tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29935646
Tiểu thuyết
26.09.2019
Vlastimil Podracký
Sodoma & Gomora


Đời sống lưu vong


Cuộc gặp gỡ đông đảo toàn dân thành phố Soár, mà người ta gọi là họp hành và hội nghị, diễn ra sau sự kiện khoảng một năm, để làm rõ các vấn đề sở hữu tài sản. Bản thân thành phố ít bị ảnh hưởng bởi trận động đất thảm khốc, mặc dù hầu hết các tòa nhà xuất hiện một số vết nứt trên tường, nhưng chỉ một số sụp đổ. Người chết không nhiều. Đó là sự khác biệt lớn so với thành phố lân cận Sodom và Gomorrah, hoàn toàn biến mất khỏi bề mặt, cháy rụi và chìm vào lòng đất. Náo loạn cũng xuất hiện ở Soár, các băng nhóm tội phạm kéo qua thành phố, cướp giật những gì có thể. Lúc này lòng can đảm công dân trong chính mỗi bản thân cần thể hiện ra, cùng nhau thành lập các đơn vị vũ trang từ cộng đồng, đối phó với những băng cướp, bởi các cựu chiến binh đánh thuê đã biến chất sau thảm họa thành những tên cướp, vì nhận thức rằng, đâu còn phụ cấp từ thành phố, làm gì có tiền trả cho chúng.


Sau một vài tháng, khi tất cả quyền hành nằm trong tay mình, theo hiến pháp chính quyền quân sự, người ta tổ chức bầu cử và bàn giao quyền lực cho cuộc gặp gỡ các bậc cao niên được bầu ra – tức Hội đồng, thảo luận các vấn đề cấp bách nhất: Phân chia lại tài sản, thanh toán hỗ trợ cho các nạn nhân bị ảnh hưởng trận động đất và đặc biệt cho các gia đình binh sĩ hy sinh, kể cả cho bản thân những người lính chiến. Họ chờ đợi ngoài hành lang phía sau phòng các vấn đề xã hội, từng lúc va đập vũ khí để minh chứng rõ ràng việc bồi thường đóng vai trò như thế nào. Tất nhiên Hội đồng không có tiền. Soár là thị trấn khá nhỏ, không quan trọng và không có nhiều thu nhập, ngân quỹ gần như trống rỗng bởi cần ưu tiên sửa chữa đường giao thông, các khu nhà máy ngay sau khi xảy ra thảm họa, sao cho thương mại không bị ngưng trệ và thiệt hại không lớn hơn nữa. Thị trưởng mới được bầu, Shemesh là thành viên lâu năm của Hội đồng và thị trưởng không thường trực trước đây của thị trấn. Bất chấp áp lực từ hành lang, cuộc họp được tiến hành để giải quyết các vấn đề công tâm. Ngay trong lời mở đầu, ông tuyên bố: "Tiền không có, chúng ta sẽ bù đắp bằng đất đai cho các anh hùng, sẽ không ai quên các bạn," ông hướng tới hành lang. "Trước tiên chúng ta phải giải quyết vấn đề đất đai." Đó là vấn đề nguyên tắc nhưng không phải hiện tại mà là lịch sử lâu dài. Phần lớn đất đai đã bị cư dân thành phố giàu có xứ Sodom và Gomorrah gom mua trong những thập kỷ gần đây.


Người Soár phần lớn là công nhân lao động được trả lương ít ỏi từ các doanh nhân Sodom và Gomorrah, toàn bộ vùng đất màu mỡ xung quanh Soár chỉ còn là vựa lúa mì của hai thành phố lớn kia. Mọi người đều biết, đó là lỗi của Hội đồng tiền nhiệm, khi đưa ra các điều luật tồi tệ. Những người quyết định, để đất có thể bán, thường lại sở hữu đất và muốn bán nó cho những người kia với điều kiện rất thuận lợi, mà các doanh nhân ngoại bang đề xuất. Phương thức mua bán như vậy có nghĩa là tạo cho họ lợi tức suốt đời trong an nhàn. Sau này, các cư dân Soár khác bị chèn ép, đành di cư đến một trong những thành phố giàu có đó. Khi Sodom a Gomorrah chìm xuống lòng đất và vượt qua những khó khăn phục hồi thành phố, nhiều người Soár nhìn từ đỉnh vách đá dựng đứng xuống các địa điểm đang nghi ngút khói, nơi từng là thành phố giàu có, với một sự hài lòng nào đó, rằng họ đáng phải chịu, bởi đó là những kẻ tống tiền và ích kỷ. Nhưng hình ảnh ngay tiếp theo là những thung lũng mềm mại sắc màu rực rỡ, trên bề mặt phủ lớp sóng lúa mì. Phải làm gì với đất này? Thành phố tổ chức vụ thu hoạch đầu tiên, phân phối lúa mạch tới những người bị thiệt hại và binh sĩ. Nhưng sau đó là gì? Những kẻ tống tiền đâu còn sống!


Shemesh ngay lập tức đệ trình dự thảo đầu tiên: "Tôi đề nghị, mong chúng ta đồng thuận việc đất đai của các chủ sở hữu là dân Sodom và Gomorrah sẽ thuộc về thành phố." Ông ngừng lại để lời nói của mình gây tác động. Tiếng ồn ào vang lên trong hội trường, rồi thay bằng tiếng la hét đồng tình: "Đúng rồi, những kẻ tống tiền đã bị thiêu chết, đất đai là của chúng ta..."


Khi tiếng ồn lắng xuống, Shemesh tiếp tục: "Theo hiến pháp của chúng ta, những ai không làm ruộng trong một năm và không có lý do thuyết phục, sẽ mất quyền của mình... Thành phố có thể mua đất với mức giá, theo thông lệ." Song ông nhanh chóng bổ sung: "Nhưng những lý do đó phải thực sự nghiêm túc. Và chúng ta đang có nó ở đây. Các chủ sở hữu của vùng đất này đã chết và không để lại hậu duệ. Trong trường hợp này, bất kỳ tài sản nào cũng thuộc về thành phố. Chúng ta không cần phải chờ đợi nếu ai đó lại đột nhiên xuất hiện, cái chết của họ rõ ràng giữa ban ngày. Nếu không phải như vậy, thì sau này cần xem xét đặc biệt cho trường hợp đó, Hội đồng sẽ đưa ra quyết định riêng."


"Thu hồi tất cả của chúng đi!" - Khu hành lang vang dội tiếng hô. "Họ không xứng đáng tý nào vì hành vi tống tiền của mình."


Tuy nhiên, Shemesh có ý đề cập đến trường hợp cụ thể. Đó là người họ hàng xa của mình, ông già Kesulot, người đến đây sát ngay trước thảm họa từ Gomorrah, ở lại trong ngôi nhà của ông và sau tất cả các sự kiện đã không thể quay trở về. Ông sở hữu ở đây một mảnh đất nào đó. Sẽ là điều tốt, nếu nó được giữ lại cho ông ta.


"Chỉ có hai trường hợp thôi," Shemesh tiếp tục, "một là trường hợp ông Lot từ Sodom, mặc dù sống sót, nhưng đã biến mất không chăm sóc đất đai, trồng trọt, thứ hai là ông già Kesulot mà các vị đã biết, nhà tiên tri và là một người rất nổi tiếng, giúp đỡ mọi người bằng sức lực nhỏ bé của mình. Ông làm ruộng và sống cùng chúng ta.”


Tất cả im lặng. Divan, Phó Chủ tịch Hội đồng nhảy vào: "Tất nhiên chúng ta tính tới cả Kesulot, nói cho cùng, có gốc từ Soár, đúng hơn là tổ tiên của ông và sẽ lại trở thành công dân thành phố chúng ta."


Mọi người đều nhớ đến ông già, người tiên đoán, thúc giục họ không bắt chước cuộc sống của dân chúng Gomorrah và đưa ra những lời khuyên tốt cho nhiều người. Thành phố cần một nhân vật như vậy. Shemesh nhìn bao quát quanh thấy quan điểm nhất quán, vì vậy ông cho tiến hành bỏ phiếu. Tất cả được thông qua như những gì đã đưa ra.


Điểm tiếp theo là sự phân bổ đất đai. Việc quyết định tồi tệ hơn, kéo dài tới đêm mà vẫn không kết thúc được.


 


Khi phê duyệt xong vấn đề về Kesulot, một phụ nữ da thẫm màu không được để ý lắm với bé sơ sinh trên nách và một bé trai năm tuổi trong tay từ phía sau đám đông tách ra, vội vã đi khỏi thành phố.


Trên bờ vực vách đá dựng đứng, bên dưới là đống đổ nát khổng lồ với những tảng đá lớn trộn lẫn, tàn tích của thành phố đã bị hủy diệt, một ông già ngồi trên tảng đá. Ông nhìn sâu thẳm vào mặt biển xa xa, tại đó lô nhô các ngọn núi, mình oằn xuống, nhưng thị lực sắc bén. Không nghĩ ngợi về số phận của mình mà tự cân nhắc hình phạt của Chúa. Luôn luôn và luôn luôn nhớ tới những thói quen trong cuộc sống của các thành phố bị hủy hoại mà Chúa có thể coi là thế giới nguy hiểm. Điều gì thực sự xảy ra nếu tất cả mọi người trên thế giới sống như tại Sodom hoặc Gomorrah? Sau tất cả, đó là một xã hội tươi đẹp mà! Chúa không muốn một cuộc sống hạnh phúc như vậy cho con người sao? Người đời vẫn luôn chỉ phải chịu khổ sở mãi sao?


Lần đó, ngay sau khi thảm họa xảy ra, Lot cùng hai cô con gái chạy tới nhà Shemesh ở Soár, nơi Kesulot cũng thường đến chơi và thông báo sự tàn phá ở Sodom như một nhân chứng. Lot luôn tiên đoán về sự hủy diệt của cả hai thành phố, nhưng Kesulot hầu như không tin tưởng điều đó. Khác với Lot, ông không cho rằng cuộc sống của họ là vô đạo đức. Trước đó, ông đã nghi ngờ về sự xuống cấp của công dân cả hai thành phố, nhưng sau khi xảy ra tàn phá thì điều đó là khá rõ ràng. Lot đã đúng. Chúa trời đã phá hủy thành phố vì cuộc sống đồi bại của những người trong đó. Vì vậy, sau này ông tuyên truyền cho các công dân Soár, đừng vô tình lấy lại cảm hứng cuộc sống trước đây của các thành phố này. Ông chỉ trích một số cách sống tại Soár, mà theo ông tương tự như tại Gomorrah. Nhờ thế, ông được coi là một kiểu nhà tiên tri gì đó. May mắn thay, những người Soár thù ghét dân Gomorrah đã đồng ý với ông. Một cái gì đó khác là tất nhiên, sao cho không bắt chước những thói quen của họ và thực sự thực hiện ý muốn của Chúa trời. Nhiều khi Kesulot tự nhận thức được mình như thế nào với quan điểm của chính mình. Ông nhớ lại những lời tiên tri của Lot: "Nhà tiên tri," lúc bấy giờ Lot nói về bản thân mình, "không có bạn đồng hành nào khác, ngoài cái bóng của chính mình. Không ai hiểu ông ta hết."


Càng nhìn đau đáu vào những tàn tích của thành phố quê hương mình, ông càng thấm thía, thấm thía thêm nữa cuộc sống tồi tệ của xứ Gomorrah, mà trước đây chưa quan sát thấy. Nhiều hơn và nhiều hơn nữa, giống như việc Chúa trời gợi ý ông những suy nghĩ về cách giải thích sao cho thấu hiểu những điều xấu xa của Sodom và Gomorrah, mà người dân được Chúa trời tha mạng, không bị bỏ lọt qua.


Phía trên vang lên giọng nói quen thuộc: "Kesulot, anh Kesulot ơi!" Một người phụ nữ theo sườn dốc, ôm đứa trẻ nhỏ trong tay chạy tới phía ông. Kesulot nhìn lên. Đúng, đó là người vợ Soár của mình, thực ra cô là nữ tỳ có nguồn gốc từ Ai Cập, mà ông mua về, để phục vụ mình. Lúc này cô chạy tới với đứa con trai hai tháng tuổi của họ. Đứa con nuôi lớn hơn đã được Kesulot mang thoát khỏi Gomorrah trước khi xảy ra thảm họa, được cô để đứng trên dốc.


Chắc sẽ có gì đó quan trọng, Kesulot tự nhủ, khi thấy cô vội vã như vậy. "Cẩn thận em ơi, đừng vấp vào đâu đó, bao nhiêu lần anh đã nói với em không chạy khi bế con." Người phụ nữ còn trẻ và vẫn cư xử giống như một cô gái.


Sau lời nhắc nhở của ông, cô chậm lại và bắt đầu kêu lên: "Anh Kesulot ơi, tốt rồi, người ta đã phê duyệt cho anh các mảnh ruộng, nó sẽ là của anh, họ không lấy mất của anh... Đó là điềm lành, anh sẽ mua cho em một chiếc áo dài mới."


Đó thực sự là tin vui cả đối với Kesulot. Ông sẽ có thêm tiền. Với khoản cứu thoát được từ Gomorrah, ông đã mua căn nhà và không còn gì để mua sắm thêm nữa. Lúc này cần chăm lo một vài dịch vụ và tương lai của vợ con. Nhưng quan trọng nhất, ông có thể mua cuộn giấy ghi chép lên đó tất cả. Ông sẽ truyền lại cho thế giới minh chứng về cách sống, mặc dù có đẹp đẽ đấy nhưng không được Chúa trời chấp thuận.


 


 


Cuộc sống thiên đường Gomora


 


Ngày thường của Kesulot nơi thiên đường


 


Luôn như vậy, cả hôm nay Kesulot cũng thức dậy khi mặt trời đã lên cao và tỏa sáng vào tiền sảnh. Ông nhìn đồng hồ mặt trời, đã đến lúc làm một việc gì đó. Chẳng mấy chốc cuộc gặp gỡ đông người bắt đầu, tôn vinh những anh hùng và những người sáng lập, đem hiến pháp đến cho thành phố. Là một công dân quan trọng, ông phải tham dự. Nhanh chóng cởi tung chiếc áo choàng trong nhà, ông chạy đến hồ bơi giữa tiền sảnh. Ở đó, ông gặp vợ mình. Shura ngồi bên mép hồ bơi, đá chân vào nước. Đồng thời chỉnh sửa móng tay bằng việc mài, cọ vào đá thô nhám. Khi ông chào từ xa, cô rút chân ra khỏi nước, đứng dậy. "Salamo," cô đáp lại, đi tới phía chồng. Họ hôn nhau lên má. Cô đã tắm xong, thơm phức, bộ ngực mát lạnh.


"Hôm nay chúng ta đi dự lễ kỷ niệm ngày các anh hùng," ông nói giống như đặt câu hỏi.


Shura cau mày. "Thật chán chết," cô nói. Ở khoảng cách gần ông nhận ra vợ đã có các nếp nhăn. Cô chỉ khoảng bốn mươi. Cho đến nay vẫn đẹp và chỉ cần nhìn hơi xa một chút chẳng khác gì các cô gái trẻ. Đó là vợ hai của Kesulot.


"Em không đi với anh thì sao?" Cô nói với giọng khẩn khoản như van nài.


Kesulot không thể từ chối vợ mình bất cứ điều gì. Đó quả là điều ngu ngốc, những người khác chắc hẳn sẽ tham dự cùng vợ của mình, nhưng biết làm sao bây giờ. Có một sự khác biệt gần ba mươi năm giữa họ và ông không thể muốn vợ luôn đồng ý với mình. Cô ấy hành động theo tuổi tác của bản thân.


Ông tắm nhanh, bước ra khỏi bể bơi, lau người bằng khăn, soi vào tấm đồng được đánh bóng, hướng về phía mặt trời. Với ánh sáng đầy đủ, khuôn mặt ông hiện rõ trên tấm đồng. Không thể cạo nổi râu nữa, thợ cắt tóc chắc cũng không kịp. Nhưng trông không tệ quá. Râu của ông màu xám còn khuôn mặt khá trắng, vì vậy từ xa chúng dường như không thể nhìn thấy được.


Tiếp đó, ông đi đến phòng mình kéo bức màn phía sau treo quần áo. Họ không có người giúp việc, trước đây ông đã thỏa thuận với Shura rằng điều đó là vô nghĩa. Trước chỉ có lao công nữ Dázár ở đây, nhưng thật kinh khủng. Không biết làm việc, mọi thứ phải được chỉ bảo và liên tục kiểm soát, họ hôi hám và thậm chí nghe nói hay ăn cắp. Do vậy tất cả các dịch vụ đều được đặt hàng.


Lúc này ông nhìn thấy từ cửa sổ chiếc xe kéo đã đặt để đưa mình đến Cuộc gặp gỡ đại chúng dừng trước nhà. Ông gọi, kêu họ chờ một lát.


Mặc chiếc áo choàng dài với những sợi chỉ dệt vàng, ông đi đôi giày cao gót được dát bằng những chiếc đĩa bạc rồi chạy xuống cầu thang. Ở tuổi của mình, ông rất nhanh nhẹn, hoạt bát chẳng thấy mệt mỏi, đau đớn là gì nếu không phải làm công việc vất vả nào. Bước lên chiếc xe hai bánh với khoang mở được kéo bởi hai người đàn ông Dázár. Họ hơi khác so với người Gomorrah ở nước da sẫm màu, nhưng không rõ lắm, chủ yếu là do phải di chuyển nhiều hơn dưới ánh nắng mặt trời. Dân tộc này sống ở bờ biển đối diện, bên dưới những ngọn núi nhìn thấy được khi thời tiết quang đãng. Kesulot, giống như tất cả các công dân Gomorrah, tránh né dân Dázár. Ông coi thường và tốt hơn là không muốn nhìn thấy họ. Đặc điểm chính bởi mùi hôi hám từ cơ thể phát ra. Do tôn giáo cấm đoán, họ không tắm rửa. Bởi vì người Gomorrah từ chối lao động chân tay, nên đành phải thuê người Dázár.


 


Khi chiếc xe kéo khởi hành, Kesulot phải thò đầu ra ngoài để không cảm nhận mùi khắm khú từ cơ thể ướt đẫm mồ hôi của họ. Nhưng phụ nữ của họ còn hôi hám hơn nhiều. Họ quấn khăn kín mít khi đi lại, vì vậy mồ hôi tuôn ra khủng khiếp.


Tượng đài các anh hùng nằm trên Quảng trường Thượng, phần trên của thị trấn và nó là cái nhỏ hơn trong số hai quảng trường, được bố trí như một công viên, không có chợ và quầy hàng hóa. Tượng Malinit ở trung tâm, người từng là thị trưởng đầu tiên của thành phố sau cuộc đảo chính dân sự hơn trăm năm trước, do các thành phố Gomorrah và Sodom thực hiện chống lại vua Nantibuk. Malinit là chỉ huy của các công dân khởi nghĩa và cũng là người soạn hiến pháp dân sự đầu tiên.


Trên bục cao dưới bức tượng, thị trưởng hiện tại, ông Eber đang đứng dựa vào chân tượng đài, chờ đợi công dân tụ tập thêm, trong khi vẫn còn rất ít. Thợ làm bánh Shion cùng vợ đến từ một thị trấn nhỏ trên núi cùng hai đứa con. Tiếp đó là Zazimat, người bán thịt đứng cùng vợ và một đứa trẻ. Một vài thợ thủ công khác và gia đình của mình. Trong số những công dân giàu có của thành phố, chỉ có bạn thân của Kesulot, ngài Gileád và nhà khoa học Manasúr. Kesulot hiểu ý các thợ thủ công. Họ cần nhấn mạnh trước dân thành thị giàu có việc mình là những công dân có trách nhiệm và muốn giữ họ như những khách hàng. Khi những người giàu có gần như không đến dự Cuộc gặp gỡ đại chúng, thì cũng chẳng có tác dụng gì, nhưng một số thợ thủ công vẫn tiếp tục thể hiện rõ lòng yêu nước của mình. Thật khó để nói, thái độ này đóng vai trò cống hiến thực sự gì cho thành phố.


Dù rất nhiều người đi lại xung quanh, đôi khi ngang qua quảng trường, nhưng dường như Cuộc gặp gỡ chẳng nói lên điều gì. Chủ yếu vẫn là người Dázár. Phụ nữ Gomorrah trần trụi, thơm tho gần như hoàn toàn tương phản với phụ nữ Dázár hôi hám, bẩn thỉu.


Eber đợi thêm một lát, rồi hắng giọng: "Chắc không ai đến nữa." Trên đầu mặt trời dọi chiếu, đã gần trưa, nên không có gì lạ khi ông muốn cho xong đi. Kesulot biết những bài phát biểu này, nó thường lặp đi lặp lại hàng năm và thị trưởng vẫn đọc từ cuộn văn bản giống hệt nhau cho mỗi ngày kỷ niệm.


 


„Các công dân thân mến! Chúng ta là tổ chức xã hội tự do nhất thế giới. Một xã hội trong đó không ai không có tự do và tất cả đều bình đẳng, không có nô lệ. Chúng ta đã chứng tỏ việc xây dựng một xã hội gồm những người hoàn toàn bình đẳng và giàu có. Chỉ cần nhìn ra biển xa kia,“ Eber nhìn xuống, nhưng chỉ thấy một khoảnh biển nhỏ và những ngọn núi, phía sau chẳng có gì cả. „Chỉ cần nhìn ra biển xa, chúng ta thấy ngay một thế giới khác. Thế giới đói nghèo, không tự do, sự phụ thuộc của phụ nữ vào đàn ông và sự bất bình đẳng của công dân."


Ông hít một hơi. „Tự do mang lại sự phong phú. Ở nơi đây, tất cả chúng ta đều cảm thấy. Ông cha chúng ta đã sống tốt hơn nhiều so với các dân tộc khác.“ Một số dân Dázár đứng bên góc tường nghe ngóng. Đám phụ nữ lùi vào bóng râm, bao quanh là một đống trẻ con. Họ làm như đang nghỉ ngơi, nhưng có lẽ bài phát biểu thu hút họ hơn cả dân Gomorrah. Nếu tính cả trẻ em, có lẽ đám Dázár đứng nghe nhiều hơn người Gomorrah.


 


„Sự phong phú dồi dào vật chất cũng là kết quả của công sức, năng lực, tài năng và khả năng của chúng ta. Không dân tộc nào có khả năng hơn người Gomorrah.“ Nhóm nhỏ người Dázár di chuyển dọc  phố xuống phía dưới, một thanh niên nhổ nước bọt về phía quảng trường.


"Malinit và các anh hùng của ngài đã cho chúng ta một khuôn mẫu và thiết lập "sự tiến bộ". Tất nhiên, khi đó họ chưa có luật lệ hoàn hảo như chúng ta. Họ giữ nhiều thói quen cũ từ thời mất tự do, không công nhận bình đẳng nam nữ, tính cách cá nhân và quyền của họ. Họ vẫn muốn lợi ích xã hội quan trọng hơn tự do cá nhân. Buộc các cá nhân phải chiến đấu, phục vụ trong lực lượng vũ trang dân sự, buộc công dân phải làm việc trên các công trình công cộng. Các Cuộc gặp gỡ đại chúng cũng là bắt buộc. Chắc chắn người già còn nhớ quảng trường này từng đầy ắp. Nhưng điều đó sai lầm, không thể ép ai đó phải tham dự cuộc gặp gỡ. Nhưng chúng ta đã vượt qua tất cả nhờ con đường mà tổ tiên từng xác định, hướng tới việc tăng cường tự do cho mỗi người.“ Eber nói điều đó với một chút buồn bã trong giọng nói, như thể ông ta không tin vào chính mình. Chắc chắn ông ta sẽ hài lòng hơn nếu quảng trường đầy ắp người. Thật là kỳ lạ. Ông ta đang hừng hực vì điều gì đó, trong khi giọng nói cho thấy lại hầu như không tin vào nó. Nhưng là thị trưởng, ông phải giữ gìn luật pháp. Những người khác có thể sẽ chỉ trích ông. Cuộc gặp gỡ này không phải là để tranh luận, nó phải được tổ chức ở một nơi chỉ định trên Quảng trường hạ, nhưng gần đây tại đấy lại có một số quầy hàng, vì từ lâu đã không có ai phát biểu nữa.


Đột nhiên, Eber nhấn cao lời hùng biện rực lửa: "Vì vậy, đồng bào thân mến, chúng ta hãy gìn giữ thành phố của mình, hãy làm việc vì nó, không được cho phép bị suy yếu. Có rất nhiều việc phải làm, chúng ta có những thách thức phía trước. Ví dụ như vệ sinh thành phố, trong năm qua dù rằng được cải thiện, nhưng có thể nhận thấy sự suy giảm dài hạn. Tội phạm đang gia tăng. Chỉ còn tùy thuộc vào chúng ta sao cho ngăn chặn được nó.“


 


Bài phát biểu hùng hồn kết thúc. Thị trưởng trông ủ rũ, rệu rạo, hiển nhiên do chờ đợi lâu dưới ánh mặt trời và có lẽ cũng vì bằng cách nào đó không tin những gì mình đang nói. Ông chán ngán thêm vào: "Xin cảm ơn các bạn đã quan tâm."


Gileád nhập vào với Kesulot, phân trần: "Nếu không có đám Dázár, tất cả đâu như vậy. Gomorrah từng sạch sẽ, đẹp đẽ làm sao, nói gì đến tội phạm. Các ngôi nhà không phải khóa chốt, ông chắc còn nhớ chứ...“


"Tôi nhớ," Kesulot, gần 70 tuổi đáp lại: "Tôi nhớ rất rõ." Nhưng tất nhiên ông không coi tình hình là nghiêm trọng. Chắc chắn, người Dázár là một dạng hiện tượng khác, lạc hậu hơn, hy vọng một ngày nào đó họ cũng sẽ học được văn hóa ứng xử. "Phải giáo dục cả cho các dân tộc khác, nhiệm vụ của chúng ta là truyền bá sự văn minh", ông bổ sung thêm.


Ông đưa Gileád đến nhà mình trong một chiếc xe kéo và từ chối lời mời ra quán ăn của anh ta, nơi họ có thể nói chuyện và phân tích tình hình. Gileád thích tranh luận. Mặc dù Kesulot đôi khi cũng vậy, nhưng coi quan điểm của Gileád chủ yếu là phóng đại và đề xuất không thực tế. Họ chia tay nhau trước nhà.


Shura đang chuẩn bị bữa trưa với sự giúp đỡ của đầu bếp. Liền đó, hai vợ chồng ngồi vào bàn để đầu bếp phục vụ, dùng món chuối nướng với thịt cừu. Bữa ăn rất hợp, họ chén ngon lành, người đầu bếp dọn bàn, rửa chén rồi rời đi.


"Chúng ta sẽ nghỉ ngơi một lúc," Shura đề xuất, sau đó nằm xuống chiếc ghế gấp trong bóng râm bên hồ bơi.


Kesulot bắt đầu vuốt ve đầu gối cô. "Không, anh Kesulot ơi, không phải bây giờ, chúng ta còn đến nhà hát mà, em sẽ bị mệt đấy."


Kesulot thực ra cũng không nghĩ nghiêm túc đến như vậy, tương tự cả Shura cũng thế.


Khi bơi thư giãn trong bể xong và nghỉ chút ít, họ chuẩn bị đi nhà hát. Shura đang chuẩn bị buổi sáng cho mình còn Kesulot đọc những cuộn giấy trong bóng râm. Khi mặt trời vừa nghiêng qua những ngọn núi, họ mặc quần áo bách bộ lên đường, vì không xa lắm. Kesulot mặc bộ quần áo cũng như buổi sáng, Shura khoác chiếc áo váy ngắn cụt tay, phía dưới cùng treo móc chỉ ở mép váy hình nhân và động vật được chạm khắc từ gỗ. Khi bước đi, chúng nhảy theo hai chân cô trên đầu gối. Điều đó thật kỳ lạ, mọi người đều quay sang nhìn và dường như ngạc nhiên về ý tưởng cải thiện thời trang phụ nữ.


Ở lối vào nhà hát, họ gặp Nela, người vợ đầu của Kesulot. Bà ta rất béo, vừa lúc bước ra khỏi xe kéo, vì vậy có thể nhìn thấy việc đi lại khó khăn. Đi cùng bà ta là chàng tình nhân trẻ từ một thị trấn miền núi nào đó. Anh ta cùng người kéo xe giúp bà ta.


Kesulot không thích gặp người vợ đầu tiên của mình. Không phải họ giận nhau, mà chỉ đơn giản vì nó nhắc tới quá khứ, trách nhiệm với gia đình mà trong ly hôn ông đã không tuân thủ và để bị quyến rũ bởi người phụ nữ trẻ. Tuy nhiên, ông cố gắng giả vờ như không có gì đã xảy ra.


"Salamo, Nela," Kesulot chào còn Shura họa theo.


Nela đứng trên sân, khoác vào cánh tay bạn trai ngó nhìn xung quanh. Chợt thấy Kesulot và cô vợ hai của ông. "Salamo, Kesulot và Shura à," bà chào kèm theo nụ cười. Không nhận ra được đó có thể là câu chào máy móc. Có lẽ bà thực sự muốn nhìn thấy họ. "Anh chị có khỏe không?"


"Khỏe mà, làm sao khác được trong thành phố xinh đẹp của chúng ta."


"Anh thích được nghe như vậy... Salamo," họ chia tay nhau.


Kesulot và Shura đợi một lát cho đến khi Nela và anh chồng đi qua.


"Bà ấy lại béo rồi," Shura bình luận.


"Đừng ngạc nhiên, bà ấy gần bằng tuổi anh và không thể đi lại được nữa. Với bà ta còn gì khác ngoài tay người yêu và đồ nhậu nữa đâu."


Kesulot không muốn nhớ đến, nhưng những suy nghĩ không thể bỏ qua và những gì liên quan đến quá khứ thì càng không. Nó liên tục trở lại. Ông nhận ra đã bao lâu rồi, khi họ lấy nhau. Lần ấy, đó là một tình yêu tuyệt vời. Họ không được phép làm tình nếu chưa tổ chức đám cưới. Khi đó mới hai mươi. Nela còn là trinh nữ. Lúc bấy giờ phải như vậy. Cô gái không còn trinh sẽ gặp vấn đề, không thể kết hôn tử tế, bố mẹ không thể tìm được cho con một người bạn đời chấp nhận từ một gia đình giàu có tương tự. Đơn giản, màng trinh là tài sản quý giá có thể kiếm tốt tiền, bởi vì đôi khi tài sản của cô dâu chẳng quan trọng bằng danh tiếng của cô ấy.


Sự trinh trắng của Nela mất đi trong đêm tân hôn và ngay lập tức họ có cô con gái - Ráma. Tất nhiên, các bậc cha mẹ lo sợ họ vẫn còn trẻ, phải được tận hưởng trước, nên sau khi sinh đã ép Nela đến bác sĩ đặt cho cô "con sâu cái". Đó là một vật bằng vàng được đặt ở đâu đó trong cơ quan sinh dục nữ và sau sự can thiệp này, những đứa trẻ sẽ không được sinh ra. Mặc dù một vài năm sau Nela đã cho tháo "con sâu", nhưng không có thêm được đứa con nào nữa.


Với Shura làm sao khác được! Ba mươi năm qua kể từ đám cưới đầu tiên của mình, khi Kesolut kết hôn lần nữa đã là một thời đại hoàn toàn khác. Shura không phải là một trinh nữ, cô thậm chí còn khoe khoang về điều đó, bởi vì trinh nữ chỉ là hạng người mà không chàng trai nào muốn cả. Cô đặt một "con sâu" từ năm mười lăm tuổi và có tới nay. Đôi khi cô đi bác sĩ kiểm tra bởi đã xảy ra trường hợp không để ý rơi ra ngoài và một số phụ nữ bị mang thai ngoài ý muốn.


Nhà hát là một nhà vòng tròn trong thiên nhiên. Những viên đá được điều chỉnh thành ghế ngồi, trên đó người thợ gắn những tấm gỗ. Sân khấu nằm dưới dốc, có thể quan sát rõ từ mọi phía. Đằng sau nhìn thấy một phần thành phố và biển với những ngọn núi ở phía bên kia. Dải sườn núi hoang vắng và ngọn núi được rọi sáng bởi mặt trời hoàng hôn, nhìn rõ bất chấp sương mù nhẹ buổi tối. Các thị trấn trên sườn núi hiện rõ bởi những chấm tòa nhà và vườn cây xanh sẫm xung quanh.


Họ ngồi vào nơi Shura đã chọn. Nếu ai đến muộn, phải đứng ở phía sau. Song điều đó không dành cho họ, đứng phía sau là những người không trả phí. Nhưng Kesulot và Shura là những công dân được vinh danh, đóng góp nghiêm túc cho nhà hát nên nhân viên bảo vệ đưa họ vào hàng gần phía trên sân khấu. Tất nhiên thông thường nhà hát miễn phí cho công dân. Khán trường dần dần lấp đầy. Cuối cùng là cả những nơi phía trên cao. Như trang phục cho thấy, nhiều người Dázár cũng đứng ở đó.


Ngay khi mặt trời lặn, buổi biểu diễn bắt đầu. Giám đốc nhà hát nói lời khai mạc. „Các công dân thân mến. Hôm nay chúng tôi chuẩn bị cho các bạn một phân đoạn tuyệt vời của những người bạn từ Sodom. Các diễn viên xuất sắc đã đến, bà Sísera và ông Nemate, cả hai là đại diện hàng đầu của Nhà hát Sodom. Cùng biểu diễn với họ là các diễn viên của chúng ta, chắc chắn các bạn sẽ nhận ra. Hãy để bản thân ngạc nhiên bởi những màn trình diễn xuất sắc. Vở diễn có tên Adam và Eva ở thiên đường. Nó mới chỉ được biểu diễn một lần tại nhà hát lớn Sodom. Giám đốc cúi đầu, cả khán trường vỗ tay nhiệt liệt.


Trên sân khấu Nemate trong vai Adam và Sísera trong vai Eve chạy vào. Cả hai hoàn toàn trần truồng. Bộ phận sinh dục được cạo sạch. Phông nền duy nhất là cây táo và một hình nộm mãng xà quấn quanh thân. Tất cả khán phòng đứng dậy vỗ tay. Khi im lặng đã trở lại, khán giả ngồi xuống, bỗng có tiếng hét công kích vang lên từ ban công nhà hát: "Xấu hổ với lũ người trần truồng, Chúa trời sẽ trừng phạt các người!" Những âm thanh khác pha trộn vào đó. Khán giả các hàng phía sau đứng dậy ngó lên. Ở đó loáng thoáng nhân vật nào đấy, trong ánh sáng yếu ớt người ta không rõ điều gì đang xảy ra. "Tụi Dázár chết đi!" Ai đó hét lên trên lầu. "Tại sao không ai bảo đảm trật tự?" Mọi người xung quanh hỏi nhau. Cuối cùng tiếng trống phát ra, cảnh sát xông vào. Tiếng gậy quật vang lên. Các hình hài che mặt bị lôi ra khỏi ban công. Đám Dázár thất bại, họ bị tống ra ngoài.


Bên cạnh Kesulot, Shura lớn tiếng hỏi: "Tại sao đột nhiên họ khó chịu chuyện khỏa thân? Người ta vẫn nhìn thấy thường xuyên trên đường phố mà. Nếu khó chịu, thì đừng đến xứ Gomorrah làm gì.“


"Sau tất cả, chỉ trên đường phố là không nhìn thấy khoả thân hoàn toàn, vì người ta phải che đậy cơ quan sinh dục.“


"Nhưng như thế là không ổn," Shura thốt lên. "Chúng ta là những người tự do, việc ra lệnh cho ai đó ăn mặc thế nào là không đúng. Nếu ai muốn sinh hoạt trần truồng, thì hãy cứ để mặc họ... "


Kesulot mặc dù không đồng tình với cô, nhưng không phản đối. Không muốn bị gọi là kẻ lạc hậu, ông cố gắng thích nghi với lớp trẻ. Thời ông còn trẻ, phụ nữ không được phép thậm chí để lộ ngực. Không có quan điểm về việc đó, ông chỉ đơn giản là không quan tâm đến nó...


Sau sự cố, buổi biểu diễn tiếp tục. Adam và Eva tận hưởng nơi thiên đường. Họ nắm tay nhau, tắm trong hồ bơi và dẫn chuyện về Chúa trời. Hình nộm động vật được chuẩn bị xung quanh sân khấu. Sư tử, lạc đà, cừu, bò và dê. Đôi tiền nhân đi xung quanh vuốt ve chúng. Cả hai đều có hình dáng thân thể trẻ đẹp, Adam cơ bắp còn Eva đầy nữ tính mà mọi đàn ông đều mong muốn.


"Thật nhàm chán," Eva than thở. „Không có việc gì để làm. Chúng ta có tất cả mọi thứ, đó là điều mà em không thích. Cô ngồi xuống một hòn đá gần hậu trường hồ nước.


"Thiên đường như vậy để làm gì?" Adam ít nhiều tự hỏi chính bản thân mình.


"Có thể còn nơi nào khác tốt hơn không anh?" Eva buồn bã lên tiếng.


"Đâu có thế giới nào khác, chỉ thiên đường thôi," Adam bổ sung.


"Biết đâu một thế giới khác nữa," Eva băn khoăn. Nàng ngồi xoạc chân trên đá, Adam đứng phía trước, họ nắm tay nhau.


"Như thế nào có thể là thế giới tốt hơn?"


"Một thế giới vui vẻ, thú vị, thế giới của những loại trái cây ngon hơn những gì đang có trong khu vườn này? Em khao khát một thứ gì đó ngon hơn, một cái gì đó thực sự thú vị. Ở đây em đã nếm tất cả và mọi thứ đều có cùng một hương vị. Em không còn thích gì nữa. Em ăn, mà không biết ăn gì. Em chán ghét cuộc sống này.“


Từ từ đứng dậy và lom khom không thoải mái đi qua hàng cây, họ là những diễn viên tuyệt vời. Sự nhàm chán trực tiếp khiến họ có cảm giác khó chịu. Họ tiến đến gốc cây cấm, được thể hiện trên phông nền là một cây táo.


„Anh nghĩ tại sao Chúa trời lại cấm chúng ta ăn trái táo từ cây này? Ngài có ý thế nào?" Eva thắc mắc, chỉ vào cây táo bằng cánh tay mềm mại dịu dàng của mình.


"Chúa trời, Ngài có bí mật của mình," Adam trả lời.


„Còn gì để bí mật nữa nhỉ? Ngài chỉ muốn làm khổ chúng ta mà thôi. Ngài không cho chúng ta ăn táo là những quả trái ngọt nhất mà muốn làm chúng ta chán ngấy với những món ăn kinh tởm của mình.“


Đáp lại, tiếng nói của mãng xà vang lên. Một người khác đằng sau phông nền, với giọng nói khó chịu, diễn giải: "Đừng bận tâm đến sự cấm đoán của Chúa trời, Ngài chỉ muốn làm phiền và không cho phép các bạn những gì thuộc về mình. Vườn địa đàng này đồng thời cả thế giới thuộc về các bạn, những người thống trị thế giới, chứ không phải ông ta. Các bạn là những hình hài đầu tiên trong số các sinh vật. Các bạn là những người thông minh nhất. Định làm bất cứ điều gì, các bạn sẽ làm tốt."


Người đứng sau hậu trường chìa bàn tay đeo găng thể hiện mãng xà cầm quả táo đưa cho Adam. Eva xoắn xuýt trước mặt: "Adam ơi, anh hãy cầm lấy quả táo, cầm lấy quả táo đi, anh được trao tặng đấy."


Kesulot không thích kịch bản lắm. Biết rõ câu chuyện về khởi đầu loài người, khi ông đã được xem nhiều lần trong các bối cảnh khác nhau và đọc qua sách. Shura cũng đã biết, nhưng luôn khá phấn khích về nó. Lúc này, tại thời điểm kịch tính cô cầm tay Kesulot nắm chặt. Bàn tay ấm áp và ẩm ướt. Có thể nhận thấy vở diễn rất kích động: Adam sẽ cầm lấy quả táo? Kịch bản này thực sự như thế nào? Điều gì xảy ra nếu đó là sự nhại lại những người đầu tiên? Điều gì tiếp theo? Ở Sodom người ta có thể suy diễn ra bất cứ điều gì. Nếu Adam không cầm quả táo thì sao? Trong trường hợp đó, sẽ không thể có họ, hậu duệ của Adam và Eva. Nếu Adam chối bỏ quả táo, sẽ không thể có Shura hay cả Kesulot, cũng không thể có bất kỳ ai khác quanh đây. Cuộc sống sẽ như thế nào? Shura cảm thấy sức nặng toàn bộ câu chuyện, tầm quan trọng chết người quyết định thời khắc định mệnh như thế nào, mọi thứ phụ thuộc vào sự ngẫu nhiên ra sao. Sự nhất thời của Adam.


Adam ngập ngừng. Chàng băn khoăn một lúc lâu, nhưng cuối cùng cũng cầm quả táo, ngắm nghía. Eva huých vào người anh. Adam ôm nàng siết thật chặt. Sau đó họ nằm lên nhau, thể hiện động tác gì đó như đang quan hệ tình dục. Quả táo đặt trên phiến đá trước mặt như một biểu tượng.


Shura bớt căng thẳng. Tay cô lạnh toát mồ hôi. Kết thúc tốt đẹp. Họ ở bên nhau, như cách phải vậy. Nếu không thế, đâu có phải là con người. Rốt cuộc, họ đã làm tốt công việc, vi phạm cấm lệnh của Chúa trời. Họ đã sinh ra loài người, chẳng lẽ điều đó lại là tệ hại sao?


Tuy nhiên từ khán trường tiếng ồn không chấp thuận vang lên. Dân xứ Sodoma là lực lượng tiên phong. Văn hóa của họ luôn đi đầu. Nhưng quả là hay phóng đại. Trong khi người xứ Gomorrah tạm thời còn bảo thủ hơn. Họ thể hiện quan hệ tình dục trên sân khấu có chút quá đáng. Vang lên tiếng huýt sáo. Adam đứng dậy rời khỏi Eva, quay lưng lại với khán trường, đi đến gốc cây. Trong khi đó, Eva ngồi trên phiến đá ăn quả táo. Adam trở lại mặc chiếc áo khoác ngắn, đưa cho Eva chiếc còn lại.


Tiếp đến, Chúa trời bước vào. Trên phông nền là một ông già với thanh kiếm bốc lửa trong tay. Người mang phông nền bằng giọng trầm hùng trách mắng Adam và Eva: „Các ngươi đã mất đi sự bất tử, giờ đây phải có con cái để gìn giữ lấy loài người. Các ngươi sẽ trả giá đắt cho tội lỗi, với mồ hôi đổ trên khuôn mặt các ngươi sẽ dành giật bánh mì cho mình. Phụ nữ sẽ sinh con trong đau đớn...“


Adam và Eva nắm tay nhau than khóc. Họ lần bước sang phần thứ hai sân khấu, nơi không được thắp sáng bằng những ngọn đuốc, từ từ biến mất vào bóng tối. Các nhân viên phụ trợ mang những ngọn đuốc đi bóng tối bao trùm một lúc.


Những người trong khán trường thư giãn đôi chút và bắt đầu chia sẻ cảm xúc của mình. Nhìn thấy rõ, màn diễn rất ấn tượng. Mọi người xì xào trò chuyện. Shura thả lỏng người, nắm chặt tay Kesulot. "Em lo sợ quá, vì vậy đã tham gia vào cuộc. Anh hãy tưởng tượng xem nếu như không có loài người...“


Kesulot không bị kích động. Ông không hiểu tại sao một số người phải trải nghiệm nó. Đó hẳn là một câu chuyện đã quen biết.


Một diễn viên trợ lý vẫy ngọn đuốc báo cảnh tiếp theo đang bắt đầu. Họ mang theo những ngọn đuốc, cắm chúng vào giá đỡ xung quanh sân khấu.


Adam và Eva ngồi bên nhau trên phiến đá. Toàn thân bẩn thỉu, quần áo rách nát. Hai đứa trẻ chạy đến. "Mẹ ơi, bố ơi", chúng gào lên. Eva ôm lấy đứa nhỏ vào lòng. Đứa kia sà tới Adam, anh vuốt đầu con.


 


"Con yêu vàng ngọc của mẹ," Eva reo lên. "Mẹ rất vui vì có các con."


"Eva này, em có nghĩ rằng chúng ta vâng lời con rắn là điều tốt lành sao?"


"Em không biết, Adam ơi, thật khó nói. Đã bao nhiêu lần em tự nhủ, trên thiên đường chúng ta không phải làm việc, nuôi cừu và thu hoạch lúa mì. Nhưng chúng ta không có hạnh phúc, không có con cái, niềm vui mà nó mang lại, không có tình yêu và được yêu đương. Em gần như nghĩ rằng đáng giá như vậy. Thiên đường thật nhàm chán.“


Bằng giọng diễn xuất, Adam giải trình: "Vào buổi tối, khi đã mệt mỏi mà vẫn phải nhóm lửa, xẻ thịt, anh nghĩ rằng ở Thiên đường chắc tốt hơn. Ở đó chúng ta không phải làm gì, chỉ đi dạo và ngắt hái trái ngọt thôi. Nhưng khi nhìn vào đàn cừu của chúng ta lớn lên ra sao, chúng cho bao nhiêu len, những hạt lúa mì vàng óng đã gieo, anh lại nghĩ ở đây tốt hơn. Thực ra anh không biết nữa.“


"Chúa trời đã không bỏ rơi chúng ta," Eva thổ lộ. „Ngài đã tha thứ cho hành vi sai trái của chúng mình. Muốn vui vẻ vậy thì có vui vẻ. Chúng ta sung sướng khi làm tình, sung sướng với những đứa trẻ mà mình đang có, hân hoan về kết quả của công việc, nhưng mọi thứ đều phải trả giá. Không có gì là miễn phí. Chúa trời công bằng. Khi vui vẻ, đồng thời cũng phải làm việc và dằn vặt khổ sở.“


„Em nói đúng đấy. Chúng ta từng có sự lựa chọn, đã nhận được quyết định tự do từ Chúa trời. Hoặc cuộc sống được bảo đảm an toàn nhưng nhàm chán trên thiên đường, hoặc niềm vui sướng và sự vất vả ở đây. Chúng ta đã tự quyết định lựa chọn khả năng thứ hai. Chúng ta phải gánh trước chịu quyết định của mình.“


"Mình không thể quay lại thiên đường sao?"


„Về cơ bản là không. Chúng ta có thể tiến gần tới đó, nếu không yêu đương, không có con cái. Lúc đó, chúng ta sẽ không phải làm việc nhiều và có thể chỉ chăm sóc cho bản thân. Đơn giản khi không có quả táo từ mãng xà, chúng ta sẽ gần đến thiên đường hơn.“


"Nhưng em không muốn vậy, nó sẽ không làm cho em thích thú."


"Vì vậy anh nghĩ tốt hơn là cứ theo cách này."


"Em cũng nghĩ vậy."


Cậu bé con đứng cạnh Adam ngồi xuống và bắt đầu cậy đất bẩn giữa các ngón chân. Trước khi lên sân khấu chắc cậu ta dẵm phải cái gì đó, tất nhiên không thuộc về sân diễn. Adam vô vọng buộc nó phải đứng dậy, cậu bé vẫn còn nhỏ nên không hiểu gì. May sao phân cảnh cũng hết. Tiếng trống báo hiệu màn trình diễn kết thúc. Nemate và Sísera đứng dậy, những người trợ giúp từ phía sau phông nền bước ra. Họ cúi đầu chào. Tiếng vỗ tay vang lên từ khán trường.


Nhóm người giúp việc nhen sáng những ngọn đuốc ở lối đi và quanh không gian mở trước nhà hát. Xe kéo đã sẵn sàng chờ đợi khách hàng của mình. Ở các hành lang diễn ra cảnh chen lấn. Shura đi trước Kesulot. Ông nhận thấy cô có những hình in các con giống lên phía sau đùi từ váy choàng trong lúc ngồi lên đó. Câu chuyện của vở kịch hấp dẫn đến nỗi nó thậm chí không gây lên cho cô cảm giác bị ép hằn vào.


Rồi mọi người bắt đầu chen chúc trong lối đi, ai đó thúc Shura ập vào tường, may sao không ngã. Cùng lúc cô bị mất giày. Chúng chỉ là đôi giày loại nhẹ. Cô lần tìm kiếm trong đám đông. "Em ơi, hãy bỏ lại nó đi," Kesulot bực bội, nắm lấy tay cô kéo ra. "Họ còn chưa đạp lên em đấy."


Bên ngoài thoáng hơn. Họ đứng cạnh tường và muốn về nhà thì Ráma, con gái Kesulot xuất hiện. Cô ta đợi ở nơi mà biết chắc họ phải đi qua nếu muốn về nhà. "Con chào cô Shura, chào cha," cô ta lên tiếng. Nơi này không được sáng lắm, nhưng nhờ trăng tròn, vì vậy nhìn khá rõ.


Ráma là một phụ nữ năm mươi tuổi trông hợp với tuổi tác. Chân cô bị giãn tĩnh mạch được che bằng một chiếc váy áo dài. Shura đứng bên cạnh. "Salamo, Ráma," cô đáp lại, bước tới kiễng trên ngón chân hôn cô ta. "Tôi bị mất giày trong đám chen chúc kia," cô xin lỗi vì đôi chân trần. Khi mất giày, cô đột nhiên nhỏ bé làm sao!


Nhưng điều đó không khiến Ráma quan tâm. Cô ta muốn nói chuyện với cha mình.


Kesulot nhận ra hai người phụ nữ khác nhau như thế nào. Shura chỉ ít hơn con gái ông mười tuổi, nhưng cô trông giống như một cô gái trẻ, Ráma lại như một bà già. Không chỉ là sự khác biệt tuổi tác mà là sự khác biệt trong suy nghĩ và toàn bộ nền tảng cuộc sống. Ráma có chồng và một đứa con khi cuộc đảo chính diễn ra làm thay đổi hoàn toàn giá trị cuộc sống của mọi người. Kết quả có thể nhìn thấy. Ráma bây giờ lo lắng về con gái mình, cháu gái của Kesulot. Shura không quan tâm tới những thứ như vậy. Cô lùi lại để để bố có thể nói chuyện với con gái.


"Bố phải nói chuyện với Anéka," Ráma đề nghị. Anéka là con gái của cô ta. "Bố phải đi gặp và thuyết phục nó. Chắc nó sẽ nghe lời bố khi không chịu nghe lời con.“


"Thế còn Alan, anh ta là bố con bé đấy chứ?"


„Bố biết là anh ta không quan tâm đến nó, bây giờ có Anabel của mình rồi“ Ráma cũng đã ly dị, chồng cũ của cô lấy một người phụ nữ khác.


Cả hai đều biết vấn đề với Anéka là gì. Họ từng giải quyết nó nhiều lần. Ráma chỉ nhắc nhở: "Con bé cuối cũng phải tỉnh ngộ ra, kết hôn và có con. Đó là hậu duệ cuối cùng, thừa hưởng tất cả mọi tài sản của cả hai chi họ. Ngoài ra, ai đó sẽ phải chăm sóc chúng ta khi tuổi già.“


Kesulot thấy điều đó là cần thiết, nhưng không hiểu rõ về sự cấp bách của Ráma. Nó vẫn còn khá trẻ! Ông biết con bé luôn lo lắng.


"Được rồi, được rồi, bố sẽ làm điều đó," ông hứa hẹn.


Shura căng thẳng đi lại xung quanh bức tường với khuôn mặt nhăn nhó. Trước tình huống như vậy người ta bị ức chế. Cô nghĩ, sao chuyện gia đình luôn nặng nề và cứ nhất thiết phải thế ư. Bây giờ cô đang run rẩy bởi sự phấn khích từ vở kịch vừa xem và như ngất ngây. Dễ nhận thấy được cô nôn nóng đến mức nào khi Ráma giữ chịt lấy Kesulot.


Kesulot biết điều đó. Ông ngắt cuộc nói chuyện với Ráma, dù cho con gái vẫn còn muốn phân trần vòng vo và liên tục lặp đi lặp lại. Ông hứa sẽ thu xếp mọi thứ. Họ nói lời chia tay. Shura túm lấy tay ông khẩn trương kéo về nhà, người cô lại nóng hổi.


Vào đến buồng, Shura cởi tung chiếc váy áo ném xuống đất. Những con giống bằng gỗ đập vào sàn đá cẩm thạch. Cô hổn hển: "Anh có nghĩ rằng em cần chỉnh trang chút ít như Sísera?"


Kesulot biết cô đang nghĩ gì. Ông không có tâm trạng âu yếm vì đã mệt mỏi. Tiểu phẩm sân khấu chẳng làm ông phấn khích và Shura thì cũng không, nhưng vẫn phải hoàn thành những gì mà sức khỏe có thể cho phép được...


 


 


Gomorrah, khát vọng của bao người


 


Kesulot sống vào thời điểm khi Gomorrah là một thành phố xinh đẹp và sạch sẽ. Các tòa nhà trưng bày bao quanh hai quảng trường lớn và rất nhiều đường phố. Chúng được lát bằng nhiều khối đá hình vuông, ở giữa là một mương thoát, nước vẫn chảy từ những con suối trong vùng núi sau thành phố. Các gia đình đều giàu có và có đủ nguồn lực để sinh sống.


Kesulot sinh ra gần Cổng Tlapo, nơi được xây dựng từng nằm trong thành lũy. Tuy nhiên, bây giờ chỉ còn lại một vòm cổng cô đơn, trên đó chạm khắc các bức tượng mô tả những nghề nghiệp khác nhau. Nông dân đi sau chiếc cày, thợ rèn bên búa đe, tương tự như thợ làm bánh và thợ mộc. Phía trên, tại đỉnh vòm, từng có hình tượng một vị vua, nhưng trước một thế kỷ đã bị đục đi sau khi Gomorrah trở thành một "liên minh tự do bình đẳng". Thay vào đó là một cái hốc. Nhưng các hình tượng khác cũng đã bị hư hại. Vào thời điểm đó, thành lũy không còn tồn tại, bị dỡ bỏ và từ đó xây dựng các tòa nhà trưng bày khác trong thành phố. Duy có vòm cổng chỉ ra nơi giới hạn giáp ranh thành phố. Trong thời điểm thành lũy đang bị dỡ bỏ, Gomorrah nhỏ hơn rất nhiều, vì vậy vòm hiện tại đúng hơn là ngự tọa ở giữa thành phố chứ không phải ở ngoại ô.


Cha Kesulot xuất thân từ thành phố Soár, ở Gomorrah ông là người ngoại bang, nhưng điều đó không có nghĩa lý gì cả. Mẹ ông là người Gomorrah bản địa và được thừa hưởng từ cha mẹ mảnh đất rộng lớn. Ban đầu cha ông được thuê làm người tổ chức thu hoạch hoa màu và mọi công việc đồng ruộng. Các cụ thích ông và con gái của họ thậm chí còn hơn thế, vì vậy bà ấy đã lấy ông làm chồng. Vào thời điểm Kesulot sinh ra, ông bà của ông đã mua tiếp đồng ruộng và việc quản lý đòi hỏi sự chăm sóc thường xuyên.


Khi còn là cậu bé, Kesulot hay đi dạo cùng mẹ quanh vòm cổng và những hình vẽ khắc trên đá làm cậu rất quan tâm. Mẹ phải giải thích cho cậu biết ý nghĩa của chúng. Vì vậy, từ tuổi thơ cậu đã biết ông thợ mộc, người bán thịt và anh thợ bánh làm gì. Ngoài ra, trên vòm cung còn có hình nhân thợ rèn, được cậu đặc biệt quan tâm đến và không để yên tới khi một lần được cha đưa đến xưởng rèn mục kích công việc của họ. Thợ gò hàn cũng được khắc dấu trên vòm khiến Kesulot trong một thời gian dài tưởng tượng làm thế nào gò đập từ một tấm đồng thành thùng nấu nước. Song trên vòm cung cũng còn các hình hài không thể giải thích được. Kesulot nhớ rất rõ hai hình. Một người đặt tay lên một hình nhân khác, người kia đứng yên, trong tay cầm cuộn giấy. Cha cậu giải thích, nhiều khả năng đó là một giáo viên. Người này còn được khắc rõ ràng ở nơi khác, đứng trước mặt bọn trẻ, đang vẽ một cái gì đó trên bảng. Người đầu tiên chắc phải là bác sĩ, mặc dù các bác sĩ đương thời không đặt tay theo cách này, họ chỉ nghe khám trái tim, kiểm tra họng và sử dụng thuốc mỡ.


(còn tiếp)


Nguồn: Sodoma & Gomora. Tiểu thuyết giả tưởng của nhà văn CH Séc


Ing. Vlastimil Podracký (Sci-fi 2009). Xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam – Séc.


Những người dịch: Nguyễn Kim Phụng (Azis Nektar),Đỗ Ngọc Việt Dũng, MSc. (Do.honza) và Ngô Khánh Vân, DrSc. Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 2019.


Dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng gửi www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
xem thêm »