò đứng cạnh đấy, vừa thè lưỡi quén


nắm cỏ đưa vào mõm nhai ngon lành.


- Hợp tác xã tôi chăn bấy nhiêu bò là vừa hay còn ít?


__


(1) Thổi kèn lá.


(2) Dân ca Mèo (Doãn Thanh sưu tầm, biên dịch).


Anh kỹ sư ước lượng rồi đáp:


- Tôi đã đi khắp các đồng cỏ ở đây. Tôi thấy với số


lượng cỏ ấy, chăn bấy nhiêu bò là vừa. Nếu muốn chăn


nhiều hơn nữa, phải cải tạo một số đồng cỏ, đồng thời phải


trồng thêm một ít loại cỏ tốt vì thức ăn là cơ sở vật chất hàng


đầu quyết định sự tồn tại, phát triển của đàn đại gia súc. Với


điều kiện hiện có của hợp tác xã, về nhân lực, chuồng trại,


thức ăn cho gia súc, ta nên phát triển dần dần, có kế hoạch


từng bước vững chắc.


Sực nhớ đến, Seo Mỉ liền hỏi:


- Còn việc chăn nuôi ở gia đình xã viên thì sao, anh? Các


xã viên nên nuôi con gì?


- Đó là việc ta cần phải làm sau khi tổ chức lại việc chăn


nuôi của hợp tác xã. Chăn nuôi ở gia đình xã viên cũng là


một bộ phận kinh tế của hợp tác xã, có tác dụng bổ sung, hỗ


trợ cho kinh tế tập thể. Nó cần được khuyến khích, hướng


dẫn để phát triển mạnh mẽ, đúng hướng. Theo chỗ chúng tôi


đã xác định, các xã viên nên nuôi trâu, lợn, ngựa, vừa hợp


với thời tiết, khí hậu, tình hình đất đai vừa hợp với tập quán


trong chăn nuôi của các gia đình.


Đồng cỏ, đàn bò, những chùm hoa vòi voi... Tất cả vàng


rượi ánh nắng. Tiếng gặm cỏ lại vẳng lên, ngon lành. Tiếng


đàn môi lại vút lên, nồng nàn. Seo Mỉ đứng ngây ra. Chưa


bao giờ chị thấy cánh đồng cỏ trên bản Lù Chải, đẹp đến thế.


Nếu như mỗi ngày qua, niềm vui, nỗi lo ken vào nhau trong


lòng chị thì lúc này chị chỉ còn thấy vui. Niềm vui dịu nhẹ


mà náo nức, choán lấy chị. Thong thả, chị đi về chỗ, sáng


hôm nay, các xã viên làm.


(còn tiếp)


Nguồn: Seo Mỉ, Di cảo của cố nhà văn Đỗ Quang Tiến, cuối tập bản thảo có ghi: “Hoàng Liên Sơn, mùa hè 1978”. Hơn hai chục năm sau khi nhà văn qua đời, các con ông mới tìm thấy bản thảo này. Seo Mỉ - 449 trang in khổ 14.5 x 20.5 cm- lần đầu tiên được in thành sách trong bộ Đỗ Quang Tiến – Tác phẩm chọn lọc, 1250 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm. NXB Văn học, 2017.


Nhà báo Đỗ Quang Hạnh, con trai nhà văn, gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ông cố vấn - Hữu Mai 18.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 17.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 11.08.2019
Tắt lửa lòng - Nguyễn Công Hoan 11.08.2019
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 30.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
xem thêm »