tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30177205
Lý luận phê bình văn học
25.06.2019
Nhiều tác giả
Những bài viết về nhà văn Phùng Phương Quý


Ấn tượng và cảm nhận truyện ngắn của Phùng Phương Quý


Trần Thiện Khanh


Phùng Phương Quý là người biết kể một câu chuyện theo cách mà người nghệ sĩ thường làm. Anh khao khát tạo ra được một thế giới nghệ thuật riêng. Do vậy, anh luôn cố gắng vượt mình trong nhiều thể nghiệm táo bạo.


Cái tên Phùng Phương Quý thoạt nghe, tưởng như một người xa lạ vừa lỡ nhịp lạc vào cõi văn. Thực ra, những truyện ngắn kí tên anh xuất hiện khá đều trên Văn nghệ già, Văn nghệ trẻ hay Tiền phong chủ nhật… Anh đi nhiều, trải đời nên viết khá sung sức. Phùng Phương Quý đã dâng tặng bạn yêu thơ mọi miền tập “Huế xa” và “Mưa trên lá cọ” với tấm lòng tri kỉ, bè bạn. Anh đã từng đặt chân tới địa hạt của kịch với tất cả niềm say mê được cầm bút. Song, có điều với Phương Quý, hình như diễn biến của vở kịch chỉ thích hợp với cấu trúc giản đơn về một câu chuyện phiếm, và người đọc, người xem chỉ tìm đến kịch vào những lúc thật sự rỗi nhàn (không có việc gì làm). Điều thú vị và đáng quý ở chỗ: Phương Quý ngày càng có đòi hỏi cao về nghề nghiệp, anh dám bỏ lại sau lưng mình vở kịch “Hoa của ngày xưa” nhạt nhẽo như nước ốc. Vì anh biết đó không phải là sở trường nặn đắp nên tính cách, gương mặt của anh. Người đọc ghi nhận sự tìm đường, thử bút không mệt mỏi của tác giả, nhất là thống nhất khẳng định rằng: Phương Quý thành công hơn cả ở thể loại truyện ngắn và bút ký. Anh đạt nhiều giải thưởng về Văn học nghệ thuật. Một số tác phẩm của anh hiện diện trang trọng trong các tuyển truyện ngắn hay.


Cái tên Phùng Phương Quý đã bắt đầu trở nên quen thuộc, gần gũi với chúng ta. Phương Quý cũng như bất kì một nghệ sĩ đích thực nào, không bao giờ chấp nhận bấu víu vào những khuôn mẫu nghệ thuật xơ cứng. Nhưng nghiêm ngặt mà nói thì đó là hành trình bền bỉ lâu dài, đòi hỏi người nghệ sĩ từng khoác áo lính ấy, phải dấn thân tìm tòi, mới mong tạo ra những giá trị mới, những chuẩn mực mới.


Thế giới nhân vật trong miền truyện ngắn của Phương Quý đa dạng, có nhiều nét đặc thù không dễ bị thay thế. Phương Quý thường quan tâm đến “con người tha hương” phiêu bạt, bơ vơ trên đất khách quê người. Dưới ngòi bút của tác giả, họ hiện ra không phải với niềm than thân trách phận như ta thường thấy, mà với một bản lĩnh sống vững vàng, cứng cỏi.


Viết về con người tha hương, tác giả truy tìm câu trả lời: vì sao con người có thể tồn tại,bám trụ được trên mảnh đất mà khó khăn chất chồng, nguy hiểm luôn luôn rình rập. Vẫn biết, người trần thuật trong truyện Phương Quý luôn cảm thông, ngợi ca những con người đã từng vào sinh ra tử, nâng niu khát vọng hạnh phúc lứa đôi và trân trọng ước mơ giản dị về mái ấm gia đình. Song, có lẽ ai đã từng đọc Phương Quý thì không thể quên những trăn trở, day dứt giàu giá trị nhân văn của người kể về thế thái nhân tình. Truyện nào của Phương Quý, cũng đúc kết những bài học thấm thía, chẳng hạn như: “sự đời nhiều lúc éo le, làm người ta vô tình phụ bạc lẫn nhau”, “người ta thường khi phú quý rồi, thì ngại tìm dĩ vãng”…(Đêm cù lao).


Ở truyện ngắn Tôi xin lỗi, Phương Quý khắc hoạ được một kiểu con người tha hương khá độc đáo. Nhân vật tôi muốn cất lời xin lỗi những chủ nhân đích thực của vùng đất miền Tây khi anh đặt chân đến đây để kiếm sống, thấy mình có lỗi khi bỏ quê hương xứ sở, khi không bảo vệ được gia đình thân yêu, không giúp gì được cho mối tình của người bạn gái thân thiết. “Tôi” thấy có lỗi khi đứng trước một người con gái trắng trong, trước cái đẹp, anh muốn xin lỗi cuộc đời vì anh không kịp cứu giúp đồng loại thoát khỏi cái chết. Đó là lời xin lỗi cao cả, một mặc cảm rất đáng trọng chỉ có ở con con người cá nhân tự ý thức. Xưa nay trong văn học thường thể hiện “mặc cảm Ơđip”, mặc cảm sống thừa, mặc cảm bất tài, chứ hiếm có ai mang trong mình nhiều mặc cảm như nhân vật tôi trong tác phẩm này. Có lẽ, chưa tác giả nào thể hiện con người tha hương với những dằn vặt, mặc cảm đến như vậy. Con người mặc cảm trong Tôi xin lỗi của Phương Quý đối lập hẳn với con người vô cảm, đốn mạt, con người lạnh lùng, tàn nhẫn đang tồn tại như một nỗi đau nhức nhối trong văn xuôi hiện nay.


Truyện ngắn của Phương Quý luôn dành những không gian đặc biệt để chở che, bênh vực và an ủi vỗ về những người phụ nữ bất hạnh. Họ lạc lõng, bơ vơ ngay trong gia đình mình. Nỗi ám ảnh lớn nhất đối với nữ nhân vật của Phương Quý là thiếu thốn tình cảm vợ chồng, thiếu người tri âm. Nhân vật nữ của Phương Quý hầu hết đều có một tính cách ổn định: vừa đa tình, hiền hậu vừa táo bạo, mạnh mẽ trong những ham muốn rất đời thường. Họ không bao giờ nguôi quên trạng thái mình bị bỏ rơi trên một “xa mạc không người”. Họ muốn trốn chạy, muốn tái tạo lại cuộc đời, nhưng không sao vượt nổi hoàn cảnh gò bó, thân phận lệ thuộc của mình. Lẽ tồn tại duy nhất trọn vẹn đối với họ là tình yêu đích thực. Nhưng họ lại luôn phải đối mặt, chung sống với những kẻ trọng tiền bạc, quyền hành hơn cảm giác yêu thương, và ý thức vun đắp hạnh phúc. Bi kịch của các nhân vật nữ trong truyện Phương Quý, vì vậy là bi kịch gia đình, bi kịch của sự muộn màng lỡ dở. Tôi muốn nhắc đến truyện ngắn Góc trời đỏ những dấu son.


Phương Quý vốn là một cây bút tinh tế, thích đưa người đọc nhập ngay thế giới nội tâm đầy bí ẩn, phức tạp của con người. Truyện của anh nhiều hình ảnh ẩn dụ, tư tưởng được gói lại kín đáo. Không ít lần, Phương Quý gắn truyện ngắn với dòng kí ức chập chờn, mờ ảo của con người. Hạnh phúc vẹn nguyên đáng lẽ ra phải có, phải đến với con người chua chát thay, lại cứ nằm im lặng khuất sau cuộc đời.


Phương Quý cũng đã quen rồi với kiểu vẽ mây nảy trăng, với bút pháp tượng trưng hàm súc, anh không men theo lối viết ghi chép tư liệu, ghi chép tư tưởng một cách ngây thơ, vụng về như ta thường thấy. Anh là một trong số ít người, luôn tạo ra được những hình ảnh so sánh mới mẻ trải đều trong trang văn của mình. Chẳng hạn để diễn tả tâm trạng khát khao vừa nồng đượm vừa như chới với, bất định ở người thiếu phụ, Phương Quý so sánh với màu hoa gạo rực rỡ như nắm than đỏ ném tung lên trời: “Chị lõm bõm giữa mộng mị đen kịt. Trong mơ bỗng loé lên màu đỏ lửa của chùm hoa gạo”. Phải là một người hiểu tâm lí nhân vật, gần gũi với nhân vật mới tả được những uẩn khúc riêng tư đầy bất trắc trong tâm hồn người thiếu phụ tinh tế như thế. Cũng phải là người giàu trải nghiệm, mới thấu hiểu tất cả sự mong manh, nhỏ bé của phận người một khi đã lạc vào miền đời khô cằn, tối sẫm.


Phương Quý tả sự cô đơn, bế tắc và sự giam hãm sức xuân, tuổi trẻ của con người khá xúc động: “Đêm lạnh, đặc quánh và im ắng. Tiếng kim đồng hồ trên tường boong boong như tiếng búa trong phòng kín. Bóng ngôi nhà ba tầng lèn chặt chị xuống mặt salon da dưới phòng khách”. Một kiếp lạnh không lối thoát được diễn tả bằng những câu văn độc lập, dồn chứa sự căng thẳng ngột ngạt. Tiếng lòng thổn thức rạo rực ở thiếu phụ bị ghìm giữ lại, rồi chuyển hoá thành sự cảm nhận về một thời gian lạnh lùng, một không gian chật hẹp, nặng nề bủa vây, nhấn chìm con người.


Viết về người phụ nữ, Phương Quý hay tạo dựng những tình huống gặp gỡ bất ngờ. Tưởng như anh đã sắp xếp, xui khiến những con người lẻ bóng gặp nhau. Có điều, sự gặp gỡ nào trong truyện của anh, cũng thuộc về những người đã có chồng, có vợ. Nghĩa là sự gặp gỡ ấy được nâng cao ý nghĩa khái quát để trở thành biểu tượng về ý thức muốn nổi loạn chống lại trật tự an bài của định mệnh nghiệt ngã, của số phận trớ trêu, ngang trái. Nữ nhân vật của Phương Quý muôn vẻ đẹp, ít khi đánh mất thiên tính nữ.


Một người phụ nữ đẹp theo Phương Quý không chỉ ở dáng hình, phong thái, mà còn ở khát khao được làm tròn thiên chức cao cả của một người vợ, khao khát được sống thực với lòng mình, với người mình yêu. Họ muốn được chở che trong vòng tay yêu thương đằm thắm, muốn được ngả đầu vào một bờ vai tin cậy, muốn giúp đỡ sẻ chia với bạn bè. Hằng trong Góc trời đỏ những dấu son cầu ước có một đứa con nên phóng sinh ba chục con chim sẻ. Đứng nhìn đàn chim bay tự do trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, chị thấy nỗi phiền muộn trong lòng mình nguôi dần đi. Hằng thích nếp nhà ba gian lợp lá cọ, xinh xắn gọn gàng, ước ao được dội lên mái tóc một gàu nước giếng đồi mát ngọt. Tính nữ ở nhân vật Hằng còn là sự nhạy cảm và giọng nói dịu dàng tình tứ : Khi Thực dội xuống mái tóc mềm mượt một gàu nước mát, Hằng liền cất tiếng cười dò hỏi : “Anh Thực nhìn vào gáy Hằng phải không? Sao cô tài thế? Hằng thấy nong nóng như nắng dọi vào mà”.


Huệ ở Mây rừng gió biển cũng luôn cuồng nhiệt, dữ dội trong những đam mê bản năng đẹp đẽ. Đây là một truyện ngắn đa âm và giàu sắc thái trữ tình, lời văn êm nhẹ, tràn đầy cảm giác lãng mạn. Mây rừng gió biển có dáng vẻ một cuốn nhật kí tâm tình, tâm sự, các phát ngôn đều được diễn đạt bằng thời hiện tại. Ở đó hầu như vắng bóng người kể ngôi thứ ba, nhân vật tự thể nghiệm nhân sinh. Họ kể về mình, về những gì mình nếm trải chứng kiến như những ảo vọng về hạnh phúc đích thực. Tác giả không có quyền năng đứng ra thuyết giải, cắt nghĩa một cách khuôn sáo rằng: vì sao họ làm thế này hay thế khác. Những nghịch luật,nghịch lí, trớ trêu ở đời, vì vậy vẫn cứ siêu thăng, bay bổng trong một lôgíc nghệ thuật giàu sức thuyết phục. Trang văn của Phương Quý miêu tả dục vọng bản năng, song không hề rơi vào lối viết dễ dãi, thô thiển, coi thường người đọc.


Thiên tính nữ qua mĩ cảm của Phương Quý trở thành phẩm chất ưu trội của nhiều nữ nhân vật. Đào và Tuất trong Mồ côi cũng là những cô gái hồn hậu, thật thà. Đào giúp đỡ bạn chu đáo, nhưng không dấu nổi sự e thẹn nữ tính khi nhìn Mão. Tuất chăm chỉ, đảm đang và dễ khóc. Một mặt cô “xấu hổ giấu mặt sau lưng Đào”, nhưng dỗi hờn ngay, khi thấy Mão nhìn Đào trìu mến. Sáu trong Tôi xin lỗi là một người con gái đáng yêu, “ánh mắt nụ cười thân thiện đằm thắm”. Nhân vật nữ trong Nhân cách thì lại đi tìm “di tích tình yêu” thời trẻ. Đó là một người thiếu phụ giàu lòng nhân ái và dễ xúc động. Chị “chết lặng” khi biết cảnh ngộ lận đận, bi thương của người bạn cũ, trông thấy đứa trẻ đang lê la đào đất giữa chiếc cổng xộc xệch bằng tre, chị chạnh lòng nhớ tới câu ca dao tình nghĩa: “Con mình những trấu cùng tro… Ta đi múc nước rửa cho con mình”. Thì ra, chị là một phụ nữ giàu lòng vị tha và có đức tính hi sinh cao đẹp.


Phương Quý biểu dương những phẩm chất tốt đẹp của con người, đồng thời thẳng thắn nêu lên việc làm hèn kém, đê tiện và những mưu tính sinh tồn đến mức khiến con người “hoá Sói” mà không hay (Tôi xin lỗi, Nhân cách, Đồng hành cùng Sói…).Truyện của Phương Quý thường có môtíp “ông quan” ăn tiêu xa xỉ, coi thường luật pháp, tham ô, lỗ mãng. Ngòi bút tả việc, tả người của Phương Quý đặc biệt sắc sảo trong những thiên truyện đậm tính chiến đấu, tình thời sự như thế.


Công bằng mà nói, truyện của Phương Quý không hiếm những trí thức nhiệt tình, tận tuỵ trong công việc (Nhân cách). Nhưng không ít trang văn, tác giả tập trung bút lực phanh phui bộ mặt thật của một số cán bộ, trí thức đã thoái hoá biến chất. Trong cảm niệm của người viết, họ chính là một tác nhân gây nên bao cảnh đời bất hạnh. Nhiều tác phẩm Phương Quý miêu tả đời sống tình cảm riêng tư. Song, ta vẫn nhận thấy cảm hứng xã hội, cảm hứng công dân thường trực ở một cây bút đã trải nghề, trải đời khá lịch lãm.


Truyện ngắn của Phương Quý chặt chẽ, bởi vì tác giả thường tập trung khám phá, đánh giá, miêu tả một tình huống nhân sinh đặc biệt với một cảm niệm sâu sắc nào đó khá gần gũi với triết lí dân gian, triết lí sinh tồn. Dường như tác giả muốn tạo một ảo giác thẩm mỹ: Câu chuyện anh kể là cốt lõi. Nhưng với cách kết thúc mở tự nhiên và hợp lí, tác giả lại gợi ở người đọc cảm nhận: người kể còn biết nhiều hơn những điều anh ta nói.


Truyện ngắn của Phương Quý thường trùng phức về tư tưởng. Đồng hành cùng Sói một mặt miêu tả quá trình tìm biết sự thật, khám phá điều ẩn giấu sau sự thành đạt, mặt khác lại thể hiện quá trình con người bị sói hoá, tha hoá. Nhân vật Tôi trong Đồng hành cùng Sói vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân, vừa bằng lòng tiếp tay cho những liên minh đen tối, đáp ứng nhu cầu bản năng của người đàn bà quyền chức vừa muốn thoát khỏi vũng bùn lầy. Sự sinh tồn không hề êm phẳng, trái lại đầy những “cạm bẫy người” nghiệt ngã. Nhân cách một mặt thể hiện cách ứng xử đầy bản lĩnh của con người trước đồng tiền, quyền chức, mặt khác dự báo về những nguy hại tiềm ẩn trong thái độ thoả hiệp của con người trước danh lợi . Đêm cù Lao mở ra lối ứng xử cao thượng, nghĩa tình của con người, đồng thời thừa nhận sức mạnh của kẻ có quyền chức. Mây rừng gió biển miêu tả cuộc tình luyến ái vụng trộm, nhưng cũng công khai khẳng định có những giới hạn con người không nên vượt qua, không thể vượt qua…


Phương Quý không đuổi theo sự kiện, biến cố, nhiều khi tác giả dừng lại khá lâu trước diễn biến nội tâm phức tạp của con người. Viết về chiến tranh, nhà văn không dành nhiều trang miêu tả những tổn thất, hi sinh, mà nghiêng về tìm kiếm những giá trị người đang được đặt bên lề, bên cạnh cuộc chiến đấu ác liệt. Có lẽ vì vậy, hình ảnh người lính trong tình huống chiến tranh vừa đẹp trong hành động dũng cảm, vừa khá đời thường khi bị những tình cảm riêng tư níu giữ. Dẫu khó khăn gian khổ đến đâu, họ cũng không bao giờ để nguội tắt khát vọng thành thực (Mưa ở cuối trời).


Đọc Phương Quý, ta có cảm giác: anh không bỏ qua một cơ hội nào nhìn ngắm, bình phẩm vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ . Phương Quý có một cái “form” chung khi miêu tả loại nhân vật này. Với anh người phụ nữ nào cũng cười đẹp, mặt hoa da phấn, mái tóc thơm dịu, hơi thở nồng nàn, thân hình toát lên sức sống rạo rực... Phải nói rằng, anh tả khá tinh “vẻ đẹp sơ ý” của người phụ nữ và thể hiện tự nhiên xúc cảm của người được ngắm nhìn. Phương Quý cắt nghĩa thực tại từ cái nhìn đời tư, hăm hở khám phá, chiếm lĩnh sự yêu đương nồng nàn, bản năng được biểu hiện đa dạng ở từng nhân vật.


Phương Quý ưa kể, tả những khoảnh khắc ở đó con người bên trong bộc lộ chân thật nhất, và hoàn cảnh sống của con người hiện ra trọn vẹn, sâu sắc nhất. Đó là giây phút lão Chù được xem trò diễn dân gian và được nhận quà trung thu của mấy đứa trẻ trong xóm (Trung thu cho người lớn), khoảnh khắc nhân vật Tôi gặp gỡ cô dân quân Quảng Bình (Mưa ở cuối trời) hạnh phúc thì mong manh, ngắn ngủi, hành động gấp gáp, vội vàng, nhưng tình yêu, sự hi sinh thì cứ ám ảnh mãi. Đó là thời điểm con người bị bỏ đói, bị xa lánh, hắt hủi (Cây mít già) hay khi con ngựa già nhà họ Lý bị đối xử “tệ bạc” phải đợi ngày chết mà vẫn có nghĩa (Con ngựa bạch nhà họ Lý)…


Truyện ngắn Phương Quý nhiều chỗ gấp, nhiều góc khuất khó đoán định. Nhiều tác phẩm trần thuật sự việc tưởng nhỏ vặt, song ý nghĩa tư tưởng sâu sắc, thấm thía. Hầu hết truyện của Phương Quý đều phản ánh hay động chạm đến vần đề: mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại; tiền bạc và nhân cách; sự sinh tồn trong chiến tranh và thời bình; lối ứng xử của kẻ có chức quyền và dân thường; nhớ ơn và bội nghĩa; giữa cách làm ăn nhỏ lẻ, tập quán cũ kĩ với yêu cầu đổi mới cách làm ăn; ước muốn dự định đẹp đẽ và khả năng thực tế… Nhưng ở đa số truyện ngắn Phương Quý, giọng điệu của người kể, nhẹ nhàng chậm rãi, văn mạch dàn đều, ít có truyện gai góc, sắc nhọn như Đồng hành cùng Sói.


Trần Thiện Khanh


 


Phùng Phương Quý và bước chân "Hành Phương Nam”


Trong cuộc đời những người cầm bút, thường có những chuyến đi, có thể định hướng, có thể không. Đó là những chuyến đi để lột xác, để phá bỏ cái chật chội, tù túng, giam hãm tâm hồn. Vào thời Nguyễn Bính, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Hà Lập Ngôn... người ta nâng cái thú giang hồ ấy lên thành một thứ chủ nghĩa - "Chủ nghĩa xê dịch". Ngày nay, Phùng Phương Quý ở Phú Thọ cũng đã làm một cuộc "xê dịch" dài dài. Hắn đang viết tiếp khúc "Hành Phương Nam" của những người đi trước.


Nguyễn Bính rời đất Bắc đi về phương Nam vào năm 1943, nhưng không chỉ có mình ông. Cùng trong chuyến đi ấy, còn có cả Tô Hoài, Vũ Trọng Can. Nhưng hai ông này vì không chịu được cảnh vợ chồng ly tán "Quê nhà xa lắc xa lơ đó/ Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay", đã quay trở lại. Chỉ còn Nguyễn Bính độc hành lưu lạc hơn mười năm trong ấy. Còn hôm nay, Phùng Phương Quý vô Nam, tất nhiên trong một bối cảnh khác, thuận tiện hơn, dễ sống hơn. Nhưng dù sao thì cái bóng dáng của "rừng cọ, đồi chè" trên đất Phong Châu không khỏi vướng víu bước chân người nghệ sĩ.


Tháng bảy năm ngoái, Phương Quý đến tặng tôi cuốn Tạp chí Văn nghệ Quân đội, trong đó có in truyện ngắn "Hai bờ rạch Tráng" của hắn. (Tôi chưa kịp đọc thì ngay đêm hôm đó, qua chiếc đài bán dẫn ở đầu giường, tôi nghe giọng Hoàng Yến trong chương trình đọc truyện đêm khuya). Tưởng Phương Quý đến chỉ để phô tác phẩm mới, ai ngờ hắn chào tôi:


- Ông trẻ ở nhà giữ gìn sức khỏe, viết được nhiều tác phẩm hay nhé. Cháu đi chuyến này hơi lâu đấy.


- Lâu là đến bao giờ?


- Là khi nào cháu làm được cái gì đó cho bõ sức, chứ ở ngoài này bấn lắm. Nghèo tiền còn được, nghèo vốn sống thì không ổn.


Cái từ "ông trẻ" mà mọi người dành cho những ai mới chớm già mà vẫn còn "chịu chơi" như tôi đang rất phổ biến hiện nay ở ngoài Bắc. Nó có tí thân mật, có tí kính trọng lại có tí khôi hài, tếu táo nên dễ lọt tai. Chứ thực ra Quý với tôi, không có họ hàng gì. Cũng không chơi với nhau theo nghĩa bạn bè. Tuổi Quý như tuổi em út tôi. Sau này nhắn tin, rồi a lô điện thoại, Quý vẫn một ông trẻ, hai ông trẻ. "Ông trẻ bẻ gãy sừng trâu, đi đến đâu ông trẻ cũng máu!".


Giáp Tết Kỷ Sửu, tôi đang ngồi buồn, nghĩ tới những năm tháng xa quê. Tết này là tết thứ 14 gia đình tôi cúng ông Táo ở Việt Trì. Cái nhà cũ của tôi ở làng Yên Lập bên bờ tả sông Lô đã đổ nát, tôi phải bán cho người ta làm củi đốt gạch được hơn triệu bạc, nay chỉ còn trơ nền không với cái giếng bỏ hoang. Nếu không có mấy cây nhãn già năm, sáu năm nay không có quả thì tôi chẳng còn ấn tượng gì về cái nền cũ của nhà tôi. Tiếng là xa quê, nhưng chẳng mấy tuần là tôi không về thăm anh em cô bác ở bên ấy. Vù xe máy chỉ nửa giờ đồng hồ, kể cả qua đò là đến làng cũ, nơi có nhúm rau khi mẹ tôi sinh chôn ở đó. Ấy vậy mà chẳng mấy đêm tôi không mơ thấy mình chèo ổi, chèo nhãn, lội sông vớt củi, rồi đi úp cá đồng... 14 năm dạy học ở Lào Cai, con đường thăng tiến phải nói là hanh thông, chỉ vì quê hương mà tôi phải xin về. Về quê rồi, vì một cái gì đó không tiện nói ra, tôi lại khăn gói quả mướp ra đi. Về làng, người ta gọi tôi là nhà văn, có lúc tôi cũng thấy ngượng. Nếu đời tôi còn một chuyến ra đi nữa thì hẳn là ra đi vĩnh viễn...


Đang lẩn thẩn một mình thì Phương Quý đỗ sịch xe máy trước cửa. Giời ạ! Trông như một tên lính dù vừa chạm chân mặt đất. Hắn đeo lặc lè bên hông một túi lớn. Mắt kính đen, đầu úp sụp mũ cứng, áo quần màu cứt ngựa, loại dùng cho ký giả, nhà báo tác nghiệp lưu động, nào túi trên túi dưới, túi trước túi sau. Chưa kịp nói câu gì thì hắn đã giơ máy kỹ thuật số lên chõ vào mặt tôi. "Để làm gì thế?". Tôi hỏi. "Để cháu viết mấy dòng về ông trẻ pốt lên mạng". "Pốt bằng cách nào?". Quý kéo soạt khóa túi lôi ra một cái hộp hình chữ nhật, nếu nó dày hơn chút nửa thì tôi cho là cái hòm của anh thợ cắt tóc, nhưng cái hộp này mỏng và xinh lắm. Tôi hỏi: "Cái gì đấy?". "Láp tốp". "Là cái gì?". Là máy tính xách tay đấy, ông trẻ ạ. Có gì là cháu tung lên mạng luôn, tiện lắm, chứ không lù lù một đống ba bốn cục chật nhà như cái máy của ông trẻ đâu". "Chà! Chịu bố mày đấy. Vô trỏng mần ăn khá quá ta. Có đủ thứ rồi phỏng? Chuyến này dân chơi Phú Thọ chạy dài không kịp". Giọng hắn hồ hởi: "Phải thế mới sống nổi. Cháu vào trong ấy công việc cũng dễ, có mấy tờ báo mời cộng tác. Công việc bù đầu, chạy long nhong tối ngày, khi Sài Gòn, Tây Ninh, Khi miền Tây nam bộ”.


Sau tết Kỷ Sửu, Quý lại vù trong đó lúc nào, không hề có một lời tạm biệt "ông trẻ". Lần theo sợi dây bè bạn trên blog của ông Chõe Xuân Thu, dí chuột vào chữ phuongquy thì tòi ra cái nhà của hắn, ngoài cổng đề biển "Lời hẹn hai quê", và hắn ngồi buồn bên cái càng xe, có bánh xích nhưng lại không phải xe tăng, không phải xe bò, cũng không phải xe cải tiến. Comments vào hỏi, hắn chất chưởng bảo đó là xe thổ mộ?! Giời đất! Cái loại xe này thì dân Bắc Kỳ đã mấy ai biết.


Nói về Phương Quý thì tôi laị nghĩ về những vùng đất mới, lộ rõ tôi cũng là một anh máu đi, nhưng cái chân thì ngắn, cái túi thì rỗng. Ấy vậy mà tôi "nháy" vào cho hắn, là: "Quý ơi! Tao thương mày lắm. Nhìn bộ mặt mày đờ đẫn, hẳn là nhớ quê cọ lắm phải không? Một quê đã khổ, giờ lại hai quê, biết làm thế nào?". Lập tức, hắn trả lời: "Ông trẻ khỏi lo. Làm trai cho đáng nên trai. Cháu vừa đi Vàm Cỏ Đông về, đang uống rượu thịt rắn với các đại ca trong này. Khi nào gối mỏi chân mòn, cháu lại về ngồi dưới bóng cọ quê mình". Tôi bông phèng tặng hắn đôi câu đối:


Ra Bắc vào Nam láp tốp đeo hông trăng gió cuộc đời phiêu lãng thế


Lên đèo xuống ải văn chương cắp nách ái ân đan díu nghĩa tình ghê.


Hắn không chạnh lòng, còn nhắn tin ra cám ơn. “Hay quá, ý nghĩa quá. Cháu xin nhá. May là ông trẻ bảo cháu Lên đèo xuống ải chứ không phải Lên voi xuống chó”.


Theo dõi liên tục trên báo, trên mạng những bài viết của Phương Quý mới thấy hắn là người có tài, một tín đồ của Chủ nghĩa Xê dịch. Không địa vị, quyền chức, không sổ lương, nếu quanh quẩn ở ngoài này dưới cái tán cọ già, liệu hắn sẽ nên công trạng gì? Thì ra hắn có lý. Đất trời Phương Nam rộng mở rất hợp với những con người có trái tim đa cảm và giàu khát vọng như hắn, cho nên đi đến đâu hắn cũng người thương, nâng đỡ. Chứ mô phạm như ông trẻ hắn, hoặc chập cheng, láu cá như những người khác thì ra khỏi nhà chỉ có nước chết đói.


Có người (không được thiện ý lắm) bảo tôi nhận xét về Phương Quý. Tôi nói: Về con người Phương Quý, tôi không khen mà cũng không chê. Mỗi con người có số phận riêng của họ, họ phải chịu trách nhiệm trước cuộc đời. Mà ở đời thì tài thường đi liền với tật. Đối với Phương Quý, cái tật không làm hại ai, nhưng cái tài của hắn thì khá ấn tượng. Ấy là tôi muốn nói đến tài làm báo, viết văn, thơ của hắn.


Văn Phương Quý trong các tập "Mùa trăng suông", "Cảnh rừng còn sót lại" là loại văn viết có nghề, có cá tính, lại ngồn ngộn chất liệu cuộc sống ở khắp mọi miền: đồng bằng, miền núi, đô thị với đủ các hạng người, sếp bự có, trí thức có, lưu manh có, gái đĩ có... nên văn hắn hấp dẫn người đọc. Không phải ai cũng viết được như thế. Còn cái tài nữa là hắn được rất nhiều giải thưởng. Có thể nói, đội ngũ sáng tác ở Phú Thọ, không ai có nhiều giải thưởng như Phương Quý. Giải Trung ương có, giải địa phương có, giải báo chí có. Năm nào hắn cũng giật hai, ba cái giải, mà giải của hắn là giải thật, giải văn chương đích thực chứ không phải là "dải rút". Hắn không giống một số người chạy, xin giải để lấy tiếng. Một anh vô danh tiểu tốt như hắn, chạy thế nào được giải của Hội Nhà văn và Nhà xuất bản Giáo dục, của Tạp chí Cửa biển Hải Phòng, của Thành phố Hồ Chí Minh. Có người được giải thì giấu đi, nhưng Phương Quý thì phô-tô cho mọi người đọc. Ai cũng cho là xứng đáng. Tôi nói đùa: Phương Quý, đoạt giải quý, nhưng quý hơn là hào phóng, một cái giải Ba thơ viết cho tuổi mẫu giáo được ba triệu đồng, hắn bảo giải "Ăn dỗ trẻ con" nhưng cũng a lô gọi mấy thằng bạn đi nhậu cho đến nhẵn ví...


 


Với phong cách sống như thế, Phương Quý “Hành Phương Nam” là phải lắm. Ngọn gió đời đã đưa hắn đi và có những vòng tay đón hắn. Mong cho hắn chân cứng đá mềm, trái tim càng sứt sẹo thì càng đập dai, đập khỏe, cho đến khi góc nhỏ nào cũng đầy ắp yêu thương.


Việt Trì, tháng 5/2009


Nguyễn Anh Đào


toquoc.vn


“Góc làng” của Phùng Phương Quý


Dành cả tâm huyết và niềm đam mê cho văn học, nhà văn Phùng Phương Quý đi nhiều, trải đời nên mỗi tác phẩm đều có nét tinh tế nhạy cảm của người làm nghệ thuật. Phùng Phương Quý đã dâng tặng bạn yêu thơ mọi miền nhiều tập thơ như “Huế xa” và “Mưa trên lá cọ” và những tập truyện ngắn, tiểu thuyết đặc sắc mang đậm hình ảnh miền trung du Phú Thọ quê hương ông.  Đầu tháng 7 vừa qua, nhà văn Phùng Phương Quý đã cho ra mắt tiểu thuyết Góc làng (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân). Cuốn tiểu thuyết sẽ đưa độc giả trở về với những năm tháng của một thời quá khứ đầy cảm xúc của tình làng. Tiểu thuyết Góc làng đan xen hai đề tài chính là chiến tranh và đời sống bình yên mà không hề tĩnh lặng của vùng nông thôn Bắc Bộ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Với bút pháp thể hiện chủ nghĩa hiện thực, nhà văn Phương Quý đã gợi mở cho người đọc những suy ngẫm khi đi qua những nhân vật ở một ngôi làng nhỏ với đầy đủ những nét đặc trưng của miền trung du Phú Thọ “Làng tôi là làng Nà Rậm. Núi đồi trung du, đào giếng khơi không dưới mười mét. Có nhà ở trên đồi, giếng nước sâu gần hai chục mét, từ trên ngó xuống hun hút, chóng mặt”. Cùng giọng điệu của người kể, nhẹ nhàng chậm rãi, mạch văn dàn đều không gai góc về những câu chuyện trong cuộc sống sinh hoạt hết sức bình dị của những người dân trong làng. Tất cả được miêu tả qua lời kể của nhân vật Hòa Bình như một cuốn phim chầm chậm, từng cảnh được hiện lên từ khi Bình và những người bạn thân Phúc, Mai, Dũng còn nhỏ cho đến khi trưởng thành. Bắt đầu với những câu chuyện diễn ra ngay trong gia đình của Bình, cũng như cuộc sống của những con người trong ngôi làng nhỏ. Ở nơi thôn quê bình yên này, Hòa Bình là cái tên được cha cậu đặt không biết có ý gì nhưng “có thể là qua chín năm bom đạn chống Pháp ác liệt, mong muốn được hòa bình của người ta lớn quá. Hoặc là anh muốn ghi nhớ nơi em trai mình nằm xuống tại Suối Rút, tỉnh Hòa Bình”. Với những ai đã từng trải qua những năm tháng chiến tranh gian khổ sẽ được trở về với ký ức hồn nhiên không thể nào quên của những đứa trẻ sống giản đơn trên mảnh đất trung du. Những buổi trưa ra gốc đa đầu làng ngồi hóng mát, bữa trưa với cơm nắm muối vừng, cơm nắm độn hạt mít cùng lũ bạn sau buổi tu sửa hầm trú ẩn do bom Mỹ ném xuống trường học, tiếng cười trong veo của những người bạn về những ước mơ, những rung cảm đầu đời trong sáng. Rồi những câu chuyện trong lao động sản xuất của người lớn được kể lại chi tiết và chân thực, tình cảm của những người làng, người cùng xóm. Nhưng trong niềm vui bình dị giản đơn đó vẫn còn đau đáu nỗi niềm về ngày đất nước giải phóng, để rồi khi trưởng thành Hòa Bình luôn khát khao khoác lên mình tấm áo lính như chú Danh em trai bố, để chiến đấu bảo vệ quê hương, góc làng thân thương quý giá của cậu…


 


Thế giới nhân vật trong miền tiểu thuyết của Phương Quý đa dạng, có nhiều nét đặc thù không dễ bị thay thế. Nhân vật trong Góc làng là những người nông dân giản dị. Dưới ngòi bút của tác giả, họ hiện ra hết sức sống động và chân thực, với bản lĩnh sống vững vàng, cứng cỏi nhưng giàu tình cảm. Đặc biệt đọc tiểu thuyết của ông độc giả sẽ cảm nhận rõ thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm đó là ngợi ca những con người đã từng vào sinh ra tử, nâng niu khát vọng về cuộc sống hòa bình trên mảnh đất quê hương chịu nhiều bom đạn, nâng niu giá trị của hạnh phúc gia đình, lứa đôi và trân trọng ước mơ giản dị về mái ấm gia đình. Song, có lẽ ai đã từng đọc Phương Quý thì không thể quên những trăn trở, day dứt giàu giá trị nhân văn của người kể về thế thái nhân tình. Truyện nào của Phương Quý, cũng đúc kết những bài học, những tâm tư ẩn sâu trong mỗi nhân vật của tác phẩm.


 


Nhà văn Phùng Phương Quý không kể một câu chuyện theo cách mà người nghệ sĩ thường làm. Do vậy, ông luôn cố gắng vượt lên chính mình trong nhiều thể nghiệm. Phương Quý cũng như bất kì một nghệ sĩ đích thực nào, không bao giờ chấp nhận bấu víu vào những khuôn mẫu nghệ thuật xơ cứng. Nhưng nghiêm ngặt mà nói thì đó là hành trình bền bỉ lâu dài, đòi hỏi người nghệ sĩ từng khoác áo lính ấy, phải dấn thân tìm tòi, mới mong tạo ra những giá trị mới, những chuẩn mực mới trong tác phẩm của mình.


 


Mỗi nhà văn đều có một vùng miền sáng tác của mình. Mà với nhà văn Phương Quý, ông đã thâm nhập sâu sắc nhất là "rừng cọ, đồi chè" và những hoài niệm về người lính. Với tập tiểu thuyết Góc làng nhà văn Phùng Phương Quý sẽ gửi tới người đọc những giây phút nhẹ nhàng về những hình ảnh thân thuộc của tuổi thơ, tình cảm của những người thân bên gia đình và những giây phút quặn đau của sự chia ly đầy mất mát bởi chiến tranh. Để chúng ta càng nâng niu, trân trọng những gì đang có và lưu giữ những kỷ niệm của những năm tháng đã qua là một thông điệp bằng văn học vừa sâu lắng vừa bình dị đưa đến bạn đọc những trang văn mộc mạc lấp lánh niềm tin yêu cuộc đời...


Ninh Giang


baophutho.vn  29/08/2017, 15:21:56


CƠM BẮC GIẶC NAM – TIỂU THUYẾT CỦA PHÙNG PHƯƠNG QUÝ


"Cơm bắc giặc nam" là cuốn tiểu thuyết mới nhất của Phùng Phương Quý sau sự thành công của 2 tiểu thuyết “Ma rừng” và “Góc làng”, một trong những cây bút tiêu biểu của văn học Phú Thọ về đề tài lực lượng vũ trang (LLVT) và chiến tranh cách mạng (CTCM).


Tác phẩm có 14 chương với 315 trang. Phùng Phương Quý đã vẽ lên bức tranh kể về những khó khăn vất vả của lực lượng bộ đội thông tin trong chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972.


Thực tế cuộc sống thời chiến đã cách thời điểm hiện tại hàng chục năm, thậm chí là hàng thế kỷ, nhưng với tâm huyết và tài năng thực sự, dám đầu tư chiều sâu có hướng đích, Phùng Phương Quy vẫn có thể sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị tư tưởng và thẩm mỹ cao về đề tài LLVT và CTCM. Tất nhiên là khi tâm thế thời đại đổi khác, hình ảnh người lính trong thời kỳ dựng xây đất nước hôm nay sẽ khác người lính trên trận tuyến chống quân thù năm xưa, nhưng về bản chất vẫn là Bộ đội Cụ Hồ, nên phẩm chất cao đẹp như tinh thần sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc và dân tộc, không ngại khó, ngại khổ, xả thân vì nhân dân ở họ vẫn không hề thay đổi! (Nhân vật Ngạn trong tiểu thuyết)


Nếu bạn là một fan của chủ đề LLVT và CTCM thì không thể bỏ qua “Cơm bắc giặc nam”, cuốn tiểu thuyết sẽ mang đến cho bạn đọc một cảm nhận rất riêng không lẫn với bất kỳ ai, đây là cuốn tiểu thuyết đáng đọc và suy ngẫm!


Đỗ Huy


vannghedatto.vn  27/07/2018


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu - Nhiều tác giả 14.11.2019
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
Chỉ là đợt thử mắt bên phải - Đỗ Quyên 28.10.2019
Có một cuốn sách hay đang giảm giá - Mạc Yên (Phạm Thành Hưng) 25.10.2019
Hà Nội, một mảnh hồn xưa - Phan Quang 25.10.2019
xem thêm »