tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30177182
Những bài báo
10.07.2019
Nhiều tác giả
Những bài viết về Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc


Giáo sư Hiệu trưởng NGUYỄN LƯƠNG NGỌC


Nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Trường, HNUE đăng các bài viết về Giáo sư Hiệu trưởng nhà trường qua các thời kỳ. Về Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân NGUYỀN LƯƠNG NGỌC - Hiệu trưởng (1967- 1976)- ĐHSPHN I, chúng tôi đăng một số bài viết nhân dịp Trường tổ chức Hội thảo Khoa học 100 năm sinh Giáo sư.


 


Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc - con người tài hoa và đức độ


   GS.NGND Phan Trọng Luận


  Tôi đã hơn một lần nói đến hạnh phúc của thế hệ sinh viên chúng tôi là được thụ giáo các bậc sư biểu như Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy,Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Lương Ngọc. Mỗi thầy để lại trong tâm trí tôi những ấn tuợng không phai mờ. Riêng thầy Nguyễn Lương Ngọc tôi luôn nghĩ Thầy là một bậc đạo cao đức trọng.


 


          Ở tuổi thiếu niên nhờ có tủ sách Hồng Tiều trong nhà mà cha tôi cố gom góp, tôi được đọc linh tinh đủ loại Tạp chí Tao đàn, Văn học tuần san, những tập thơ văn lãng mạn Tố Tâm, Thi nhân Việt Nam, Phấn thông vàng …cùng với những tên sách lạ lẫm như Đội mũ lệch, Đâu là chân lí . Tôi còn nhớ không rõ lắm hình như Xuân Thu nhã tập được in với khổ sách vuông, to và đẹp. Ông giáo làng thích thơ hay đến đàm đạo với cha tôi. Tôi nghe ông chê thơ lãng mạn là thô như câu “Cái gì diu díu trong thân áo” (Tôi không biết là của ai). Mấy vần thơ “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà; Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm” cũng bị ông đưa ra đố cha tôi. Tôi mang máng nghe nói là thơ của nhóm Xuân Thu nhã tập, của Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Lương Ngọc…Trong tâm trí cậu học trò nhà quê như tôi các nhà văn ấy chắc rất khác thường xa lạ. Cái tên Nguyễn Lương Ngọc thoảng qua vào bộ nhớ của tôi như vậy


 


      Rồi sau đó mấy năm lần đầu tiên tôi được biết thầy. Thế mà đến nay đã hơn 60 năm. Lúc tôi mới ở tuổi 18-20. Đó là những năm 50 của thế kỉ trước. Truờng Dự bị đại học được thành lập ở khu IV cũ. Trường tuyển sinh. Những ai có bằng tú tài hay chuyên khoa hoặc vừa học xong lớp 9 (hệ thống 9 năm) như Trọng Bằng, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Phan Quang …thì đuợc tuyển thẳng. Còn lại thì phải qua một kì thi. Tôi học dở dang chuyên khoa nên phải dự thi. Khoá thi có đến mấy chục nguời từ nhiều nguồn ngành địa phương khác nhau. Có anh là cán bộ vùng địch hậu, có anh đã là huỵện uỷ viên, có anh đã là giáo viên, có người từ Bình Trị Thiên Khu V ra v.v…Khoá thi ấy có cả Trần Đình Hượu, Nguyễn Đức Đàn. Phòng thi là đình Rạng ở Thanh Chương Nghệ An. Thi vào ban đêm. Đèn dầu có chao che ánh sáng. Đề thi là bài thơ Chúc tết thanh niên của Phan Bội Châu. Nguời coi thi mặc chiếc blouson kaki, ít nói, ít đi lại không nhắc nhở gì thí sinh, trông rất hiền hậu. Không khí thi cử do đó không có gì căng thẳng, giống như một lớp học bình dân học vụ hơn là một kì thi vào đại học. Người coi thi hôm đó chính lại là thầy Nguyễn Lương Ngọc, không giống tí nào với nhà văn của Xuân Thu nhã tập mà tôi từng tưởng tượng. Lần đầu tiên tôi đuợc biết thầy trong một thời điểm khá đặc biệt như vậy nên hình ảnh thầy ăn sâu vào kí ức thanh xuân của tôi, một người thầy hiền hậu nhân từ. Mãi về sau tôi mới được biết thầy là một cây bút quen thuộc trên văn đàn những năm 40 của thế kỉ trước. Thầy là cây bút chủ lực của một số tờ báo danh tiếng như Tinh hoa, Thanh nghị .. Nhiều vở kịch do thầy sáng tác đã đuợc công diễn nhiều nơi trong thời kháng chiến chống Pháp. Thầy trải qua một đời sống văn hoá phong phú trong mối tương giao thân thiết với nhiều nhà văn hoá tên tuổi như Đặng Thai Mai, Nguyễn Đỗ Cung, Thế Lữ, Xuân Diệu, Hoài Thanh, Đoàn Phú Tứ, Vũ Ngọc Phan, Vũ Đình Liên, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh v.v.. Đọc Nhớ bạn của thầy mới hiểu rõ thầy là con người tài hoa trên nhiều phương diện, thầy sống một cuộc sống văn hoá thật phong phú và có được những tình bạn quí giá mà hình như ngày nay đã thành hiếm hoi. Nhà văn Đoàn Phú Tứ con người tài hoa nhưng không ít vấp ngã vẫn đuợc nâng niu chắt chiu trìu mến và nâng đỡ. Thầy kể: “Chúng tôi cũng có khuyết điểm cũng có vấp ngã. Thường thì thể tất cho nhau hoặc là yên lặng đi bên nhau, để cho bạn tự mình thấy khuyết điểm và tự mình sửa chữa”. Cụ Nghiêm Toản không cùng lí tuởng và có bước đường đời khác nhưng thầy đã nhận ra tấm lòng yêu nuớc và nhân cách của nguời trí thức quá cố. Đứa con trai của Cụ đi lính cho chính quyền Sài gòn là Cụ kiên quyết từ bỏ. Thầy hiểu thấu nỗi đau của người trí thức có thể có chính kiến riêng nhưng nhất thiết không hợp tác với địch. Chúng ta nhờ vậy mà hiểu thêm con người cụ Nghiêm Toản và những trí thức cùng tâm trạng và chí hướng như thế trong buổi đầu của cách mạng.


 


Ra trường tôi không có dịp đuợc gần thầy. Mãi đến năm 1964 tôi mới về trường Đại học sư phạm Hà Nội và bấy giờ thầy là hiệu trưởng. Tôi nhớ có một cuộc họp do bố trí chồng chéo nên khi thầy trình bày chưa đuợc 30 phút thi hội truờng hầu như đã vắng đi hơn một nửa. Tôi rất ngạc nhiên là thầy không có một phản ứng gì. Thầy cứ thản nhiên nói, cứ trình bày như không có chuyện gì đã và đang xẩy ra dưới cử toạ. Không có một biểu hiện nào trên nét mặt của thầy. Tôi cứ nghĩ sao thầy hiền lành đến vậy. Lại có một hôm ở ngay cổng trường canh dãy nhà lá, có mấy nữ sinh đang lăn một ống bê tông. Một số bạn trai có mặt vẫn đứng nhìn. Thầy bảo “Các em giúp các bạn nữ một tay”. Vì không biết đó là thầy hiệu trưởng, có em đã tếu táo, hỗn láo trả lời “Sao bác không ra giúp?”. Tôi đứng cạnh mà sững sờ. Và kì lạ sắc mặt thầy không có chút gì thay đổi. Anh Trần Thanh Đạm có dạo ở tập thể cạnh phòng của thầy ở Viện khoa học giáo dục kể là thấy thầy không bao giờ cáu gắt không bao giờ nói to tiếng. Thầy hiền lành đến mức kì lạ. Anh Võ Phi Hồng thời công tác với thầy ở Viện khoa học giáo dục kể lại mỗi khi anh em trong Viện giới thiệu hay nhắc tên thầy kèm theo chức danh giáo sư là thầy nhỏ nhẹ bảo “Đừng nói thế”. Anh em thưa lại thầy là thầy của bao nhiêu giáo sư. Thầy vẫn bảo “đừng gọi thế”. Hầu như cái phương châm Sống ẩn dấu mà thầy bộc bạch là mình có chịu ảnh hưởng (Pour vivre heureux vivons cachés) cùng với khí chất riêng đã tạo nên một phong cách sống khiêm nhường thầm lặng cho dù thầy vẫn nhập cuộc rất tích cực vào cuộc đổi đời chung của các nhà văn sau cách mạng. Và tôi thầm nghĩ phải chăng con người đó đã đạt đến độ cao khoát trong tâm linh để làm chủ được trong mọi tình huống bất thường, trái tim luôn yêu thương trân trọng và khoan dung mọi người. Con người đó không coi trọng những thứ danh vọng. Nhìn thầy tôi luôn nghĩ đó là một bậc hiền nhân quân tử.


     Nhớ lại sau khi đuợc nhập học, thầy Trần Văn Giàu là người khai tâm cho chúng tôi về triết học, thầy Đào Duy Anh về sử học, thày Đặng Thai Mai, thầy Trương Tửu, thầy Nguyễn Mạnh Tường về văn học …và thầy Nguyễn Lương Ngọc về lí luận văn học. Thế hệ chúng tôi lần đầu tiên được tiếp xúc với những khái niệm Văn học là gì, Nguồn gốc của văn học, Các thuộc tính của văn học, các trào lưu văn học Đông Tây…Chúng ta đều biết truớc năm 1945 những chuyên khảo hay giáo trình về lí luận văn học ở nước ta chưa có gì ngoài cuốn Văn học khái luận của Đặng Thai Mai. Những cuốn sách được tin dùng nhất thờì bấy giờ là của Desgranges, Faguet nhất là Lanson nhưng đó cũng không phải là chuyên luận lí luận văn chương. Mà không phải ai cũng có được. Trong những năm kháng chiến hồi bấy giờ làm gì có tài liệu tham khảo. Một tiểu luận mỏng của M.Gorki về kinh nghiệm viết văn là tư liệu hiếm hoi quí giá vô cùng. Tôi còn nhớ năm 1953, tôi giảng dạy ở Khu học xá trung ương (Trung Quốc), một hôm ra bệnh viên quân y Nam Ninh thăm thầy Mai. Thầy tâm sự là phải xin mãi bác sĩ mới cho đọc mỗi ngày 2 tiếng. Sang đây mấy tháng mà đọc hơn cả thờì gian kháng chiến. Lần đầu tiên tôi mới được thấy các tạp chí Pensee, Europe, Litterature sovietique, Lettres francaises…Có những khái niêm sơ đẳng nhất mà lớp sinh viên chúng tôi cũng chưa rõ như Đặc trưng của nghệ thuật và văn học (Specifité de l’art et de la litterature). Tôi ở Trung Quốc về, Hoàng Ngọc Hiến đến nhà kiếm tài liệu, Hiến bấy giờ là giáo viên văn cấp 3 Phan Đình Phùng. Tôi đưa cho anh mấy bài giảng về truyện Kiều của Khu học xá, anh Hiến xem qua đã vui mừng nói “Đây tủ quá rồi”. Năm 1955 cùng giảng dạy ở trường Lương Ngọc Quyến Thái Nguyên, có các anh Đỗ Đức Hiểu, Lê Đình Kỵ, Hoàng Ngọc Hiến…Tôi nhớ có hôm anh Hiểu còn hỏi tôi: Văn học bắt nguồn từ lao động là thế nào? Nói vậy để thấy xây dựng được một giáo trình lí luận văn học trong hoàn cảnh kháng chiến thông tin nghèo nàn như thế quả là môt thách đố lớn lao đối vớí người lên lớp. Những bài giảng về lí luận văn học là kết quả tích luỹ vốn văn hoá văn chương được khơi dậy từ trí nhớ uyên bác của thầy và chính từ cuộc sống trải nghiệm sâu sắc trong đời sống văn hoá văn học của thầy từ trước Cách mạng nên không khô khan mà sinh động thú vị. Giáo trình chưa có chỉ là những giờ giảng trực tiếp cho sinh viên nghe và ghi chép lại. Sau khi hoà bình lập lại, những phác thảo này đã được bổ sung hoàn thiện thành giáo trình Nguyên lí lí luận văn học dùng trong cảc truờng đại học. Dĩ nhiên những năm sau chúng ta có điều kiện tiếp cận vớí lí luận văn học xô viết qua các buổi giảng của Nubarop ở giảng đuờng Đại học tổng hợp, các giáo trình của Timopheep, của Paspelov, các chuyên luận của Xâytơlin, Arnauđôp, Reviakin v.v..Số cán bộ đi học từ nước ngoài Liên xô Trung Quốc đã về nước. Và những bộ giáo trình mới được biên soạn thay thế cho giáo trình cũ là tất nhiên, nhưng giáo trình Nguyên lí lí luận văn học của Nguyễn Lương Ngọc chính là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho môn Lí luận văn học hiện đại ở Việt Nam. Tiếc là trong cuộc họp năm 2005 của Hội đồng xét duyệt Giải thưởng nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh cho công trình khoa học của GS. Nguyễn Lương Ngọc, ý kiến khá phân tán. Nhận thức về hoàn cảnh ra đời, về tác dụng quan trọng của những công trình lí luận văn học của thầy trong những năm 50 của thế kỉ trước chưa đuợc thuyết giải thật thấu đáo. Đó đây cũng có cách nhìn thiếu tính lịch sử nên không thấy hết giá trị và cống hiến khoa học quí báu của các công trình lí luân văn học của thầy, những cống hiến vào đời sống văn học và văn hoá của đất nước trước và sau Cách mạng tháng tám. Sống ví đạo nhiều hơn đờì, thực hơn là danh, hẳn thầy ở cõi tiên chẳng bận tâm đến giải thưởng này nọ, nhưng chúng ta thì phải biết suy nghĩ cho hợp lẽ và cho phải đạo.


 


          100 năm ngày sinh của thầy, nhớ về thầy vớí lòng ngưỡng vọng đến một một nhà sư phạm mẫu mực, một nhà văn tài hoa, một con người sống đẹp như Ngọc, cao khiết với thiên Lương, đúng như tên thầy hàm chứa - Nguyễn Lương Ngọc.


 


                                                            Hà Nội tháng 8 năm 2010


                                                      chuẩn bị kỉ niệm 100 ngày sinh của Thầy


Theo: nguvan.hnue.edu.vn/


 


 


Thầy Ngọc của khoa Văn


 


                                       PGS.TS Lã Nhâm Thìn


 


          Vẫn biết Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lương Ngọc là niềm tự hào lớn, niềm tự hào chung của trường Đại học sư phạm Hà Nội, nhưng thầy trò khoa Ngữ văn cứ nhận về mình niềm vinh hạnh: Thầy Ngọc của khoa Văn.


 


          Thầy Nguyễn Lương Ngọc-viên ngọc sáng của khoa Văn. Viên ngọc THẬT- ĐẸP - TRONG - như lời thầy viết về lẽ sống, về thơ, về trí thức.


 


          Thầy Ngọc của khoa Văn bởi ba điều: gắn bó nhiều trong thời gian, đóng góp nhiều cho sự phát triển, sống lâu bền trong tâm trí nhiều thế hệ. Thầy Ngọc của khoa Văn trong cả ba tư cách: nhà giáo-nhà văn-nhà khoa học.


 


 1-Thầy Ngọc của khoa Văn với sự gắn bó nhiều trong thời gian


 


          Trong 85 năm của cuộc đời lịch duyệt, lịch lãm, có tới 13 năm thấy Nguyễn Lương Ngọc gắn bó với khoa Văn. Từ năm 1958 đến năm 1966 thầy vừa là giảng viên, vừa là Trưởng bộ môn tổ Lý luận văn học đồng thời kiêm Chủ nhiệm khoa Văn-Sử khi trường chính thức mang tên Đại học sư phạm Hà Nội. Từ năm 1967 đến năm 1975 thầy làm Hiệu trưởng Trường Đại học sư phạm Hà Nội 1- gồm các môn Khoa học xã hội lúc bấy giờ. Trong bốn khoa Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Tâm lý-Giáo dục (về sau thêm Khoa đào tạo giáo viên cấp 2) thì khoa Ngữ văn là khoa lớn nhất, chắc chắn trong công tác quản lý thầy Ngọc đã đầu tư thêm nhiều tâm huyết và trí tuệ. Thời gian thầy Nguyễn Lương Ngọc làm công tác giảng dạy và quản lý tại khoa Văn trường ĐHSPHN 1 là thời kỳ gian khổ và sâu nặng nghĩa tình. Gian khổ bởi đó là thời kỳ trứng nước, mới thành lập (1958-1963), bởi đó là thời kỳ chiến tranh, khoa và trường phải đi sơ tán, thiếu thốn đủ điều (1967-1975). Nghĩa tình bởi đó là thời kỳ đại gia đình khoa Ngữ văn, đại gia đình Trường ĐHSPHN “dưới sự lãnh đạo của GS Nguyễn Lương Ngọc, người ta có cảm tưởng các thành viên trong trường không ai nỡ nói dữ, chơi xấu với nhau, ngược lại chỉ có thi đua nhau làm việc cho tốt” (nhận xét của GS Nguyễn Đình Chú-khoa Ngữ Văn). Có thể lấy thước đo thời gian đồng thời phải lấy cả hoàn cảnh mới thấy hết sự gắn bó sâu nặng của thầy Ngọc với khoa Văn.


 


 2-Thầy Ngọc của khoa Văn với những đóng góp nhiều cho sự phát triển


 


          GS. Nguyễn Lương Ngọc là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho chuyên ngành lý luận văn học ở trường đại học- đặt nền móng cả về cơ sở khoa học và thực tiễn, cả về tổ chức và đào tạo. Th ầy Ngọc là trưởng bộ môn đầu tiên của tổ Lý luận văn học thuộc khoa Văn Đại học sư phạm Hà Nội. Cuốn giáo trình do thầy Nguyễn Lương Ngọc chủ biên “Sơ thảo nguyên lý văn học”, “Mấy vấn đề nguyên lý văn học” (2 tập) là những cuốn giáo trình đầu tiên của bộ môn Lý luận văn học. Thật tự hào khi người đầu tiên đặt viên gạch đầu tiên xây nên lâu đài khoa học cho bộ môn Lý  luận văn học lại là ở chính mảnh đất khoa Văn.


 


          Đội ngũ các nhà khoa học của khoa Văn hùng hậu như ngày nay, có công lao rất lớn của GS Nguyễn Lương Ngọc trong cương vị người lãnh đạo, nhà quản lý, trong cương vị người thầy và cả với cương vị người đồng nghiệp. GS Nguyễn Lương Ngọc đã có công lao rất lớn trong việc đào tạo nên những giáo sư, những danh sư của khoa Ngữ văn. Đọc bài viết của các GS Nguyễn Đình Chú, Bùi Văn Ba (Phương Lựu), Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Thanh Đạm, Thành Thế Thái Bình, Lê Bá Hàn, Hoàng Dung, Trần Hữu Tá…đều thấy toát lên niềm hạnh phúc và lòng biết ơn chân thành khi được thụ giáo, thụ nghiệp từ GS Nguyễn Lương Ngọc. Chính những giáo sư, những danh sư được thầy Ngọc đào tạo đã làm nên một thời hoàng kim của khoa Ngữ văn, thời “một đi không trở lại”.


 


 3-Thầy Ngọc của khoa Văn với sức sống lâu bền trong tâm trí nhiều thế hệ


 


          Nhiều thế hệ được học thầy Ngọc, được cùng làm việc với thầy Ngọc còn nhớ mãi hình ảnh một người thầy đức độ, một người thầy uy vọng, nhớ mãi hình ảnh một nhà trí thức lớn, một nhà khoa học sắc sảo, uyên bác trong tư duy và tinh tế trong cảm nhận, nhớ mãi hình ảnh một con người trong cuộc sống đời thường thâm thuý mà chân thành, nhân hậu.


 


          Những thế hệ sau này, sau nữa không được học thầy vẫn có niềm hạnh phúc được biết thầy qua những trước tác, sáng tác. Giáo viên văn có tâm hồn văn, tâm hồn nghệ sĩ gặp lại thầy qua Xuân Thu nhã tập. Giáo viên giàu tư duy khoa học đến với thầy qua Mấy vấn đề nguyên lý văn học, Cơ sở lý luận văn học. Giáo viên văn nặng lòng với nghề thầy, trăn trở với sự nghiệp trồng người sẽ hết sức thấm thía chuyên luận Bàn về vấn đề “Biến quá trình đạo tạo thành quá trình tự đào tạo” của Giáo sư, Hiệu trưởng Nguyễn Lương Ngọc. Những ai yêu quý ngôn ngữ nhà nước, tâm huyết giữ gìn sự giàu đẹp của tiếng Việt có thể tìm đến cuốn Từ điển học sinh do GS Nguyễn Lương Ngọc chủ biên…Là nhà giáo, nhà văn hay nhà khoa học, thầy Nguyễn Lương Ngọc đều hết sức gần gũi, thân thiết với khoa Văn.


 


          Thật huyền diệu, có những điều thầy Ngọc nói cách đây hơn nửa thế kỷ mà vẫn đúng, vẫn là hiện tại: “Trí thức phải là sáng tạo, dù chỉ là tái tạo. Sáng tạo không ngừng…Trí thức phải giữ thái độ tiên phong. Sáng tạo và tiên phong là nguyên tắc linh hoạt của trí thức…Biết vụn vặt, giỏi khéo một bề, chưa là trí thức…Bằng cấp nọ, học khoa kia, chưa là trí thức. Trí thức ở sâu hơn thế, cao hơn thế, rộng hơn thế…Trí thức=Sáng tạo=Đạo lý…Một dân tộc không tự ý thức, tất không có trí thức, không có Học thuật, không có Văn minh.”


 


          Thầy coi Thật - Đẹp –Trong là “ba ngôi Trời lý tưởng” và “Lẽ sống là Trong, Đẹp, Thật”. Phải chăng Thật và Chân, Trong là Thiện và Đẹp là Mỹ. Ba ngôi trời lý tưởng mà thầy nêu lên cũng là lý tưởng sống phổ quát của con người.


 


          Thầy Nguyễn Lương Ngọc đã đi xa. Đọc hồi tưởng Nhớ bạn của thầy càng nhớ thầy vô hạn.


 


          Với khoa Ngữ văn hôm nay và sau này, Thầy Ngọc là “Người xưa của ta nay”


 


Theo: nguvan.hnue.edu.vn/


 


Nguyễn Lương Ngọc, đức độ trong sáng tạo và đào tạo


 


                                        GS.TSKH.NGND Phương Lựu


 


 


 


Nguyễn Lương Ngọc là nhà hoạt động văn hóa - giáo dục, hoạt động sân khấu (viết kịch bản và diễn xuất), nhà lí luận phê bình và giảng dạy văn học. Ông sinh ngày mồng 10 tháng 10 năm 1910 trong một gia đình công chức tại làng Áng Sơn, tổng Quán Vinh, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình, nay là thôn Áng Sơn, xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Từ bé, ông đã xa gia đình lên học ở Hà Nội.


 


Tốt nghiệp trường Bưởi đúng vào thời kì kinh tế thế giới khủng hoảng trầm trọng đầu những năm 30, ông phải làm việc lặt vặt để kiếm sống. Sau đó, ông dạy ở trường tư thục Gia Long cho mãi đến năm 1945


 


Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường ông đã tham gia viết bài cho các báo hàng ngày thời đó. Và khi đi dạy, ông đã lần lượt cùng với các bạn hữu như các ông Thế Lữ, Vũ Đình Liên, viết nhiều truyện ngắn, tiểu luận và phê bình văn học đăng trên các báo Tinh hoa, Thanh nghị…


 


Những truyện ngắn của ông chủ yếu đăng trên tờ Thanh nghị, chưa biểu lộ khuynh hướng gì rõ rệt, thường là kể những chuyện là lạ, hơi buồn cười. Truyện Con lợn giống kể chuyện một anh chàng ngày ngày dắt rong con lợn đực khắp phố phường cho người ta lấy giống để hưởng tiền công. Truyện Nấu rượu lậu kể chuyện mấy người dân quê tránh Tây đoan, lén lút nấu rượu lậu trong hang núi, giữa chừng nghe tiếng động sỏi đá, tiếng chân rón rén, vội đập vỡ dụng cụ, chạy thoát thân. Dè đâu, khi ra khỏi hang, chỉ thấy mấy chú dê con rảo bước (!).


 


          Là biên tập thường trực của tờ Tinh hoa, ông đã viết khá nhiều, hầu như số nào cũng có bài, chủ yếu là phê bình văn học. Ông đã phê phán các cuốn tiểu thuyết Lạnh lùng, Giông tố… Ông cũng có ghi nhận phần nào ý thức chống phong kiến ở Nhất Linh, và cách xây dựng nhân vật sắc nét ở Vũ Trọng Phụng…


 


          Tờ Tinh hoa chỉ ra được 13 số thì phải đình bản, vì không đủ tiền trả cho nhà in. Ông đã cùng Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Đỗ Cung…cho ra Xuân thu nhã tập. Tuy nằm trong xu hướng bế tắc chung, nhưng mấy bài viết của Nguyễn Lương Ngọc cũng khơi gạn được một đôi nhân tố bất bình với cuộc sống tầm thường, vô vị, một ít khát khao đi đến lối thoát mơ hồ về dân tộc. Cũng trong thời gian này, ông tham gia nhóm kịch nói “Tinh hoa”, diễn một số vở, trong đó có Ngã ba của Đoàn Phú Tứ, đồng thời cũng học hát chèo, và đã bước đầu cùng với Nguyễn Xuân Khoát nghiên cứu nghệ thuật chèo.


 


          Cách mạng tháng Tám thành công, nhà giáo – nhà văn Nguyễn Lương Ngọc được nhân dân đề cử làm Chủ tịch khu phố Đông Thành. Vừa hăng hái góp phần xây dựng chính quyền mới ở cơ sở, ông vừa tích cực tham gia viết bài trên các báo mới như tờ Độc lập…


 


          Cuối năm 1946, giặc Pháp khởi hấn ở thủ đô, ông vào Thanh Hoá tham gia đoàn kịch kháng chiến Liên khu IV, vừa viết kịch bản vừa đi biểu diễn lưu động khắp hai tỉnh Thanh, Nghệ. Hai vở kịch Cây đèn, Gia đình họ Bạch được biểu diễn nhiều lần và được Ty Thông tin Thanh Hoá cho in lại. Vở thứ nhất kể chuyện một ông đồ thời kháng chiến bị Tây bắt tra khảo tại nhà, nhưng không khuất phục khai báo một lời. Người con nuôi của ông đồ nghĩ ra cái mẹo đốt pháo quanh nhà để bọn lính Pháp ngờ bị đánh úp, nên đứa tháo chạy, đứa ẩn núp. Khi bọn giặc bao vây ở vòng ngoài bắn vào thì ông đồ giương cao cây đèn và di động qua lại, thu hút nhiều hoả lực dữ dội hơn. Cuối cùng, ông đồ hy sinh, nhưng nhiều tên giặc cũng thiệt mạng. Vở kịch thứ hai kể chuyện giặc Pháp đến chiếm đóng ở một thôn nọ, bắt gia đình họ Bạch phục dịch cơm nước, rượu thịt cho chúng. Bên ngoài thì khuất phục, nhưng gia đình này đã quyết tâm đánh thuốc độc bọn giặc. Chúng nghi ngờ, bắt cả gia đình phải ăn trước, chúng nhậu nhẹt theo sau. Kết quả là cả gia đình họ Bạch đều hy sinh, nhưng cả bọn giặc cũng bỏ mạng.


 


          Năm 1948, Nguyễn Lương Ngọc được giao phụ trách hai khoá bồi dưỡng cán bộ văn nghệ của Liên khu IV. Ông còn tham gia công tác mặt trận, làm Chủ nhiệm Việt minh và Phó hội trưởng Hội Liên Việt tỉnh Thanh Hoá. Năm 1949, ông được điều ra Việt Bắc làm Hiệu phó trường sư phạm trung cấp Trung ương đóng ở vùng chợ Rạng, Phú Thọ. Năm 1951, ông lại được điều trở lại Nghệ An làm Phó Giám đốc giám đốc Sở Giáo dục Liên khu IV. Trong thời gian này, ông có tham gia giảng dạy ở phân hiệu Dự bị đại học tại Nghệ An.


 


          Năm 1954, thủ đô được giải phóng, ông được điều về Hà Nội giảng dạy ở trường Đại học Sư phạm Văn khoa. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thành lập, ông được cử làm chủ nhiệm khoa Văn-Sử kiêm tổ trưởng của bộ môn Lý luận văn học cho mãi đến năm 1963. Vừa giảng dạy, ông vừa tham gia nghiên cứu và sáng tác. Cùng với Đinh Gia Khánh, ông đã phiên âm chú thích tác phẩm Thiên Nam ngữ lục (Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1958); kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu năm 1963, ông đã viết một vở kịch về nhà thơ –chiến sĩ này (chưa xuất bản). Ông cũng có tham gia giới thiệu những danh nhân văn hoá thế giới như Phác Chí Nguyên vào năm 1957 và Giăng Giắc Rútxô vào năm 1962. Đặc biệt, trong thời gian này ông đã cho công bố một cách hệ thống bộ giáo trình lý luận văn học mác-xít đầu tiên ở nước ta bao gồm Sơ thảo nguyên lý văn học (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1958) bàn về những nguyên lý tổng quát của văn học; Mấy vấn đề nguyên lý văn học, 2 tập (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1961) trình bày những vấn đề lý luận về tác phẩm, về thể loại và phương pháp sáng tác trong văn học. Ưu điểm nổi bật của bộ giáo trình là đã cố gắng quán triệt những quan điểm văn nghệ mác-xít, đồng thời cũng hết mực lưu tâm đến thực tiễn văn học nước nhà từ cổ chí kim. Mặc dù có một ít thiếu sót khó tránh khỏi của một công trình khai phá, bộ giáo trình này của Nguyễn Lương Ngọc vẫn là một nền móng tin cậy cho việc tiếp tục xây dựng bộ môn lý luận văn học mác-xít Việt Nam trong nền đại học nước nhà.


 


          Năm 1963, ông được điều động về làm Viện phó rồi Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục. Bốn năm sau, ông lại trở về trường Đại học Sư phạm Hà Nội I với cương vị Hiệu trưởng trong gần suốt mười năm cho đến lúc về hưu. Bận rộn với công tác quản lý, nhất là trong thời gian chiến tranh chống Mỹ, ông vẫn tham gia nhiều công tác học thuật, nhất là những môn khoa học về ngữ văn. Ông đã là chủ biên nhiều công trình: Từ điển học sinh (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1971), Cơ sở lý luận văn học, 4 tập (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1975-1978), Cơ sở lý luận văn học (Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980-1984). Cùng với Hoài Thanh, Nguyễn Công Hoan, Phạm Huy Thông, Trần Quang Huy, Nguyễn Kim Thản, ông đã tham gia Hội đồng duyệt sách cho một công trình có tính chất nhà nước, cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983), viết lời tựa cho cuốn Lỗ Tấn, nhà lý luận văn học (NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1977)…


 


          Gần nửa thế kỷ qua, GS. Nguyễn Lương Ngọc đã làm nhiều việc, hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Nhưng gương mặt tài hoa của nhà giáo trẻ trường tư ở phố Phạm Phú Thứ bên chợ Hàng Da năm xưa như đã báo hiệu một duyên nợ với văn chương suốt đời của ông. Qủa vậy, khi tuổi già sức yếu, tuy đã nghỉ hưu vui vầy bên đàn cháu nhỏ ở căn gác hai một ngôi nhà cũ kỹ trên phố cổ Châu Long bên đê sông Hồng, ông vẫn viết đều đặn những chuyện thiếu nhi vui tươi, hàm súc.


 


          Từ một trí thức trong xã hội cũ, nhờ ánh sáng của cách mạng, Nguyễn Lương Ngọc đã trở thành một nhà hoạt động văn hoá, văn nghệ có tên tuổi trong suốt bốn mươi năm qua. Ông đã “lập công” nhiều trong giáo giới, “lập ngôn” không ít trong văn giới. Nhưng kết tinh hơn cả vẫn là đức độ. Dù làm quản lý hay chuyên môn, giảng dạy hay nghiên cứu, ông đối với công việc đều mẫu mực, hết lòng, danh lợi không màng và không bao giờ tranh đua hơn thiệt. Mà điều này nghĩ đến cùng, vẫn rất thiết yếu đối với văn chương.


 


          Đức độ trong sáng trọn đời của Nguyễn Lương Ngọc vẫn là một bài thơ không vần ngân nga mãi trong lòng ít ra là của những ai có dịp tiếp xúc và làm việc với ông trong mấy thập kỉ qua.


 


Theo: nguvan.hnue.edu.vn/


 


 


 


Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc - Người lập đức trước khi lập công và lập ngôn


GS.NGND Nguyễn Đình Chú


 


GS Nguyễn Lương Ngọc sinh ngày 10/10/1910. Nguyên quán Láng Áng Sơn, tổng Quán Vinh, huyện Gia Khánh, nay là xã Ninh Hoà, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Thân phụ là một y sĩ Đông Dương đầu tiên, có tinh thần yêu nước. Sau khi đậu tú tài bản xứ, theo lời khuyên của thân phụ, GS đã chọn nghề dạy học, viết văn và làm nghệ thuật. GS tham gia mở trường tư thục Gia Long, đào tạo cho đất nước nhiều cán bộ ưu tú, nhiều nhà khoa học tài năng về sau. Ngoài ra, ông còn là cộng tác viên của một số báo, tạp chí có tiếng đương thời như Thanh nghị, Tri tân…, cùng bạn lập nhóm kịch Tinh Hoa và chính mình đóng nhiều vai gây được sự hâm mộ của công chúng. Năm 1942, GS lại cùng danh học Nguyễn Đỗ Cung, danh nhạc Nguyễn Xuân Khoát và các nhà văn, nhà thơ như Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh…sáng lập nhóm Xuân Thu với dụng ý làm sống lại cội nguồn triết học và tư tưởng nghệ thuật phương Đông cổ đại trước sự lấn át của khuynh hướng Âu hoá trong nền văn hoá, văn học dân tộc lúc bấy giờ. GS đã được coi là Mạnh Thường Quân của một số văn nghệ sĩ có tài mà nghèo đói, mặc dù đời sống của chính mình cũng chẳng giàu có gì. Đương thời, với một trình độ học vấn, một năng lực nghệ thuật, đặc biệt là một nhân cách thanh cao như thế, GS Nguyễn Lương Ngọc đã là người có uy tín ở đất Hà Thành.


 


          Cách mạng tháng Tám thành công và kế đó là kháng chiến toàn quốc bùng nổ, GS đã hăng hái hưởng ứng theo sở trường của mình. Đầu tiên, cùng với GS Nguyễn Văn Chiểu làm giám hiệu trưởng trường Trung học Sư phạm trung ương. Sau đó, vào Thanh Hoá, cùng các nghệ sĩ kháng chiến khác là Chu Ngọc, Nguyễn Tuân, Sĩ Ngọc, Bửu Tiến, Hòang Tuệ…thành lập đoàn kịch Tiền Tuyến hoạt động khắp địa bàn khu Bốn cũ, trong đó có chiến trường Bình Trị Thiên đầy khói lửa. GS đã viết hai vở: “Cái đèn” và “Một dòng họ” để đoàn trình diễn. Có lúc, GS còn được giao nhiệm vụ cùng nhà cách mạng có tên tuổi Tôn Quang Phiệt hoạt động trong Đảng Dân chủ, sau đó là chủ nhiệm Việt Minh, kiêm phó chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Thanh Hoá. Lúc này, GS đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1951, trước yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục, trường Dự bị Đại học thành lập, GS được cử làm giảng viên. Ít lâu sau, lại được cử làm Phó Giám đốc rồi Giám đốc giáo dục khu Bốn cũ thay GS. Đặng Thai Mai. Năm 1954, hoà bình lập lại ở miền Bắc, GS được điều về trường ĐHSP Hà Nội vừa giảng dạy, vừa tham gia công tác quản lý với cương vị chủ nhiệm bộ môn, rồi chủ nhiệm khoa Văn. Chính GS là người đầu tiên xây dựng bộ môn Lý luận văn học. Năm 1962, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam được thành lập, GS được cử giữ chức Viện trưởng và như thế, cũng là người đi đầu trong giai đoạn phát triển mới cao hơn của ngành tâm lý học và giáo dục học của miền Bắc bấy giờ. Năm 1967, GS trở lại trường ĐHSP Hà Nội I làm hiệu trưởng cho tới ngày về hưu.


 


          Thời gian gần 10 năm làm hiệu trưởng của GS. Nguyễn Lương Ngọc là thời gian trường ĐHSP Hà Nội I tuy phải sơ tán gian khổ nhưng phát triển, đoàn kết trên dưới một lòng. Dưới quyền lãnh đạo của GS. Nguyễn Lương Ngọc, người ta có cảm tưởng các thành viên trong trường không ai nỡ nói dữ, chơi xấu nhau, ngược lại chỉ đua nhau mà làm việc cho tốt. Sau ngày nghỉ hưu, trong nhiều năm, Bộ trưởng Giáo dục (cũ) vẫn mời GS làm Chủ tịch Hội đồng bộ môn kiêm Chủ tịch Hội đồng duyệt sách ngành Ngữ văn. Một điều thật đáng quý là đã vào tuổi trên 80, sức khoẻ sút kém rõ rệt, GS vẫn quay lại nghiệp văn chương, và trong vòng một năm, cho ra đời hai tác phẩm. Trong đó, đặc biệt có cuốn hồi ký Nhớ bạn ghi lại những kỷ niệm giữa mình với bạn làng văn, với bạn trí giả theo tinh thần không phải như người xưa từng nói là “văn nhân tương khinh” mà ngược lại là “tương thân tương kính”. Có trường hợp tình bạn của GS đã vượt qua, đã bất chấp cái thói thường “phù thịnh bất phù suy” vốn là vô nghĩa với thời gian. Cuốn hồi ký đã gây xúc động và niềm cảm phục trong nhiều độc giả bởi lẽ đó.


 


          Nghĩ đến GS Nguyễn Lương Ngọc, con người đã đi qua cõi đời 85 năm, dễ thường sẽ nhớ đến thuyết “tam lập” (ba thứ cần dựng lên) trong triết học phương Đông cổ đại: lập đức, lập công, lập ngôn. Trong đời thường, với bao nhiêu quan hệ, cũng như trong công tác với bao nhiều cương vị này nọ, ở GS Nguyễn Lương Ngọc, chữ Đức vẫn là hàng đầu, Ở đây, dĩ nhiên, chưa phải là chuyện dựng lên lý thuyết đạo đức gì, mà vấn đề là có một chữ TÂM, một tấm lòng yêu thương, trân trọng con người và mong muốn con người cũng yêu thương trân trọng nhau tới mức phải nói thật, không dễ có nhiều. Cho nên GS qua đời là một nỗi đau lớn cho gia đình, cho bạn bè, cho các môn đệ, cho xã hội. Có điều là dù GS đã thành người thiên cổ thì tiếng thơm, tấm gương sáng về nhân cách, về sự cống hiến của GS cho đất nước, cho nhân dân vẫn còn mãi với tháng năm. Dù người có may mắn được làm học trò GS đến nay không ít cũng là GS có uy tín trong xã hội, hay là người chưa có may mắn được làm học trò GS, vẫn rất đỗi tự hào rằng: trong lịch sử lâu đời và quang vinh của nhà trường, cùng với những tên tuổi vẻ vang như giáo sư-học giả Đặng Thai Mai, giáo sư-sử gia Đào Duy Anh, giáo sư-triết gia Cao Xuân Huy, giáo sư-sử gia-thi sĩ Phạm Huy Thông, giáo sư-nhà toán học Lê Văn Thiêm…mà nay đều đã vắng bóng, có tên tuổi đẹp đẽ của giáo sư-nhà văn-nhà giáo nhân dân Nguyễn Lương Ngọc.


 


Nguồn: Hội thảo khoa học GS Nguyễn Lương Ngọc, Khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP, ngày 05 tháng 10 năm 2011.


 


Theo: nguvan.hnue.edu.vn


 


Những kỉ niệm sâu sắc với GS. Nguyễn Lương Ngọc


 


  GVC.NGƯT Phạm Đăng Dư


 


Trong những năm công tác tại trường Đại học sư phạm Hà Nội, tôi có vinh dự được gần gũi GS.NGND Nguyễn Lương Ngọc. Tiếp xúc và làm việc với thầy, thầy đã để lại trong tôi những tình cảm rất tốt đẹp và sâu sắc. Nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của thầy, tôi xin ghi lại những điều tôi đã học tập được ở thầy.


 


 1. Kỉ niệm nhỏ về người thầy lớn


 


Khoảng giữa tháng 11 năm 1974, khi ấy tôi đang làm phó bí thư BCH Đoàn trường ĐHSP Hà Nội I phụ trách công tác chuyên môn thì được thầy Hiệu trưởng, GS. Nguyễn Lương Ngọc, gọi đến làm việc. Trong căn phòng ấm áp của buổi chiều mùa đông, thầy bảo tôi báo cáo về tình hình học tập của đoàn viên và vai trò của Đoàn trong việc thực hiện phong trào “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Rất may cho tôi bởi vì trước đó mấy ngày, BCH Đoàn trường đã sơ kết phong trào này để chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Tôi giở cuốn sổ tay, báo cáo lần lượt từng vấn đề. Thầy chăm chú nghe và đôi lúc, tôi thấy thầy ghi điều gì đó vào cuốn sổ để trước mặt. Báo cáo của tôi bị dừng lại nhiều chỗ mỗi khi thầy yêu cầu tôi nói rõ hơn, cụ thể hơn tình hình học tập và tu dưỡng của Đoàn viên. Nghe báo cáo xong, thầy nhẹ nhàng bảo tôi:


 


  - Đoàn trường chăm lo tới công việc học tập của đoàn viên sinh viên như vậy là tốt nhưng tinh thần tự giác học tập và rèn luyện của đoàn viên thế nào? Nếu họ không tự giác thì mọi phong trào chỉ là hình thức.


 


          Thầy nhấn mạnh:


 


                   -Mọi tổ chức trong nhà trường, đặc biệt là Đoàn thanh niên và đội ngũ các thầy giáo phải làm sao để tất cả sinh viên có tinh thần tự giác mới có thể biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.


 


          Tôi hiểu những lời nói ân cần của thầy vừa có ý khen ngợi tổ chức Đoàn đã tổ chức được phong trào học tập vừa chỉ cho tôi thấy rằng phong trào chưa có chiều sâu, chưa trở thành ý thức tự giác của quần chúng. Thầy rời khỏi chiếc ghế, bước lại sát bên tôi và nói: “Thầy muốn dự sinh hoạt với một chi đoàn (thời kỳ này tất cả sinh viên sư phạm đều là đoàn viên) vào một tối nào đó cũng được”. Tôi ngỡ ngàng bởi công việc của thầy bận rộn, tuổi thầy lại cao, nhưng tôi mừng vô cùng bởi lần đầu tiên công tác tại một trường Đại học, tôi thấy thầy Hiệu trưởng đến dự sinh hoạt với một lớp học trò.


 


          Theo lời dặn của thầy, 7 giờ kém 15 phút, tối thứ tư hôm ấy, tôi đón thầy từ nhà Hiệu bộ đi xuống dãy nhà C. Đây là dãy nhà đặt lớp học của các khoa và toàn là nhà tranh vách đất (thời kỳ này có phong trào tối thứ tư hàng tuần dành cho đoàn viên sinh hoạt tập thể). Thầy và tôi bước vào một lớp của sinh viên khoa Ngữ Văn. Tất cả sinh viên đều ngạc nhiên và sung sướng trước sự xuất hiện của thầy. Tôi giới thiệu thầy và sinh viên vừa vỗ tay vừa tiến sát lại thầy. Thầy giơ tay chào và ra hiệu cho mọi người ngồi xuống để tiến hành sinh hoạt. Đồng chí bí thư chi đoàn báo cáo sơ kết đợt thi đua chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11. Thầy nghe chăm chú và rút cuốn sổ tay nhỏ ở trong túi ra, ghi chép ý kiến của sinh viên trong khi thảo luận. Trong đó có những lời khen, có những lời phê bình, có những lời đề nghị rất thiết thực như: Làm sao cho lớp học khỏi bị dột khi mưa, thư viện phục vụ sinh viên tốt hơn…Sau chương trình văn nghệ “cây nhà lá vườn” hát cho nhau nghe, cả lớp đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi nghe thầy Hiệu trưởng phát biểu. Thầy nói khoảng 5 phút, thầy khen lớp sinh hoạt có nội dung, có tình thần xây dựng. Thầy mong mọi người cố gắng hơn nữa và hứa sẽ giải quyết những kiến nghị chính đáng của sinh viên…Tiếng vỗ tay của sinh viên cứ vang lên từng đợt qua lời nói trìu mến của thầy. Chia tay với lớp, tôi theo thầy về, lúc ấy là 10 rưỡi khuya trước những làn gió đông buốt lạnh.


 


          Sau buổi theo thầy đến dự sinh hoạt với sinh viên khoa Ngữ Văn, khoảng 10 ngày sau, tôi gặp lại các bạn sinh viên lớp này và vô cùng cảm động khi biết rằng lớp học bây giờ mưa không dột, thư viện phục vụ bạn đọc tốt hơn…Chỉ qua hai lần trực tiếp làm việc với thầy, tôi cảm nhận được điều vô cùng bổ ích về sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể, về tác phong giản dị, gần gũi quần chúng, về tinh thần trách nhiệm cao của người thầy lớn.


 


 2. Chiếc lốp xe đạp


 


Thời kì sơ tán chống Mỹ cứu nước, Hiệu bộ trường ĐHSPHN 1 đóng ở xã Cộng Hòa, huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên. Có một lần tôi được về dự Hội nghị tổng kết năm học, tối hôm ấy tôi ở lại nhà khách của Hiệu bộ, sáng sớm hôm sau đạp xe đạp về Hà Nội, để phổ biến một số công việc cho các lớp của khoa sơ tán ở xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Tối hôm ấy tôi đến thăm thầy tại một căn nhà tranh của của khu Hiệu bộ tại xã Lạc Hồng. Hai thầy trò ngồi trên một chiếc ghế dài kê ở sân dưới vầng trăng sáng, thầy chủ động hỏi tôi nhiều chuyện. Tôi thưa với thầy về chuyện gia đình, chuyện công việc ở khoa… Khi ấy thầy mới biết gia đình tôi ở Hải Phòng, thầy hỏi tôi có thường xuyên về thăm nhà được không. Tôi thưa là không, vài tháng mới về một lần và thường là đi bằng phương tiện xe đạp. Thầy rất thông cảm với hoàn cảnh của tôi và thầy nói: thời kì kháng chiến chống Pháp, khi ấy thầy còn rất trẻ, thầy cũng có những chuyến đi còn vất vả hơn nhiều vì khi ấy chủ yếu là đi bộ. Nghe thầy nói, tôi hiểu thầy muốn nhắc nhở tôi cần phải có ý chí và nghị lực để vượt qua khó khăn.


 


Sau lần nói chuyện ấy, khoảng hai tháng sau, một anh bạn công tác ở Hiệu bộ xuống khoa Văn, anh tìm gặp tôi và thật bất ngờ anh đưa cho tôi một chiếc lốp xe đạp và anh bảo thầy Ngọc nhờ anh chuyển cho tôi. Tôi sững sờ và cảm động vô cùng. Tôi không ngờ hôm tôi nói chuyện với thầy về việc đi xe đạp về Hải Phòng thăm nhà bằng xe đạp, dù bận nhiều việc thầy vẫn nhớ và giúp đỡ tôi. Tôi vội lấy giấy viết vài dòng thư nhờ anh bạn chuyển tới thầy tỏ lòng biết ơn. Ai đã từng sống ở thời kì ấy chắc hiểu được giá trị của chiếc lốp xe đạp có giá thế nào. Song với tôi, đâu chỉ là giá trị vật chất của chiếc lốp xe đạp mà cao quí hơn đối với tôi đó là tình thương của thầy đã dành cho tôi – người học trò nhỏ của thầy.


3. Sự quan tâm tới mọi người


 


Khi GS. NGND, Nguyễn Lương Ngọc về nghỉ hưu, tôi được cử giữ chức vụ trưởng phòng Hành chính tổng hợp Trường ĐHSPHN. Vào các dịp ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 và Tết Nguyên đán, lãnh đạo nhà trường thường tới thăm các đồng chí Hiệu trưởng và Bí thư Đảng ủy đã công tác tại trường nay nghỉ hưu. Vì thế, tôi vẫn có dịp tới thăm thầy tại nhà số 5 phố Châu Long, quận Ba Đình. Tôi biết những món quà của nhà trường chỉ là cân cam hay gói bánh song tình cảm thì thắm thiết vô cùng. Tôi nhớ khi đến thăm thầy lần thứ hai nhân gần đến tết Nguyên đán, sau nửa giờ chuyện trò, thăm hỏi, các đồng chí lãnh đạo nhà trường ra về, thầy gọi tôi lại và ân cần dặn tôi rằng: trường ta, có nhiều thầy cô giáo có công với trường nay cũng đã nghỉ hưu, tất cả các thầy cô như vậy đều cần được nhà trường quan tâm. Thầy còn nhấn mạnh với tôi rằng, với tư cách là trưởng phòng Hành chính tổng hợp cần phải tham mưu để lãnh đạo nhà trường không quên ai. Thầy lại bảo, riêng với thầy có thể bớt những lần thăm đi vì thầy còn khỏe. Những lời dạy bảo của thầy càng làm tôi hiểu tấm lòng của thầy với mọi người và đã giúp tôi rất nhiều trong việc tìm hiểu và trân trọng đối với tất cả các thầy các cô đã từng cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ của trường ĐHSPHN.


 


Khi ở lại khoa, những năm đầu chuẩn bị bài lên lớp, dù thầy bận rất nhiều công việc, thầy vẫn sẵn sàng giảng giải cho tôi những vấn đề tôi chưa hiểu. Thầy căn dặn tôi phải dành nhiều thì giờ cho việc học tập. Thầy khen tôi có cách nói truyền cảm, có chút ít năng lực sư phạm nhưng không được chủ quan nhất là việc lãng phí thời gian. Cho tới nay tôi không quên được giọng nói nhỏ nhẹ, ấm áp của thầy cùng với cử chỉ khoan thai và nụ cười hiền hậu đô lượng. Có lẽ không chỉ riêng tôi mà bất cứ ai có dịp tiếp xúc với thầy đều có cảm nhận như vậy về người thầy kính yêu của nhiều thế hệ học trò.


Nguồn: nguvan.hnue.edu.vn


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết "Cõi mê" của nhà văn Triệu Xuân làm xôn xao dư luận! - Thanh Chung 13.11.2019
Khi người Anh Hùng lên tiếng - Phạm Thành Hưng 12.11.2019
Nhớ thời học Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội - Triệu Xuân 11.11.2019
Chuyện cuối tuần: Chính trị, như gai nhọn dưới chân trần - Tư liệu 08.11.2019
Trung Quốc: Chiến lược trở thành cường quốc biển - Nguyễn Hải Hoành 08.11.2019
Cát: Vũ khí bí mật của Trung Quốc tại Biển Đông - Vince Beiser 08.11.2019
Hành trình xuyên Việt đi tìm báu vật địa phương của Đỗ Quang Tuấn Hoàng - Tư liệu 08.11.2019
Lại “Mời đọc chơi” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Tản mạn về J.J. Rousseau: Cái gì của Trời thì tốt - Phạm Đình Lân 07.11.2019
Nhà văn Triệu Xuân: Ăn mặc, đi đứng, nói năng quyện vào nhau mới thành mốt - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 03.11.2019
xem thêm »