tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30131222
03.08.2019
Nhiều tác giả
Hệ thống Nhà giàn DK1 - Thành đồng trên biển


Kỳ 1: Nhiệm vụ số 1


Cách nay đúng 30 năm (5-7-1989), trên vùng biển phên giậu của Tổ quốc - thềm lục địa phía Nam - những nhà giàn DK1 đầu tiên được xây dựng để bảo vệ chủ quyền.


30 năm, nhiều đổi thay và phát triển. Nhưng có một điều duy nhất không đổi thay: DK1 vẫn và sẽ mãi là bức thành đồng trên Biển Đông. Thành đồng DK1 là minh chứng hùng hồn, mạnh mẽ của con dân nước Việt trong giữ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.


Sau chiến dịch CQ88 với sự kiện Trung Quốc cưỡng chiếm Gạc Ma, 64 cán bộ chiến sĩ hải quân Việt Nam hi sinh trên vùng biển Trường Sa, Bắc Kinh còn có một âm mưu khác là thâm nhập sâu hơn vào thềm lục địa phía Nam Việt Nam, nơi đang cất giấu nguồn tài nguyên khổng lồ của đất nước: dầu khí.


Ngày2 6-10-1988, tư lệnh hải quân - phó đô đốc Giáp Văn Cương trực tiếp giao nhiệm vụ cho Lữ đoàn 171 phải chốt giữ, bảo vệ chủ quyền phía Nam của Tổ quốc. Ngày ấy, đại tá hải quân Phạm Xuân Hoa là lữ đoàn trưởng cùng đồng đội lên tàu, vượt gió chướng, sóng to ra biển, tìm "đất" cho nhà giàn DK1.


"Phải làm bằng được, nếu không sẽ có tội với nhân dân"


Năm nay đã 75 tuổi nhưng đại tá Hoa còn mạnh khỏe, cường tráng như chính tố chất của người lính hải quân. Trong nhà đại tá Hoa có rất nhiều loại hải đồ để thi thoảng ông dùng nói chuyện về chủ quyền, về DK1 với bà con trong khu phố, với học sinh các trường và các cuộc sinh hoạt chủ đề liên quan đến biển đảo của hội cựu chiến binh.


Đại tá Hoa nhớ lại: vừa hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ đảo trong chiến dịch CQ88 trở về từ Trường Sa, đầu tháng 11-1988, ông và đại tá Hoàng Kim Nông - phó lữ đoàn trưởng chính trị (tức chức vụ chính ủy hiện nay) - nhận được triệu tập trực tiếp của tư lệnh Giáp Văn Cương lên 1A Tôn Đức Thắng, TP.HCM (trụ sở của Bộ tư lệnh hải quân ở phía Nam) nhận nhiệm vụ.


 


"Đây là nhiệm vụ số 1 và rất quan trọng, không khác gì nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa trong chiến dịch CQ88. Các đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa rồi. Nay với nhiệm vụ này, các đồng chí phải làm bằng được. Nếu không làm được thì có tội với nhân dân, với Tổ quốc, vì nhiệm vụ này cũng vì tiền tiêu của Tổ quốc" - lời căn dặn của tư lệnh Giáp Văn Cương ngày ấy vẫn còn lưu trong trí nhớ của đại tá Hoa.


 


Đó là nhiệm vụ khảo sát, tìm kiếm và đánh dấu các bãi đá san hô ngầm ở vùng biển thềm lục địa phía Nam để dựng nhà giàn, bảo vệ chủ quyền. Ông tâm sự rằng trong cuộc đời binh nghiệp của mình, những tháng ngày tự hào nhất là chốt giữ bảo vệ chủ quyền ở Trường Sa trong chiến dịch CQ88, và chuyến đi khảo sát đáy biển tìm bãi cạn san hô để đặt nhà giàn vào đầu tháng 11-1988.


 


Nhận nhiệm vụ đặc biệt, trở về đơn vị, hai chỉ huy Lữ đoàn 171 lập tức "hạ quyết tâm" cho toàn lữ đoàn.


 


"Dù nhiều khó khăn ngay trước mắt, nhưng vì nhiệm vụ đặc biệt là chuẩn bị một bước, làm cơ sở để chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) thành lập "cụm kinh tế - dịch vụ - kỹ thuật" - tức DK1 - nơi án ngữ phía sau quần đảo Trường Sa, toàn thể lữ đoàn hạ quyết tâm thực hiện cho bằng được mệnh lệnh và lời căn dặn của tư lệnh" - đại tá Hoa nhớ lại.


 


Con tàu đơn sơ - nhiệm vụ đặc biệt!


Khó khăn trước mắt là tàu. Không thể đi bằng tàu chiến, mà phải dùng tàu vận tải. Sau chiến dịch CQ88, nhiều con tàu của lữ đoàn phải lên ụ, nằm đốc để duy tu, sửa chữa. Sau khi xem xét, tính toán kỹ, hai con tàu được lựa chọn để thực hiện nhiệm vụ số 1 là HQ713 và HQ668.


 


"Cái khó là làm sao vừa hoàn thành nhiệm vụ số 1 của số 1, vừa đảm bảo an toàn con người và phương tiện trong điều kiện sóng lớn, gió mùa đông bắc khắc nghiệt" - đại tá Hoa trầm ngâm nhớ lại.


 


Nhưng tàu HQ713 và HQ668 là những con tàu cũ kỹ, tàu cá vỏ thép cải hoán, sức chở chưa đầy 500 tấn. Minh chứng là tàu HQ713 khi hành quân được 30 hải lý thì gặp sự cố về máy, phải mất gần 4 tiếng đồng hồ để sửa chữa và tiếp tục hải trình. Và những thứ rất cần thiết cho một cuộc khảo sát, thăm dò đáy biển cả hai tàu đều không có đó là máy định vị và máy đo độ sâu.


 


Thế nhưng bằng tài năng xử lý tình huống, bằng sáng kiến trong khó khăn, đại tá Hoa cùng đồng đội đã vượt khó, khắc phục thiếu thốn thành công. Ông nhớ lại rành rọt: trên vùng biển DK1 ngày ấy, tất nhiên là chưa có các nhà giàn đóng chân, chưa có "cột mốc chủ quyền" để nhìn thấy, để nhận biết mà chỉ là biển cả mênh mông.


"Nếu đi từ Vũng Tàu ra thẳng DK1 sẽ rất khó xác định đâu là Ba Kè, Tư Chính vì vu vơ giữa biển, không biết chỗ nào, không có mốc sẽ rất khó xác định" - đại tá Hoa lý giải.


 


Vậy phải làm sao để tàu đi đúng đến vùng biển DK1 trong khi không có định vị? "Trong lúc khó khăn, sáng kiến lại lóe lên. Đó là chúng tôi đè sóng đi thẳng ra đảo Đá Lát - quần đảo Trường Sa. Từ đây, chúng tôi quay ngược 180 độ về hướng đất liền khoảng 50 hải lý là đến Ba Kè" - đại tá Hoa kể.


 


Từ Đá Lát xuống Ba Kè khoảng cách 50 hải lý nên độ trôi dạt rất ít. Sau khi xác định được Ba Kè, đo được độ sâu, rồi xuống Phúc Nguyên, Phúc Tần vì từ đây xuống các bãi cạn này rất gần. Một tính toán kỹ lưỡng, chính xác mà đại tá Hoa cùng đồng đội thực hiện là làm sao để khi đến Ba Kè, Phúc Nguyên, Phúc Tần phải là lúc thủy triều cạn nhất thì đo đáy biển mới thành công, vì phải đo bằng dây cột khúc từng mét một.


 


Sau 10 ngày gian nan, hai tàu HQ713 và HQ668 đã khảo sát xong vùng biển rộng 60km2 và quan trọng là tìm ra sáu bãi ngầm - "vùng đất" để nhà giàn đóng chân. Ngay sau khi về bờ, đại tá Hoa cùng đồng đội báo cáo trực tiếp với tư lệnh Giáp Văn Cương.


 


"Đọc, kiểm tra những gì chúng tôi thu thập, khảo sát được, đôi mắt và khuôn mặt của tư lệnh vui lên hẳn. Ông khen ngợi chúng tôi rất nhiều" - đại tá Hoa nhớ lại.


 


Từ những khảo sát chính xác và thần tốc của Lữ đoàn 171, sau này những nhà giàn được xây dựng lên và đứng vững giữa sóng gió như bức thành đồng trên Biển Đông suốt 30 năm qua.


 


Phần đỉnh của nhà giàn 6A Ba Kè được thi công tại Vũng Tàu, ngay sau khi chuyến khảo sát DK1 trở về thành công Ảnh chụp lại tư liệu của đại tá Hoa


 


Ý nghĩa tên của các bãi ngầm


Thật ý nghĩa khi tên của những chúa Nguyễn có công khai phá, mở mang bờ cõi vùng đất phương Nam được dùng để đặt cho các bãi ngầm ở vùng biển DK1. Đó là "Nguyễn Phúc Nguyên", "Nguyễn Phúc Tần". Và cả Huyền Trân công chúa - người đã có công mở mang châu Ô - châu Lý (tức Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay). "Quế Đường" là tên hiệu của nhà bác học Lê Quý Đôn.


Kỳ 2: Ba nhà giàn đầu tiên


Thần tốc. Cấp tốc. Làm song song. Đó là những mệnh lệnh được quán triệt khi hai tàu HQ 713 và HQ 668 khảo sát trở về. Chỉ nửa năm sau, những nhà giàn dựng lên và lính hải quân ra trấn giữ ngay.


Tôi xác định đã là người lính thì không có gì phải sợ, tôi sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì, ở đâu. -Trung tá Tạ Ngô Quyền


Đại tá Phạm Xuân Hoa - nguyên lữ đoàn trưởng lữ đoàn 171 - nhớ lại, sau khi hoàn thành nhiệm vụ khảo sát biển DK1 trở về, được tư lệnh Giáp Văn Cương khen ngợi.


Nhưng sau vài phút dứt lời khen, tư lệnh đã nói với ông và các đồng đội: "Các đồng chí mới hoàn thành nhiệm vụ khảo sát thôi. Đây chỉ mới là bước đầu. Nay mai còn nhiệm vụ ra chốt giữ chủ quyền rất quan trọng nữa".


Trọng trách mới lại đặt lên vai người lính hải quân.


Cờ Tổ quốc bay trên nhà giàn


Mỗi lần ra nhà giàn DK1, ai cũng xúc động khi nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc giữa biển cả chủ quyền của Tổ quốc. 30 năm trước, thượng úy Nguyễn Đình Thịnh - chỉ huy phó chính trị nhà giàn 1A Tư Chính - là người đầu tiên kéo lá cờ Tổ quốc bay cao trên nóc nhà giàn.


 


"Xúc động lắm, không thể tả nổi. Lúc đó, dù còn khó khăn, vất vả, dù còn bỡ ngỡ giữa biển bao la nhưng khi kéo lá cờ Tổ quốc lên, lòng tôi nhẹ nhõm và vui mừng khó tả" - ông Thịnh bồi hồi nhớ về giây phút ấy.


 


Cùng kéo lá cờ Tổ quốc ngày đó trên nóc nhà giàn là hạ sĩ báo vụ số 1 Lê Văn Đức - nay là thiếu tá phụ trách ngành thông tin vô tuyến điện tàu 09 - lữ đoàn 171 và thượng sĩ cơ yếu Nguyễn Ngọc Phước.


 


Đó là một buổi sáng sớm của một ngày giữa tháng 6-1989, thượng úy Thịnh cùng hai đồng đội của mình ăn mặc chỉnh tề.


 


"Lá cờ đỏ sao vàng được xếp gọn gàng, thẳng nếp để trên khay. Anh Thịnh treo cờ vào dây, tôi và anh cùng kéo cờ lên. Còn anh Phước đứng nghiêm, mắt ngước nhìn cờ" - thiếu tá Đức nhớ lại.


 


Thiếu tá Đức tâm sự, đến nay trong cuộc đời binh nghiệp của mình, giây phút kéo cờ trên nhà giàn 1A Tư Chính là khoảnh khắc đáng nhớ nhất, không thể nào quên.


 


"Lúc đó, cảm giác tôi lâng lâng. Đến bây giờ, cảm giác đó vẫn còn nguyên. Giữa biển bao la, giữa trời rộng lớn, lá cờ Tổ quốc - hình ảnh của đất mẹ hiển hiện ngay trước mắt. Mọi khó khăn, lo toan trong tôi đều tan biến kể từ giây phút kéo cờ ngày ấy" - thiếu tá Đức kể lại.


Sẵn sàng nhận nhiệm vụ


Trung tá Tạ Ngô Quyền (61 tuổi) hiện sống trong căn nhà cấp bốn nhỏ hẹp, đơn sơ ở phường Thắng Nhất, TP Vũng Tàu. Cách đây đúng 30 năm, ông mang quân hàm đại úy và là một trong ba người chỉ huy ba nhà giàn đầu tiên: 1A Tư Chính - tức DK1/1 (hai nhà giàn còn lại là 3A Phúc Tần - tức DK1/3 và 6A Ba Kè - tức DK1/4).


Tháng 5-1989, khi đang làm trưởng ngành pháo - tên lửa của tàu săn ngầm HQ 09 (lữ đoàn 171), ông được điều động về khung quản lý DK1 - tiền thân tiểu đoàn DK1 bây giờ, giữ chức lô trưởng lô 1A Tư Chính.


 


Trước khi ra nhà giàn, trung tá Quyền được đại tá Hoàng Kim Nông - lữ đoàn phó chính trị - gọi lên để làm công tác tư tưởng, giao nhiệm vụ.


 


"Các anh ấy nói rằng đây là nhiệm vụ số 1 của số 1, làm nhiệm vụ đặc biệt không chỉ của lữ đoàn mà của toàn quân chủng. Tôi trả lời ngay, các anh cứ yên tâm, tôi xác định đã là người lính thì không có gì phải sợ, tôi sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì, ở đâu" - giọng của trung tá Quyền quả quyết như ngày nào.


 


Ngày 4-7-1989, trung tá Quyền cùng đồng đội xuống tàu HQ 272, thẳng tiến ra nhà giàn 1A Tư Chính. Trước khi ông ra nhà giàn 1A Tư Chính khoảng gần một tháng, chính trung tá Nguyễn Đình Thịnh, thiếu tá Lê Văn Đức và thượng sĩ Nguyễn Ngọc Phước đã theo tàu của dầu khí ra nhà giàn trước để nhận bàn giao từ đơn vị xây dựng.


 


Trung tá Thịnh nhớ lại: "Lúc được cấp trên giao nhiệm vụ, tôi vui vẻ nhận vì đã xác định đời người lính đi bất cứ đâu khi Tổ quốc cần".


 


Cùng với thời điểm nhà giàn 1A Tư Chính được thành lập, đại úy Nguyễn Văn Nam được điều động làm chỉ huy trưởng nhà giàn 3A Phúc Tần cùng trung úy Nguyễn Hữu Hưng. Còn nhà giàn 6A Ba Kè do đại úy Lê Văn Lập làm chỉ huy trưởng và đại úy Hà Văn Đức làm chỉ huy phó chính trị.


 


Ba nhà giàn đầu tiên dựng lên trên vùng biển chủ quyền và họ là những người lính đầu tiên lên đường ra chốt giữ. Những ngày đầu tiên ra nhà giàn, trung tá Quyền, trung tá Thịnh cùng đồng đội phải đối mặt với muôn vàn khó khăn và thiếu thốn.


 


Đó là bếp dầu nấu cơm dùng bấc bị ẩm do nước biển nên cả tháng đầu tiên cả đơn vị phải ăn cơm sống, cơm sượng. Đó là nước ngọt - một ngày mỗi người chỉ được 10 lít cả đánh răng, rửa mặt và tắm giặt. Đó là rau xanh thiếu thốn, cả đơn vị ai cũng bị bệnh đường ruột.


 


"Hai mươi ngày đầu, tôi không ngủ được vì lo. Lo nhà giàn rung lắc, nhất là những ngày sóng gió to. Lo nồi cơm không chín. Lo vì hầu hết chiến sĩ từ bộ binh sang nên chưa quen biển cả" - trung tá Quyền cho biết.


 


Trung tá Thịnh cũng không thể nào quên những ngày đầu gian khó, vất vả ấy. Đó là những ngày sóng lừng to như quả núi cứ đánh ầm ầm, họ phải nấu cơm nắm, nước uống đổ vào can nhựa để chuẩn bị cho tình huống xấu nhất. Đó là những ngày dài chỉ ăn rau muống khô, củ cải khô. "Nhưng chúng tôi phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ" - thiếu tá Đức nhớ lại.


 


Từ đó, những người lính hải quân đầu tiên trên nhà giàn đầu tiên 1A Tư Chính thay nhau ca trực, cưa chai thủy tinh làm chụp che gió cho đèn dầu để treo bốn góc nhà giàn. Rồi thay nhau lau chùi vũ khí, lau sàn nhà, lau thép để chống gỉ. Cứ như thế cho đến 20 ngày sau, khi trung tá Tạ Ngô Quyền cùng các đồng đội khác ra đây để đủ quân số cho một kíp nhà giàn.


 


Tư lệnh Giáp Văn Cương: "Phải giữ bằng được nhà giàn"


 


Sau 30 năm, đến nay trung tá Quyền, trung tá Thịnh và thiếu tá Đức vẫn không quên lời dặn dò của tư lệnh Giáp Văn Cương. Đó là ngày 20-7-1989, sau khi nhà giàn 1A Tư Chính ổn định quân số, đích thân tư lệnh Giáp Văn Cương đã ra kiểm tra.


Tư lệnh Giáp Văn Cương (thứ hai từ trái) thăm và làm việc, kiểm tra nhà giàn 1A Tư Chính tháng 7-1989 - Ảnh tư liệu truyền thống của lữ đoàn 171


Cả ba ông đều nhớ như in lời dặn dò của vị tư lệnh tài ba: "Dù thế nào, các đồng chí phải giữ cho bằng được nhà giàn vì đây là chủ quyền do cha ông ta đổ xương máu mà có được. Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân đã giao nhiệm vụ cho các đồng chí, các đồng chí phải giữ được nhà giàn".


ĐÔNG HÀ - LÊ ĐỨC DỤC


Kỳ 3: Những ngày gian khó


'Nhà chòi', 'chuồng bồ câu' là những từ truyền miệng của ngư dân khi nói về nhà giàn DK1 những năm đầu tiên. Đó là bởi sự nhỏ bé của nhà giàn so với biển cả mênh mông.


'Trong cơn hồng thủy phong ba, DK1 - bản hùng ca lưu đời...'


Những ngày đầu tiên ấy, người lính nhà giàn phải đối mặt với khó khăn, vất vả, thiếu thốn trăm bề. Nhưng tất cả cùng đồng lòng, chia sẻ vượt qua để DK1 là "thành đồng" trên biển đất mẹ.


“Để tiết kiệm và tái sử dụng, chúng tôi phải ngồi trong chậu tắm tráng nước ngọt sau khi tắm nước biển. Rồi dùng nước đó để giặt quần áo. -Trung tá Bùi Đình Dong


Sống sót qua cơn bão


Trong cơn bão khủng khiếp từ 21h đêm 4-12-1990, nhà giàn Phúc Tần đã bị nghiêng. Đến 2h sáng 5-12, thêm một đợt sóng rất lớn tràn qua, nhà giàn không cầm cự nổi, ngã đổ!


Ngày đó, trang bị cứu sinh thô sơ, thiếu thốn. Tám người lính nhưng chỉ có năm cái áo phao, trong đó chỉ còn bốn áo phao lành, một rách! Chiếc phao bè bị sóng đánh vỡ nát.


 


Chỉ huy trưởng nhà giàn Bùi Xuân Bổng, chính trị viên Trần Hữu Quảng và nhân viên báo vụ tên Báu tự nguyện không mặc áo phao. Anh Bổng ra lệnh cho anh em nhảy xuống biển trong màn đêm tối đen như mực.


 


"Sóng đánh vào, mỗi người văng ra một nơi. Nhà giàn đóng trên bãi cạn, chỗ nông nhất là 10m mà khi sóng đánh, tôi cảm giác nó nhấn mình xuống tận san hô rồi mới đẩy lên!" - trung tá Bùi Xuân Bổng nhớ lại. Đêm tối đen. Sóng dữ ập đến.


 


Không hoảng loạn, không nghĩ đến cái chết, người chỉ huy trưởng lúc đó chỉ nghĩ phải gọi xem anh em ở đâu để tụ lại chỗ chỉ huy. Gọi lúc đầu thì thấy nhưng vài phút sau một cơn sóng ập đến, tất cả lại bị chìm xuống. Khi ngoi lên được, chỉ huy trưởng Bùi Xuân Bổng vẫn cố gắng gọi tên anh em xem còn ai, mất ai...


 


"Tôi vớ được miếng bè xốp vỡ, kéo thêm được hai người là Công và Quỳnh. Đồng chí Hồ Thế Công có mang áo phao nhưng không hiểu sao xuống biển lại cứng đơ, rời hẳn tay ra như sắp chết. Tôi nói Quỳnh: lấy dây buộc Công vào người, nếu có chết thì anh em mình cũng phải kéo theo. Lúc sau cậu ấy tỉnh lại. May lúc đó quyết tâm kéo cậu ta theo chứ không thì mất một mạng người" - trung tá Bùi Xuân Bổng kể.


 


Khi đó, anh không thể biết chuyện gì đã xảy ra với năm người còn lại.


 


Những người lính nhà giàn phải chiến đấu từng phút với cái lạnh ngấm vào xương tủy. Lạnh đến mức các cơ thịt trong người co hết lại. Hết cái lạnh thì tầm trưa hôm sau họ phải chiến đấu với cơn khát. May mắn vớt được ba lọ nước cất nhỏ bằng ngón tay, họ chia nhau mỗi người mấy giọt.


 


"Có đồng chí hoảng loạn, tôi cứ động viên thế nào cũng có tàu vớt. Không hiểu sao lúc đó tôi có niềm tin tàu sẽ tìm thấy mình, dù suốt đêm rồi đến ngày không thấy tàu đâu" - trung tá Bổng nhớ lại.


 


Giữa sóng dữ, giữa cái chết cận kề, người chỉ huy trưởng trẻ tuổi trở thành chỗ dựa tinh thần vững vàng cho đồng đội. Chiều hôm sau tàu mới tìm thấy họ. Lúc lên tàu mới hay không tìm thấy chính trị viên Quảng, trung sĩ cơ điện Hồ Văn Hiền và đại úy quân y Trần Văn Là. Cơn bão đã cướp mất ba đồng đội của anh Bổng.


Ý nghĩa tên các bãi ngầm


Thật ý nghĩa khi tên của những chúa Nguyễn có công khai phá, mở mang bờ cõi vùng đất phương Nam được dùng để đặt cho các bãi ngầm ở vùng biển DK1. Đó là "Nguyễn Phúc Nguyên", "Nguyễn Phúc Tần". Và cả Huyền Trân công chúa - người đã có công mở mang châu Ô - châu Lý (tức Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay). "Quế Đường" là tên hiệu của nhà bác học Lê Quý Đôn.


"Nước ngọt quý như máu"


Nhớ về những ngày đóng quân trên nhà giàn 1A Tư Chính, cả trung tá Tạ Ngô Quyền, trung tá Nguyễn Đình Thịnh (đều đã nghỉ hưu) và thiếu tá Lê Văn Đức (hiện phụ trách ngành thông tin vô tuyến điện tàu 09 - lữ đoàn 171) không thể quên chuyện thiếu nước ngọt của 30 năm trước. Nước thiếu đến nỗi trung tá Quyền là chỉ huy trưởng phải giao chìa khóa bể nước cho chính trị viên Nguyễn Đình Thịnh cất giữ.


 


"Tôi giao chìa khóa cho anh Thịnh và dặn phải phân phát đúng chỉ tiêu, nếu anh không làm được thì tôi lấy chìa khóa lại" - trung tá Quyền nói.


 


Còn thiếu tá Đức hài hước: "Lúc đó anh Thịnh là chính trị viên kiêm thủ kho bể nước". "Đúng rồi, lúc đó thịt hộp không khóa nhưng nước phải khóa", trung tá Thịnh nói. Đó là vì nhà giàn chỉ có một bể chứa nước nhỏ, chưa đầy 20 khối mà sáu tháng mới được tiếp một lần. Bể nước đã nhỏ lại còn không thể sử dụng được nước dưới đáy vì sắt gỉ ra, sơn hắc ín dưới đáy bể bong ra.


"Có những lúc hết nước, chúng tôi phải lấy bông để lọc nước cặn ở đáy bể mà dùng tạm" - thiếu tá Đức nhớ lại.


29 năm đã trôi qua, nhưng ký ức về những năm tháng đầu gian khó ở nhà giàn vẫn in sâu trong tâm khảm trung tá chuyên nghiệp Bùi Đình Dong, 51 tuổi, hiện đang công tác tại nhà giàn DK 1/16.


 


"Nước ngọt quý như máu" - anh Dong so sánh. Những ngày ấy, anh cùng đồng đội phải chia nhau từng ca nước. Hai ngày, một người được chia 5 lít nước để đánh răng rửa mặt, tắm giặt. Quần áo giặt bằng nước biển rồi mới tráng qua nước ngọt. Mùa khô có khi 7-10 ngày lính nhà giàn không có nước tắm.


 


"Để tiết kiệm và tái sử dụng, chúng tôi phải ngồi trong chậu tắm tráng nước ngọt sau khi tắm nước biển. Rồi dùng nước đó để giặt quần áo" - trung tá Dong nhớ lại. Đợt El Nino kỷ lục năm 1997- 1998, lính nhà giàn suốt một tháng trời không có khái niệm tắm là gì, cho đến khi có tàu cấp nước ra tiếp tế.


 


Rau xanh là thứ thiếu thốn thứ hai với các chiến sĩ nhà giàn ngày đó. Vì thiếu rau xanh nên hầu hết người lính nhà giàn ai cũng bị bệnh đường ruột, sỏi thận.


 


"Hồi đó mới ra, chúng tôi bỡ ngỡ vì chưa ở trên biển lâu ngày bao giờ. Nhà giàn ngày đó khó khăn, thiếu thốn đủ thứ. Những ngày đầu lính nhà giàn chưa biết câu cá nên phải ăn đồ khô, đồ hộp: thịt hộp, dứa hộp, giá hộp, rau muống khô, củ cải khô, su hào khô" - trung tá Bùi Đình Dong kể.


"Những cột mốc chủ quyền thiêng liêng"


Ngày 5-7-2019, phát biểu tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập tiểu đoàn DK1, chuẩn đô đốc Phạm Khắc Lượng, tư lệnh Vùng 2 Hải quân (ảnh), xúc động ôn lại thời kỳ đầu gian khó của nhà giàn DK1. Đó là thiếu rau xanh, nước ngọt, phương tiện thông tin chỉ là chiếc đài bán dẫn.


 


Nhưng bằng ý chí tự lực tự cường, khắc phục mọi phong ba, bão táp, hiểm nguy, những thế hệ người lính nhà giàn DK1 đã trụ vững nơi đầu sóng ngọn gió, thể hiện lòng trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. 30 năm qua, trên thềm lục địa phía Nam, trước sự khắc nghiệt, tàn phá của thiên nhiên, năm nhà giàn đã bị đổ và tám cán bộ chiến sĩ DK1 đã hi sinh.


 


"Sự hi sinh của cán bộ, chiến sĩ DK1 đã hóa thành những cột mốc chủ quyền thiêng liêng bất tử hiên ngang trên biển" - chuẩn đô đốc Phạm Khắc Lượng đúc kết.


ĐÔNG HÀ - MY LĂNG


Kỳ 4: Người thiết kế nhà giàn DK1


Tháng 4-1988, thượng tướng Đào Đình Luyện, thứ trưởng Bộ Quốc phòng, dẫn đầu đoàn Bộ Quốc phòng vào làm việc với Vietsovpetro (Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Việt - Xô).


Một phần cũng do hướng sóng biển không thể làm block nhà giàn hình vuông nên tôi chọn hình lục lăng và tôi muốn nó là một bông hoa nở mãi ở Biển Đông Tổ quốc. -Kỹ sư Đặng Hữu Quý


"Chúng tôi được nghe kể lại câu chuyện hi sinh anh dũng của 64 cán bộ, chiến sĩ ở Gạc Ma ngày 14-3-1988. Nghe xong, ai cũng xót xa và muốn góp phần làm điều gì đó bảo vệ chủ quyền Tổ quốc" - ông Đặng Hữu Quý, 66 tuổi, khi đó đang là chánh kỹ sư thiết kế của Vietsovpetro, kể.


Ông Quý cho biết đề nghị của Bộ Quốc phòng là phải làm một công trình gọn, dễ thi công, có chỗ ở cho bộ đội, có khả năng chịu được sóng to gió lớn đặt ngoài biển, càng sớm càng tốt để sớm khẳng định chủ quyền.


Tại sao nhà giàn hình lục lăng?


Ông Ngô Thường San, khi đó là phó tổng giám đốc Vietsovpetro, nhớ lại:


"Khi nhận nhiệm vụ này, tôi lo lắng vì biết sẽ gặp nhiều khó khăn. Ngày đó chỉ có Bộ Giao thông vận tải và Vietsovpetro là làm được giàn khoan. Nhưng chúng tôi mới làm trong đất liền, chỉ cách Vũng Tàu 100km. Đằng này cách xa Vũng Tàu hàng 300-400km thì chúng tôi chưa bao giờ làm. Để có thể thiết kế nhà giàn, phải biết điều kiện sóng gió, nền móng ở đó như thế nào, dòng chảy ra sao... nhưng chúng tôi hoàn toàn không biết một chút thông tin".


Nhiệm vụ thiết kế nhà giàn được ông Ngô Thường San giao cho chánh kỹ sư thiết kế của Vietsovpetro - kỹ sư Đặng Hữu Quý. Ông Quý từng học chuyên ngành thiết kế về giàn khoan, bảo vệ luận án tiến sĩ ở Nga.


Khi đó ông mới về Vietsovpetro hai năm. Sau buổi làm việc đó, ông Quý được giao nhiệm vụ làm chủ nhiệm thiết kế công trình chưa từng có tiền lệ này.


Ông kể: "Binh chủng công binh là chủ đầu tư. Họ đặt hàng chúng tôi thiết kế có chỗ ngủ nghỉ cho bảy chiến sĩ, có chỗ để quân trang quân dụng, liên lạc thông tin, có khu để máy nổ phát điện, bồn chứa xăng, bể chứa nước ngọt, có bến cập tàu...


 


Lúc đó vì làm gấp nên nhu cầu chỉ tối thiểu. Sau khi nhận nhiệm vụ này, chúng tôi phải thiết kế ra mô hình một nhà giàn bền vững trước sóng biển, thuận tiện cho các chiến sĩ sinh hoạt".


 


Kỹ sư Đặng Hữu Quý mất rất nhiều thời gian tìm tài liệu nghiên cứu các công trình giàn khoan của nước ngoài, nhất là những giàn khoan ở những vùng có địa chất phức tạp khác nhau.


 


Ông tìm cả tài liệu tiếng Anh, tiếng Nga nhưng không kiếm được một tài liệu nào hướng dẫn thiết kế móng cọc trên nền san hô! Ông Quý cho biết khi thiết kế, khó nhất là làm sao công trình đứng vững được trên nền san hô - điều chưa từng có tiền lệ.


 


"Chúng tôi nghiên cứu phương án thiết kế của bên Bộ Giao thông vận tải. Họ đưa ra phương án dùng pôngtông, lấy 500-600 tấn ximăng lấp đầy pôngtông để cố định, neo bằng các dây xích thép. Chúng tôi nhận thấy đó không phải là bản thiết kế hay vì công trình như con lật đật trên sóng, không thể ổn định.


 


Nếu làm trong thời gian ngắn hạn 1-2 năm thì có thể tồn tại được, nhưng lâu dài thì không mà Bộ Quốc phòng đặt vấn đề lâu dài. Chúng tôi nghiên cứu và quyết định: phải đóng cọc thép sâu trong lòng đất, cố định bằng thép, ở trên mới làm nhà" - ông Quý cho hay.


 


Ngày đó chủ yếu phải vẽ bản thiết kế trên giấy. Sau nhiều lần xóa đi vẽ lại trong hai tuần, ông Quý đã phác thảo ra hình hài nhà giàn.


 


Đó là một công trình gồm ba khối: chân đế gắn xuống nền san hô bằng cọc, khối trung gian là nơi cập tàu, tiếp tế xăng dầu và block nhà ở. Toàn bộ công trình nặng 250 tấn, cao 45m ở khu vực nước sâu 16-18m. Phần block nhà ở có hình lục lăng, mỗi cạnh dài 5m như 6 cánh hoa.


"Ngay khi vẽ tôi đã hình dung đến công trình này như một bông sen nở rộ giữa trùng khơi, đánh dấu cột mốc chủ quyền mãi mãi cho con cháu mai sau. Khi hoàn thành xong bản thiết kế nhà giàn, tôi đã khóc. Tôi thiết kế block nhà hình lục lăng như sáu cánh hoa để tưởng niệm 64 anh hùng liệt sĩ đã hi sinh. Một phần cũng do hướng sóng biển không thể làm block nhà giàn hình vuông nên tôi chọn hình lục lăng và muốn nó là một bông hoa nở mãi ở Biển Đông Tổ quốc" - ông Quý cho biết.


Lấy đường ống dẫn dầu làm nhà giàn


"Chúng tôi nghiên cứu phương án thiết kế đóng cọc thép sâu trong lòng đất, cố định bằng thép, ở trên mới làm nhà. Dự kiến chiều cao trên mặt nước biển từ phải từ 17m để đề phòng sóng đánh lên" - ông Ngô Thường San nói.


Nhà giàn thế hệ đầu tiên không có lan can và block nhà ở được làm thành một khối, sau này mới chia thành các môđun. Nhưng sắt, thép, ống để làm cọc, làm nhà thì lấy đâu?


 


Ông Quý cho hay: "Thời điểm đó chúng ta đang bị cấm vận mà những vật tư này chỉ có thể mua của các nước tư bản. Vật tư để làm giàn khoan lúc đó là Nga cấp cho Việt Nam nên rất quý hiếm. Không có vật tư này thì không thể xây dựng công trình chịu được bão cấp 13, 14". Không có đôla mua vật tư, Vietsovpetro phải tự xoay xở. Nhưng Vietsovpetro là xí nghiệp liên doanh, lấy đâu ra sắt thép? "Tôi bàn với ông Vovk là tổng giám đốc Vietsovpetro. May mắn là ông ấy ủng hộ Việt Nam. Chúng tôi họp với Viện nghiên cứu thiết kế chuyên làm giàn khoan ngoài biển của Vietsovpetro. Trong quyết định thì nói là lấy vật tư thừa, tồn dư khi làm giàn khoan để làm công trình này nhưng khi làm, chúng tôi dùng một phần những vật tư mới để làm giàn khoan!" - ông Ngô Thường San cho hay. Đó là những ống dẫn dầu bằng thép cứng C5 của Nga, đường kính 320cm, dày 11cm, dài 12m.


8 năm có 131 sự cố xảy ra cho nhà giàn


Cùng lúc, hai công trình khác theo phương án trọng lực cũng được Bộ Giao thông vận tải gấp rút thực hiện. Hai công trình nhà giàn này do TS Chu Chất Chính (viện phó Viện Thiết kế tàu thuyền) làm chủ nhiệm thiết kế. Đó chính là nhà giàn DK1/3 tại bãi cạn Phúc Tần và DK1/4 ở bãi cạn Ba Kè.


 


Theo phương án này, pôngtông được đổ đầy khoảng 600 tấn bêtông rồi đánh chìm xuống biển và cố định với tháp canh bên trên bằng hệ thống xích neo.


 


Đại tá, PGS.TS Phạm Ngọc Nam (nguyên viện phó Viện Kỹ thuật công binh), một trong những người đã tham gia thiết kế nhà giàn DK1 những năm đầu, cho biết: "Thời điểm đó, cơ sở dữ liệu về sóng, gió, dòng chảy khu vực Nam Biển Đông rất nghèo nàn, không đủ để xử lý. Từ năm 1990-1998 có 592 sáng kiến cải tiến và 131 sự cố. Chúng tôi phải vừa làm vừa học, vừa khảo sát thăm dò và bổ sung hoàn thiện dần, rút kinh nghiệm thường xuyên".


MY LĂNG


Kỳ 5: Xây dựng nhà giàn DK1/1


Nhà giàn đầu tiên chỉ rộng khoảng 25m2. Toàn bộ công trình nặng 250 tấn, cao 45m, đứng sừng sững trước sự hân hoan tột độ của các cán bộ, kỹ sư Vietsovpetro và công binh, hải quân.


"Yêu cầu của Bộ Quốc phòng là phải bí mật, nhanh gọn. Muốn vậy thì toàn bộ phần thượng tầng - block nhà ở đều phải thi công trong bờ. Ra biển phải thi công thật nhanh" - PGS.TS Nguyễn Trọng Nhưng, hiện là trưởng ban quản lý dự án khoa học và công nghệ (Công ty Chế tạo giàn khoan dầu khí), cho hay.


Đi xuyên sóng gió, làm ngày làm đêm


30 năm trước, ông Nhưng là phó cục trưởng Cục Xây lắp dầu khí của Vietsovpetro. "Lúc đầu chúng tôi định làm từ tháng 2-1989 để kịp tưởng niệm một năm ngày hi sinh của 64 anh hùng liệt sĩ Gạc Ma nhưng thời tiết tháng 2, tháng 3 sóng gió dữ dội quá không làm được, cứ dịch dần sang tháng 6-1989. Lý do thứ hai nữa là Việt Nam phải thuyết phục mãi bên Nga mới cho mượn tàu tự hành Titan để thi công công trình" - ông Nhưng kể.


 


Đầu tháng 6-1989, đoàn công tác xuất phát gồm ba tàu (chở cả nhóm thiết kế và thi công của Vietsovpetro, công binh và lính hải quân): tàu cẩu MPK, hai tàu dịch vụ là Sao Mai và Phú Quý. Tàu Sao Mai phụ trách khảo sát sonar, tàu Phú Quý khoan công trình. Tàu cẩu MPK thì có nhiệm vụ đóng cọc xuống nền san hô.


 


Để đảm bảo bí mật, tàu MPK được lệnh đi Singapore sửa chữa nhưng đi ra tới mỏ Bạch Hổ thì chuyển hướng về bãi cạn Tư Chính.


 


Để có thể hoàn thành trong thời gian sớm nhất, lực lượng thi công thậm chí còn làm cả ban đêm! "Bình thường những công trình ngoài biển không bao giờ thi công vào ban đêm nhưng nếu chờ thì kéo dài thời gian. Đêm thường sóng gió lặng hơn nên phải tranh thủ làm. Ba tàu tập trung lại, dùng đèn công suất lớn chiếu vào cho anh em thấy đường" - ông Ngô Thường San, lúc đó là phó tổng giám đốc Vietsovpetro, nói.


Bộ chỉ huy trong bờ được đặt tại trụ sở của Vietsovpetro. Cứ 16h là ngoài biển phải báo cáo tình hình về bờ.


Bãi cạn Tư Chính là một loạt dãy đảo san hô, dài khoảng 50km và chỗ rộng nhất khoảng 10km. Khu vực bãi cạn này phức tạp vì có những rãnh sâu. Không thể chọn vị trí theo thiết kế ban đầu mà phải làm nhà gấp nên ông San ra lệnh: tùy theo hiện trạng, hiện trường mà tìm vị trí ổn định nhất.


 


Đội thi công chọn khu vực san hô tương đối bằng phẳng, độ sâu tương đối đồng đều để đóng cọc nhà giàn. Mực nước ở đó sâu khoảng 14m. Nhưng chỉ cần đi ra 1-2km là độ sâu hụt xuống hơn 1.000m!


 


Thời điểm đó, không ai biết được nền san hô ở bãi cạn Tư Chính như thế nào. San hô mỗi chỗ có độ cứng khác nhau. Có chỗ san hô mới mọc lên, có chỗ biến thành đá. Những chiếc cọc bằng thép CT3 của Nga vốn là ống dẫn dầu (đường kính 320cm, dày 16cm, dài 12m) được đóng xuống nền san hô, dự kiến phải sâu 14-16m để đảm bảo độ vững chắc cho công trình.


 


"Anh em đóng bằng búa hơi chuyên dụng nhập của Đức nặng 30 tấn, có giá 2,5 triệu USD. Ba cọc đầu xuyên xuống nền san hô được 12m. Còn cọc thứ tư mới xuống được 4,5m thì bị gãy vì trúng nền san hô quá cứng. Chúng tôi quyết tâm hoàn thành công trình này, cố gắng đóng, nhích thêm từng centimet một. Cọc xuống sâu được 7,5m thì không thể xuống được nữa" - ông San nói.


 


Trước tình hình đó, giải pháp mới được đưa ra là phải mở rộng, gia cố chân đế bằng các khối bêtông (nặng 10 tấn một khối). Cứ một chân đế thì dùng hai khối bêtông để nối giằng lại, tăng độ vững chắc. Ông Đặng Hữu Quý - chánh kỹ sư thiết kế của Vietsovpetro lúc đó - cho biết trong quá trình thi công, gian khó, vất vả nhất là khi sóng to gió lớn.


 


"Ra làm mới được 2-3 ngày thì sóng gió nổi lên - ông Quý kể - Có khi vừa đặt cọc xuống sóng nổi lên, lo giữ tàu đứng yên đã khó. Anh em say sóng nôn mật xanh mật vàng vẫn quyết tâm làm, nhưng tàu cẩu không làm việc được nên phải ngừng thi công. Nó không như trong đất liền, muốn nâng một khối lên thì mặt biển phải tĩnh mới thả xuống được. Đóng cọc cũng vậy, khi chúng tôi vừa nâng búa lên thì sóng nổi lên, không thể thả cọc xuống được".


 


Trong quá trình thi công, có lần tàu nước ngoài lao đến, rồi máy bay địch bay trên đầu. Rất căng thẳng. Nhưng anh em vượt qua tất cả, làm ngày làm đêm để hoàn thành sớm nhất. -Ông Ngô Thường San


 


Khoảnh khắc xuất hiện của nhà giàn DK1/1 30 năm trước


16h ngày 5-7-1989, nhà giàn DK1/1 đã được lắp đặt xong. Nhà giàn đầu tiên chỉ rộng khoảng 25m2. Toàn bộ công trình nặng 250 tấn, cao 45m, đứng sừng sững trước sự hân hoan tột độ của các cán bộ, kỹ sư Vietsovpetro và công binh, hải quân. 30 năm trôi qua, ông Quý vẫn nhớ mãi lúc mọi người cùng ôm lấy nhau rồi hướng về nhà giàn hát Quốc ca.


 


"Khoảnh khắc đó có một không hai trong đời. Xúc động lắm. Thiêng liêng lắm. Hát quốc ca xong, chúng tôi hô vang: Việt Nam, Trường Sa muôn năm! Việt Nam, Gạc Ma muôn năm!" - ông Quý rưng rưng nhớ lại.


Ông Ngô Thường San cho biết ở thời điểm đó, đây là công trình nhà giàn đầu tiên trên thế giới được xây dựng trên nền san hô. Còn ông Quý chiêm nghiệm: "Gian khổ thì chẳng thể nào kể thấu được. Đầu tiên là việc chống chọi với sóng biển. Rồi trong quá trình thi công, có lần tàu nước ngoài lao đến, rồi máy bay địch bay trên đầu. Rất căng thẳng. Nhưng anh em vượt qua tất cả, làm ngày làm đêm để hoàn thành sớm nhất".


Nhà làm xong rồi, các chiến sĩ hải quân ở trên tàu MPK của Vietsovpetro phải chuyển đồ lên nhà giàn để ở. Cái thuở gian khó ấy giữa biển khơi mênh mông, giây phút chia tay, mọi người đều khóc. "Chúng tôi quyết định ở lại đêm đó với anh em lính hải quân vì nhìn cảnh bảy anh em ở lại bơ vơ trong đêm thấy thương lắm. Nhà giàn được thi công gấp để khẳng định chủ quyền nên điều kiện sinh hoạt không đầy đủ, chật chội. Biết anh em hải quân ở lại rất gian khổ nên chúng tôi mang hết thực phẩm còn lại lên nhà giàn như giò chả, mì tôm, nước..." - ông Quý kể.


Thi công DK1/1 mất nhiều thời gian hơn DK1/3 và DK1/4


Trước đó, ở bãi cạn Phúc Tần, nhà giàn DK1/3 (là nhà giàn được khảo sát ở vị trí thứ ba) đã được khánh thành ngày 10-6-1989. Sau đó là nhà giàn DK1/4 ở bãi cạn Ba Kè (hoàn thành ngày 16-6-1989). Hai công trình này do Bộ Giao thông vận tải thiết kế, thi công. Cùng với nhà giàn DK1A (DK1/1) do Vietsovpetro thiết kế, thi công thì đó là ba nhà giàn đầu tiên ở thềm lục địa Việt Nam.


"Bộ Giao thông vận tải làm theo phương pháp trọng lực, kéo pông-tông ra rồi đánh chìm ở vị trí cần đặt nên nhanh hơn Vietsovpetro. Chúng tôi phải thi công chân đế, sàn chịu lực, thượng tầng, mất nhiều thời gian hơn" - ông Đặng Hữu Quý giải thích.


MY LĂNG


Kỳ 6: Dành cả tuổi xuân cho nhà giàn


Đã có rất nhiều người lính dành cả tuổi trẻ của họ ở nhà giàn DK1. Có người 20 năm, người 24 năm, 28 năm. Có người 29 năm. Có người chỉ ở quanh quẩn 5-6 nhà giàn khác nhau, cũng có người đã ở hết tất cả nhà giàn.


51 năm tuổi đời và 30 năm sống ở nhà giàn


Trung tá Bùi Xuân Bổng mới rời nhà giàn cuối tháng 5-2019. Ba Kè là nhà giàn cuối cùng anh làm chỉ huy trưởng.


"Đứng trên tàu nhìn về nhà giàn thấy anh em vẫy tay chào, tôi cứ lặng ngắm mãi hình ảnh nhà giàn. Tôi đã ở đó bốn chuyến, từ năm 2014" - anh bùi ngùi nói.


Là sĩ quan pháo phòng không, tháng 2-1989 thiếu úy Bùi Xuân Bổng nhận lệnh điều động của Bộ Quốc phòng tăng cường cho hải quân.


 


Ngày 15-9-1990, anh nhận lệnh đi nhà giàn Phúc Tần thay cho kíp đầu tiên. Thoắt cái đã 30 năm. Trung tá Bùi Xuân Bổng đã làm chỉ huy trưởng ở chín nhà giàn. Có nhà giàn anh ở tám năm, có nhà giàn ở 10 năm liên tục!


31 năm tuổi lính thì đã 30 năm ở nhà giàn DK1. Không ít lần có chính sách cho cán bộ ở miền Bắc được chuyển công tác về gần gia đình nhưng anh không xin chuyển.


30 năm qua, anh chỉ có năm lần ăn tết trong đất liền. Lập gia đình năm 1997 khi đã mang hàm đại úy, vợ chồng anh có một cậu con trai duy nhất, sinh năm 1999 hiện học đại học.


"Đi nhà giàn công tác là ước nguyện của tôi. Cuộc sống ngoài đó mặc dù thiếu thốn, công việc có lúc căng thẳng nhưng càng đi càng gắn bó, càng có nhiều tình cảm với nhà giàn" - anh Bổng nói.


Không chỉ là người ở nhà giàn lâu nhất, trung tá Bùi Xuân Bổng còn là người giữ kỷ lục làm chỉ huy trưởng nhà giàn lâu nhất.


"Mỗi lần mình hoàn thành tốt nhiệm vụ, khi trở về thấy rất tự hào. Bảo vệ chủ quyền Tổ quốc là điều thiêng liêng nhất, không phải là thực hiện một nhiệm vụ bình thường, không phải đơn giản ra ngoài đó để có người sống trên nhà giàn.


Đến giờ tôi vẫn mong muốn tiếp tục được công tác ở nhà giàn vì tôi hiểu đóng góp của mình dù nhỏ bé lắm nhưng có ý nghĩa với Tổ quốc, với nhân dân" - anh chia sẻ.


29 năm và 16 nhà giàn


Câu chuyện về trung tá Bùi Đình Dong, 51 tuổi, hiện là quân y sĩ công tác tại nhà giàn DK 1/16 khiến người nghe không khỏi thán phục.


Anh là một trong những người đã dành cả quãng thời gian đẹp nhất của cuộc đời để gắn bó với nhà giàn DK1: 29 năm.


Hơn 30 năm trước. Tháng 4-1989, chuẩn úy quân y Bùi Đình Dong nhận lệnh về tiểu đoàn DK1 công tác. Tháng 5-1990, anh lên tàu ra nhà giàn DK1A làm nhiệm vụ.


Đó là một trong ba nhà giàn đầu tiên ở thềm lục địa phía Nam Tổ quốc. 29 năm ở nhà giàn, từ một anh chiến sĩ hàm chuẩn úy trẻ măng cho đến bây giờ là một quân nhân mang hàm trung tá.


Anh đã ở qua hết 15 nhà giàn, đặc biệt anh có mặt trên hai nhà giàn bị bão giật đổ là DK1/3 (tháng 12-1990) và DK2A (tháng 12-1998).


Ngày ấy, một cuộc điện thoại về với gia đình cũng là điều ước không dễ thực hiện. "Ngày xưa chỉ có nhờ anh em thông tin trong đất liền xuống đài phát thanh duyên hải đăng ký mã số, đăng ký các số điện thoại rồi hẹn ngày giờ với người thân.


Đúng ngày đó, giờ đó mình ở ngoài này gọi vào mã số đó nói chuyện. Sóng kém lắm, nhiều khi lẫn tạp âm khác vào.


Một tháng gọi về nhà được một lần, mỗi lần được 30 phút nhưng nhà chỉ nghe được 15 phút thôi vì sóng tiếng được tiếng mất.


Mà hồi đó cước mắc lắm, cách đây gần 30 năm mà đã 8.000 đồng/phút. Gọi điện về là ngốn một khoản lớn tiền lương. Nhưng được nói chuyện với người thân mới quý" - trung tá Dong kể.


Đời lính nhà giàn đi biển biền biệt nên những người lính như anh Dong phải hi sinh tình cảm gia đình.


Vợ chồng anh Dong chỉ có một cô con gái. Năm 2009 con gái thi đại học, viết thư ra nhà giàn với một nguyện vọng: mong bố về đưa con đi thi đại học vì mẹ chưa bao giờ đi xa, không biết Hà Nội như thế nào. Đơn vị đã đồng ý nhưng cuối cùng không có người ra thay.


Ngày đó không có điện thoại, anh Dong phải viết thư nhờ ngư dân gửi giùm để động viên con gái.


Bố anh đã mất năm 2017. Giờ căn nhà ở Bắc Ninh chỉ còn một mình mẹ già. Vợ anh cũng đang sống một mình tại Vũng Tàu vì cô con gái duy nhất đã lấy chồng và ở luôn lại Hà Nội.


Lá thư 6 tháng mới đến tay người nhận


31 năm tuổi lính, 26 năm ở nhà giàn, trung tá chuyên nghiệp Phạm Văn Hướng, 50 tuổi (hiện công tác tại nhà giàn DK1/19) đã ở hết 14 nhà giàn.


Có nhà giàn anh đi bốn lần. 26 năm đi nhà giàn công tác, anh Hướng chỉ có bốn cái tết ở bên gia đình.


Rất nhiều người lính nhà giàn phải đón tết ngoài biển nhiều năm liền. Những cái tết thời gian khó thì chẳng thể nào quên được.


"Thực phẩm hồi đó thiếu thốn, không có tủ cấp đông nên mau hỏng. Sóng gió quá, tàu ra không được, có khi ngày tết chả còn cái gì. Giao thừa xong đến mùng 1 tết, nói đến nhà là anh em khóc. Có người khóc to" - anh Hướng kể.


Còn trung tá Kim Văn Mệnh, 51 tuổi, chỉ huy trưởng nhà giàn Tư Chính, có 26 năm ở nhà giàn.


Anh tốt nghiệp Trường Sĩ quan lục quân 1 tháng 7-1993 nhưng lại có duyên gắn bó với biển đảo.


Suốt 26 năm anh chỉ gắn bó với bốn nhà giàn là Huyền Trân, Phúc Tần, Ba Kè và Tư Chính. "Nhà giàn mình ở lâu nhất là Tư Chính, từ năm 1997 đến năm 2004" - anh Mệnh nói.


Đi biển biền biệt, không có cơ hội tìm hiểu phụ nữ nên anh Mệnh lập gia đình khá muộn. 33 tuổi anh mới cưới vợ.


Năm 2002, khi đó anh Mệnh đang là chỉ huy trưởng nhà giàn Tư Chính. Vợ anh viết thư gửi tàu ra cho chồng. Lá thư đó sáu tháng sau anh mới nhận được.


Ra đi không tính toán


Hỏi lý do sao không xin vào bờ công tác cho gần vợ con, trung tá Kim Văn Mệnh tâm sự: "Người lính thì ở đâu cũng làm nhiệm vụ với đất nước. Hồi mới đi mình không nghĩ sẽ đi lâu vậy đâu.


Thời gian được về bờ đi học, đêm đêm nằm trong phòng nghe tiếng tàu cá chạy ra khơi cứ nhớ ngoài biển, nhớ nhà giàn, nhớ anh em đồng đội.


Khi về nhà, có lúc tôi đang ngủ nghe tiếng chó sủa cũng giật mình, tỉnh dậy không biết đang ở đâu, mấy giây sau mới biết đang ở đất liền.


Ở nhà giàn yên bình, tĩnh lặng quen rồi. Rồi cứ đi thôi, không tính toán, lăn tăn gì. Thế là gắn bó mãi đến giờ".


MY LĂNG


Kỳ 7: Còn nhà giàn, còn chủ quyền Tổ quốc


Suốt 30 năm qua, không một ngày nào người lính nhà giàn không đối mặt với sóng gió, với gian nan. Nhưng sóng gió, bão tố có thể bẻ cong sắt thép nhà giàn chứ không thể làm nhụt ý chí "giữ chủ quyền" của người lính hải quân.


Không chỉ riêng tôi mà tất cả những người lính nhà giàn càng ngày càng thấm, càng hiểu sự thiêng liêng của chủ quyền là như thế nào, càng cảm nhận được sứ mệnh của mình trong công cuộc bảo vệ và gìn giữ Tổ quốc. Trung tá KIM VĂN MỆNH (chỉ huy trưởng nhà giàn Tư Chính)


"Còn người, còn nhà giàn, còn chủ quyền Tổ quốc" - đó là quyết tâm hành động suốt 30 năm qua của người lính nhà giàn mỗi khi đối mặt với bão tố, sóng gió.


Thiêng liêng hai tiếng chủ quyền


"Chủ quyền Tổ quốc là điều thiêng liêng nhất. Tôi thấy vui vì lớp trẻ kế cận sau mình có bản lĩnh, có trình độ, nhiệt huyết, tiếp thu nhanh. Tôi có niềm tin lớn vào những người lính trẻ hiện giờ. Ra nhà giàn là nhiệm vụ thiêng liêng chứ không đơn giản là ra đó cho có người ở" - trung tá Kim Văn Mệnh, chỉ huy trưởng nhà giàn Tư Chính, rút ruột tâm sự.


Thiếu úy Nguyễn Mạnh Cường, 27 tuổi, hiện là chính trị viên nhà giàn DK1/7. Trong những năm học ở Trường Sĩ quan chính trị, anh đã đọc và tìm hiểu về biển đảo, về Hoàng Sa, Trường Sa và nhà giàn DK1.


Ra trường năm 2018, anh được điều động về Quân chủng hải quân và về tiểu đoàn DK1. "Những ngày còn đi học, tôi đã xác định tư tưởng, công việc của mình sau này là đi biển đảo để bảo vệ chủ quyền. Tôi đã viết đơn xin tổ chức phân công về DK1" - anh cho biết.


Từ khi ra đời đến nay, nhà giàn đã cho thấy vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực: an ninh quốc phòng, kinh tế, giao thông vận tải, tài nguyên khoáng sản, giao lưu quốc tế. Đây cũng là nơi cung cấp các dịch vụ hậu cần liên quan đến kinh tế biển, là nơi đặt các đèn biển (hải đăng) để báo cho các tàu thuyền quốc tế và trong nước qua lại ở khu vực.


Nhà giàn cũng là nơi đặt các trạm nghiên cứu thời tiết thủy văn để ghi chép, theo dõi dòng chảy, biến đổi khí hậu. Đặc biệt, nhà giàn là chỗ dựa cho bà con ngư dân vươn khơi bám biển, khi ốm đau, tai nạn, khi hết nước ngọt, hết thực phẩm, thuốc men...


Đặc biệt, giữa khơi xa, nhà giàn chính là những cột mốc chủ quyền nơi tiền tiêu, phát hiện từ xa các động thái quân sự biến động bất thường. Đóng quân ở nơi đầu sóng ngọn gió, nơi tiền tiêu, phên giậu của Tổ quốc, những người lính nhà giàn luôn cảnh giác cao độ, sẵn sàng chiến đấu nếu xảy ra tình huống.


Chủ quyền Tổ quốc, sự toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng nhất. Muốn giữ được thì phải chấp nhận gian khổ, hi sinh. Tinh thần dấn thân và sẵn sàng hi sinh đã có sẵn trong máu mỗi người lính nhà giàn. Họ luôn có tinh thần cống hiến và hi sinh như bao lớp thế hệ đi trước, để bảo vệ nhà giàn, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.


Dù làm nhiệm vụ ở nơi đầu sóng ngọn gió, nhưng những người lính nhà giàn luôn vững vàng hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ với Tổ quốc, để người dân phía sau mình luôn an tâm, bình yên.


Hậu phương vững lòng, tiền tiêu chắc tay súng


Cách đây 30 năm, trên vùng biển phên giậu của Tổ quốc - thềm lục địa phía Nam - những nhà giàn DK1 đầu tiên được xây dựng để bảo vệ chủ quyền. 30 năm đã qua, nhiều đổi thay và phát triển.


Nhưng có một điều duy nhất không đổi thay: DK1 vẫn và sẽ mãi thành đồng trên Biển Đông. "Thành đồng" DK1 là minh chứng hùng hồn, mạnh mẽ của con dân nước Việt trong việc giữ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Hết thế hệ này đến thế hệ khác, những người lính nhà giàn luôn phấn đấu để làm tròn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở Biển Đông.


Trung tá Nghiêm Xuân Thái, chính trị viên nhà giàn DK, cho biết những nhà giàn hôm nay sau khi được nâng cấp, sửa chữa có độ bền vững, chắc chắn hơn rất nhiều so với trước đây.


Đó là điều quan trọng để người lính nhà giàn càng chắc tay súng, vững tấm lòng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. "Nhà giàn hiện nay đã đáp ứng cao yêu cầu của nhiệm vụ cũng như nhu cầu sinh hoạt, ăn ở, giải trí cho cán bộ, chiến sĩ" - trung tá Thái chia sẻ.


Nhà giàn giờ rộng rãi hơn, có nơi tập thể dục, có điện năng lượng mặt trời thắp sáng, có bồn để trồng rau xanh, có chuồng inox để nuôi heo, gà; có điện, có tủ đông, tủ lạnh trữ được thực phẩm cho những ngày sóng gió, có sóng điện thoại để mọi người giữ thông tin liên lạc với đất liền.


Gắn bó với nhà giàn từ ngày mới ra trường, mang hàm chuẩn úy, đến nay trung tá quân y Bùi Đình Dong khẳng định: "Cuộc sống anh em nhà giàn bây giờ khác trước một trời một vực".


Những năm qua, không chỉ đời sống tinh thần, vật chất của người lính nhà giàn được nâng lên mà ở hậu phương, những người vợ, người con, những gia đình của họ cũng được mọi tầng lớp hướng đến.


Trung tá Thái cho biết từ cột mốc 20 năm thành lập nhà giàn năm 2009, khi báo chí viết về DK1, gia đình những người lính nhà giàn đã được Nhà nước, quân đội, nhân dân quan tâm, chăm lo. "Hậu phương vững chắc thì ở tiền tiêu chúng tôi càng vững tin, càng chắc tay súng để bảo vệ chủ quyền" - thiếu úy Nguyễn Hùng Cường, chính trị viên nhà giàn DK1/7, tâm sự.


Trung tá Nghiêm Xuân Thái cho biết những năm qua, do biến đổi khí hậu nên vùng biển DK1 đã có những bất thường, khó lường và không còn theo quy luật như trước. Điển hình là cơn bão Tembin quét qua nhà giàn vào cuối 2017, nhưng theo lời anh, "bão tố có thể bẻ cong sắt thép của nhà giàn nhưng không thể nào bẻ cong ý chí, niềm tin của những người lính DK1".


"Anh đi rồi anh sẽ về"


Người yêu của thiếu úy Nguyễn Hùng Cường (chính trị viên nhà giàn DK1/7) kém anh 2 tuổi và đang làm ở một ngân hàng lớn tại TP.HCM. Tâm sự với Tuổi Trẻ, cô chia sẻ: "Anh Cường làm việc ngoài biển khơi, sinh nhật, những ngày lễ, tết, thiếu vắng anh, tôi cũng chạnh lòng.


Những lần như vậy anh đều động viên, an ủi tôi, rồi những lần nghỉ phép về bờ anh ấy cố gắng bù đắp". Sự lo lắng của cô cũng phần nào vơi bớt khi thiếu úy Cường nói với cô: "Anh đi là vì nhiệm vụ, vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Anh đi rồi anh sẽ về. Biển khơi khắc nghiệt nhưng đã có đồng đội, có anh em cùng nhau đoàn kết, vượt khó".


Những lần gặp nhau, anh kể cho cô nghe những câu chuyện về nhà giàn DK1 khiến cô càng yêu anh, càng thêm yêu biển đảo, càng vững tin. Cô cũng xác định sau này thành vợ thành chồng, cô sẽ choàng gánh gia đình, lo hậu phương vững chắc để chồng yên tâm công tác.


ĐÔNG HÀ - MY LĂNG


Nguồn: tuoitre.vn  từ 04-7 đến 10-7-2019


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cố vấn Võ Văn Kiệt gặp mặt các nhà văn viết về Công nghiệp - Hà Văn Thùy 12.11.2019
Ba Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa - Tư liệu 08.11.2019
Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 Đoạn? - Trương Quang Nhuệ 08.11.2019
Cuộc xung đột âm thầm - Tư liệu sưu tầm 07.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (45) - Nguyễn Văn Khỏa 07.11.2019
Về chiếc bàn làm việc của Tổng thống Mỹ - Nhiều tác giả 07.11.2019
Charlie Chaplin và đàn bà… - Tư liệu sưu tầm 05.11.2019
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc: Cần tổ chức việc Di dân! - Antonio Guterres 05.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (44) - Nguyễn Văn Khỏa 01.11.2019
Tập Cận Bình sẽ bị hạ bệ? - Tư liệu sưu tầm 31.10.2019
xem thêm »