tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30151553
04.08.2019
Nhiều tác giả
Về chim đỗ quyên, chim quốc, chim tu hú

 


Chim QUYÊN là chim gì? (Kiến Thức Ngày Nay số 203, ngày 20-3-1996)


 


21 July 2011 at 19:56


 


Độc giả:


 


Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa


 


(Kiều, câu 556)


 


Dưới trăng quyên đã gọi hè (Kiều, câu 1307)


 


Chim “quyên” là chim gì và con chim quyên trong hai câu trên đây có phải là một hay không?


 


AN CHI: Ông Nguyễn Quảng Tuân cho rằng đó là hai thứ chim khác nhau còn phần lớn các nhà chú giải thì lại cho rằng đó chỉ là một. Theo nhiều người, đó là con cuốc, tức con quấc (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, Trúc Viên Lê Mạnh Liêu, Nguyễn Thạch Giang), còn theo Đào Duy Anh thì đó là con chim tu hú: “Chim đỗ quyên, vốn là chim tu hú, hay kêu về mùa hè. Ở nước ta nhiều người lộn nó với chim cuốc cũng kêu về mùa hè, do tiếng nó kêu “quốc quốc” mà liên hệ với điển Vọng-đế chết hóa thành chim đỗ quyên” (Từ điển Truyện Kiều, Hà Nội, 1974, tr.322).


 


Chúng tôi tán thành Đào Duy Anh vì cũng cho rằng quyên là chim tu hú chứ không phải chim cuốc. Con cuốc, tiếng Hán gọi là phiền hoặc cô ác 姑惡 , không liên quan gì đến tích vua Vọng Đế của nước Thục là Đỗ Vũ. Chỉ có con quyên mới thực sự liên quan đến sự tích của ông vua này nên đã “ăn theo” họ của ông ta mà được gọi là “đỗ quyên”, thậm chí còn “ăn theo” cả họ lẫn tên mà được gọi là “đỗ vũ”; về sau lại có thêm các tên gọi khác nữa là: tử quyên, tử quy, tử huề, tư quy và thôi quy. Nhưng tên gốc của nó thì vẫn chỉ là quyên còn tên thông dụng là đỗ quyên. Mathews’ Chinese-English Dictionary dịch đỗ quyên 杜鵑 là “the cuckoo” còn Dictionnaire classique de la langue chinoise của F.S. Couvreur thì dịch là “coucou”. Từ điển song ngữ Anh Việt hoặc Pháp Việt thường dịch cuckoo hoặc coucou  thành chim cu cu. Thực ra, đây chính là con chim tu hú, đúng như quyển Danh từ khoa học của Đào Văn Tiến (Minh Tân, Paris, 1950) đã dịch. Coucou (Pháp), cuckoo (Anh), tiếng Nga là kukushka. Russko-kitayskiy slovar của L.Z. Orlikov (Moskva, 1951) dịch kukushka là “đỗ quyên”. Nga Hán đại từ điển do Lưu Trạch Vinh chủ biên (Bắc Kinh, 1962) cũng dịch y hệt như thế. Từ điển Nga Việt của K.M. Alikanov, V.V. Ivanov và I.A. Malkhanova (Moskva, 1977) đã dịch kukushka là “(chim) tu hú”. Từ điển Việt Hán của nhóm Hà Thành, Trinh Ngọa Long (Bắc Kinh 1960) dịch tu hú là “đỗ quyên điểu”. Con chim này thuộc họ cuculidés; danh từ này đã được quyển Danh từ khoa học của Đào Văn Tiến dịch là “họ chim đỗ quyên”. Bấy nhiêu bằng chứng tưởng cũng đủ tỏ rằng đỗ quyên là con chim tu hú. Nhưng chúng tôi còn muốn nêu thêm một bàng chứng rất có ý nghĩa nữa như sau. Hình mà ông Nguyễn Quảng Tuân đưa ra để minh họa con chim tu hú ở trang 184 của quyển Chữ nghĩa Truyện Kiều (Hà Nội, 1990; tái bản 1994) giống hệt hình mà Cao Thụ Phiên đưa ra để minh họa con chim đỗ quyên ở trang 671 của quyển Hình âm nghĩa tổng hợp đại tự điển (Đài Bắc, 1974). Hình này lại xuất hiện ở trang 104 của quyển Truyện Kiều do Nguyễn Quảng Tuân khảo đính và chú giải (Nxb KHXH, 1995) cũng để minh họa con chim đỗ quyên. Điều này gián tiếp nói rằng đỗ quyên đích thị là con chim tu hú.


 


Tiếc rằng ông Nguyễn Quảng Tuân lại không thừa nhận tu hú là tên tiếng Việt của con chim đỗ quyên. Ông viết:


 


“Vì không biết chim quyên là loại chim gì nên mọi người mới đoán quanh là con cuốc hoặc con tu hú và mới cho rằng Nguyễn Du dùng chữ “đầu cành” chưa được chỉnh (ý nói con cuốc không sống trên cây – AC).


 


“Sự thực thì chim quyên là một giống chim khác hẳn với chim cuốc và chim tu hú.


 


“Chim quyên có tên khoa học là Acredula trivirgata, là một loài chim hay hót, có đuôi dài, đầu lông sắc trắng, trên lưng lông màu đen, dưới bụng lông màu trắng, hai cánh lông màu trắng hoặc lốm đốm trắng, mùa hè ở trên núi rừng, mùa thu bay thành đàn xuống đồng bằng, thích ăn sâu bọ và hay hót.


 


“Nguyễn Du ở đây (câu 566 – AC) tả cảnh cuối hè sang thu tức là đúng vào thời gian chim quyên bay từng đoàn từ trên rừng núi xuống đồng bằng và kêu hót ở đầu cành (đầu cành quyên nhặt).


 


“Trái lại con quyên gọi vào hè thì con quyên đó là con cuốc như Nguyễn Du đã nói đến trong câu 1307: Dưới trăng quyên đã gọi hè.


 


“Chúng ta phải nhận định rõ ràng nếu không sẽ dễ nhầm lẫn:


 


“Chim quyên, hót ban ngày, đậu trên cành cây, hót rất nhiều về mùa thu.


 


“Con đỗ quyên, ta quen gọi con cuốc, kêu về đêm, thường lủi ở bờ nước trong bụi rậm, kêu về mùa hè”.


 


(Chữ nghĩa Truyện Kiều, tr.184-185).


 


Thực ra thì chính Nguyễn Quảng Tuân đã nhầm lẫn khi ông đánh đồng chữ với chữ . Chữ trước, do ông đưa ra, đọc là viên, còn chữ sau, là chữ mà Nguyễn Du đã dùng, thì mới đọc là quyên. Vì chữ không phải là chữ mà Nguyễn Du đã dùng nên con Acredula trivirgata, tức con chim “hót ban ngày, đậu trên cành cây, hót rất nhiều về mùa thu”, không có liên quan gì đến câu 566 của Truyện Kiều. Có lẽ do đã phát hiện ra điều này nên đến khi khảo đính và chú giải quyển Truyện Kiều (Nxb KHXH, 1995), Nguyễn Quảng Tuân đã không còn nhắc đến con Acredula trivirgata nữa. Và ông đã nhận rằng “chim quyên tức đỗ quyên” (X. sđd, tr.103). Ông đã giữ nguyên tên mà không đối dịch nhưng, như chúng tôi đã chứng minh, đỗ quyên chính là con chim tu hú.


 


Tại sao Nguyễn Quảng Tuân phải viện dẫn đến chữ (viên)? Là vì ông đã phát hiện ra rằng con viên “hót rất nhiều về mùa thu” mà theo ông thì câu 566 lại “tả cảnh cuối hè sang thu” (còn con “quyên” chính cống thì lại hót vào mùa hè). Nguyễn Thạch Giang cũng cho rằng “câu này tả cảnh cuối hè sang thu” (Truyện Kiều, khảo đính và chú thích, Hà Nội, 1972, tr.387). Chúng tôi ngạc nhiên về sự khẳng định này vì đây thực ra lại là cảnh cuối xuân sang hè. Thời gian trong lời kể chuyện của Nguyễn Du cũng bắt buộc ta phải kết luận như thế.


 


Lấy câu 370 làm điểm khởi đầu và câu 566 làm điểm kết thúc cho mạch văn, ta sẽ dễ dàng thấy rằng từ lúc:


 


“Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua” (câu 370)


 


cho đến lúc


 


“Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa”


 


(câu 566),


 


thì thời gian trôi qua chưa hết hai ngày một đêm. Thật vậy, câu 370 tả tiết trời trước và trong ngày mà cha mẹ và hai em của Kiều đi mừng “sinh nhật ngoại gia” còn câu 566 thì tả tiết trời và cảnh vật vào giờ ngọ của ngày hôm sau, lúc gia đình Kiều vẫn còn chưa về đến nhà. Chưa đầy hai ngày một đêm thì làm sao xuân vừa mới qua (đã chừng xuân qua) mà đã có thể là “cuối hè sang thu”?


 


Các nhà chú giải đó có lẽ đã căn cứ vào vế sau của câu thơ (cuối trời nhạn thưa) nên mới khẳng định như thế! Nhưng xin nói rằng nhạn là một giống chim di cư mỗi năm có hai hướng bay: Bắc-Nam trong mùa thu rồiø Nam-Bắc trong mùa xuân. Trong mùa thu, chúng phải rời vùng ôn đới Bắc bán cầu mà bay đến phương Nam để tránh mùa đông còn trong mùa xuân thì chúng lại rời vùng nhiệt đới phương Nam mà bay về phương Bắc để sinh sản trong mùa hè. Vế sau của câu 566 tả cảnh những con nhạn cuối cùng đang bay về phương Bắc. Bầy đàn đông đúc của chúng đã về đến nơi trong mùa xuân rồi mà chúng còn lẻ tẻ và lẹt đẹt chưa bay về đến trong khi trời đã sang hè. “Cuối trời nhạn thưa” là như thế. Tóm lại, con nhạn không chỉ là dấu hiệu của mùa thu mà cịn của cả mùa xuân, tùy theo hướng bay của nó. Đó là một giống hậu điểu “thu Nam lai, xuân Bắc khứ”. Các nhà chú giải vì không căn cứ vào thời gian thực tế trong lời kể của tác giả để đoán định nên mới cho rằng “cuối trời nhạn thưa” là dấu hiệu của mùa thu. Thực ra, nếu đang độ thu thì chúng bay theo đàn đông đúc (một đàn nhạn đông đến hàng ngàn con) chứ làm gì có được cảnh “nhạn thưa”. Chỉ những con cuối cùng mới còn lẻ tẻ, và lẹt đẹt bay từ Bắc xuống Nam khi trời đã cuối thu hoặc chớm đông.


 


Tóm lại, cảnh trong câu 566 là cảnh cuối xuân đầu hè chứ không phải cuối hè sang thu. Vậy ta có thể yên tâm khẳng định rằng quyên là một giống chim kêu vào mùa hè (chứ không phải là con “viên” kêu vào mùa thu) và đó là con chim tu hú (chứ không phải con cuốc như nhiều người đã hiểu). Trong cả câu 566 lẫn câu 1307 thì con chim đó là con đỗ quyên chứ không phải chỉ là con đỗ quyên ở câu 566 còn ở câu 1307 thì lại là con cuốc như Nguyễn Quảng Tuân đã phân tích. Mối bận tâm của ông là ở chỗ: con cuốc kêu vào mùa hè và nhất là kêu vào ban đêm nên mới thích hợp với thời khắc (dưới trăng = ban đêm) và thời tiết (gọi hè) nói đến trong câu này. Nhưng chẳng có lẽ con đỗ quyên lại không kêu vào mùa hè?


 


Lời chú trong sách Quảng sư loại có nói rằng “đỗ quyên xuân tắc minh, chí hạ vưu thậm” (dẫn theo Thúy Kiều truyện tường chú, Chiêm Vân Thị chú đính, Trúc Viên Lê Mạnh Liêu phiên dịch và phụ chú, q.hạ, Sài Gòn, 1974, tr.11 chth.22), nghĩa là “mùa xuân thì tu hú kêu, vào hè càng kêu dồn”. Và chẳng có lẽ nó lại không kêu vào ban đêm? Hiêïn đại Hán ngữ từ điển (Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1992) nói rõ rằng con đỗ quyên “vào đầu mùa hè thì thường ngày đêm kêu không ngớt” (sơ hạ thời thường trú dạ bất đình địa khiếu).


 


Chú giải mà không căn cứ chặt chẽ vào mạch văn và cốt truyện, chỉ chăm chú một chiều vào từ điển thì khó lòng mà hoàn toàn chính xác!


 


An Chi


 


 


 


Chim đỗ quyên là chim tu hú?01/10/2016


 


Trong Từ điển Truyện Kiều (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974), Đào Duy Anh giảng “Chim đỗ quyên vốn là chim tu hú, hay kêu về mùa hè. Ở nước ta nhiều người lộn nó với chim cuốc cũng kêu về mùa hè, do tiếng nó kêu “quốc quốc” mà liên hệ với điển Vọng-đế chết hóa thành chim đỗ quyên” (tr. 322).


 


Cách giải thích trên có hai điểm sai:


 


- Thứ nhất, CHIM ĐỖ QUYÊN KHÔNG PHẢI LÀ CHIM TU HÚ.


 


Hiện nay, từ “đỗ quyên”(1) có hai cách hiểu:


 


a. Nguồn Trung Quốc: Theo Bách khoa toàn thư Baidu (百度百科), Đỗ quyên là tên chung của một số loài chim đỗ quyên thuộc giống Cuculus, họ Cuculidae (họ cu cu). Thí dụ: Tiểu đỗ quyên 小杜 (tên khoa học: Cuculus poliocephalus); Đại đỗ quyên 大杜 (Cuculus canorus); Phi châu đỗ quyên 非州杜 (Cuculus gularis); Mã đảo đỗ quyên 马岛杜鹃 (Cuculus rochii); Tông phúc đỗ quyên 棕腹杜 (Cuculus fugax) hay Hy Mã Lạp Nhã trung đỗ quyên 马拉雅中杜鹃 (Cuculus saturatus) (2). Chú ý: Đây là cách phân loại cũ, cho thấy đỗ quyên nằm trong giống Cuculus, nhưng ngày nay đỗ quyên thường dùng để chỉ các loài cuốc nằm trong những giống thuộc họ gà nước (Rallidae).     


 


b. Nguồn Việt Nam: Đỗ quyên còn được gọi là con cuốc (chim cuốc) với chú thích tiếng Pháp: râle d’eau trong Từ điển Việt Nam của Thanh Nghị (tr.432, NXB Thời Thế, 1958). Đỗ quyên trong từ điển Việt – Anh và Việt – Pháp của Lạc Việt cho thấy hai từ tương ứng: water – rail (Anh) và râle d’eau (Pháp) – hai từ này đều có nghĩa là một loài “gà nước” (tên khoa học: Rallus aquaticus, thuộc giống Rallus, họ Rallidae), nhiều người thường gọi là “gà nước mỏ dài” hay “gà nước Ấn Độ”.


 


Còn chim tu hú chính là “táo quyên” , có tên khoa học hiện nay là Eudynamys scolopacea (hay Eudynamys scolopaceus), thuộc giống Eudynamys, họ Cuculidae (họ cu cu). Nhìn chung, ban đầu Carl Linnaeus(3) đặt tên khoa học cho chim tu hú châu Á là Cuculus scolopaceus Linnaeus (1758), tức cùng giống Cuculus với chim đỗ quyên Trung Quốc nhưng đến năm 1827, Vigors & Horsfield đã đưa loài này vào giống Eudynamys – họ đã tái phân loại vì nhận thấy chúng có những đặc điểm khác với giống Cuculus (theo trang mạng The Taxonomicon).


 


Tóm lại, dù theo cách gọi ở Trung Quốc hay Việt Nam thì chim đỗ quyên và tu hú đều được phân loại khác nhau, do đó không thể đánh đồng chúng là một.


 


- Thứ hai, CHIM ĐỖ QUYÊN CHÍNH LÀ CHIM CUỐC NÊN KHÔNG THỂ CHO LÀ “NHIỀU NGƯỜI LỘN NÓ VỚI CHIM CUỐC”.


 


Theo cách dịch ở nước ta thì chim đỗ quyên được gọi là chim quyên, chim quốc hay chim cuốc. Thí dụ, trong bài Độ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng 渡淮 , Nguyễn Du viết: “Ai trung xúc xứ minh kim thạch / Oán huyết quy thời hóa đỗ quyên (哀衷觸處鳴金石, 怨血歸時化杜鵑) có nghĩa là “Nỗi thương cảm thốt ra chỗ nào đều reo tiếng vàng tiếng đá / Máu oán hận lúc trở về hóa thành chim quốc”. Cái từ “Văn Thừa tướng” mà Nguyễn Du nhắc đến chính là Văn Thiên Tường (文天祥,1236-1282), người giữ chức Thừa tướng trong triều Nam Tống 南宋, còn “Hoài” là sông Hoài thuộc phần đất hai tỉnh An Huy 安徽 và Giang Tô 江蘇. Khi bị người Kim đánh bại, nước Tống phải cầu hòa bằng cách cắt đất dâng nạp cho người Kim và lấy sông Hoài làm ranh giới (phía Bắc sông Hoài trở lên thuộc về nước Kim, còn từ phía Nam trở xuống thì thuộc về nhà Tống). Vì quá đau buồn trước cảnh chia cắt đó, Văn Thiên Tường đã viết: Tòng kim biệt khước Giang Nam lộ / Hòa tác đề quyên đái huyết quy (從今別卻江南路 / 化作啼鵑帶血歸) có nghĩa là Từ nay cách biệt Giang Nam / Khi trở về sẽ thành con chim cuốc kêu ra máu.


 


Kết luận


 


Một loài chim có thể có nhiều tên khác nhau trong cùng một ngôn ngữ, muốn tìm hiểu chính xác chúng có chung loài hay không cần phải căn cứ vào tên khoa học (tiếng Latin). Rất có khả năng người ta đã gọi tổng quát vài loài chim đỗ quyên Trung Quốc và gà nước phân bố ở Việt Nam là chim quốc hay cuốc, tuy thế nào đi nữa, đỗ quyên chắc chắn không phải là chim tu hú (căn cứ vào bảng phân loại khoa học tên loài, giống và họ…). Đỗ quyên chính là chim quốc (chim cuốc) hay gà nước như đã trình bày ở trên.


 


Vương Trung Hiếu


 


Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 420


 


___


 


(1) Trong quyển Trung Quốc Dược học đại từ điển, đỗ quyên còn có tên là Tử tuấn, Dương tước, Oán điểu chu yên… Ngoài ra, nó còn hai tên khác có nguồn gốc từ điển tích Trung Hoa, đó là Tử quy 子規 và Đỗ vũ 杜宇.


 


(2) (学名:Eudynamys scolopacea) – Wikipedia Trung văn.


 


(3) Carl Linnaeus (1707 – 1778) là nhà động vật học, thực vật học và thầy thuốc Thụy Điển. Ông là người đặt nền móng cho hệ thống tên khoa học hiện đại, cha đẻ của hệ thống phân loại hiện nay.


 


 


 


Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: [1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].


 


Đặc điểm


 


Chim trống có bộ lông đen với ánh xanh thẫm. Chim mái lông lốm đốm đen nhạt và trắng. Đầu chim mái màu hơi nhạt hơn và hung hơn so với chim trống. Chim non lông đen toàn thân, nhưng sau kỳ thay lông đầu tiên nó đã chuyển thành bộ lông gần nh­ư chim mái. Chim trống thì có bộ lông đỏ trong một thời gian rồi chuyển dần sang bộ lông trưởng thành với mắt đỏ, mỏ xanh xám, gốc mỏ đen, chân xám chì[3]. Tu hú giống sáo sậu, chỉ khác nhau ở tiếng hót. Con đực có màu lông đen thẫm, mắt có màu xanh, hai chân màu chì. Con cái lông có màu đốm sáng và nhỏ hơn con đực.


 


Chim tu hú là loài ăn tạp, chúng ăn tất cả các loại côn trùng, sâu bướm, trứng và các động vật có xương sống nhỏ cũng như ăn cả trái cây. Tu hú mẹ không có khả năng tha mồi nuôi con vì chim mẹ chuyên ăn sâu, ăn cả những con sâu có nọc độc, độc tố. Cơ thể chim trưởng thành sẽ miễn nhiễm với độc tố của sâu độc nhưng tu hú con chưa có hệ thống miễn nhiễm, nên nếu ăn phải sâu độc nó có thể sẽ chết, vì vậy tu hú mẹ phải nhờ đến các loài chim khác nuôi con của nó[3] đây là việc làm cần thiết để tránh nguy hiểm cho con non, tạo môi trường thuận lợi duy trì nòi giống của mình[4].


 


Tập tính


 


Đặc điểm của loài tu hú là loài đẻ nhờ, không bao giờ làm tổ mà chỉ tìm các tổ chim khác để đẻ. Chim tu hú là loài chim không ấp trứng và cũng không nuôi con, chúng đẻ trứng vào tổ chim khác chẳng hạn như một số loài chim chích đầm lầy thuộc chi Locustella. Ở Việt Nam tu hú thường đẻ vào tổ sáo sậu rồi cho sáo sậu ấp trứng nở và nuôi hộ con mình. Khi đẻ, tu hú chỉ đẻ một trứng duy nhất của nó trong tổ của nhiều loài chim khác nhau, kể cả tổ của các loài chim nhỏ. Thường con tu hú trống có nhiệm vụ bay vờn quanh tổ để thu hút sự chú ý của chim chủ nhà và cố tình dụ cho chim chủ nhà bay ra khỏi tổ đuổi, đánh lạc hướng cho tu hú mái vào đẻ một quả trứng của mình trong tổ.


 


Sau khi chim chủ của tổ chim đẻ trứng đầu tiên được một ngày rưỡi thì tu hú tìm cách đẻ trứng vào đó. Tu hú mái tìm một tổ chim chích đã đẻ trứng và ăn một quả trứng của loài chim này, sau đó đẻ vào đó một quả trứng khác. Quả trứng này có kính thước gần bằng của trứng chim chích với hoa văn rất giống khiến cặp đôi chim chích không thể nhận ra. Chim mái còn nhận biết và tính toán được cả thời gian mà trứng của chúng sẽ nở, con của tu hú sẽ nở trước hoặc ít nhất cũng bằng với các con chim chích. Trứng tu hú thường nở trước 2, 3 ngày so với trứng của chim chủ nhà


 


Để bảo đảm trứng của mình được chăm sóc, tu hú mái thường ăn trứng hoặc làm hư hại trứng của chim chủ rồi mới đẻ trứng của mình vào. Những đứa con của chúng sau này cũng sẽ làm hỏng trứng hoặc giết những đứa con trong tổ[4], sau thời gian ấp nhờ, mặc dù mới nở ra còn đỏ hỏn, nhưng tu hú con nhanh chóng dùng sức mạnh cơ bắp, đôi cánh và phần lưng để đẩy con chim chích non mới nở cùng những quả trứng còn lại văng ra khỏi tổ để độc chiếm nguồn thức ăn nuôi dưỡng bầy con của cặp chim chích bố mẹ. Nó lớn lên rất nhanh và suốt ngày kêu réo nguồn thức ăn từ đôi chim chích bố mẹ, tu hú non lớn nhanh như thổi, thậm chí thân hình còn to hơn cả bố mẹ nuôi. Đến khi đã đủ lông, đủ cánh, tu hú con sẽ bay đi, bỏ rơi kẻ nuôi dưỡng nó không một sự đền đáp[3].


 


Trong văn hóa


 


Chích sây nuôi con tu hú


 


Ở Việt Nam có câu chuyện "Sự tích chim tu hú" kể về hai người cùng cạo đầu xuất gia từ ngày còn trẻ và cùng tu ở một ngôi chùa hẻo lánh, một người được Phật độ cho thành chính quả nhưng người kia tên là Bất Nhẫn thì rất buồn bực. Quan Âm biết chuyện bèn thử thách lòng kiên nhẫn, cuối cùng người kia không vượt qua được và Quan Âm phán rằng "Nhà ngươi vẫn chưa thực tâm nhẫn nhục, như thế thì tu gì mà tu. Có tu hú". Phật bà Quan âm sau đó bắt Bất Nhẫn hóa thành một giống chim mà người đời sau quen gọi là chim tu hú, thứ chim đó vào khoảng cuối hè sang thu hay xuất hiện, đúng vào lúc xảy ra câu chuyện giữa Bất Nhẫn với Phật bà. Ở Việt Nam cũng có thành ngữ "tu hú đẻ nhờ".


 


Tên gọi của chúng còn có nhiều tranh cãi. Theo Đào Duy Anh thì đó là con chim tu hú vì Chim đỗ quyên hay chim quyên, vốn là chim tu hú, hay kêu về mùa hè. Từ điển Dictionnaire classique de la langue chinoise của F.S. Couvreur thì dịch là “coucou”, từ điển song ngữ Anh Việt hoặc Pháp Việt thường dịch cuckoo hoặc coucou thành chim cu cu, đây chính là con chim tu hú. Một bài hát mang tên Mùa Hoa Phượng Nở có nhắc đến loài chim tu hú: "Tu hú kêu, tu hú kêu, hoa gạo nở hoa phượng đỏ đầy ước mơ hi vọng. Tu hú kêu, tu hú kêu, mùa quả chín vào mùa thi, tình bạn trong sáng dưới mái trường. Ve ve ve, hè về, vui vui vui, hè về".


 


Wikipedia


 


Tham khảo


 


^ a ă Chim Đỗ Quyên là chim tu hú? - Tuần báo Văn nghệ - Liên hiệp các Hội Văn học-Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh


 


^ Payne, RB (2005). The Cuckoos. Oxford University Press.


 


^ a ă â b http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/chim-tu-hu-ba-me-bac-tinh-va-dua-con-sat-thu-3094076.html


 


^ a ă http://baodatviet.vn/doi-song/chuyen-chua-biet-ve-loai-chim-co-ban-nang-quy-du-3122788/


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cựu thủ tướng Hungary Miklos Németh: Không ai ngờ Bức màn sắt sụp đổ nhanh đến thế - Tư liệu sưu tầm 14.11.2019
Cố vấn Võ Văn Kiệt gặp mặt các nhà văn viết về Công nghiệp - Hà Văn Thùy 12.11.2019
Ba Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa - Tư liệu 08.11.2019
Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 Đoạn? - Trương Quang Nhuệ 08.11.2019
Cuộc xung đột âm thầm - Tư liệu sưu tầm 07.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (45) - Nguyễn Văn Khỏa 07.11.2019
Về chiếc bàn làm việc của Tổng thống Mỹ - Nhiều tác giả 07.11.2019
Charlie Chaplin và đàn bà… - Tư liệu sưu tầm 05.11.2019
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc: Cần tổ chức việc Di dân! - Antonio Guterres 05.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (44) - Nguyễn Văn Khỏa 01.11.2019
xem thêm »