tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30437887
Lý luận phê bình văn học
14.11.2019
Nhiều tác giả
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu


Hồng Nhu văn dậy hồn xưa đầm phá


Sinh năm Nhâm Thân (1932), tính theo tuổi mụ, năm nay nhà văn Hồng Nhu bước sang tuổi 86, thuộc vào hàng “cây đa, cây đề” của làng văn Thừa Thiên Huế.


“Thắp hương khấn vái xong, ông già lại hô:


-  Xuống đầm!


Đôi trai gái đến nhót từ trong thau ra mỗi người một con cá ngậm ngang mồm, trút bỏ áo quần, trần truồng dắt tay nhau xuống nước. Hai con cá ấy là lễ vật dâng thần đầm. Chúng sẽ chứng kiến cái giờ phút thiêng liêng hòa nhập vào làm một của đôi vợ chồng mới cưới, ngay trong lòng nước...


Cuộc giao phối xong, đôi trai gái mới được há miệng. Hai chú cá liền bơi đi. Thế là kết thúc buổi tân hôn” (“Lễ hội ăn mày”).


 


Sau ba lần tai biến, từ đầu năm nay, nhà văn Hồng Nhu không viết nữa. Bây giờ, buổi sáng ông chậm rãi đi ra quán cà phê đầu ngõ, nhìn ngắm thiên hạ rồi về nhà. Ông nói chuyện hơi khó khăn nhưng vẫn dí dỏm khi nghe tôi hỏi về lễ hợp cẩn của người dân đầm phá quê hương ông: “ Xưa là vậy đó. Bây giờ không ai làm lễ vậy nữa”. Trong ánh mắt gói ghém nét cười tinh nghịch, tôi như thấy cả một vùng đầm phá Cầu Hai mênh mông quê ông, làng Mỹ Lợi - xã Vinh Mỹ - huyện Phú Lộc. Trên mặt đầm mênh mông ấy, như còn thấy rõ hình ảnh anh vạn chài nghèo khổ “vạm vỡ, có vẻ bặm trợn nhưng hiền như cọng rong” - những chàng trai ấy nghèo đến nỗi phải lên bờ đi bắt vợ, nếu không họ sẽ chết già vì gái trên bờ không ai dám lấy họ cả và họ cũng tin rằng Hà Bá cho phép họ làm như vậy.


 


Người ta bảo Hồng Nhu là nhà văn đầm phá, tôi nghĩ những trang viết của ông còn mang thêm một giá trị nữa, đó là giá trị tư liệu về những phong tục, nếp sống của người dân vùng nước lợ này thời cách đây gần một trăm năm và có thể hơn thế nữa. Nhiều phong tục nay không còn như lễ hợp cẩn dưới nước, lễ nhập vạn chài, lễ dâng thần đầm, đặc biệt là lễ hội dành cho người ăn mày tứ xứ vào ngày mồng 2 Tết của bà con làng Mỹ Lợi mà ông viết thành truyện ngắn “Lễ hội ăn mày”.


 


Có thể nói “Lễ hội ăn mày” là đỉnh cao của Hồng Nhu khi viết về đề tài đầm phá. Ở đó, người đọc nhận ra những phong tục làm nên đời sống tâm linh thiêng liêng và nhân bản, làm nên nét văn hóa độc đáo của người dân đầm phá. Những mâm cơm tình nghĩa không chỉ là để ăn cho no mà còn thể hiện sự tôn trọng dành cho người nghèo khó, lang thang cơ nhỡ: “Từ tinh sương, các gia chủ trong làng, mỗi nhà một mâm cỗ, to nhỏ tùy theo hoàn cảnh và lòng thiện của từng nhà, bưng ra bày ở chợ Cồn, kèm theo mâm cỗ là những câu đối chúc tết, bộ bài thẻ ghi phúc - lộc - thọ hoặc phú – quý - an... Chủ lễ do dân làng cử ra hàng năm, thường là một cụ già. Cụ khăn áo đàng hoàng làm nhiệm vụ khấn vái thổ thần phù hộ cho những người nghèo đói bất hạnh phải lâm vào cảnh ăn mày ăn xin được may mắn, mau chóng thoát cảnh đầu đường xó chợ, sống có cửa nhà, có cái ăn, cái để...” (“Lễ hội ăn mày”).


 


 


 


“Khu vực chợ Cồn nơi diễn ra lễ hội ăn mày đó bây giờ còn không chú?”, câu hỏi gợi ký ức của tôi đưa ông về miền xa xăm. Vợ nhà văn Hồng Nhu đỡ lời: “Đó là một cồn đất ở cạnh chợ mà bây giờ là trường tiểu học”.


 


Còn nhớ lần về thăm làng Mỹ Lợi quê ông cùng nhà văn Nguyễn Quang Hà.  Những trảng cát trắng bao quanh, nghe tiếng gió lồng lộng trên những hàng dương liễu, nhà ông ở gần phá. Đi băng qua vài nhà hàng xóm và ra ngắm phá, chẳng hiểu sao tôi như cũng nghe rõ tiếng “chèo chém nước nhịp đôi một, ngọt và hơi ngâm” của người đàn ông bị vợ bỏ và như đang thấy rõ cảnh anh ấy “quẳng chèo, nhảy xuống nước, như một con rái tơ, chỉ vài ba vòng rướn đã một tay quặp lấy vợ, một tay ấp con vào ngực, dùng hai chân quẫy nước, bơi ngồi về thuyền”. Cảnh đoàn viên của họ được Hồng Nhu viết kỹ từng chi tiết, đẹp như một thước phim mà không cần kỹ xảo. Nắng, gió, mặt trời và niềm hạnh phúc vô bờ của người đàn ông đã làm tất cả.


 


Sinh năm Nhâm Thân  (1932), tính theo tuổi mụ, năm nay nhà văn Hồng Nhu bước sang tuổi 86, thuộc vào hàng “cây đa, cây đề” của làng văn Thừa Thiên Huế. Ngẫm lại cuộc đời mình, ông từng nói “Nghiệp văn chương đến với tôi rất sớm, từ những ngày còn tuổi thiếu niên. Năm 1948, khi làm liên lạc cho bộ đội, tôi đã viết văn, làm thơ và còn viết cả ca khúc cho bộ đội hát”. Hơn 60 năm cầm bút, đến nay nhà văn Hồng Nhu đã cho xuất bản 16 tập truyện ngắn và thơ, đạt nhiều giải thưởng. Đặc biệt, ông là người đạt 3 giải A liên tiếp của Giải thưởng Văn học nghệ thuật Cố đô 5 năm trong ba kỳ trao giải đầu tiên (1987-1992; 1992-1997; 1998-2003). Nhìn ông lần giở từng tờ bìa, có tập truyện màu giấy đã cũ, nâng niu hai tập truyện ngắn “Vịt trời lông tía bay về” và “Trà thiếu phụ” – hai tác phẩm giúp ông đạt Giải thưởng Nhà nước năm 2012 -  tôi nhận ra tình yêu nghề vẫn cháy trong ông, rằng cuộc đời người cầm bút, cái cuối cùng còn lại phải là tác phẩm.


 


Hồng Như nổi tiếng là người viết kỹ. Ông rất “khó tính” khi cho trình làng mỗi truyện ngắn của mình. Năm 1958, lần đầu tiên ông đạt giải với truyện ngắn “Những người trên đồng cỏ”, thành công đến sớm nhưng ông không tự mãn mà luôn cố gắng. Ông từng chia sẻ với tôi rằng ông là người “khắc nghiệt với bản thân” nhưng tôi tin đó là một biểu hiện về tinh thần trách nhiệm của một người cầm bút yêu nghề. Trân trọng tác phẩm của mình cũng chính là trân trọng bạn đọc.


 


Những năm tháng đi bộ đội, rồi kinh qua nhiều công việc, tiếp xúc với nhiều mẫu người, ông lắng đọng “phù sa” cuộc đời thành những vốn sống, kiến thức về xã hội quý báu và ông đưa vào trang viết “thật ngọt”, thật tự nhiên như cuộc sống vốn vậy. Đó là cái tài của nhà văn Hồng Nhu. Nhưng nổi bật trong văn ông là một tấm lòng nhân hậu. Cuộc sống tuy gian nan, vất vả nhưng cuộc sống luôn đẹp và ấm áp tình người. Với cái tâm như thế nên truyện ngắn của Hồng Nhu, cái kết luôn là một bến bờ bình yên. Và cũng đừng nghĩ đó là những kết thúc dễ dãi mà là cái kết có hậu dành cho những con người đã sống hết mình, trải qua nội tâm gay gắt, đã chọn lựa thật khó khăn trong cuộc đời để cuối cùng tình yêu thương lên tiếng, bỏ qua những giận hờn, căm hận, bằng đạo lý ông đã tháo gỡ thật nhẹ nhàng những “nút thắt” của câu chuyện (“Lễ hội ăn mày”, “Đêm hạ huyền yên tĩnh”…).


 


Trong cuộc đời viết văn, mỗi người thường nổi trội về một mảng nào đó, với Hồng Nhu, đầm phá là thế mạnh, dù rằng ông cũng viết nhiều về các đề tài xây dựng cuộc sống mới. Những phong tục của cư dân đầm phá trong các truyện ngắn của ông bây giờ trở thành nguồn tư liệu về một thời đầm phá đã qua. Ông có lẽ cũng thuộc vào hàng những người cuối cùng đã từng chứng kiến những lễ nghi xưa cũ và lưu giữ ký ức về đầm phá trong các trang viết của mình. 


 


Không chỉ trong “Lễ hội ăn mày”, “Vịt trời lông tía bay về” mà chất đầm phá như bao phủ toàn bộ các sáng tác của Hồng Nhu, có khi đó là cơn gió, là cát, bao nhiêu là cát, là tính cách khoáng đạt, là đuôi mắt hình con cá chình của thằng bé con, là những món ăn vùng đầm phá… những chi tiết ấy đến tự nhiên trong từng trang viết của Hồng Nhu bởi một lẽ thật đơn giản ông là người con của đầm phá.


HẠ AN


24/06/2017 - 13:31 


baothuathienhue.vn


 


Hồng Nhu - nhà văn đầm phá


10:15 | 01/11/2010


Mai văn Hoan: Tôi cố hình dung những tháng ngày nhà văn Hồng Nhu trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh từng gắn bó đã hơn hai mươi năm với bao kỷ niệm vui buồn.


Đó là thời điểm 1987, lúc ấy nhà văn đã 55 tuổi và tóc đã bạc trắng vì bao đêm thao thức. Tuổi 55 là cái tuổi “biết mệnh trời” rồi. Với nhiều người, đến tuổi đó mọi sự gần như đã được an bài, rất ngại xáo trộn, biến động - đặc biệt là những người đã có gia đình và công việc ổn định như anh. Dứt áo ra đi đâu phải là chuyện dễ dàng. Nhưng rồi tình cảm đối với quê hương cứ thôi thúc anh. Và cuối cùng anh đã quyết tâm trở về dù đã lường hết mọi khó khăn đang chờ phía trước. Nếu không có cái quyết định táo bạo đó, anh vẫn là nhà văn của những thiên truyện ngắn: Thuyền đi trong trong mưa ngâu, Gió thổi chéo mặt hồ... từng được nhiều người mến mộ nhưng có lẽ sẽ không có một nhà văn đầm phá như bây giờ.


 


Đọc những truyện ngắn: Vịt trời lông tía bay về, Lễ hội ăn mày, Cổ tích làng, Giếng loạn... tôi cứ tưởng Hồng Nhu là con một gia đình làm nghề sông nước ở đầm phá Tam Giang. Bởi phải sinh ra và lớn lên ở đầm phá, phải sống với nghề chài lưới mới có thể am hiểu một cách tường tận, cụ thể, sâu sắc cuộc sống, thiên nhiên, con người đầm phá như vậy. Nhưng hóa ra không phải. Quê anh ở làng Mỹ Lợi xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc. Nhà anh ở cách phá Tam Giang chừng vài cây số. Bố anh nguyên là một thầy khóa. Thuở nhỏ anh thường nghe ông cụ kể nhiều chuyện nhưng anh thích nhất là chuyện về đời sống tâm linh của bà con đầm phá. Những câu chuyện đó cùng với ký ức tuổi thơ bỗng nhiên thức dậy trong anh. Và bằng trí tưởng tượng phong phú của một nhà văn có nghề, anh đã tái hiện lại phần nào đời sống tâm linh ở vùng đầm phá với bao nhiêu câu chuyện huyền bí, bao nhiêu tập tục lạ lùng.


 


Lễ hội ăn mày là lễ hội mà thời ấu thơ anh từng chứng kiến. Lễ được tổ chức ở chợ Cồn, vào giờ Thìn, ngày mồng hai tết. Mâm cỗ được bà con bưng ra từ sáng sớm. Những người ăn mày trong vùng tụ tập đông đủ, ngồi vào mâm cỗ “họ ăn một cách đàng hoàng, đĩnh đạc như ăn cỗ ở nhà mình”. Đây là một lễ hội đầy tính nhân văn. Tiếc là bây giờ đã không còn nữa. Lễ nhập vạn đò thì diễn ra “đơn sơ mà tráng lệ” giữa vời phá mênh mông. Trong chậu nước đặt đầu mũi thuyền có một con tôm hoặc con cá ngạnh (cá tượng trưng cho bản mệnh của người con trai, tôm tượng trưng cho bản mệnh của người con gái nhập vạn). Người nhập vạn được ném xuống đầm, tiếng càng to càng gọn thì “Thần Phá vui lòng”. Tiếng rơi nhỏ lại bị xòe ra là “Thần Phá không ưng”, phải làm lại vào một dịp khác. Lễ hợp cẩn cũng là một nghi lễ hết sức đặc biệt trong đời sống tâm linh của bà con vùng đầm phá. Nghi lễ được tái hiện qua ngòi bút của nhà văn Hồng Nhu vừa hoang dã vừa trang nghiêm. Chủ lễ là bố chú rể. Ông thắp hai cây hương to và một nắm hương nhỏ (tượng trưng cho hai vợ chồng và đàn con) cắm vào bát nhang đặt đầu mũi thuyền. Thắp hương khấn vái xong, ông dõng dạc hô: Xuống đầm! Đôi trai gái mỗi người ngậm một con cá, trút bỏ quần áo, cầm tay nhau nhảy xuống nước. Giao phối xong, hai người há miệng thả cá dâng Thần Đầm. Có lẽ trên thế gian này không có nơi nào tổ chức lễ hợp cẩn lạ lùng như vậy. Còn lễ hạ thủy thì diễn ra ngày tối trăng. Đêm đầu tiên của mùa trăng sau lễ hạ thủy là tục ngủ trăng mui (cả gia đình leo lên mui ngủ dưới trăng). Nhà văn tìm hiểu đến từng chi tiết nhỏ nhất mà ngay cả những người chuyên nghiên cứu phong tục, tập quán cư dân đầm phá cũng ít ai để ý. Chẳng hạn như chi tiết: khi nằm trên mui trong đêm ngủ trăng thì “không được nằm ngang, phải nằm dọc”, hay chi tiết: trong lễ cúng Thần Đầm dịp rằm tháng giêng, hành lễ xong chủ thuyền phải nhảy xuống đáy đầm “lạy Hà Bá hai lạy như người ở trên cạn vẫn lạy”... Nhà văn Hồng Nhu còn cho biết: Dân đầm phá thời trước không phải đi hỏi vợ mà là đi “cướp vợ”. Họ lân la nơi chợ búa, gặp cô nào thất cơ lỡ vận thì lập mẹo bắt. Khi bắt, họ nhét củ khoai hoặc cục cơm vào mồm cô gái chứ tuyệt đối không nhét giẻ, sợ Hà Bá trừng phạt. Bà Mận vợ ông Vui trong truyện Vịt trời lông tía bay về và nhân vật Đào trong truyện Lễ hội ăn mày đều bị những người đàn ông đầm phá cướp về làm vợ như thế. Nếu không cướp thì có cô gái trên cạn nào dám tình nguyện lấy những người nghèo khổ lại sống bấp bênh trên sông nước bao la, tít mù như họ? Thời đó, không cứ gì đàn ông mà cả đàn bà con gái đầm phá cũng ở trần để khỏi vướng víu. Nhờ thế mà nhà văn có thể miêu tả một cách tự nhiên vẻ đẹp hoang dã của bà Mận lúc còn trẻ với “đôi vú bánh dày bà mụ nặn tròn vo, lúc nào cũng căng nhưng nhức màu mận chín... Hai cái núm vú hồng hồng cứ chóc lên như thách thức cả trời đất, sông đầm”. Tả như thế thì có thua kém gì những cây bút “hiện đại”, lại không hề sa vào tự nhiên chủ nghĩa.


 


Hồng Nhu đan cài đời sống tâm linh và đời sống thường nhật, đan cài quá khứ và hiện tại. Tất cả cùng đồng hiện trong những trang viết của anh. Nhân vật trong các truyện ngắn Hồng Nhu đều là những con người bình thường, không có những nét tính cách gì đặc biệt. Anh khéo léo dẫn dắt họ vào những tình huống gay cấn để làm nổi bật bản lĩnh hoặc những giằng xé nội tâm của họ. Trong truyện ngắn Vịt trời lông tía bay về là tình huống anh con trai của ông Vui phải giả vờ nghe lời bố nhưng tìm đủ cách lên đường nhập ngũ. Ông Vui chỉ vì thương con mà “bày điều trái đạo“ (bắt con trốn nghĩa vụ quân sự) còn Mừng - con trai ông, “không muốn phiền lòng cha mà phải thề bồi” nhưng cương quyết không nghe lời cha. Mừng đã làm theo ý mình, mặc dù biết làm như thế là mang tội “bất hiếu” với cha. Đó là bản lĩnh của thế hệ trẻ vùng đầm phá ngày nay. Nhân vật Lệ trong truyện ngắn Giếng loạn cũng tương tự như vậy. Bố mẹ Lệ đã nhận lời gả cô cho con trai ông Tú. Nhưng cô đã bỏ trốn để đi theo tiếng gọi của trái tim. Mặc dù Lệ cũng biết làm như vậy là trái với đạo làm con theo quan niệm thời phong kiến “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Mấy năm sau cô mới trở về thăm lại bố mẹ cùng với Giành - chàng trai vẫn thường hái cau cho nhà Lệ. Từ những con người dám sống và hành động theo ý mình như vậy, nhà văn rút ra “quy luật muôn đời”: “Những điều tốt đẹp, trọn vẹn không phải từ trên trời rơi xuống mà con người phải tự tìm lấy, tự giành lấy”. Đây cũng là điều mà nhà văn đúc rút được từ chính bản thân mình, cuộc đời mình.


 


Nhân vật Đào trong truyên ngắn Lễ hội ăn mày bị giằng xé giữa tình cảm quê hương và tình cảm gia đình. Xa quê bao nhiêu năm, chị đau đáu nhớ quê. Chị quyết tâm trở về quê hương bằng mọi giá. Chị đã dìu đứa con chín tháng tuổi bơi đến sáu bảy cây số, từ giữa phá vào bờ. Chị muốn gặp lại cha mẹ, xóm giềng của chị. Nhưng đúng thời điểm chuẩn bị lên đường ra Bắc thì chị nhìn thấy trong lễ hội ăn mày “có một người đàn ông dắt một đứa trẻ đi vào chợ Cồn”. Giây phút ấy, chị có cảm giác như hàng nghìn mũi kim đâm vào tim chị. Đào đau đớn quằn quại. Tác giả chia sẻ nỗi dằn vặt lương tâm với chị: “Đã mười năm nay chị chèo chống trên mặt đầm, lớn lên cùng sóng nước, thở nhịp thở của thủy triều lên xuống, con tôm con cá đã là bạn bầu của chị, trời nước bao la đã là tầm nhìn của chị, màu nước sắc mây đã là dung nhan của chị, sao chị lại dễ dàng đánh mất?”. Tôi nghĩ, nếu không đồng cảm với nhân vật Đào, nhà văn khó lòng diễn tả được sự giằng xé nội tâm xúc động đến như thế. Đây là một trong những đoạn văn trữ tình đậm đặc chất thơ. Chính vì sự dằn vặt đó mà Đào quyết định quay về với chồng con, với đầm phá. Chị chờ đón “tiếng chèo chém nước nhịp đôi” quen thuộc của chồng... Đào bị người đàn ông đầm phá cướp về làm vợ. Ấy thế mà khi có điều kiện trốn thoát chị lại không nỡ dứt áo ra đi. Tình yêu chồng con, tình yêu đầm phá đã ngăn cản bước chân của chị. Điều đó đã góp phần làm cho Lễ hội ăn mày chứa đựng ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc. Nhà văn đã “phổ vào câu chuyện những triết lí về cuộc sống con người”.


 


Ở những truyện ngắn Vịt trời lông tía bay về, Lễ hội ăn mày... Hồng Nhu có cách diễn đạt rất phù hợp với con người thiên nhiên vùng đầm phá. Biện pháp nghệ thuật mà anh sử dụng nhiều nhất là biện pháp so sánh. Đó là lối nói mà cư dân ở những vùng đầm phá hay dùng. Phải rất am tường “thủy thổ vùng sông nước”, nhà văn mới có thể ví von: “Bầy con ăn xong, chúng sà tới rần rật như một đàn le le, lặng lẽ ngồi bu quanh mẹ”; “người Vui ướt lướt thướt như bó rong mới cào dưới đầm lên”; “ông Vui đứng đầu mũi, bóng dựng như cái cột buồm, mắt ông tinh như mắt rắn nước”... Những hình ảnh đưa ra so sánh đều là những hình ảnh quen thuộc của vùng đầm phá. Nói như Nam Cao, Hồng Nhu đã khơi “cái nguồn chưa ai khơi”. Và đưa đến cho người đọc những khám phá mới lạ từ trước đến nay chưa ai đề cập đến. Lễ hợp cẩn, lễ hội ăn mày, lễ nhập vạn chài, lễ dâng Thần Đầm... quả là những cảnh tượng tôi chưa từng thấy. Cái cách mà bố Lệ cho cuống rau của mấy chị em Lệ vào một chiếc niêu đất nung nhỏ có nắp đậy rồi đem chôn bên Giếng Loạn, tôi cũng mới nghe lần đầu. Hồng Nhu rất giỏi khai thác những chi tiết gây sự chú ý, kích thích trí tò mò của người đọc. Chẳng hạn như cái giếng của nhà Lệ vì sao có tên là Giếng Loạn? Những câu chuyện, sự việc, hiện tượng... chung quanh Giếng Loạn cứ hư hư thực thực hết sức bí hiểm. Ví như hiện tượng nước trong giếng dù nắng hay mưa cũng không hề thêm hoặc bớt một giọt nào. Đôi cá thia nhỏ bằng ngón tay út thả trong giếng đã bao nhiêu năm vẫn không lớn thêm. Đó là chỗ linh thiêng đàn bà con gái không được bén mảng đến. Cái việc chôn cuống rau của mấy chị em Lệ ở bên Giếng Loạn càng làm tăng thêm vẻ bí hiểm. Rồi chuyện chị em Lệ có lần đến chơi bời, vầy đất, vầy cát ở đó dẫn đến việc Lệ bỏ nhà ra đi càng làm cho người đọc hồi hộp theo dõi. Có thật là Giếng Loạn thiêng đến thế không? Câu chuyện kết thúc hết sức bất ngờ: Lệ trở về với niềm hạnh phúc gia đình tự mình lựa chọn. Lúc đó mọi người mới vỡ lẽ Giếng Loạn tức là giếng yên như tục ông bà ngày xưa đặt tên gọi thường ngày cho con cái thật xấu để mong con cái gặp điều tốt đẹp. Hồng Nhu viết truyện như làm thơ. Cái tứ giếng loạn được anh dẫn dắt vô cùng khéo léo. Nội dung không có gì mới nhưng anh triển khai câu chuyện hết sức tài tình. Phải có tay nghề cao và vốn sống thật phong phú mới viết được những thiên truyện ngắn đặc sắc như Vịt trời lông tía bay về, Lễ hội ăn mày, Cổ tích làng, Giếng Loạn...


 


Anh Nguyễn Khắc Phê trong bài viết Hồng Nhu tuổi hồi xuân, in trên báo Văn nghệ có tổng kết: ở Hội Nhà văn Huế, Hồng Nhu là người cao tuổi nhất, sáng tác truyện ngắn và làm thơ đều tay nhất, nhận nhiều cú đúp giải thưởng nhất (hai lần giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, hai lần giải thưởng tạp chí Văn nghệ Quân đội, ba lần giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô)... Tôi xin bổ sung thêm: Hồng Nhu còn là nhà văn viết về đời sống tâm linh của những người dân ở vùng đầm phá ấn tượng nhất hiện nay.


Mai Văn Hoan


(260/10-10)


tapchisonghuong.com.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết Sóng lừng (VN. MAFIA) qua Từ điển và một số bài nghiên cứu phê bình - Nhiều tác giả 05.12.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 03.12.2019
Trò chuyện với nhà văn Triệu Xuân - Nguyễn Khoa Đăng 02.12.2019
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu - Nhiều tác giả 14.11.2019
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
xem thêm »