tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30443456
Lý luận phê bình văn học
29.06.2019
Vũ Từ Trang
Nghe thấy một tiếng vọng


Muôn đời, tâm hồn nhà thơ vốn mong manh, chới với.


Có ai nghe thấy một tiếng vọng


Thì thả con thuyền sang với tôi


Mỗi lần đọc câu thơ trên của nhà thơ Trần Lê Văn, tôi lại một lần bần thần xúc động. Với ai, chứ người như ông, đã từng chịu bao thăng trầm, bao phiền muộn; ấy vậy, ông cũng phải kêu lên một tiếng kêu chới với. Bài thơ viết năm 1986, khi ông đã sáu mươi ba tuổi. Xem ra, đủ thấy, nỗi buồn không dành cho riêng ai và nó cũng chả kiềng tuổi tác nào. “Có ai nghe thấy một tiếng vọng”, người đọc đủ biết, không phải tiếng vọng gọi đò, mà đây là tiếng gọi tìm bạn tri âm tri kỷ. Sự đời, tiếng gọi đò, đò sang, đã là khó.Ở đây, tiếng lòng, tiếng tri âm tri kỷ, thì càng khó biết bao nhiêu. Ai sẽ là là đồng vọng tiếng gọi kia, để thả con thuyền sang? Xem ra, con người, nhất là thi nhân, thì sự mong manh, chới với, cô liêu thăm thẳm biết nhường nào.


Nhà thơ Trần Lê Văn có tên thật là Trần Văn Lễ. Ông sinh ra ở làng Vị Xuyên (Nam Định), cái làng quê có con sông Vị Hoàng mà "Sông kia rày đã lên đồng" như trong thơ Tú Xương.


Lớn lên trong gia đình nhà nho, ông sớm được học và tiếp thu, ảnh hưởng của Nho giáo do người cha truyền lại. Đến bậc trung học, lại được học tiếng Pháp. Vì thế văn hoá Đông Tây sớm ảnh hưởng trong nhận thức của ông. Trong tâm sự, ông có nói về kiến thức của mình thuộc "tầm tầm bậc trung". Ông tự nhận có ảnh hưởng của trào lưu Thơ Mới và các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. Chất trữ tình trào lộng thấm sâu trong nếp nghĩ, lối sống của ông.


Ông là người hoạt động văn học sớm. Năm 1948, bài thơ "Qua sườn Tam Đảo" của ông, đã được giải nhì của Hội Văn nghệ liên khu III. Năm 1951, bài thơ "Rang thóc" của ông được giải nhì của Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957. Trước khi làm công tác văn nghệ, ông từng công tác ngành giáo dục ở Sơn La. Vì vậy, miền đất này có nhiều ảnh hưởng đến sáng tác và đời tư của ông. Ông cũng đã từng là cán bộ biên tập ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn và tuần báo Văn Nghệ.


Tôi được biết ông, khi ông về công tác ở Sở văn hoá Hà Tây, sau thời gian dài làm việc ở Hà Nội, mà ông có gặp nhiều trắc trở. Đấy là năm 1977, ông biên tập cuốn sách khảo cứu "Nghề đẹp quê hương", cuốn sách khảo cứu về các nghề thủ công truyền thống, tôi có được tham dự bài vở. Theo tôi, thời điểm ấy, đấy là tập sách đầu tiên nghiên cứu công phu về nghề thủ công truyền thống của một địa phương. Trong tập, nhà thơ Trần Lê Văn có hai bài viết nghiên cứu, giới thiệu về nghề dệt gấm và nghề chạm gỗ khá kỹ lưỡng, nhiều tư liệu quý.


Tập thơ đầu tiên của nhà thơ Trần Lê Văn là tập "Rừng biển quê hương", in chung với nhà thơ Quang Dũng, năm 1957. Ông là người viết cẩn thận. Sau hơn hai mươi năm, năm 1979, ông mới cho ra mắt tập thơ thứ hai, tập "Giàn mướp hương". Năm 1987, in tập thơ thứ ba, có bài thơ "Tiếng vọng" (đồng thời là tên tập sách) mà nhiều bạn văn tâm đắc.


Không làm được thơ ngắn


Đành phải làm thơ dài


Khó nói bằng im lặng


Đành phải nói bằng lời...


Mối tình tri âm tri kỷ trong văn đàn có nhiều. Nhưng tình thâm giao bộ ba Quang Dũng -Trần Lê Văn -Ngô Quân Miện, thì nhiều người trong giới văn chương phải ghi nhận. Hình như cả ba nhà thơ này cùng lắm nỗi lận đận trong phần đời và phận đạo. Ba nhà thơ, ba dáng vóc bề ngoài khác nhau. Người cao người thấp, người béo người gầy, tài năng mỗi người một lối, nhưng tâm tình ba người như một. Các ông chơi với nhau không chỉ riêng vì tài, mà cái chính, là vì tình. Điều tôi đáng noi theo, là cả bộ ba này, rất ít khi các ông nói về nỗi truân chuyên, lận đận của mình.


Sinh thời, nhà thơ Quang Dũng nói, đời sống vốn tự nó đã vất vả, nói lại vất vả làm gì cho nó nặng lòng. Bộ ba nhà thơ này, qua các trang viết, hình như chỉ nói nhiều đến niềm vui và tin yêu. Phải chăng, các ông thấy nên làm như thế, phải làm như thế, để cuộc sống đáng yêu hơn. Bộ ba nhà thơ này chơi thân nhau từ năm đầu hoà bình. Họ như hình với bóng của nhau. Năm 1988, thương nhà thơ Quang Dũng lâm bệnh mất, hai nhà thơ trong bộ ba còn lại, càng gắn bó với nhau hơn.


Nhà thơ Trần Lê Văn luôn có ý thức với cường độ lao động nghệ thuật của mình. Ngoài sáng tác thơ, ông còn viết bút ký, khảo cứu. Các tập Thung mơ Hương Tích (1974); Sông núi Điện Biên (1979); Hoa Hà Nội (1981); Gương mặt Hồ Tây (1984)... là những tập bút ký giầu tư liệu và giầu chất văn. Ngoài ra, ông còn tham gia dịch thơ chữ Hán, đi nói chuyện thơ ở nhiều địa phương. Tự xác định mình là nhà hoạt động văn hoá, ông không màng chức tước, tiền bạc, ông dồn tất cả tâm sức cho lao động nghệ thuật. Tám mươi tuổi, ông vẫn ham đi thực tế. Qua mỗi miền đất, ông đều muốn ghi chép lại cảm xúc, suy tư, trải nghiệm của mình. Trong một bài thơ viết cuối xuân 1986, ông tâm sự:


Những tháng ngày qua không nghỉ ngơi


Đường đi mải miết chẳng rong chơi...


Thời chống Mỹ cứu nước, đời sống các nhà văn, nhà thơ như đều vất vả. Ấy vậy niềm tin yêu cuộc sống thì thật cao. Năm đầu chống Mỹ, nhà thơ đã vững bước tiễn con ra trận, để rồi người con trai của nhà thơ mãi mãi không về. Anh đã hy sinh cho tổ quốc. Trong một chuyến đi thực tế đường Trường Sơn, ông bàng hoàng thương con trai mình.


Ngã xuống nơi nào? Đau lắm không con?


Cha chẳng thể đỡ con ngồi dậy được!


Qua thơ, ông giải bầy nỗi lòng riêng của ông:


Trưa hè ấy, cha tiễn con lên đường


Chia tay mà vĩnh biệt!


Chỉ biết nhìn trời muôn vạn vì sao


Thôi đành cậy nhờ thăm thẳm tầng cao


Muôn vạn vì sao làm muôn vàn nến thắp


Những ngọn nến không bao giờ tắt


Cho ấm nơi đất lạnh, con nằm


Gặp gỡ ông, bề ngoài, luôn thấy sự nồng nhiệt, da diết, như để lấp đậy tâm tư chất chứa bên trong. Quơ lấy vui buồn ôm trĩu tay. Sau phút giây băn khoăn và nỗi niềm nhỏ nhẹ, khiêm nhường.


Trong báo trong thơ thường thấy tên


Cốt là họp mặt với anh em


Rồi con người thi sỹ lại thôi thúc ông:


Nhiều quyển sách hay, bao giờ đọc?


Nhiều vùng đất đẹp, bao giờ thăm?


Bài thơ hay nhất, bao giờ viết?


Đọc những dòng thơ này, tôi hoàn toàn tin đó là tâm sự thật của ông, tâm tư một nhà thơ hết lòng với cuộc sống.


 


*


Nhà thơ, như luôn chấp nhận sự trớ trêu của số phận.


Buổi chiều mưa phùn lây rây, nhà thơ Lữ Giang lọc cọc đạp xe đến nhà tôi, báo tin "Ông Văn bị cưa mất một chân rồi!" Tôi vội đến thăm ông. Ngôi nhà tĩnh lặng lùi sau dãy phố buôn bán ồn ã. Nhà thơ vật vã đau đớn, gầy guộc, già nua, nằm trên chiếc giường ở căn phòng nhỏ có giá sách xếp ngay ngắn. Trong cơn đau đớn nhạt nhoà, có lẽ phút đầu ông không nhận ra tôi. Tôi nhìn bốn bài thơ xuân ông chép trên giấy điều, dán cạnh giường nằm, như để tự nhủ mình. Tôi thêm thấy niềm tin và nghị lực sống ở ông. Phải lúc lâu, qua cơn đau, ông mới gượng nói được, là tiếc quá bàn chân vừa bị cắt bỏ. Bệnh hoại thư trước kia đã cướp cả tứ chi nhà thơ tài hoa bạc mệnh Trần Huyền Trân, nay lại cướp đi bàn chân nhà thơ Trần Lê Văn. Ông lại nhớ nhà thơ đi nạng Hoàng Tố Nguyên, bạn ông. Rồi ông mong sớm phục hồi sức khoẻ, để sớm được lắp chân giả, để lại đi tiếp con đường gập ghềnh, đầy vất vả và cũng lắm mộng mơ của nghiệp chữ nghĩa mình đã chọn.


Bà Văn kể rằng, dứt cơn đau, ông Văn lại nói thèm đi đây đi đó. Bà biết tính của ông, người viết, phải nằm một chỗ, là buồn bực vì bó chân bó cẳng. Bà thèm bạn của ông đến chơi, chuyện trò, để ông ấy khuây khỏa. Mà những người bạn thân của ông Văn ngày càng đi vợi. Những người còn lại, cũng ốm đau, già yếu cả. Tuổi già, buồn bã nó cứ đến sầm sập. Bà kể, một hôm trên đường Trần Quốc Toản, nhìn thấy bóng dáng người đàn ông cao cao, đi xiêu xiêu, mệt mỏi. Bà nhận ra đấy là nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, bạn của chồng mình. Bà càng chạnh lòng thương chồng, thương các nhà thơ, nhà văn trang lứa chồng mình khi tuổi quá chiều.


Nhà thơ Trần Lê Văn mất năm 2005, hưởng thọ 83 tuổi. Nhà thơ Ngô Quân Miện, người bạn chí cốt, nói rằng “Trái tim tất bật” đã chấp nhận nghỉ yên. Nhà thơ Trần Lê Văn vẫn lao động sáng tạo cho đến giây phút cuối cùng.


Mỗi lần nhớ về nhà thơ Trần Lê Văn, tôi lại nhớ câu thơ gan ruột của ông:


Có ai nghe thấy một tiếng vọng


Thì thả con thuyền sang với tôi.


Ấy là nỗi cô đơn, chới với, mong manh của phận thi sỹ nhỏ bé trong cõi nhân gian mênh mang.


VTT.


Vũ Từ Trang facebook ngày 23-6-2019


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết Sóng lừng (VN. MAFIA) qua Từ điển và một số bài nghiên cứu phê bình - Nhiều tác giả 05.12.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 03.12.2019
Trò chuyện với nhà văn Triệu Xuân - Nguyễn Khoa Đăng 02.12.2019
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu - Nhiều tác giả 14.11.2019
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
xem thêm »