tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30238544
01.10.2019
Tư liệu
Ninh Giang - Hải Dương


Ninh Giang là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương, nằm bên bờ sông Luộc và tiếp giáp với các tỉnh lân cận là Thái Bình, Hải Phòng. Ninh Giang nằm ở đỉnh phía đông nam tỉnh Hải Dương, vị trí ở khoảng 20°43’B,106°24’Đ.


Phía đông nam giáp thành phố Hải Phòng qua sông Luộc,


Phía đông và phía bắc giáp huyện Tứ Kỳ


Phía tây bắc giáp huyện Gia Lộc


Phía tây giáp huyện Thanh Miện


Phía nam giáp tỉnh Thái Bình.


Ninh Giang cách biển 25 km. Thời tiết khí hậu tương tự khí hậu ở Hải Phòng và Thái Bình.


Thời Pháp thuộc dân số phủ lỵ Ninh Giang có khoảng 7.000 người, gốc gác từ nhiều vùng: Hải Phòng, Bắc Thái,Thái Bình, Hà Nội… song, gốc Hà Nam là chủ yếu. Người Hoa cũng lập nghiệp ở đây, có khoảng 100 hộ Hoa Kiều. Người Hoa thường lập thành hang bang riêng của họ.


Năm 1996 dân số thị trấn Ninh Giang là 8.071 người, dân số huyện Ninh Giang là 146.780 người, có diện tích 135,4 km².


Huyện Ninh Giang có 28 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm thị trấn Ninh Giang (huyện lỵ) và 27 xã: An Đức, Đồng Tâm, Đông Xuyên, Hiệp Lực, Hoàng Hanh, Hồng Dụ, Hồng Đức, Hồng Phong, Hồng Phúc, Hồng Thái, Hưng Long, Hưng Thái, Kiến Quốc, Nghĩa An, Ninh Hải, Ninh Hòa, Ninh Thành, Quang Hưng, Quyết Thắng, Tân Hương, Tân Phong, Tân Quang, Ứng Hòe, Văn Giang, Văn Hội, Vạn Phúc, Vĩnh Hòa.


Các đơn vị hành chính trực thuộc huyện Ninh Giang


Thị trấn Ninh Giang: 1,69 km².  


27 xã gồm:


An Đức 5,38 km², Đồng Tâm 5,06, Đông Xuyên 5,97, Hiệp Lực 5,35, Hoàng Hanh 4,38, Hồng Dụ 3,32, Hồng Đức, Hồng Phong 6,77, Hồng Phúc 5,00, Hồng Thái 4,44, Hưng Long 4,09, Hưng Thái 4,40, Kiến Quốc 5,46, Nghĩa An 7,57, Ninh Hải 5,47, Ninh Hòa 2,90, Ninh Thành, Quang Hưng 3,85, Quyết Thắng 3,47, Tân Hương 4,58, Tân Phong 8,39, Tân Quang 4,10, Ứng Hòe 4,29, Văn Giang 4,32, Văn Hội 4,38, Vạn Phúc 5,97, Vĩnh Hòa 7,46 km².


*Xã An Đức. Tọa độ: 20°46′2″B 106°17′49″Đ. Diện tích 5,38 km². Dân số (1999): 4.946 người. Mật độ 919 người/km², dòng sông Cửu An (sông Lê) chảy qua, gồm các thôn: Ứng Mộ (Làng Mũa) - là quê hương của nhà văn Triệu Xuân, thôn Vân Cầu, Kim Chuế và Trại Mũa.


*Xã Hoàng Hanh. Tọa độ: 20°45′40″B 106°16′33″Đ. Diện tích 4,38 km². Dân số (1999) Tổng cộng 3.971 người. Mật độ 907 người/km², gồm các thôn (ba làng Lê): Bùi Hòa, Di Linh, Tam Cửu và Xuân Trì. Nơi đây có nhà thờ Bùi Hòa rất đẹp. 


Vùng đất Ninh Giang xưa đã được nhắc đến trong một số bộ sử. Mỗi thời kỳ với những tên gọi khác nhau, được nhắc tới nhiều nhất là Hồng Châu, Hạ Hồng, Vĩnh Lại.


Năm 40, Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Nhà Hán cử Mã Viện sang đàn áp. Tại vùng Hạ Hồng đã xảy ra cuộc giao tranh giữa 2 bên. Phá vây ở Hạ Hồng, Hai Bà Trưng chạy về Thạch Bàn. Đô Lượng, 1 tướng giỏi của Hai Bà Trưng có cứ quân đóng ở Hiệp Lực (Ngã ba sông Hóa).


Vào thế kỷ thứ X, ở làng Cúc Bồ (nay là xã Kiến Quốc), Khúc Thừa Dụ đã chiêu binh mã nổi dậy chống quân đô hộ phương Bắc.


Vùng đất huyện Ninh Giang ngày nay từ triều Trần về trước thuộc huyện Đồng Lợi.


Mùa xuân năm 1418, Lê Lợi dấy binh ở Thanh Hóa chống quân Minh. Sau đó, năm 1419, tại châu Hạ Hồng, Trịnh Công Chứng và Lê Hành dấy quân đánh Tống binh Lý Bân của nhà Minh ở vùng Bắc.


Đời vua Lê Thái Tổ, đổi huyện Đồng Lợi thành Đồng Lại.


Đời Quang Thuận (1460 - 1669), huyện Đồng Lại đổi thành huyện Vĩnh Lại, đặt phủ Hạ Hồng và quản 4 huyện: Trường Tân (tức Gia Lộc ngày nay), Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại (tức huyện Ninh Giang và huyện Vĩnh Bảo ngày nay).


Đầu thế kỳ thứ XVI, nhà Lê bước vào thời suy vong. Mạc Đăng Dung soán ngôi nhà Lê, trong nước diễn ra nhiều cuộc chiến một bên là Chúa Trịnh (dưới danh nghĩa Phù Lê) và một bên là Mạc. Đây là thời kỳ nội chiến kéo dài, chiến tranh xảy ra liên miên. Ninh Giang nằm trong vùng chiến trường ác liệt.


Năm 1594, phủ Hạ Hồng có nhiều quân cát cứ chống Trịnh Tùng. Tháng 7 năm ấy Mạc Kính Chương chiếm huyện Thanh Hà và Tứ Kỳ, còn huyện Vĩnh Lại có Lai Quận Công. Những năm ấy xứ Hải Dương mất mùa to, chết đói rất nhiều.


Năm 1595, Trịnh Tùng cử Trịnh Văn Chương về trấn giữ huyện Vĩnh Lại.


Năm 1598 Nguyễn Hoàng lại được cử về xứ Hải Dương dẹp quân chống đối.


Đến năm Cảnh Hưng thứ hai (1741), đổi phủ Hạ Hồng thành đạo Hạ Hồng.


Dưới triều Nguyễn, năm Gia Long thứ nhất (1802) gọi là phủ Hạ Hồng.


Lỵ sở Ninh Giang trước đóng ở Gia Lộc (có thuyết nói rằng ở xã Kinh Kiều), năm Gia Long thứ 7 (1808) dời về xã Quý Cao (huyện Tứ Kỳ), đến năm Gia Long thứ 10 (1811) phủ lỵ dời về xã Phù Cựu (thuộc huyện Vĩnh Lại).


Vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi thành phủ Ninh Giang. Lúc ấy, Ninh Giang quản 4 huyện: Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại. Phủ Ninh Giang ngày xưa có thành đất bao quanh. Thành dài 171 trượng (684m) cao 6 thước 2 tấc. 4 mặt thành có hào, 3 cửa ra xã Tranh Xuyên.


Đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830), lỵ sở Ninh Giang dời về tổng Bất Bế (tức Ninh Giang ngày nay).


Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), cắt 5 tổng của Huyện Tứ Kỳ, 3 tổng của huyện Vĩnh Lại để lập ra huyện Vĩnh Bảo. Tên Vĩnh Lại duy trì đến năm 1919.


Năm Tự Đức thứ 4, phủ Ninh Giang quản 4 huyện: Vĩnh Lại, Vĩnh Bảo, Gia Lộc và Tứ Kỳ.


Vào đời Tự Đức (1858), Pháp tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của Pháp vào Việt Nam. Tại Hải Dương nhiều huyện như Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Gia Lộc, thành Hải Dương bị giặc chiếm đóng, triều đình phải huy động quân từ nhiều tỉnh, kể cả Thanh Hóa và Nghệ An, có lúc số quân huy động lên tới 15.000 quân cùng nhiều thuyền tàu và đại bác dẹp giặc.


Năm Thành Thái thứ 9 (1897), Pháp đặt sở đại lý ở Ninh Giang.


Năm 1919, Pháp bỏ cấp phủ - cấp hành chính trung gian - phủ chỉ là tên gọi cho những huyện lớn và quan trọng, không quản các huyện nữa. Vì vậy, sau năm 1919 tên gọi huyện Ninh Giang thay cho tên gọi huyện Vĩnh Lại.


Trong thời kỳ Pháp tạm chiếm, vào năm 1951, Ninh Giang là quận và thuộc tỉnh Vĩnh Ninh. Tỉnh Vĩnh Ninh gồm các quận: Ninh Giang, Hà An, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng và Phụ Dực.


Sau năm 1954, huyện Ninh Giang trở thành thị xã Ninh Giang thuộc tỉnh Hải Dương.


Tháng 9 năm 1959, thị xã Ninh Giang hạ cấp trở lại thành huyện Ninh Giang. Từ đó, huyện có thị trấn Ninh Giang (huyện lỵ) và 27 xã: An Đức, Đồng Tâm, Đông Xuyên, Hiệp Lực, Hoàng Hanh, Hồng Dụ, Hồng Đức, Hồng Phong, Hồng Phúc, Hồng Thái, Hưng Long, Hưng Thái, Kiến Quốc, Nghĩa An, Ninh Hải, Ninh Hòa, Ninh Thành, Quang Hưng, Quyết Thắng, Tân Hương, Tân Phong, Tân Quang, Ứng Hòe, Văn Giang, Văn Hội, Vạn Phúc, Vĩnh Hòa.


Năm 1968, tỉnh Hải Dương sáp nhập với tỉnh Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, huyện Ninh giang thuộc tỉnh Hải Hưng.


Ngày 1 tháng 4 năm 1979, huyện Ninh Giang sáp nhập với huyện Thanh Miện thành huyện Ninh Thanh.


Đến đầu năm 1996, huyện Ninh Thanh lại được tách ra thành 2 huyện như cũ. Huyện Ninh Giang có 1 thị trấn và 27 xã như hiện nay.


Kết quả khảo sát và khảo cổ học năm 1982 ở huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình) giáp với Ninh Giang qua sông Luộc, phát hiện thấy phế tích mộ đời Hán. Công trình trên kết luận: vùng đất Quỳnh Phụ ít ra trước kia cũng có dân cư trước Công nguyên, cư dân từ trung du (Vĩnh Phú,Tuyên Quang) hoặc Biển (Thanh Hóa –Nghệ An) đến lập nghiệp ở đây. Ninh Giang xa biển hơn Quỳnh Phụ, đất bồi tụ trước quỳnh Phụ vì vậy mà sẽ có dân cư trước Quỳnh Phụ. Như vậy muộn nhất cư dân Ninh Giang cũng phái có trước Công nguyên (tức hơn 2000 năm ).


Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đất nước lại trải qua 1000 năm Bắc thuộc.


- Vào thế kỷ thứ X, tương truyền rằng có một người ở làng Cúc Bồ (nay là xã Kiến Quốc) là Khúc Thừa Dụ đã chiêu binh mã nổi dậy chống quân đô hộ phương Bắc. Trong lịch Triều hiến chương loại chí có ghi:


-       “Cuối đời Đường thổ hào là Khúc Thừa Dụ người Hồng Châu chiếm lấy cứ thành tự xưng là Tiết Độ Sứ.. rồi đến cháu là Khúc Thừa Mỹ nối chức, yêu cầu nhà Lương cho làm Tiết Độ Sứ. Khi ấy nhà Nam Hải chiếm đất Phiên Ngung, đem quân đánh bắt được Khúc Thừa Mỹ, rồi đặt Thứ Sử. viên tướng của Khúc là Dương Đình Nghệ nổi lên đánh châu thành, tự xưng là Tiết Độ Sứ, sau bị nha tướng là Kiều Công Tiến giết chết. Khi ấy có một biệt tướng của Diên Nghệ giết Tiến, đánh quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, tự xưng là vua đóng đô ở Loa thành (Cổ Loa ngày nay)


-       Vào thế kỷ thứ XV sau cuộc bảo vệ đất nước của nhà Hồ thất bại nước ta bị ách thống trị của Nhà Minh -Trong thời kỳ này sử còn ghi lại một sự kiện:Vào mùa xuân năm 1418 Lê Lợi dấy binh ở Thanh Hóa thì 1419 tại châu Hạ Hồng, Trịnh Công Chứng và Lê Hành dấy quân đánh Tống binh Lý Bân của nhà Minh ở vùng Bắc.


Sau cuộc kháng chiến thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên một vương triều phong kiến cực thịnh ở Việt Nam. Ở thời điểm đó Ninh Giang chứng kiến sự kiện lạ, sử cũ ghi: “Mùa hạ, tháng tư năm 1443, có rồng hiện ở bến đò Hóa (huyện Vĩnh Lại)”


-       Đầu thế kỳ thứ XVI nhà Lê bước vào thời suy vong. Mạc Đăng Dung soán ngôi nhà Lê, trong nước diễn ra nhiều cuộc chiến một bên là Chúa Trịnh (dưới danh nghĩa Phù Lê) và một bên là Mạc. Đây là thờ kỳ nội chiến kéo dài, chiến tranh xảy ra liên miên. Ninh Giang nằm trong vùng chiến ác liệt. Tháng 2/1959 sau khi thu phục xứ Hải Dương Trịnh Tùng sai quân đến xã Thanh Giang (huyện Vĩnh Lại) đóng quân vài hôm rồi về kinh.


-       Năm 1594 phủ Hạ Hồng có nhiều quân cát cứ chống Trịnh Tùng. Tháng 7 năm ấy Mạc Kính Chương chiếm huyện Thanh Hà và Tứ Kỳ, còn huyện Vĩnh Lại có Lai Quận Công. Những năm ấy xứ Hải Dương mất mùa to, chết đói 1/3.


-       Năm 1595 Trịnh Tùng cử Trịnh Văn chương về trấn giữ huyện Vĩnh Lại. Năm 1598 Nguyễn Hoàng lại được cử về xứ Hải Dương dẹp quân chống đối. Thời Lê Trung Hưng vào năm 1740 có nhiều cuộc nổi dậy chống nhà Chúa: Thái Bình có Công Chất, Nam Hà có Tú Cao, Vĩnh Phú có Nguyễn Danh Phương và Hải Dương có Hữu Cầu (Quận He). Ninh Giang là một trong những địa bàn hoạt động của Quận He. Tại đất Tranh Xuyên có những trận giao tranh quyết liệt giữa quân nổi dậy và quân Triều đình. Một lần quân Triều đình bị vây ở đât Tứ Kỳ, danh tướng Triều đình là Hoàng Ngũ Phúc phải đến giải vây, Khi qua vùng Ninh Giang bị quân nổi dậy chặn đánh gây nhiều thiệt hại. Triều đình phải cử quân của Phạm Đình Trọng về đánh quân của Nguyễn Hữu Cầu ở ngã ba sông Tranh. Lần ấy quân Nguyễn Hữu Cầu thua chạy.


-       Vào đời Gia Long 1808 vùng Hải Dương có quân Tàu Ô làm loạn. Nhân dân huyện Vĩnh Lại và một số huyện trong vùng cùng quân Triều Đình chiến đấu anh dũng, bắt được nhiều giặc, được Vua ban thưởng.


Vào đời Tự Đức (1858), Pháp tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của Pháp vào nước ta. Tại Hải dương nhiều huyện như Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Gia Lộc, thành Hải Dương bị giặc chiếm đóng, triều đình phải huy động quân từ nhiều tỉnh, kể cả Thanh Hóa và Nghệ An, có lúc số quân huy động lên tới 15000 quân cùng nhiều thuyền tàu và đại bác dẹp giặc.


Di tích văn hóa


Không nổi tiếng về du lịch nhưng Ninh Giang cũng có một vài Đền, Chùa mang đậm dấu ấn lịch sử như: Đền quan tuần Tranh (hay còn gọi là đền Tranh) là một trong những ngôi đền lớn và nổi tiếng ở Ninh Giang, Chùa Chông, Đình Làng Xuyên Hử,... Đình Làng Xuyên Hử là nơi thờ Vị Thành Hoàng của Làng, trong kháng chiến chống Pháp người dân địa phương đã che dấu cán bộ cách mạng tại đây... người dân còn tháo dỡ Đình Làng lấy vật liệu làm cầu Đồng Bình phục vụ kháng chiến. Tháng 3 năm 2006 được sự đồng ý của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương đình làng Xuyên Hử đã được tái tạo lại.


Địa phận xã Tân Phong thuôc huyện Ninh Giang trước đây có rất nhiều các di tích đình, chùa, miếu mạo. Đặc biệt đình Chuông với những cât cột gỗ lim hai người ôm và những phiến đá xanh lát hè nặng hàng chục tấn, Chùa Chuông với rất nhiều tượng phật... Hiện nay đình chùa đã bị phá hết (trong cải cách văn hoá), thời gian gần đây, người dân đã phục dựng lại chùa Chuông ở một vị trí khác nhưng các tượng thì đã không còn (đã bị thiêu hủy trong cải cách văn hoá). Năm 2005 chính quyền địa phương đã tổ chức khai quật tại nơi chôn những pho tượng phật của chùa Chuông cũ và thu giữ được rất nhiều di vật cổ gồm vài chục ngôi tương gỗ không còn nguyên vẹn nhưng những đường nét điêu khắc trên tượng của người xưa được xem là rất tinh tế và đẹp thì vẫn còn gần như nguyên vẹn. Hiện số tượng phật này vẫn được cất giữ tại chùa Chuông mới.


Đền La Khê thuộc Xã Ninh Thành Huyện Ninh Giang Tỉnh HảI Dương. khi xưa gọi là Làng Vào thuộc xã La Khê ( ) Tổng Đông Bối ( ) phủ Ninh Giang ( ) tỉnh Hải Dương ( )


Tương truyền Đền La Khê được nhân dân xây dựng từ rất sớm ở khu đất cao ở giữa làng, thờ Tượng Vị Tướng Quân HỒ ĐẠI LIỆU. Đền đã được tu sửa nhiều lần. Đến năm Duy Tân thứ 8 (1914) ngôi Đền được trùng tu và mở rộng.Kiến trúc kiểu chữ đinh () Gồm 5 gian Tiền tế và 3 gian Hậu cung . Đền còn giữ nguyên các hoa văn ,phù điêu mang nét văn hoá thời Nguyễn và các hiện vật như : Ngai thờ ,Mũ đồng ,Khám chỉ ,Bát biểu ,Xà mâu v .v .và 3 pho tượng: Tượng Vị Tướng Quân HỒ ĐẠI LIỆU Phò Bà Trưng ,Giữ chức : Điện Tiền đô chỉ huy Sứ Tướng Quân Tượng Mẫu Hậu Huệ Nương (Mẹ của Tướng Quân Hồ Đại Liệu ). thờ Tượng Ngài Hà Quý Công -tự Bút Hoa Đỗ Thám hoa đời Trần. Đền La Khê suy tôn Vị Tướng Quân HỒ ĐẠI LIỆU Là Thành hoàng làng Có nhiều sắc phong Qua¸các Triều Đại Hiện Được Lưu giũ tại Sở văn Hoá Tỉnh Hải Dương và Viện thông tin khoa học xã hội i: (TT – TS FQ 4018 I X ,44 F2). Không những vậy Đền La Khêtrong 9 năm kháng chiến chống Pháp Đền cũng là nơi sơ tán của Trường Đại học Bắc Sơn được đón Đ/c Tôn Đức Thắng về thăm và nói chuyện và cũng là trụ sở hội họp của Mặt trận cứu Quốc Huỵện Ninh Giang Năm 1949 Đền La Khê là Bệnh viện dã chiến của Quân khu Tả Ngạn Thế rồi Năm 1952 Giặc Pháp càn quét đốt phá phần Hậu cung hỏng hoàn toàn.Tượng,đồ thờ đã được nhân dân cất giữ năm gian tiền tế không được trùng tu đã mai một xuống cấp theo thời gian. Đến tháng 10 – 1997 được nhân dân tu tạo rât khang trang . HALUU ST


Đền thờ Khúc Thừa Dụ tại Thôn Cúc Bồ, xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, Tỉnh Hải Dương, khánh thành đền thờ ngày 11-9 -2009. Đền thờ thờ 3 pho tượng: Khúc Thừa Dụ- Khúc Thừa Hạo -Khúc Thừa Mỹ


Công trình có tổng diện tích hơn 57.000m2, gồm 5 hạng mục chính, được khởi công xây dựng năm 2005, với tổng vốn đầu tư 38.3 tỷ đồng. 3 loại vật liệu quý để làm đền thờ là đá xanh, gỗ lim và đồng.


Đền thờ Anh hùng Dân tộc Khúc Thừa Dụ nằm giáp đê sông Luộc, mặt đền quay theo hướng Nam. Từ ngoài vào trong đền qua chiếc cầu đá, đến sân hội, với hai bức phù điêu ghép bằng các tảng đá lớn. Các họa tiết được chạm khắc công phu, mô tả quang cảnh nhân dân tụ nghĩa theo Tiên Chúa Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ và cuộc sống thái bình, an cư lạc nghiệp.


Đây là một công trình có ý nghĩa lịch sử, văn hóa và du lịch to lớn, nhằm tôn vinh người Anh hùng dân tộc có công đặt nền móng cho nền độc lập, tự chủ của Việt Nam sau 1.000 năm chịu ách thống trị của phong kiến phương Bắc, là một biểu tượng đẹp về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hải Dương.


Cùng với những di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng trong tỉnh như Côn Sơn-Kiếp Bạc, Văn miếu Mao Điền, Đền thờ Nhà giáo Chu Văn An, Đền thờ Khúc Thừa Dụ sẽ là một địa chỉ thu hút khách tham quan, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ...


Giao thông


Theo đường bộ, huyện Ninh Giang cách thành phố Hải Dương 29 km, Hà Nội 87 km.


Về đường bộ tiếp giáp và có các con đường chạy qua 17A, 17B, 217.


Đi thành phố Hải Dương và huyện Vĩnh Bảo bằng đường 17A


Đi Quý Cao và Hải Phòng bằng đường 17B


Đi Quỳnh Phụ (Thái Bình) bằng đường 217


Đi Hưng Yên bằng tuyến sông Luộc.


*


BỘ NỘI VỤ


******


VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA


Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


********


Số: 20-NV


Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 1965


QUYẾT ĐỊNH


VỀ VIỆC ĐỔI THỊ XÃ NINH GIANG THUỘC HUYỆN NINH GIANG THÀNH THỊ TRẤN NINH GIANG THUỘC HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG


BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ


Căn cứ nghị định số 130 –CP ngày 29 tháng 9 năm 1961 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nội vụ và nghị định bổ sung số 31-CP ngày 20 tháng 3 năm 1963;


Căn cứ quyết định số 56-CP ngày 24 tháng 4 năm 1963 của Hội đồng Chính phủ ủy nhiệm cho Bộ Nội vụ phê chuẩn sự phân vạch địa giới có liên quan đến các đơn vị hành chính xã và thị trấn;


Theo đề nghị của Ủy ban hành chính tỉnh Hải Dương;


QUYẾT ĐỊNH:


Điều 1. Nay đổi thị xã Ninh Giang thuộc huyện Ninh Giang thành thị trấn Ninh Giang thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.


Điều 2. Ủy ban hành chính tỉnh Hải Dương và ông Vụ trưởng Vụ chính quyền địa phương Bộ nội vụ chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.


KT. BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ


THỨ TRƯỞNG Lê Tấc Đắc


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trung Quốc - Cuộc chạy đua 100 năm - Phạm Phú Khải 21.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (46) - Nguyễn Văn Khỏa 18.11.2019
Cựu thủ tướng Hungary Miklos Németh: Không ai ngờ Bức màn sắt sụp đổ nhanh đến thế - Tư liệu sưu tầm 14.11.2019
Cố vấn Võ Văn Kiệt gặp mặt các nhà văn viết về Công nghiệp - Hà Văn Thùy 12.11.2019
Ba Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa - Tư liệu 08.11.2019
Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ Đường 9 Đoạn? - Trương Quang Nhuệ 08.11.2019
Cuộc xung đột âm thầm - Tư liệu sưu tầm 07.11.2019
Thần thoại Hy Lạp (45) - Nguyễn Văn Khỏa 07.11.2019
Về chiếc bàn làm việc của Tổng thống Mỹ - Nhiều tác giả 07.11.2019
Charlie Chaplin và đàn bà… - Tư liệu sưu tầm 05.11.2019
xem thêm »