tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30528522
Những bài báo
11.11.2019
Triệu Xuân
Nhớ thời học Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội

Ảnh chụp tại căn cứ bên dòng Trà Nô, một trong những dòng suối đầu nguồn sông Thu Bồn, Tháng 7-1974.


 


Từ thời học tiểu học, cho đến hết trung học (cấp III), tôi luôn luôn là học sinh giỏi, nhiều lần đi thi học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc. Năm 1967, tôi được Chủ tịch nước khen thưởng. Tháng 6-1969, tôi trúng tuyển vào Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tháng 12-1973, cách nay 46 năm, gần 100 sinh viên khóa 14 tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội.


Luận văn tốt nghiệp của tôi có tựa đề: “Hình tượng người chiến sỹ trong thơ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ”. Ngày tôi bảo vệ luận án, Thầy hướng dẫn là Hà Minh Đức, Thầy phản biện là Phan Cự Đệ cùng Hội đồng khoa học đánh giá cao luận văn của tôi. Sau đó ít ngày, tôi được Thầy Đỗ Đức Hiểu, chuyên gia hàng đầu về Văn học Phương Tây, người Thầy có lòng quý yêu tôi, gợi ý: “Nếu em có ý định xin về Viện Văn học công tác thì thầy ủng hộ, thầy sẽ có lời giới thiệu với tư cách cá nhân…”. Tôi chân thành cám ơn Thầy Hiểu và nói: “Thưa Thầy, em rất mê làm Nghiên cứu, Lý luận Văn học, nhưng em mê sáng tác hơn nhiều! Em sẽ về cơ quan nào được đi nhiều, trải nghiệm nhiều, thu thập nhiều vốn sống để viết báo, viết văn. Chắc là em tình nguyện vào Nam làm phóng viên chiến trường, Thầy ạ!”. Thế là Thầy Đỗ Đức Hiểu, một giáo sư mảnh khảnh, gầy yếu tiến đến ôm chặt lấy tôi, một học trò cao nhòng nhưng ốm nhom gày nhách. Sự chân tình của Thầy qua cái ôm ấy khiến tôi xúc động. Thầy nói: “Nếu anh đã quyết như thế, tôi tin rằng anh sẽ sớm trưởng thành, hãy nhớ rằng ở hậu phương, tôi vẫn luôn dõi theo anh từng bước!”.


Ngay sau ngày đến thăm Thầy Hiểu tại căn hộ nhỏ bên hông một trường phổ thông trung học, ở phố Hàng Bài, tôi làm đơn tình nguyện vào Nam làm phóng viên chiến trường. Từ năm 1969, khi nhập học tại Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp, rất nhiều lần tôi tình nguyện nhập ngũ, nhưng đều bị từ chối, lý do là tôi thuộc diện “con một”. Lần này cũng thế. Ủy ban Thống nhất Trung ương thông qua phòng Tổ chức cán bộ của CP90 cho gọi tôi, nói rõ: Anh thuộc diện “con một”, không phải đi B, không ra mặt trận! Tôi tha thiết đề nghị nhiều lần, ông Phan Triêm, lúc ấy là Phó Chủ nhiệm thứ nhất Ủy ban Thống nhất Trung ương, chắc là “đọc” được ngọn lửa nhiệt thành trong lòng tôi, nên trả lời: “Vậy thì anh phải mời bố anh lên đây làm Cam kết đồng ý cho đi”. Sự việc tiến triển y như thế. Tôi về nhà, năn nỉ Bố Mẹ đồng ý cho con đi B. Sau hai ngày đêm, Bố Mẹ tôi đành siêu lòng. Bố tôi gặp gặp ông Phan Triêm, gặp Phòng Tổ chức cán bộ CP90 với Giấy Cam kết, trong đó có câu: “Gia đình tôi biết con trai mình đã quyết việc gì thì làm bằng được, không gì lay chuyển…”.


 


Thời ấy, ngọn lửa Lý tưởng trong thanh niên chúng tôi chói sáng vô cùng. Được đóng góp tâm sức mình cho cuộc kháng chiến, giành Độc lập, Hòa bình, Thống nhất đất nước thì có hy sinh tính mạng cũng dấn thân, lăn xả. Những câu thơ như: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sông…/ trong bài Sao chiến thắng của Chế Lan Viên (11-8-1964), và rất nhiểu bài thơ của các nhà thơ khác, tiếp cho chúng tôi nguồn động lực rất mãnh liệt để xin bằng được ra mặt trận.


 


Ăn Tết Nguyên Đán xong, chúng tôi bí mật tập trung tại một vùng rừng núi tỉnh Hòa Bình để luyện tập. Tại đây, chúng tôi thực sự là những người lính vượt Trường Sơn ngay từ những ngày đầu. Tất cả diễn ra y như ngoài mặt trận. Chúng tôi được huấn luyện từ thể lực (mang ba lô chứa gạch), cách vượt bãi mìn, băng qua vực sâu, băng qua sông mùa lũ, tìm cây rừng có thể cháy giữa mùa mưa để nhóm lửa nấu cơm… cho đến tự cứu thương, chữa bệnh, tiêm bắp, tiêm ven (chích thuốc vào mạch máu), thậm chí còn được hướng dẫn đỡ đẻ, cấp cứu ruột thừa khi bị viêm cấp… Tất nhiên là chúng tôi được học bắn súng, từ súng ngắn cho đến tiểu liên. Tôi còn tranh thủ người quen thân để tự học lái xe… Lạ lắm, gian khổ vô cùng vậy mà trong người lúc nào cũng hừng hực khí thế sẵn sàng ra trận.


 


Một đêm cuối Xuân còn se lạnh, chúng tôi làm “Cuộc chia ly màu đỏ” - Thơ Nguyễn Mỹ- tại Công viên Thống nhất, vào lúc 11 giờ đêm. Trưởng đoàn là nhà báo Thắng Lộc. Tên hiệu mật của chúng tôi là “Đoàn Vinh quang”, thực chất là Đoàn Phóng viên mặt trận của Đài phát thanh Giải phóng tại Trung Trung bộ. Giấy tờ riêng tư của từng người phải để lại hết. Đúng 12 giờ, đoàn xe commăngca chở chúng tôi lặng lẽ rời Hà Nội. Cùng khóa 14 Khoa Ngữ Văn có ba người: tôi, Chu Thúy Hoa, người bạn gái thân thiết ngay từ khi mới nhập trường đại học của tôi và Lê Ngọc Văn học bên lớp Ngữ (sau năm thứ nhất học chung giảng đường, thì khóa 14 chia ra thành hai lớp: lớp Văn 55 sinh viên, lớp Ngữ hơn 40 sinh viên). Xe của tôi có nhà văn Đoàn Minh Tuấn, Chu Thúy Hoa, tôi và nhà biên kịch, đạo diễn phim tài liệu Lâm Quang Ngọc. Vào đến bờ Bắc sông Hiền Lương, chúng tôi nghỉ, ăn tối để lái xe chuẩn bị xăng dầu qua cầu Hiền Lương, đến Đông Hà rồi rẽ tay phải, theo đường 9 đi tới biên giới Lào. Từ đó, đoàn xe của chúng tôi rẽ trái theo đường Trường Sơn vô chiến trường Trung Trung bộ (Khu Năm).


 


Đêm khởi hành có 6 xe, chạy được hai ngày thì chỉ còn 5 xe, phải dồn người lên 5 xe đi tiếp. Trước khi lên xe qua cầu Hiền Lương, dù biết là không được phép, tôi lấy khẩu K 59 nổ lên trời ba phát: Tạm biệt miền Bắc, tạm biệt cha mẹ, người thân, chúng tôi ra mặt trận! Nhóm phóng viên chiến trường trẻ măng như tôi, Thúy Hoa, Lê Ngọc Văn, Trịnh Kim Anh, Tuấn Sửu…nhanh chóng quen với sinh hoạt chiến trường. Những gì được huấn luyện tại Hòa Bình vô cùng quý giá. Vào đến căn cứ của Khu Ủy Khu 5, chúng tôi nghỉ ngơi được vài ngày là xin đi công tác ngay. Nơi đầu tiên tôi đến là huyện Nông Sơn tỉnh Quảng Nam, tôi viết về cuộc sống vô cùng gian khổ của bà con vùng mới giải phóng sau trận tiêu diệt cứ điểm Nông Sơn, Trung Phước. Tôi say sưa đi và viết, hết chuyến này đến chuyến khác, không ngưng nghỉ… Mỗi đợt đi công tác từ 5 đến 10 ngày. Mỗi lần về căn cứ là có hàng chục bài bài báo, băng ghi âm để tổ điện báo chuyển bằng máy vô tuyến ra Hà Nội. Mỗi lần phát sóng, phải đạp xe để phát điện, và cử người canh gác để phòng máy bay địch phát hiện, gọi pháo bầy từ Đà Nẵng tiêu diệt! Những bài báo của tôi được phát trên cả hai đài: Đài Tiếng nói Việt NamĐài Giải phóng, rất nhiều bài được in trên báo Nhân Dân.


 


Trong chiến dịch giải phóng cứ điểm Thượng Đức, tôi bị thương nặng. Thượng Đức là một dãy núi có đỉnh cao 1062 mét. Trên đỉnh núi, địch xây dựng sân bay, công sự ngầm, hiện đại, hỏa lực rất mạnh. Những ấp, xã quanh Thượng Đức được quân đội Sài Gòn xây dựng thành tầng tầng lớp lớp cứ điểm phòng ngự, ngăn cản quân giải phóng chiếm Thượng Đức. Từ đây theo đường chim bay, cách Đà Nẵng chưa đầy 40 Km. Ta quyết chiếm cứ điểm này để tiến tới giải phóng thành phố Đà Nẵng. Ba lữ đoàn Dù của quân đội Sài Gòn tử thủ cứ điểm này. Ta và địch đều bị hy sinh rất nhiều người trong những đợt giao tranh ác liệt kéo dài năm sáu tháng. Từ sông Vu Gia, quân ta tấn công lên núi, bị hỏa lực địch quét sạch hết đợt này đến đợt khác…, không người đâu chịu thấu. Cuối cùng, ta phải dùng pháo tầm xa, tập trung cao độ hỏa lực, kéo dài nhiều giờ đồng hồ, không cho giặc ngóc đầu; rồi bộ binh tràn lên, dùng B40, B41 tiêu diệt dứt điểm... Chiếm được, rồi lại phải rút, rút lui rồi lại tấn công… có điểm kéo dài điệp khúc ấy cả tuần lễ. Máu người của cả hai bên chảy đậm đỏ mặt sông Vu Gia nhiều tuần liền!


 


Tôi bám Sở chỉ huy tiền phương của một trung đoàn thuộc Sư 325 gần hai tuần, viết được nhiều tin, bài chiến sự. Tôi xin mãi mới được lên cao điểm, nơi đang giao tranh ác liệt. Tôi được gửi theo đoàn xe chở đạn pháo lên chốt. Đoàn xe có hơn chục xe, chạy lúc 11 giờ đêm. Tôi ngồi xe thứ ba, trên cabin. Xe chạy như rùa vì đường mới mở, xẻ núi, nền được không vững, nhiều xe bị lún, không thể chạy nhanh. Bỗng tôi nghe tiếng nổ lớn ở phía trước. Pháo của địch bắn trúng xe đi dầu. Rối đến lượt chiếc xe tôi đang ngồi. Nhưng, tôi không kịp biết gì nữa… Hai ngày sau tôi tỉnh lại, ở Trạm Quân y tiền phương. Toàn thân bầm dập, mất máu nhiều, xương cốt nguyên vẹn nhưng nặng nhất, đáng ngại nhất là vết thương ở đầu… Một tuần sau, tôi được chuyển về Bệnh viên của Mặt trận 44, Quân khu 5.


 


Người Y sỹ được phân công chăm sóc tôi tên là Phùng Kiều Sính, quê ở Chi Lăng, Lạng Sơn. Rất nhiều lần tôi bị cơn choáng, ngã xuống suối, xuống giếng, trong rừng… Nếu không có sự tận tâm của Kiều Sính, tôi đã chết từ hồi đó.


 


Sau khi ra viện, tôi nóng lòng xin theo chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Trưởng đoàn Thắng Lộc biết tôi còn rất yếu, cấm tôi không được rời căn cứ. Một lần qua suối Trà Nô để họp tại Ban Tuyên huấn Khu 5, tôi bị choáng ngất giữa rừng... May mà có Mai Nhung phát hiện. Mai Nhung cõng tôi về cấp cứu kịp thời…


Mùa Xuân năm 2015, sau hàng chục năm tìm kiếm rốt ráo, tôi đã tìm được ân nhân của mình: Phùng Thị Kiều Sính. Lúc này Kiều Sính đã nghỉ hưu, nhà cách Trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 15 Km. Còn Mai Nhung, cùng tuổi Nhâm Thìn với tôi, sau chiến tranh, chị ra Hà Nội học rồi làm Tổng biên tập báo Nông thôn Ngày nay. Chúng tôi là chỗ thân thiết, keo sơn…


 


Sau tiếp quản Đà Nẵng, tôi vô Sài Gòn, làm việc tại Đài phát thanh Giải phóng. Khi sáp nhập vào Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi làm tại cơ quan thường trú Đài TNVN tại TP Hồ Chí Minh. Đây là thời kỳ sung sức nhất trong đời viết báo, viết văn của tôi. Năm 1979, tôi viết xong tác phẩm đầu tay: truyện dài “Những người mở đất”, mãi 4 năm sau, năm 1983, mới được xuất bản. Từ đó, bên cạnh viết báo, năm nào tôi cũng xuất bản tiểu thuyết. Tôi chuyên viết tiểu thuyết theo dòng hiện thực phê phán! Năm 1990, tôi làm Phó Ban Biên tập chương trình tiếng Khmer. Năm 1993, Đài TNVN thành lập Chương trình phát thanh Tổng hợp giành cho Nam Bộ, tôi được cử làm Trưởng Ban Biên tập. Năm 1997, tôi chuyển cơ quan, làm Phó Trưởng cơ quan Đại diện báo Đầu tư – Vietnam Investment Review. Đến năm 2000, tôi chuyển về làm Giám đốc Chi nhánh Nhà xuất bản Văn học tại TP Hồ Chí Minh cho đến khi về hưu tháng 10- 2012.


 


Chiến tranh kết thúc, tôi may mắn còn sống! Bao nhiêu người đã ngã xuống ở chiến trường để có ngày đất nước hòa bình, thống nhất hôm nay…


 


Nhìn lại cuộc đời một người làm báo, viết văn, làm xuất bản… tôi rất vui vì có hàng ngàn bài báo phát trên đài, thường xuyên có bài in trên năm,sáu tờ báo lớn. Về Văn học, tôi đã xuất bản hơn chục cuốn tiểu thuyết theo dòng hiện thực phê phán, (nhiều cuốn tái bản hơn chục lần), cùng nhiều truyện ngắn, bút ký, tiểu luận, phê bình văn học… Khi làm xuất bản, tôi đã sưu tầm, tuyển chọn, biên tập, viết Lời tựa để xuất bản hàng chục bộ Tuyển tập, Toàn tập của các nhà văn danh tiếng bị bụi thời gian và chính kiến làm lu mờ, hoen ố. Tôi tìm mọi cách vinh danh họ, đưa tác phẩm của họ trở lại với người đọc, coi đó là tài sản vô giá của nền Văn học dân tộc.


 


Hơn 45 năm sống và viết, tôi không ngừng tự học, trau dồi nghề nghiệp để bồi bổ tri thức, tăng cường nội lực, cảm hứng sáng tạo. Tôi tự hào đã được đào tạo tại Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, là học trò của thế hệ thầy cô toàn những bậc tài ba, tâm huyết, đức độ... Tôi biết ơn các Giáo sư tại Khoa Ngữ Văn đã yêu quý, tận tụy truyền dạy kiến thức cho mình. Các thầy, cô: Đỗ Đức Hiểu, Lê Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh, Nguyễn Văn Khỏa, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Hoàng Như Mai, Lê Đình Kỵ,… Tôi nhớ và yêu kính tất cả các thầy cô đã truyền dạy kiến thức và nhân cách, làm nền tảng vững bền cho chúng tôi bước vào đời...


 


Tôi nhớ và yêu các bạn đồng môn, đồng khóa! Mùa Thu năm nào vợ chồng tôi cũng ra Hà Nội, đi các tỉnh miền Bắc từ ba tuần đến một tháng. Năm nào chúng tôi cũng được gặp lại nhiều bạn bè ở nhà người bạn thân thiết Chu Thúy Hoa. Tháng 11-2018 vừa qua, tôi cùng  người vợ hiền – Lê Thị Hạnh được gặp lại cùng lúc gần 20 bạn đồng khóa ở Nhà hàng Bánh Tôm Hồ Tây. Mấy chục năm xa cách, nay hội ngộ! Biết bao điều cần tâm sự mà thjời gian quá ngắn… Hân hoan lắm! Hạnh phúc lắm! Tôi luôn luôn nhớ, yêu các bạn!


 


Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30-12-2018


TX.


Nguồn: In sách Kỷ yếu khóa 14 Khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. NXB Đại học Quốc gia, 2019.


www.trieuxuan.info


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà văn Triệu Xuân NÓI THẬT - Triệu Xuân 07.12.2019
Một vài bài về nhà văn Vũ Hùng - Nhiều tác giả 07.12.2019
Các mối quan hệ xã hội trong làng Vũ Đại - Nguyễn Đức Mậu (Mậu Tuất) 03.12.2019
Bùi Quang Huy và nghĩa cử của kẻ hậu sinh - Thu Trân 03.12.2019
Vì sao tôi viết tiểu thuyết VN. Mafia – Sóng lừng? - Triệu Xuân 01.12.2019
Thư về Thơ - Đỗ Quyên 29.11.2019
Alexandre de Rhodes có nói như thế không? - Trần Thanh Ái 27.11.2019
Giữ gìn trong sáng tiếng Việt! - Tư liệu 27.11.2019
Tiểu thuyết "Cõi mê" của nhà văn Triệu Xuân làm xôn xao dư luận! - Thanh Chung 13.11.2019
Khi người Anh Hùng lên tiếng - Phạm Thành Hưng 12.11.2019
xem thêm »