tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29936217
Tiểu thuyết
26.09.2019
Vlastimil Podracký
Sodoma & Gomora


Lời tri ân xin được gửi tới bạn bè thân hữu, những người yêu mến đất nước, văn hóa Tiệp Khắc, ủng hộ động viên Do.honza và tập thể dịch giả.


Tất cả tạo nên động lực, ý chí quyết tâm giúp chúng tôi vươn lên mạnh mẽ, vượt qua chính mình để có được thành quả nhỏ bé này, một viên gạch đặt đâu đó trên bức trường thành hữu nghị Việt Nam – Tiệp Khắc.


           


Tặng gia đình thương yêu.


Cuốn sách được xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam - Séc


*Nhà tiên tri không có bạn bè nào khác, ngoài cái bóng của chính mình.


Prorok nemá nikoho, kromě vlastního stínu nemá druha. - Lot, Sodoma, khoảng 1760 trước Công nguyên.


 


Lời Tác giả


Tôi rất hân hạnh về việc ông Việt Dũng đã có lời đề nghị cộng tác và công việc của chúng tôi là được giới thiệu rộng rãi tới độc giả Việt Nam tác phẩm của bản thân mình. Tôi sẽ rất hài lòng nếu chúng mang đến cho độc giả sự mong đợi và mở rộng nhận thức về Cộng hòa Séc, những vấn đề mà đất nước tôi đang gặp phải. Tôi chắc chắn sẽ còn tiếp tục làm việc với ông Việt Dũng và mong sao các công dân Cộng hòa Séc cũng học được điều gì đó về Việt Nam ngày nay.


Tại Cộng hòa Séc có nhiều công dân Việt Nam sinh sống, những con người đang hòa mình rất tốt ở đây. Tôi gặp gỡ họ trong các khu chợ nơi người ta buôn bán những sản phẩm giá rẻ hợp lý của mình. Tất nhiên bây giờ, nhiều người có cả cửa hàng bách hóa riêng. Tôi chưa được biết trường hợp ai đó phàn nàn về người Việt Nam. Tôi chưa bao giờ nghe nói về người Việt Nam phạm tội bạo lực, còn các hành vi phạm tội chủ yếu là do không hiểu biết luật pháp quốc gia. Tất cả điều này trái ngược với khủng bố Hồi giáo và hành vi của một số dân tộc khác.


Người Việt Nam chưa bao giờ nhận được bất kỳ hỗ trợ xã hội nào từ nhà nước. Họ luôn tìm cách tự nuôi sống bản thân. Những đứa trẻ sinh ra ở đây là những học sinh xuất sắc trong trường học. Tôi cũng tin rằng người Séc không tẩy chay họ, người dân chúng tôi biết trân trọng công việc và cách cư xử đàng hoàng của họ.


Ngày nay, những người tị nạn từ các nước Ả Rập đến Châu Âu với những vấn đề lớn. Họ không muốn thích nghi trong việc ăn mặc hay thói quen nơi công cộng. Phần lớn không chịu làm việc và chỉ chờ nhận hỗ trợ xã hội. Tội phạm gia tăng không bình thường. Qua ánh sáng kinh nghiệm này, chúng tôi ngày càng đánh giá cao phép ứng xử của người Việt Nam.


Mặc dù khoảng cách địa lý và văn hóa cách xa, dân tộc Việt Nam và Séc có nhiều điểm chung. Lịch sử của họ không phải là lịch sử bành trướng và bạo lực. Thay vào đó là lịch sử đấu tranh để duy trì sự tồn tại và bảo tồn văn hóa của mình. Năm 1989, chế độ cộng sản đã sụp đổ ở Tiệp Khắc, dẫu được hỗ trợ bởi quân đội Liên Xô trong hai mươi năm cuối. Nhân dân chúng tôi coi đó là sự chiếm đóng và sự thống trị áp đặt của nước ngoài. Chế độ Cộng sản hạn chế tự do ngôn luận và đi lại, không hiệu quả về mặt kinh tế và không có khả năng cung cấp tiêu dùng cho xã hội như ở các nước Tây Âu kế cạnh. Sau khi chế độ sụp đổ, cách tiếp cận đối với các nước phương Tây này bắt đầu về chính trị và kinh tế. Hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước được tư nhân hóa và trả lại đất cho chủ sở hữu ban đầu của họ. Sau thời gian hỗn loạn, nền kinh tế đã ổn định và mức sống dần dần được nâng cao. Tuy nhiên, sự bắt kịp với các nước phương Tây vẫn còn ngoài tầm nhìn xa. Nguyên nhân phức tạp và khó giải thích hết ở đây.


Nhà nước chúng tôi đã gia nhập Liên minh Châu Âu, có nghĩa là mở cửa biên giới cho thương mại tự do và cũng cả cho di dân. Thật đáng tiếc, nhiều người, nhất là thanh niên lại bỏ ra nước ngoài nên quê hương thiếu nhân tài để phát triển kinh tế. Ngoài ra, các nhà máy công xưởng chủ yếu nằm trong tay các chủ sở hữu ngoại quốc và lợi nhuận chạy ra nước ngoài. Tôi hy vọng rằng quốc gia của chúng tôi sẽ có thể đối phó với những vấn đề này và ít nhất trong một thời gian ngắn hơn, chúng tôi sẽ tiếp cận được mức sống Tây Âu. Ở đây có những điều kiện tiên quyết tốt. Tất nhiên, so sánh với các quốc gia có tầm nhìn ở vị trí hàng đầu trong khuôn khổ thế giới, Cộng hòa Séc là một trong những quốc gia phát triển.


Bất chấp những khó khăn ngày nay, tôi coi việc vượt qua chế độ cộng sản là thời điểm quan trọng nhất trong lịch sử cuối thế kỷ thứ XX và là cơ hội để phát triển tự do hơn nữa. Không có sự thúc đẩy này, tôi thậm chí không thể viết những cuốn sách và giới thiệu chúng cho các bạn ngày hôm nay, bởi vì chúng sẽ không được chấp nhận trong chế độ cũ. Trên hết, những người bất đồng chính kiến phản đối vi phạm nhân quyền đã tham gia vào việc thay đổi chế độ và nhiều người đã bị cầm tù. Biểu tượng của sự phản kháng là nhà biên kịch Václav Havel và nhà triết học Jan Patočka.


Ngày nay, trong thế giới mở của văn hóa tiêu dùng phổ quát, cần phải giữ gìn sự độc đáo văn hóa dân tộc. Nó cũng là cần thiết để không phải chịu áp lực ngôn ngữ phổ quát. Nhưng thách thức lớn nhất là không ngừng theo đuổi dân chủ và tự do dân sự. Mọi nỗ lực cho nhân quyền, dân chủ và tự do dân sự sẽ trở nên vô ích nếu không duy trì một nhà nước tự do và độc lập. Trong đó, vai trò của dân tộc Séc và Việt Nam là tương tự nhau.


 


Câu chuyện trong cuốn sách của tôi Hiểm họa da vàng diễn ra vào thế kỷ thứ XXII, nhưng phản ánh những vấn đề ngày nay. Nó liên quan đến cuộc đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của Hồi giáo đã phát triển từ mối hiểm nguy Hồi giáo đương thời. Trên hết, nó thu hút sự chú ý đến hiểm họa này và cung cấp một hình ảnh về tương lai có thể mang lại. Đó cũng là một câu chuyện về âm mưu và chiến tranh.


 


Cuốn tiếp theo Nhân mạng cuối cùng mô tả câu chuyện về những người còn sót lại trong thiên niên kỷ thứ IV. Nhân loại chấm dứt sự tồn tại của mình trên cơ sở suy thoái sinh học, gây ra chính bởi cuộc sống phóng đãng mà không cần làm việc, lao động. Một nhóm người chống lại số phận này, cố gắng sống cuộc sống tự nhiên, họ không thành công và hai người cuối cùng còn lại – một nam và một nữ. Người đàn ông lên đường tìm kiếm con người trong rừng nguyên thủy, những người sống bên ngoài nền văn minh. Anh ta có tìm thấy họ không? Nhân loại sẽ được phục hồi?


 


Cuốn Sodoma và Gomora là câu chuyện từ một quá khứ xa xưa trên bờ Biển Chết, Palestin. Hai thành phố đã từng rất phát triển, hiện đại và cuối cùng bị phá hủy bởi một thảm họa tự nhiên. Theo Kinh thánh, câu chuyện này được mô tả là hình phạt của Chúa trời cho lối sống vô đạo đức của con người. Trong câu chuyện của tôi, có một nền văn minh rất tiên tiến ở những thành phố này, mặc dù chưa có những phương tiện kỹ thuật giống ngày nay, nhưng sống cuộc sống tương tự như chúng ta. Dần dần, sự vô đạo đức và suy đồi văn hóa len vào cuộc sống con người. Phụ nữ được giải phóng và không muốn có con cái. Một số cuộc cách mạng có nguồn gốc khác nhau và mục tiêu khác nhau, nhưng cuộc sống vô đạo đức vẫn phát tán ra. Xuất hiện những nhà tiên tri, cố gắng cứu vớt cho con người. Họ có làm được không?


 


 Vlastimil Podracký


 


Jsem velice potěšen, že mi pan Viet Dung nabídl spolupráci a že naší společnou prací budou předložena velkému vietnamskému národu moje díla. Budu velice rád, pokud přinesou čtenářům potěšení a rozšíření povědomí o České republice a problémech, které máme. S panem Viet Dungem budeme určitě dále spolupracovat a budu také rád, pokud se občané České republiky dozví něco o dnešním Vietnamu.


V České republice žije mnoho Vietnamců, kteří se zde velice dobře uplatnili. Setkával jsem se s nimi na tržnicích, kde prodávali přijatelně levné svoje výrobky. Nyní ovšem již mnozí vlastní obchodní domy. Neznám případ, že by si někdo na Vietnamce stěžoval. Nikdy jsem neslyšel o Vietnamci, který by spáchal násilný trestný čin, přestupky byly většinou z neznalosti našich zákonů. To vše kontrastuje s islámským terorismem a chováním některých národů.


Vietnamci nikdy nepobírali žádné sociální podpory od státu. Vždy se dokázali uživit sami. Děti, které se tu narodily, jsou vynikajícími žáky ve školách. Také se domnívám, že ze strany Čechů nedocházelo k nějaké ostrakizaci Vietnamců, myslím si, že naši lidé dovedou ocenit práci a slušné chování.


Dnes přichází do Evropy uprchlíci z arabských zemí, se kterými jsou obrovské problémy. Nechtějí se přizpůsobit ani v oblékání, ani ve svých zvycích na veřejnosti. Většinou nepracují a pobírají sociální podpory. Zločinnost se neúměrně zvýšila. Ve světle těchto zkušeností stále více oceňujeme chování Vietnamců.


Navzdory zeměpisné i kulturní vzdálenosti mají vietnamský a český národ mnoho společného. Jejich historie není historií expanze a násilí. Je to spíše historie boje za uhájení svojí existence a zachování své kultury. V r. 1989 padl u nás komunistický režim, který byl posledních dvacet let podporován sovětskými vojsky. Naší lidé to považovali za okupaci a vnucování cizí nadvlády. Komunistický režim omezoval svobodu projevu a pohybu, byl hospodářsky nevýkonný a nebyl schopen zajistit konzumní společnost, jako byla v evropských zemích na západ od nás. Po pádu režimu se začalo přibližování k těmto západním zemím politicky i hospodářsky. Byla provedena privatizace většiny státních průmyslových podniků a navrácena půda původním vlastníkům. Po určitém období hospodářského chaosu se podařilo hospodářství stabilizovat a postupně zvyšovat životní úroveň. Dohnání západních zemí je ovšem stále v nedohlednu. Příčiny jsou složité a je obtížné je zde vysvětlovat.


Náš stát se zařadil do Evropské unie, což znamenalo otevření hranic pro volný obchod a také přesun lidí. Bohužel odchází stále mnoho zvláště mladých lidí do ciziny a ti potom schází doma k povznesení ekonomiky. Taktéž podniky jsou většinou v rukou zahraničních vlastníků a zisky odchází do ciziny. Doufám, že se náš národ dovede s těmito problémy vyrovnat a v nějaké kratší době se alespoň přiblížíme úrovni zemí západní Evropy. Jsou k tomu dobré předpoklady. Samozřejmě, že srovnání se státy, které leží v dohledu, je vždy na prvním místě, ve světovém měřítku patří Česká republika k vyspělým zemím.


Přes všechny dnešní obtíže považuji překonání komunistického režimu za nejdůležitější okamžik dějin konce dvacátého století a příležitost k dalšímu svobodnému rozvoji. Bez tohoto impulsu bych nemohl napsat ani tyto knihy a dnes Vám je předkládat, protože ve starém režimu by byly nepřijatelné. Na změně režimu se podíleli především disidenti, kteří protestovali proti porušování lidských práv a mnozí byli vězněni. Symbolem odporu byl dramatik Václav Havel a filosof Jan Patočka.


V současné době je zapotřebí zachovat si v otevřeném světě univerzální spotřební kultury reklam a šotů jedinečnost svojí národní kultury. Taktéž je zapotřebí nepodléhat univerzalistickým jazykovým nátlakům. Ale největší výzvou je stálá snaha o zachování demokracie a občanských svobod. Veškerá snaha o lidská práva, demokracii a občanské svobody by byla zbytečná bez zachování svobodného a nezávislého postavení státu. V tom je role českého a vietnamského národa obdobná.


 


Příběh v mojí knize Žluté nebezpečí se sice odehrává ve dvacátém druhém století, odráží ovšem dnešní problémy. Pojednává o boji proti islámské okupaci, která se vyvinula z dnešního islámského nebezpečí. Má především upozornit na toto nebezpeční a poskytnout obraz budoucnosti, který toto nebezpečí může přinést. Je to zároveň příběh konspirace a války.


 


Další kniha Poslední člověk popisuje příběh posledních lidí ve čtvrtém tisíciletí. Lidstvo končí svoji existenci na základě biologické degradace, kterou si zapříčinilo samo především pohodlným životem bez práce. Skupina lidí, kteří se vzepřou tomuto osudu a snaží se žít přirozeným životem, neuspějí a zůstávají poslední dva – žena a muž. Muž se vydá hledat do pralesa lidi, kteří žijí mimo civilizaci. Najde je? Obnoví se lidstvo?


 


Kniha Sodoma a Gomora je příběh z dávné minulosti na březích Mrtvého moře v Palestině. Tato dvě města byla kdysi velmi vyspělá a posléze byla zničena přírodní katastrofou. V Bibli je tento příběh popsán jako Boží trest za jejich nemravnost. V mém příběhu je v těchto městech velmi vyspělá civilizace, která sice nemá ještě dnešní technické prostředky, ale žije životem podobným našemu. Postupně se do života lidí dostávají nemravnosti a úpadek mravů. Ženy jsou emancipované a nechtějí mít děti. Nastává několik revolucí, které mají různý původ a různé cíle, nicméně nemravný život se rozrůstá. Vystupují proroci, kteří se snaží lid napravit. Podaří se jim to?


 


Thiên đàng (các từng trời) rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Bầu trời giải tỏ những tác phẩm do chính tay Ngài tạo ra... Rồi sẽ qua đi, nhưng Chúa ơi, ngươi sẽ vẫn còn đó… và tất cả giống như  y phục được ngươi cuộn lên và rồi cũng sẽ thay đổi. Nhưng ngươi vẫn là vậy và năm tháng thời gian của ngươi sẽ không bao giờ dừng lại. (Thi thiên 19,1)


 


Ca sĩ Cựu Ước hát Thánh Vịnh nhìn thế giới - vũ trụ - như một dải y phục, từ mép rìa đến tận cùng của vũ trụ.


Một chất liệu tương tự như da thuộc, giấy cuộn cũng từng được viết lên.


Thế giới thiên nhiên phát triển giống cuốn sách trải rộng vào không gian, vô cùng rộng lớn, cho tới khi lại được cuộn vào, sẽ đưa đến kết luận...


Tựa như toàn bộ trật tự vũ trụ được so sánh bởi Thi thiên tới một cuộn sách mở ra (y phục, sách), do vậy có thể nói rằng, mỗi cuộc sống nhân sinh đơn thể cũng có khởi đầu tồn tại, theo thời gian của mình đến hồi kết và thay đổi. Đối với con người, một sinh vật không chỉ sở hữu thể chất mà còn cả thành phần tinh thần và tâm linh, mở ra thông qua cái chết thực thể của mình tới vĩnh hằng. Thời cổ đại đã chứng kiến sự phản chiếu của mỗi nhân mạng - và đó là vô lượng - trong vô số những vì sao thấy trong màn đêm trên đầu.


Tuy nhiên, cùng với "những cuộn giấy" nhân sinh, "những cuộn giấy" về môi trường nơi con người trú ngự cũng thông qua lịch sử đồng hành. Những gì được trao cho cuộc sống, những gì được tu luyện, hoặc cả hủy hoại bất hợp lý và bi thảm, khắc sâu trong đó và vì nó gánh vác trách nhiệm trước người hiến tặng sự sống. Trên "những cuộn giấy" như vậy con người ghi chép vào "những cuộn giấy" cuộc đời mình. Nhân danh cá nhân cũng như tập thể.


Luật lệ đạo đức, la bàn trách nhiệm với bản thân và thế giới, được ghi vào trái tim. Nếu ngươi im lặng trong chính mình và bây giờ viện cớ, thì vấn đề là ở chỗ: Ngươi sẽ không buộc được người khác im lặng những điều đó trong cuốn ghi chép Mặc khải.


Tông đồ Paul đã cảnh báo các Kitô hữu ở Rô-ma, sao cho "đừng dồn nén sự cứng nhắc, khắc nghiệt và không sám hối của mình, nghĩ tới cơn thịnh nộ Chúa trời cho ngày hành xử, khi tới ngày hiển hiện phiên tòa phán xét công minh của Chúa trời" (Roma 2,5).


Với thành phố Roma, hãy cùng nhớ lại, từng được gọi là "Babylon" hai ngàn năm trước, đã sống như những thành phố cổ được nói đến trong câu chuyện từ cuốn sách ngươi đang mở ra, những thành phố bị hủy diệt, Tại sao vậy?


Bởi "Chúa trời đã trao chúng vào tay quyền lực của những đam mê xấu xa. Những người vợ của họ đã thay đổi cách quan hệ, giao hợp tự nhiên thành không tự nhiên, ngay cả đàn ông cũng bỏ qua mối quan hệ tự nhiên này với phụ nữ và họ thổi bùng lên những ham muốn với nhau, đàn ông với đàn ông làm điều đáng xấu hổ và do đó tự chuốc nhận lấy đòn trừng phạt xứng đáng cho sự ngộ nhận, lệch lạc của mình. Bởi vì họ không biết trân trọng quý lẽ thật hiểu biết về Đức Chúa trời, Thiên Chúa đã bỏ mặc họ làm mồi cho tâm trí biến thái, làm những điều không đáng. Trong họ đầy ắp sự gian dối, hèn hạ, đốn mạt, lừa phỉnh, keo kiệt, tệ hại, những kẻ khoe khoang, xu nịnh. Bầy đặt những điều tồi tệ, không lắng nghe cha mẹ, không biết điều, không biết cách nhún nhường bất cứ ai, họ không có tình yêu hay lòng thương xót. Họ vẫn biết quyết định công chính của Chúa trời về việc những kẻ làm như vậy đáng chết; và họ không chỉ làm như vậy mà còn chấp thuận cả cho những người khác làm như vậy“ (Roma 1,26 - 32)


Cuốn sách nhắc nhở chúng ta, tất cả những gì đã và vẫn sẽ được nói đến. Tới những suy ngẫm và cảnh báo. Nó thực sự là một "thông điệp của thời xa xưa" khuyến dụ tới ngày nay.


 


Prof. Prot. ThDr. Pavel Aleš


Prešovská univerzita, 2009


 


Nebesa vypravují slávu Boží a díla rukou, jako hlásá obloha... Ona pominou, ty však, Bože, zůstáváš... A všecka jako oděv svineš je a změněna budou. Ale ty jsi stále tentýž, a léta Tvá nepřestanou. (Žalm 19,1)


 


Starozákonní pěvec žalmů vidí svět – kosmos – jako rozprostřený pás oděvu, od kraje až po konec vesmíru.


Na podobný materiál z kůže, svitek, se také psalo.


Svět přírody je rozvinut jako nesmírně obrovská, do vesmíru rozprostřená kniha, která, až bude svitek opět zavinut, dospěje k završení.


Jako je celý kosmický řád přirovnáván žalmistou k rozvinutému svitku (oděvu, knize), tak lze i říci, že také každý individuální lidský život má svůj začátek bytí a dospěje ve svůj čas ke konci a změně. Protože jde o člověka, tedy bytost obdařenou nejen hmotným tělem, nýbrž také duševní a duchovní složkou, odvine se přes svou tělesnou smrt k věčnosti. Starověk spatřoval odzrcadlení každé lidské bytosti – a těch je nesčíslný počet – v nespočtu hvězd, které vidíme za noci nad hlavou.


Avšak spolu se „svitky“ člověčími, putují dějinami též „svitky“ o prostředí, které člověk obývá. Co bylo dáno k životu, co kultivuje, anebo nerozumně a tragicky i ničí, je v nich vyryto, a za to se nese zodpovědnost před dárcem života. Na takové „svitky“ se vpisuje člověk „svitky“ svého života. Osobně, ale i kolektivně.


Mravní zákon, kompas zodpovědnosti za sebe a svět, je člověku vepsán do srdce. Jestli jej v sobě umlčel a nyní se vymlouvá, věz: neumlčíš jej ve svitku zapsaného Zjevení.


Apostol Pavel napsal křesťanům do Říma varování, aby si „nestřádali svou tvrdostí a nekajícností myslí Boží hněv pro den hněvu, kdy se zjeví spravedlivý Boží soud“ (Řím 2,5)


To město Řím, připomeňme si, bylo před dvěma tisíci lety označováno za „Babylon“, neboť žilo podobně jako ona starověká města, o kterých hovoří příběhy v knize, kterou otevíráte, města postižena zkázou, Proč?


Protože „Bůh je vydal v moc hanebných vášní. Jejich ženy změnily přírozený styk za nepřírozený a stejně i muži zanechali přírozeného styku s ženami a vzplanuli žádostí jeden k druhému, muži s muži provádějí hanebnosti a tak sami na sobě dostávají zaslouženou odplatu za svoji zcestnost. Protože si nedovedli vážit pravého poznání Boha, dal je Bůh na pospas zvrácené mysli, aby dělali, co je nesluší. Jsou plní nepravosti, podlosti, lakoty, špatností, jsou zpupní, nadutí chlubiví. Vymýšlení zlé věci, neposlouchají rodiče, nemají rozum, nedovedou se s nikým snést, neznají lásku ani slitování. Vědí o spravedlivém rozhodnutí Božím, že ti, kteří tak jednají, jsou hodní smrti; a přece nejenže sami tak jednají, ale jiným také takové jednání schvalují“ (Řím 1,26 – 32)


Tato kniha Vám připomene vše to, co bylo řečeno a ještě bude. Je k zamyšlení a varování. Je to opravdu „poselství dávných časů“ promlouvající k dnešku.


 


Prof. Prot. ThDr. Pavel Aleš


Prešovská univerzita, 2009


 


 


Đôi lời với bộ ba tiểu thuyết


của Vlastimil Podracký và bản dịch sang tiếng Việt


 


Mgr. Lukáš Musil, Phó Đại sứ Cộng hòa Séc tại Việt Nam


 


Các bản dịch và tác phẩm văn học của tác giả Séc sang tiếng Việt ở nhiều thể loại đã có truyền thống tại Việt Nam. Điều có được chủ yếu nhờ các dịch giả trong đó có ông Honza. Những cuốn sách tuyển chọn để dịch lần này là bộ ba (trilogy) tiểu thuyết của nhà văn Vlastimil Podracký có thể gây cảm xúc, tranh cãi, chỉ trích và đưa ra một số câu hỏi trong độc giả. Nhưng đó lại là lý do tại sao sách báo và văn học tồn tại. Nó có thể không buộc và không làm tất cả mọi người thích thú và chúng ta trong mọi lĩnh vực không nhất thiết phải đồng tình với các tác giả. Nhưng chúng ta nên luôn luôn bảo vệ quyền tự do thể hiện bản thân và không kiểm duyệt, đạo luật đã là một phần không thể thiếu của đất nước chúng tôi kể từ khi hình thành nhà nước Cộng hòa Séc.


Các tác phẩm giả tưởng (Sci-fi) bàn luận về tương lai có thể, theo tác giả dựa trên các vấn đề của hiện thực gai góc, nóng bỏng, ngày nay là các chủ đề chính trị hóa cao như di cư hoặc tôn giáo. Cho đến lúc này, nhiều vấn đề liên quan đến các chủ đề được đưa ra thảo luận, thường không chính xác, có ý đồ và không chỉ ở Cộng hòa Séc mà còn bởi những người không biết nhiều về nó. Họ không cảm nhận được các quốc gia khác hành sự ra sao, xu hướng về đâu, thường là không đến bất kỳ quốc gia nào khác biệt về văn hóa, chưa bao giờ nói chuyện với bất kỳ ai từ một nền văn minh khác và trên hết họ sợ những điều chưa biết, không bao giờ diễn ra. Mặt khác, họ không nhận ra rằng di cư là một đặc điểm tự nhiên của loài người trong suốt lịch sử hình thành, hầu như không có ngoại lệ đối với tất cả các quốc gia. Nỗi sợ hãi thường được tạo ra và nuôi dưỡng có chủ đích. Từ kinh nghiệm của bản thân, tôi hiểu rằng vấn đề chỉ là người tốt và xấu, ác ý hay thiện chí, chứ không phải đất nước, tôn giáo hay văn hóa. Trong mọi lĩnh vực kia, tất cả là yếu tố con người.   


Có lẽ không ai trong chúng ta có quả cầu pha lê và không thể dự đoán hoàn toàn chính xác tương lai, bộ ba tiểu thuyết của Vlastimil Podracký trong trường hợp này rất táo bạo và rất dễ đọc. Việc có thể tự do sáng tác, xuất bản, chiêm nghiệm và tự do phản ánh về tương lai ở đất nước chúng tôi là kho báu lớn nhất, ngày nay gần gũi đối với nhiều người. Chúng ta không nên coi điều như vậy là đương nhiên vì vậy càng cần phải trân trọng nó. Tôi tin rằng những bản dịch tiếp theo của ông Honza từ các tác giả khác sang tiếng Việt sẽ giúp truyền bá hơn nữa văn học Séc tại Việt Nam. Việc độc giả Việt Nam có yêu thích những cuốn sách này hay không sẽ tùy thuộc vào đánh giá của mỗi người.


 


K trilogii Vlastimila Podrackého a překladu do vietnamštiny


 


            Překlady českých autorů a knih do vietnamštiny v různých žánrech, mají ve Vietnamu tradici. Je tomu tak zejména díky překladatelům, jakým je pan Honza. Knihy, které si  k překladu zvolil tentokrát, tj. trilogii spisovatele Vlastimila Podrackého, mohou v některých čtenářích vzbuzovat kontroverze, emoce, kritiku a vyvolávat řadu otázek. Od toho však knihy a literatura jsou. Nemusí a nemohou se líbit všem a nemusíme s autory ve všem souhlasit. Vždy bychom ale měli střežit právo svobodně a bez cenzury se vyjadřovat, právo, které je nedílnou součástí naší země od vzniku České republiky.


Sci-fi knihy pojednávají o možné budoucnosti, dle autora vychází z problémů přítomnosti a ožehavých, dnes vysoce zpolitizovaných témat, jakými jsou migrace či náboženství. O celé řadě věcí souvisejících s těmito, dnes tolik diskutovanými tématy je, nejen v České republice, referováno často nepřesně, účelově a lidmi, kteří o dané problematice mnoho neví. Nemají tušení, jak jiné země fungují, kam směřují, často nenavštívili žádnou jinou, kulturně odlišnou zemi, nikdy nemluvili s nikým z jiného civilizačního okruhu a více než z čehokoliv jiného, mají strach z neznámého, které však nepřichází. Na druhé straně si neuvědomují, že migrace byla po celou historii lidstva jeho naprosto přirozeným rysem, pro všechny země prakticky bez výjimek.  Strach je často účelově vytvářen a přiživován. Z vlastní zkušenosti vím, že jsou to jen a jen lidé, kteří jsou dobří nebo špatní, zlí nebo přející. Nikoliv země, náboženství, či kultury. V každé z těchto je to jen a pouze o lidech.


Asi nikdo z nás nemá křišťálovou kouli a neumí budoucnost zcela přesně předpovídat, trilogie Vlastimila Podrackého je v tomto odvážná a velmi čtivá. Skutečnost, že můžeme v naší zemi svobodně psát, publikovat, uvažovat a o budoucnosti svobodně přemítat, je tím největším pokladem, který je pro mnoho lidí dnes naprosto samozřejmý. Neměli bychom toto za samozřejmé považovat a o to více je potřeba si toho vážit. Věřím, že další z překladů pana Honzy a dalších autorů do vietnamštiny pomůže k šíření české literatury ve Vietnamu. Zda si knihy vietnamští čtenáři oblíbí či nikoliv, nechme jen a pouze na jejich posouzení.


 



(còn tiếp)


Nguồn: Sodoma & Gomora. Tiểu thuyết giả tưởng của nhà văn CH Séc


Ing. Vlastimil Podracký (Sci-fi 2009). Xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam – Séc.


Những người dịch: Nguyễn Kim Phụng (Azis Nektar),Đỗ Ngọc Việt Dũng, MSc. (Do.honza) và Ngô Khánh Vân, DrSc. Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 2019.


Dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng gửi www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
xem thêm »