tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30207424
Những bài báo
24.06.2019
Nhiều tác giả
Về nhà phê bình Đỗ Lai Thúy

Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy - Kẻ thích chia rẽ dư luận

Chẳng “đứa con tinh thần” nào của Đỗ Lai Thúy chào đời mà trời yên bể lặng. Thế nào cũng có giông bão ở cấp độ khác nhau. Bản thân Đỗ Lai Thúy cũng khoái khiêu khích, chia rẽ dư luận. Anh bảo, khi nào những “đứa con” của anh được thiên hạ dang tay ôm ấp, chỉ số ít quay lưng, thì lúc ấy anh giải nghệ cũng vừa.


Vì khác nên ít người tán thành


Mang “mác” PGS.TS nên Đỗ Lai Thuý vẫn đứng trên bục giảng, đã thế lại “gánh” chức Phó tổng biên tập Tạp chí Văn hoá nghệ thuật… Rồi việc làm chồng, làm cha của những đứa con chưa kịp lớn ở cái tuổi thích hợp với uống bia, rong chơi. Toàn những trách nhiệm, bổn phận… đáng ra phải khiến anh còng lưng, giải nghệ phê bình, đằng này vẫn thấy anh sòn sòn sinh nở.


Bắt đầu với nghề văn khá muộn, khi sắp bước sang tuổi 40. Trên 20 năm cầm bút, Đỗ Lai Thuý sinh 7 “đứa con”, (chưa kể tác phẩm biên soạn) “đứa” nào cũng phá phách, nghịch ngợm, khiến người ưa sự sinh động, mới mẻ thì khen hết lời, người thích phẳng lặng thì phàn nàn hết nỗi.


So với sách của nhiều nhà phê bình văn học khác, Đỗ Lai Thuý tự tin, sách anh thuộc hàng bán được, ít nhất cũng thu hồi vốn. Anh tiết lộ bí quyết: “Sách tôi bán được chắc do tôi đặt ra vấn đề khác, lối viết có sự hấp dẫn nhất định…”.


Và còn một điều nữa, Đỗ Lai Thúy thừa nhận, anh thường đặt cho những đứa con của mình cái tên có vẻ “mồi chài”, biến thứ khô khan thành gợi cảm: Con mắt thơ, Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, Chân trời có người bay, Bút pháp của ham muốn, Thơ như là mỹ học của cái khác… Anh đang rập rình chuẩn bị cho ra đời cuốn sách mới với cái tên lấy từ ý thơ Phạm Hầu: Giơ tay vẫy vào vô tận. Cũng như cuốn Chân trời có người bay, Vẫy vào vô tận lại viết về các nhà văn hóa, nhà nghiên cứu, phê bình văn học.


Đỗ Lai Thúy có lí lẽ riêng: “Các nhà văn viết một vài cuốn sách đã nổi tiếng và sự nổi tiếng còn mang lại tiền bạc. Còn các nhà nghiên cứu viết xong cuốn sách có khi phải bỏ tiền ra in. Lỗ. Cuộc đời của họ bị khuất lấp, không được nhiều người biết đến như nhà văn. Những con người đó trong cuộc đời hữu hạn của mình luôn có khát vọng đạt tới cái vô hạn, dù chỉ là ảo tưởng. Nên sự nghiệp nghiên cứu của họ, xét cho cùng, cũng chỉ là cái vẫy tay vào vô tận mà thôi”.


Song anh chưa hề chán thân phận nhà phê bình: “Thực ra ở ta, địa vị nhà phê bình thấp, một phần lỗi ở chính họ bởi họ can tâm tình nguyện làm con - người - công - cụ. Nếu mình chỉ chạy theo nhà văn, nói điều họ biết rồi, thì thâm tâm người sáng tác không bao giờ coi trọng, khi đó giữa nhà văn và nhà phê bình diễn ra cuộc đối thoại của những người điếc. Tôi muốn nói những điều mà chính nhà văn cũng bất ngờ về tác phẩm của họ. Phê bình học thuật là nói những điều nhà văn chưa biết, gợi ý, hướng dẫn nhà văn…”.


Khát vọng “gợi ý, hướng dẫn” nhà văn hẳn nhiên sẽ đụng chạm tới tự ái của ai đó. Nhưng không thể vì ngại sự tự ái của người sáng tác (nếu có) mà ngừng đeo bám mục đích.


Đỗ Lai Thuý nói vui, rằng “người làm phê bình bao giờ cũng phải có bản lĩnh, lì lợm, thậm chí, mặt dày mày dạn”. Anh thấy cần thiết tạo ra sự chia rẽ dư luận ở mỗi tác phẩm, bởi lẽ “chúng ta đã từng có thời kỳ một cuốn sách đưa ra trăm phần trăm đồng ý”. Vặn anh: “Cuốn sách được giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội của anh chẳng gần trăm phần trăm phiếu tán thành đó sao?”. Nhà phê bình lập luận: “Có một phiếu không tán thành. Ông không đồng ý với tôi ở hai điểm. Thứ nhất, vì ông thân với Xuân Diệu, ông thấy Xuân Diệu không đồng tính. Thứ hai, ông không tin vào phương pháp phê bình phân tâm học. Ông cho rằng đó là phương pháp dựa trên sự suy diễn. Ý kiến của một nhà thơ nhưng đại diện cho số đông, có khi chiếm đến bảy mươi phần trăm, so với ba mươi phần trăm những người đồng ý”.


Đến một ngày nào đó, khi tác phẩm của Đỗ Lai Thúy có tới bảy mươi phần trăm dư luận vỗ tay hoan hô, có lẽ anh sẽ giải nghệ? Anh cười: “Đúng vậy, bởi vì lúc đó tôi không còn khác nữa, tôi không còn mặc đồng phục nên mới ít người tán thành”. Một sự kiêu hãnh đáng trân trọng, lúc lồ lộ, lúc ngấm ngầm, như khi anh viết: “Tôi thuộc thiểu số những người thuận tay trái, không phải vì phê bình là nghề tay trái của tôi. Phê bình chính là bản mệnh của tôi”.


Dị ứng “vịn vai người khác mà đi”


Đã từng có người bóng gió sao Đỗ Lai Thuý nghĩ giống nhiều người thế. Kẻ ít lịch thiệp hơn thì dùng ngôn ngữ trần trụi: Đỗ Lai Thuý “đạo” văn, “luộc” văn… Chưa từng thấy anh phản ứng.


Có thể do anh nổi tiếng âm thầm ít nói chăng? (Chẳng thế mà người trong giới truyền nhau: Ai muốn nói, gặp Đỗ Lai Thúy, còn ai muốn nghe, gặp Trần Ngọc Vương, hai nhà giáo, hai nhà phê bình có tính cách trái ngược, người thích im lặng lắng nghe, người chỉ thích nói).


 Thực ra ở ta, địa vị nhà phê bình thấp, một phần lỗi ở chính họ bởi họ can tâm tình nguyện làm con - người - công - cụ.


Có thể tôi gặp may, cũng có thể ngày đẹp trời nên Đỗ Lai Thuý trò chuyện cùng tôi khá dễ chịu, anh hay cười, cởi mở vừa đủ, thật thà vừa phải: “Chuyện ấy cũng lâu rồi, từ khi Con mắt thơ, cuốn sách đầu tiên của tôi ra đời. Tôi có thói quen đọc sách xong thấy cái gì cần thiết thì ghi lại vào tờ giấy, thường ghi lại ý, có khi ghi lại cả đoạn. Đến khi viết, lại vận vào người. Có khi mình lấy cả những đoạn của họ mà bản thân mình không biết. Thêm nữa, bản thân tôi không thích trích dẫn.


Cuốn Con mắt thơ có điều đặc biệt là không có trích dẫn nào cả. Tuy nhiên, về sau, tái bản lần hai, tôi đã có làm “chú thích”. Lý do Đỗ Lai Thuý không thích trích dẫn: “Tôi dị ứng với kiểu học đường, hoặc “hàn lâm” giả tạo, nói bất cứ cái gì cũng trích dẫn đầy đủ. Cứ viết một câu lại trích dẫn một câu, giống như vịn vai người khác mà đi, cuối cùng mình không có chân vẫn cứ đi được”. Với thời gian, quan niệm của Đỗ Lai Thuý mềm mại hơn, bây giờ bạn đọc có thể tìm thấy trích dẫn trong sách của anh, tuy nhiên anh không lạm dụng “trích dẫn khi cần thiết, trích dẫn những gì mới và chỉ trích dẫn những tác giả thuần tuý học thuật”.


Khi hướng dẫn học trò làm luận văn tốt nghiệp, anh thường kể lại vụ kiện văn học hi hữu ở ta, câu chuyện Trần Thanh Mại viết cuốn Hàn Mặc Tử, vì trích dẫn quá nhiều nên Quách Tấn đã kiện ông, đòi chia tiền nhuận bút.


Chắc không phải vì sợ bị đòi chia tiền nhuận bút mà Đỗ Lai Thuý ngại trích dẫn, anh thừa biết nhuận bút thời nay cho mỗi cuốn sách, mỗi bài phê bình đáng bao nhiêu, ai thừa hơi đi kiện? Nhưng nếu chịu khó rèn thói quen trích dẫn, có khi Đỗ Lai Thuý bớt phần vất vả và còn “mắn” hơn nữa, có điều chẳng ai dám đánh cược những tác phẩm ít đọng mồ hôi sẽ có tuổi thọ cao.


Ba mươi phần trăm run rẩy


Nhiều người vẫn nghĩ, mục đích của viết phê bình là khen, chê. Còn Đỗ Lai Thuý nghĩ khác: “Quan niệm phê bình của tôi không có khen chê. Mục đích của tôi là tìm ra cái hay, cái đẹp, lí giải vì sao nó hay, nó đẹp. Khen chê một tình thế lập luận, giống như phản ứng phụ, chứ không phải mục đích. Tức là điều mình nói ra tự nó mang ý nghĩa đánh giá rồi”.


Quan niệm phê bình không đặt mục đích khen, chê giúp anh ít hứng chịu búa rìu dư luận? Anh lắc đầu: “Tôi vẫn chịu búa rìu chứ. Chẳng hạn sẽ có những người thắc mắc, tại sao tôi không viết về họ”. Còn có người nói, anh là “chuyên gia” viết về người nổi tiếng và người đã khuất. Viết về người đã khuất an toàn hơn chăng? Chẳng hạn, anh bảo Xuân Diệu đồng tính, Hồ Xuân Hương dâm tục, thì những “ngôi sao” đã tắt cũng đành chịu, chứ biết làm sao? “An toàn hay không an toàn là do cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề của mình nó gây ra, chẳng phải do người ta sống hay chết.


 


Ví dụ khi tôi viết bài về Xuân Diệu đăng đầu tiên trên một tờ báo điện tử, con trai Huy Cận đến tận toà soạn doạ sẽ kiện Đỗ Lai Thuý vu khống Xuân Diệu, vu khống Huy Cận. Tôi bắn tin, muốn kiện cứ kiện Tô Hoài trong Cát bụi chân ai trước. Đấy, ông Xuân Diệu không nói thì những người thân và bao nhiêu người khác nữa, như độc giả chẳng hạn, sẽ thay ông gây áp lực”.


Dám đụng đến “tượng đài” thơ tình được lớp lớp thế hệ mê say, mà chỉ bị gây áp lực kiểu như doạ kiện, thiết nghĩ Đỗ Lai Thuý còn may chán, độc giả còn lành chán. Chắc cũng tại thiên hạ cảm nhận được đằng sau lớp vỏ khó chịu là một Đỗ Lai Thuý đúng như cách nói của nhà thơ Vân Long “chứa đựng cảm xúc, trăn trở, những run rẩy của người sáng tác”.


Cha đẻ “Con mắt thơ” thực sự khoái nhận xét tinh tế này của Vân Long: “Ở những cuốn sách, những bài viết thành công nhất, tôi đã viết đầy cảm hứng, trong trạng thái không bình thường. Nhiều khi viết xong có điều kiện đọc lại bài mình viết mà cứ ngỡ ai viết, chẳng lẽ mình lại viết hay thế? Có lẽ vì thế mà trường hợp mất bản thảo thì tôi không viết lại được nữa, vì người ta không thể tái lập trạng thái cảm xúc lần hai”. Nhưng đã làm thứ gọi là “khoa học của văn học” thì không thể ưu tiên sự run rẩy.


Hỏi: “Anh có cảm thấy tội nghiệp cho các nhà văn, nhà thơ không, khi anh gán cho họ đủ mọi thứ trên đời?”. Chẳng biết những người sáng tác có giận Đỗ Lai Thuý không, anh đưa ra phép so sánh: “Nhà văn nghĩ như thế thì họ nhầm, thiệt cho bản thân họ. Họ sáng tác bằng bảy mươi phần trăm vô thức, chỉ ba mươi phần trăm ý thức. Nhà phê bình thì ngược lại. Vì thế nhà văn không hiểu hết sáng tác của mình. Bảy mươi phần trăm ý thức của nhà phê bình sẽ bù lại bảy mươi phần trăm vô thức của nhà văn”.


 


Trước khi tạm biệt Đỗ Lai Thuý, tôi hỏi nhỏ anh: “Trong cuộc sống đời thường, anh tận dụng bảy mươi phần trăm ý thức hay bảy mươi phần trăm run rẩy?”. Lần này người đưa ra Bút pháp của ham muốn chẳng phản biện gì, chỉ thấy anh cười ngượng.


Khen không đúng còn tệ hại hơn chê


Thích chia rẽ dư luận nhưng Đỗ Lai Thúy vẫn chịu khó lắng nghe những lời khen, tiếng chê. Anh bảo: “Chê đúng quá quí, khen không đúng còn tệ hại hơn chê”. Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, là một trong những cuốn sách anh tâm đắc vì đưa ra cách lý giải mới về “bà chúa thơ Nôm”.


Nhưng cái mới sẽ trở thành cái cũ, khi cái mới hơn ra đời, hỏi Đỗ Lai Thúy có ngại điều đó không? Tôi đọc được trong câu trả lời của anh sự chân thành: “Trong nghệ thuật không có hơn có kém, chỉ có khác mà thôi. Bởi thế những khám phá nghệ thuật giống như chuỗi ngọc mà mỗi tìm tòi thành công sẽ là một viên ngọc, không có nghĩa viên ngọc sau đẹp hơn viên ngọc trước, nên mình không sợ gì”. – Đỗ lai Thúy.


Tienphong.vn 17/03/2013 14:20


Nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy: Bản mệnh của tôi là phê bình


Thâm trầm, lặng lẽ, không giỏi diễn giải và không biết cách "hâm nóng" cuộc đối thoại... là điều mà bất cứ ai gặp nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy cũng nhận ra.


Đọc sách của Đỗ Lai Thúy , thấy rõ sức nặng của lý thuyết và thực tiễn của một người đọc nhiều, ngẫm nghĩ nhiều. Ông cho rằng, một nhà phê bình nhất thiết phải có hiểu biết lý thuyết. Biết nhưng không phải để thồ chữ, mà để kết hợp với kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thẩm mỹ nhằm kiến tạo những mô hình nghiên cứu. Nhờ đó, khám phá và diễn giải tốt hơn các hiện tượng của văn học Việt Nam.


- Thưa nhà phê bình Đỗ Lai Thúy, mấy năm vừa rồi, cái tên Đỗ Lai Thúy đã xuất hiện khá "ồn ào" trên mặt báo. Điều này xem ra có vẻ ngược với lối phê bình học thuật và tính cách lặng lẽ ẩn mình sau con chữ của ông. Vậy điều gì gây nên sự thay đổi căn bản này?


+ Có thể bây giờ phê bình học thuật được người đọc chú ý hơn. Đây là một hiện tượng đáng mừng. Bạn đọc quan tâm đến phê bình như một tồn tại tự thân chứ không phải là một công cụ. Vì thế, các cuốn phê bình, trong đó có sách của tôi được đọc và quan trọng hơn, được đàm luận trên mặt báo. Cũng có thể, trong năm 2009 vừa qua, cuốn sách "Bút pháp của ham muốn" của tôi được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải, còn đầu năm nay xuất hiện "Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy". Cuốn trước là phê bình phân tâm học, còn cuốn sau là phê bình sự phê bình. Những vấn đề đặt ra rất đáng được bạn đọc quan tâm…


- Đỗ Lai Thúy được đánh giá là một nhà phê bình có tính phát hiện và có nhiều dấu ấn để lại cho nền phê bình Việt Nam đương đại. Bản thân ông, ông tự nhận mình thuộc "kiểu" phê bình nào?


+ Phê bình, trong quan niệm của tôi, có 2 kiểu: phê bình báo chí và phê bình học thuật. Phê bình báo chí hướng dẫn cho người đọc chọn sách, định hướng thẩm mỹ cho họ, tạo nên dư luận và đời sống xã hội của văn học. Còn phê bình học thuật thì lặng lẽ vì thường nằm ở bề sâu, bề xa của các sự kiện nhưng nó lại góp phần quan trọng vào việc xây dựng hệ thẩm mỹ mới, nhất là khi các giá trị thẩm mỹ cũ "có vấn đề". Tuy nghề "nhà nước" của tôi là làm báo, nhưng "nghề riêng" thì lại là phê bình văn học theo lối học thuật. Điều này do cái tạng tôi nó quy định như vậy, chứ tôi thấy phê bình nào cũng đáng trân trọng cả, miễn là người làm nghề trở thành một nhà nghề.


- Tôi cho rằng, sách phê bình của ông… đắt hàng trước hết là vì người đọc tò mò với những nhan đề tác phẩm. Nói chung, đặt tên sách sáng tác đã khó, sách phê bình hẳn còn khó hơn. Nhưng các 'tít" sách của ông quả thực đã tạo nên một ấn tượng sâu sắc, như "Mắt thơ", "Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực", "Chân trời có người bay", "Bút pháp của ham muốn", "Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy"… Khi đặt cho sách của mình những cái tên lạ thường, chẳng giống ai như vậy, hẳn ông đã phải rất vất vả?


+ Tôi không thích đặt tên kiểu "thật thà" quen thuộc của các cụ trước đây như "phê bình và tiểu luận", hoặc "góp phần nghiên cứu...". Nhưng cũng không vì thế mà sa vào thói chuộng lạ, làm hàng. Những tên sách của tôi quả là gây bất ngờ cho người đọc ở cách nói, ở hình ảnh độc đáo, kích thích ham muốn đọc. Rồi khi đã đọc thì vẫn thấy bất ngờ vì tên ấy thể hiện đúng nội dung sâu xa của cuốn sách, tư tưởng chủ đạo của nó, hoặc quan niệm nghệ thuật hay học thuật của tác giả. Cái tên, bởi thế, là chìa khóa để bạn đọc mở vào tác phẩm hoặc chiếc la bàn cho một hành trình thám mã. Có điều tôi không đặt tên trước cho tác phẩm để rồi sự viết chỉ là việc chứng minh cái tên đó. Thường thì cái tên xuất hiện đột ngột trong quá trình viết và thôi thúc tôi phải làm giấy khai sinh cho nó. Đó là của trời cho nằm ngoài sự suy tính đầu óc.


- Ông có thể nói cụ thể hơn trong một vài trường hợp?


+ Chẳng hạn, nghiên cứu Hồ Xuân Hương thì ai cũng phải đối diện với cái dâm tục trong thơ bà. Ý kiến thì đại để có thể chia thành hai: hoặc là coi thơ Hồ Xuân Hương có dâm tục hoặc là không. Nhưng cả hai đều lúng túng. Tôi tìm một lối đi khác: Thơ Hồ Xuân Hương vừa là dâm tục vừa là không dâm tục. Để chứng minh được lối tư duy A vừa là A vừa là không A này tôi phải đẩy thơ bà ngược dòng lịch sử về với tín ngưỡng phồn thực qua một hệ pháp: Thơ Hồ Xuân Hương - văn hóa dâm tục (thời bà) - lễ hội phồn thực - tục thờ cúng sinh thực khí - tín ngưỡng phồn thực. Mà ở thời của tín ngưỡng phồn thực (thời Đá mới) thì thiêng tục là một, trong thiêng có tục, trong tục có thiêng. Nguồn gốc thơ Hồ Xuân Hương ở tín ngưỡng phồn thực nên thơ bà thanh tục cũng là một, trong thanh có tục, trong tục có thanh. Nhưng thời nữ sĩ, tín ngưỡng phồn thực chỉ còn lại là những dư sinh, ảnh xạ, nên thơ bà chỉ là sự hoài niệm: "Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực".


- Còn "Bút pháp của ham muốn" -  một cái tên sách rất gợi, thì sao thưa ông?


+ Ở "Bút pháp của ham muốn", tôi nghiên cứu 6 nhà thơ: 3 cổ điển là Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, 3 hiện đại là Hoàng Cầm, Chế Lan Viên, Xuân Diệu. Họ đều là những thi nhân có bút pháp độc đáo. Ngoài việc mô tả bút pháp đó như thế nào, tôi còn muốn đi tìm cái gì đã tạo nên bút pháp đó, tức tại sao? Qua việc phân tích ngôn ngữ văn bản, tôi đều thấy động lực sáng tạo của họ ở một ham muốn vô thức nào đó, như Hoàng Cầm là mặc cảm Oedipe, Chế Lan Viên là rối loạn đa nhân cách, Xuân Diệu là tình yêu đồng giới… Chính những ham muốn vô thức này, xét cho cùng, đã tạo nên bút pháp của họ, thế giới nghệ thuật của họ. Tôi lấy tên chung cho cả tập là "Bút pháp của ham muốn".


- Như vậy, phê bình của ông thiên về phân tâm học. Từ "Mắt thơ" (1992) đã thấy dấu vết, dù còn mờ nhạt, đến "Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực", rồi "Bút pháp của ham muốn" thì càng thấy đậm hơn, thậm chí thành phương pháp phê bình phân tâm học. Đây là phương pháp mới và có phần xa lạ với người đọc Việt Nam và không dễ được chấp nhận, nhất là trong khí quyển văn hóa Nho giáo. Xin ông hãy cho đôi điều giải thích?


+ Cũng có lý do của nó. Trước hết, phê bình phân tâm học không mới. Ở ta từ năm 1936, Nguyễn Văn Hanh và Trương Tửu đã sử dụng học thuyết Freud để nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương. Sau đó, nó bặt đi một thời gian dài. Tôi chỉ là người phục dựng lại và đẩy nó lên một bước cao hơn nhờ sự cập nhật phân - tâm - học - sau - Freud. Hơn nữa, phương pháp xã hội học mác xít khi nghiên cứu con người chỉ nghiên cứu mặt xã hội, hữu thức của nó, còn phân tâm học thì chuyên nghiên cứu mặt vô thức của con người, tức "con người trong con người", nên đó là một bổ sung cần thiết, làm đa dạng cái vốn phương pháp phê bình văn học của ta.


- Cuốn sách gần nhất của ông "Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy" cũng đã được dư luận quan tâm, nhất là sau cuộc tọa đàm trao đổi ở Trung tâm Văn hóa Pháp. Nhưng tại sao cuốn sách này là "phê bình sự phê bình" hoặc tại sao phê bình lại là "con vật lưỡng thê"?


+ Sau 20 năm làm phê bình văn học với không ít niềm vui và nỗi buồn, tôi thấy đã đến lúc mình nên nhìn lại công việc phê bình của mình, của các đồng nghiệp đi trước cũng như đang đồng hành với mình, nhất là nhìn lại cái sự phê bình như là một đối tượng tự thân. Đó là phê bình sự phê bình. Nếu phê bình là sự tự ý thức của sáng tác, thì phê bình sự phê bình là sự tự ý thức của phê bình. Tôi viết cuốn sách này để mô tả sự tiến triển của phê bình văn học Việt Nam thông qua sự thay đổi các hệ hình phương pháp của nó: Từ tiền hiện đại - tiền văn bản đến hiện đại - văn bản sang hậu hiện đại - hậu văn bản. Tuy nhiên, đây không phải là cuốn lịch sử phê bình theo nghĩa thông thường, đúng hơn nó là cuốn lịch sử tư tưởng phê bình qua các lý thuyết và phương pháp của nó. Còn tại sao phê bình lại là "con vật lưỡng thê": Con vật lưỡng thê là một sinh vật - thực thể sống/tồn tại ở hai môi trường có khi đối nghịch nhau, như trên cạn - dưới nước. Vì thế, nó phải phong phú hơn (vừa có phổi lại vừa có mang), mềm dẻo hơn… Phê bình văn học, trong quan niệm của tôi, là một sinh thể như vậy. Nó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, vừa là nghiên cứu vừa là sáng tạo, vừa là ngôn ngữ vừa là siêu ngôn ngữ…


- Trước đây, ông thường tự nhận mình là một trong những nhà phê bình thiểu số"thuận tay trái", hẳn hiện nay ông đã thuận cả hai tay?


+ Thuận tay trái là một hình ảnh tôi muốn nói rằng nghề chính, nghề tay phải của tôi là báo/ tạp chí đối ngoại rồi đối nội, còn phê bình chỉ là nghề phụ, nghề tay trái. Nhưng thực ra, khả năng tâm huyết và sự đóng góp của tôi cho xã hội chủ yếu là ở phê bình. Tôi nói thuận tay trái là vì vậy. Tuy nhiên, cũng còn một hàm ý nữa là phần đông thuận tay phải, chỉ ít người thuận tay trái. Vì thế mà số người thuận tay trái là thiểu số, số ít.


- Nhìn vào các đầu sách xuất bản, có thể thấy rằng, ông là một nhà phê bình năng sản. Đôi khi tôi vẫn tự hỏi, ông lấy đâu ra tâm sức để có thể làm việc được như thế?


+ Phê bình với tôi là cả một say mê, thậm chí trên cả say mê, nó gần như là bản mệnh của tôi. Tôi sống bằng - nhờ - qua cái bản mệnh phê bình ấy. Tuy nhiên, càng đam mê, càng "chân không chạm đất" bao nhiêu thì lại càng cần một "mặt đất" vững chắc bấy nhiêu. Nếu không có người phụ nữ sống cùng với tôi "cam tâm" làm mặt đất âm thầm và vững chắc như vậy thì tôi khó làm việc có hiệu quả.


- Xin cảm ơn ông!


Trần Hoàng Thiên Kim thực hiện


Vnca.cand.com.vn  08:14 12/04/2011


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết "Cõi mê" của nhà văn Triệu Xuân làm xôn xao dư luận! - Thanh Chung 13.11.2019
Khi người Anh Hùng lên tiếng - Phạm Thành Hưng 12.11.2019
Nhớ thời học Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội - Triệu Xuân 11.11.2019
Chuyện cuối tuần: Chính trị, như gai nhọn dưới chân trần - Tư liệu 08.11.2019
Trung Quốc: Chiến lược trở thành cường quốc biển - Nguyễn Hải Hoành 08.11.2019
Cát: Vũ khí bí mật của Trung Quốc tại Biển Đông - Vince Beiser 08.11.2019
Hành trình xuyên Việt đi tìm báu vật địa phương của Đỗ Quang Tuấn Hoàng - Tư liệu 08.11.2019
Lại “Mời đọc chơi” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Tản mạn về J.J. Rousseau: Cái gì của Trời thì tốt - Phạm Đình Lân 07.11.2019
Nhà văn Triệu Xuân: Ăn mặc, đi đứng, nói năng quyện vào nhau mới thành mốt - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 03.11.2019
xem thêm »