tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30438411
19.11.2019
Ngọc Giao
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết

 


Trong phòng triển lãm 


Vũ quanh quẩn mãi trong phòng triển lãm tranh lụa của họa sĩ Phan lúc ấy còn sớm, chưa có thêm một người nào.


Có lẽ tự thẹn vì mình không có tiền mua nổi một bức tranh, dù là bức rẻ tiền nhất của họa sỹ mà mình đã yêu tài, nên cử chỉ của anh đâm ra ngượng nghịu. Lại thêm căn phòng nhỏ hẹp này yên lặng quá, yên lặng đến nỗi mấy tiếng chim sẻ rủ nhau rỉa lông nắng sớm trên mấy cành sấu ngả vào gần cửa sổ chỗ anh đứng vang rộn hẳn lên.


Tự dưng Vũ cảm thấy giữa mình với họa sĩ đang ngồi trầm tĩnh như pho tượng kia, mỗi giây phút càng có một cái gì làm cho xa nhau thêm, nhạt nhẽo thêm, tuy rằng ở thâm tâm anh tình yêu nghệ thuật vẫn thiết tha, gần gũi như đối với một người tình.


Nhưng anh làm gì có tiền để mua được một bức tranh, mua được một chút tinh hoa của nhà họa sỹ ấy.


“Mình đến đây chừng đã một tiếng đồng hồ, được tận hưởng nguồn mỹ cảm mà không phải trả một đồng xu nhỏ. Còn gì bất công hơn nữa? Còn gì vô tình bạc bẽo hơn nữa?”


Muốn xua đuổi ý nghĩ ám ảnh đó, anh toan xuống cầu thang. Anh liếc nhìn lại họa sỹ. Có lẽ không còn một cô gái vọng phu nào có thể buồn hơn. Tất cả cái cô tịch của gian phòng này như chìm lắng lại trong cặp mắt đăm đăm, sâu thẳm ẩn sau đôi kính trắng. Anh tưởng chừng họa sỹ đang tìm kiếm một ảo ảnh gì cũ kỹ trong ký ức, để rồi chiều nay, hay đêm nay thắp nến ngồi ghi lại trên một khung vải mới căng lên giá gỗ.


Vũ ngần ngại không muốn bước ra cửa nữa. Không biết có phải anh không muốn nện gót giầy bước qua cái phút thiêng liêng ấy, hay anh không nỡ bỏ cái tâm hồn cô đơn kia ngồi âm thầm giữa những bức tranh lạnh lẽo. Vũ do dự, rồi anh vẩn vơ ngắm lại bức tranh trên bức tường dài.


Cô gái xinh xinh ngồi ngắm bầy cá vàng bơi lượn quanh hòn non bộ… Hai chị em nhà nào chơi ú tìm bên một gốc cây… Mấy cô gái quê gặt lúa trên ruộng nước trong một buổi mai sương xuống mù trời…


Lòng Vũ rung lên và say say như được đứng trước những cảnh thiên nhiên muôn màu sắc và nhất là có những giai nhân… vừa hiện ra say đắm nhìn anh, cười cợt với anh.


Vũ tò mò nhìn các giá tiền thấy lắm bức ghi giá mà anh không ngờ được: chỉ ngang giá với một tác phẩm văn chương rất hay của một tác giả có tiếng khi đem bán vội vàng cho một nhà xuất bản. Bức tranh nào cũng đề hai giá so le. Cái con số tiền theo ý định của họa sĩ bị một nét mực đỏ gạch đi để viết sang bên cạnh một con số nhỏ hơn nhiều. Có lẽ con số sau này là để cho người ta cao hứng chơi tranh thì có thể bỏ tiền mua mà không phải ngần ngại lắm. Vũ lại nghĩ đến cuộc đời của họa sĩ. Anh đoán họa sĩ cũng nghèo nàn. Nếu có vốn kha khá thì tội gì lại đi thuê gian phòng này mà bày tranh để bức nọ lấn bức kia khiến cái đẹp có thể bị rối loạn trên khung tường thấp hẹp.


Vũ cứ lan man nghĩ thế cho tới lúc có tiếng giầy kêu ở cầu thang, anh bỗng nẩy ra ý nghĩ kính phục những người đến xem tranh, và anh thầm mong những người biết thưởng thức mỹ thuật ấy sẽ vồn vã nói chuyện cùng họa sĩ, sẽ bỏ tiền chiếm luôn một bức nào đắt nhất. Họ đã bước đến sau lưng anh.


Anh rất bằng lòng thấy những con người phong lưu lịch sự ấy bước những bước e dè, mê man, êm dịu vào căn phòng đáng kính này.


Vũ khoan khoái tưởng chính mình là họa sĩ. Anh từ từ ngoảnh lại với một vẻ mặt hân hoan, nhưng anh thất vọng vô cùng khi thấy một thiếu niên đầu bóng, vận âu phục một lối lòe loẹt hạ lưu, và người thiếu nữ thì cách trang sức cho thấy ngay là một ả giang hồ hạ cấp.


- Em có đẹp bằng người trong tranh không hở?


Giọng ả cố làm cho dịu dàng, có duyên song không giấu được ả là cô gái kẻ noi. Nhưng người con trai hình như thấy người yêu hỏi mình một câu rất văn chương như thế thì thích lắm,


- Tranh này bì sao được với Liên. Liên đẹp hơn nhiều… Nét họa còn non lắm.


Tiếng cười khúc khích rúc lên. Họ lại tát yêu nhau nữa.


Vũ bực bội đến phát điên, anh lẩm bẩm:


- Không biết còn giống thú nào khả ố hơn chúng!


Nhưng Vũ thấy sự bực tức của mình là vô lý. Biết bao kẻ trưởng giả, biết bao kẻ trí thức còn mù lòa trước cái đẹp, cái hay, - kể gì những cái cặn bã thối nát này!


Vũ lánh ra chỗ khác, liếc mắt nhìn họa sĩ. Anh không khỏi cảm phục nghệ sĩ khi đó vẫn ngồi như cũ, nghĩa là vẫn bình tĩnh như một kẻ tu hành tĩnh tọa trong làn hương khói.


Cặp tình nhân đã đi lại góc phòng. Họ cười nói rất tự nhiên, bình phẩm rất tự nhiên. Tiếng người con gái:


- Thôi ta lên vườn Bách thú chơi đi, ở đây mất cả thời giờ. Tưởng có gì lạ, chứ vẽ con trâu, con bò, người gặt lúa, sàng gạo như thế này thì hồi còn ở nhà quê chưa ra tỉnh hát, lúc nào mà em chả thấy.


Tiếng cười càng to hơn. Những bước giầy còn vụng về ngượng nghịu lê xuống thang thình thịch. Khi cái tiếng ầm ĩ ấy tắt hẳn rồi, lòng anh mới nhẹ đi, và không khí trong phòng như dễ chịu.


Anh đã bỏ nghệ sĩ một mình ở lại lầu cao kia với những bức tranh lạnh lẽo, bây giờ anh lủi thủi đi trên con đường sỏi quanh hồ. Vũ lại trở về gian lều nho nhỏ bên một đầm sen ở ngoại ô, ở đấy, bà mẹ già đang gập người để kéo cái vó lên trên mặt nước, nhặt vài con cá, con tôm. Mấy hòn sỏi nhọn theo chỗ đế giầy cao su thủng đâm vào da chân, Vũ đứng lại nhăn nhó móc ra, rồi lại rảo bước. Vũ băn khoăn về cuốn tiểu thuyết mà anh công phu viết gần xong, chỉ ngày mai hay ngày kia là có thể đem đổi lấy một món tiền về trang trải nợ nần cho mẹ và may thêm quần áo cho lũ em thơ.


Cảnh nghèo túng, tối tăm của cuộc đời mình tuy vậy vẫn chưa một lần nào khiến anh quằn quại, đau khổ bằng khi nghĩ đến những tác phẩm của mình chưa hề được ai nhắc đến. Anh chua xót nhận ra những người đọc anh cũng chỉ như những người đã lơ đãng xem tranh, - những người đã hờ hững bước qua những tấm lòng, những linh hồn bơ vơ giá lạnh mà không bao giờ họ biết. 


Tiểu thuyết thứ Bẩy số 278/1939


Những đêm sương 


Chúng tôi ghìm cương ngựa. Bà Tố vẫn ngồi trên yên lau mồ hôi, thở liền mấy cái. Và không chờ tôi đưa tay đỡ, bà nhanh nhẹn nhảy xuống đất, nhìn lại phía sau, cười:


- Hèn quá! Anh chàng kia phải bỏ dở cuộc đua rồi.


Ông chồng bà đã bỏ cuộc đua ngựa từ biệt thự vào rừng mà ông tổ chức, vì bà Tố chỉ cho tôi nhìn ông tít phía xa, đang cho ngựa leo lên dãy núi đất đỏ, rải rác mấy túp nhà của người Thổ, người Mông.


Bà Tố chặc lưỡi bảo tôi:


- Ông ấy lên cơn nghiện nên phải mò lên nhà thằng Thổ hút! Mặc, ta cứ vào rừng, rồi về sau.


Bà vui vẻ vừa đi vừa líu lo hát những câu hát Thổ, và biết là mình kỳ bà nhìn tôi ngặt nghoẽo cười:


- Ông thấy độ này tôi trẻ con lắm phải không, ông Nghĩa? Nếu đúng thì có lẽ đó là triệu chứng của bệnh điên đấy ông ạ.


Tiếng cười của bà lại ròn thêm, vang động khu rừng vắng. Bà ngồi bệt xuống cỏ, ngửa mặt nhìn ánh nắng lấp loáng trên lá cây non.


- Nắng trong rừng đẹp quá, ngồi xuống đây nghỉ một lát rồi sẽ bắn cũng chẳng muộn mà. Ông hiền lành thế mà ác lắm đấy, một tay ông đã giết bao nhiêu mạng muông thú mà không sợ vong hồn chúng oán sao! Ngồi xuống đây, Nghĩa!... ồ, cứ lì lì và lễ phép như nhà nho thế kia, chẳng trách ế vợ hoài!


Tôi ngạc nhiên vì cử chỉ của bà. Mọi khi bà nghiêm nghị, buồn rầu, uể oải, ít nói, ít cười thế mà hôm nay thì trái lại? Ừ, hôm nay thâm tâm bà hẳn có sự hoan lạc, hoặc do hạnh phúc gia đình, hoặc về một nỗi niềm riêng. Cho nên làn mây ám trên khuôn mặt sáng như trăng ấy đã tan đi, giọng nói của bà, giọng nói của một thiếu phụ Nam kỳ trở nên dịu ngọt, tình tứ làm sao! Tôi thèn thẹn vì câu nói ấy, và nhất là bà lại ngó tôi, miệng cười chúm chím trong khi bà ngả mình nằm nghiêng trên nệm cỏ non, gió thổi bay tà áo màu hồng nhạt, và in rõ hẳn nét đùi tuyệt đẹp.


Ngoan ngoãn, tôi ngồi xuống cỏ, cạnh bà. Bà đòi thuốc lá, và chờ tôi đánh diêm châm thuốc hầu bà xong, bà nhìn trời, nhìn hoa lá với đôi mắt đăm đăm. Bà nghe… tiếng nhủ của lòng, vì tôi thấy bà ấp bàn tay vào ngực và thở mạnh khác thường.


Hai con ngựa gần đấy đang gậm cỏ và thỉnh thoảng đập móng xuống đá sỏi khiến bà giật mình nhìn ra ngoài cửa rừng tựa hồ bà lo ngựa của ông tham phi đến..., hoặc bà sợ hãi một cái gì gở lạ rình bà, vì tôi thấy bà tự nhiên hốt hoảng, nét mặt lại rầu rầu.


Núi rừng yên lặng trong cái yên lặng giữa bà với tôi, như thế một khắc dài.


Chợt một tiếng, rồi hai, rồi ba tiếng súng nổ gần đâu đó. Bà Tố ngồi nhỏm dậy, đứng lên. Chúng tôi tưởng là tiếng súng của ông Lục, nhưng thấy cái ô tô đỗ ngoài rừng, chúng tôi mới biết là tiếng súng của mấy người Pháp ở tỉnh về săn.


Một con thỏ chạy vào trong bụi. Bà Tố giằng súng trên tay tôi, bắn. Tài thiện sạ của bà, quả như tôi nghe người ta ca tụng, đã không làm phí viên đạn ấy.


Bà cười và cho tôi biết, hồi con gái bà đã có dịp săn thú dữ ở rừng Lào.


Nhưng cái can đảm trong những cuộc bẫy cọp săn voi nơi đồng gianh không còn nữa. Bà ngày nay đã hoàn toàn là một người đàn bà bạc nhược, thiết tha cầu một hạnh phúc gia đình, sống yếu đuối dưới sự áp chế của người chồng tính tình kỳ lạ, không hề thương đến bà.


Tại làm sao? Tôi không biết mà cũng không thể biết hơn, ngoài cảnh ngộ đau xót của bà tôi vừa kể trên đây. Phải, tôi chỉ biết chắc rằng bà không phải là người sung sướng, tuy ở một địa vị, một gia đình sung sướng. Nhà tôi ở liền bên tòa biệt thự của chồng bà. Vì vậy, tôi thường nghe ông Lục mắng chửi bà, và thảm hơn, đã nhiều lần giữa đêm khuya, tôi nghe rõ tiếng bà kêu khóc và tiếng roi kêu vun vút như tiếng roi đòn.


Trời hỡi, xinh đẹp như bà, hiền hậu như bà mà người ta nỡ hành hạ như thế, mà bà chịu nhẫn nhục như thế được? Tôi muốn biết đôi phần duyên cớ, tôi muốn được gần bà, gần ông Lục, nhưng, nhiều lần, vừa xảy cuộc xung đột xong, cách độ vài giờ sau, tôi đã nghe thấy tiếng đờn tì của bà Tố văng vẳng trên phòng ngủ bên biệt thự và, đứng trên gác nhà tôi mà thóc mách nhìn sang bên đó, tôi còn ngửi thấy mùi thuốc phiện thơm thoang thoảng và tiếng ông Lục đang cao hứng ngâm thơ, - hình như một gia đình êm ấm, khiến một trai chưa vợ như tôi - nếu chẳng hiểu trước tiếng đờn kia là tiếng khóc, nếu chẳng biết tiếng ngâm thơ nọ chỉ là để che nỗi giận - thì, tất nhiên, tôi phải ước thèm cái cảnh vợ chồng tiên.


- Ông hẳn đang nghĩ điều gì lạ về tôi?


Tôi lôi con thỏ ở trong bụi ra đưa bà.


- Tôi đang nghĩ đến cái chết của con vật đáng thương này.


Đón con thỏ, giơ lên, bà Tố bỗng tái xanh mặt:


- Tội chưa! Con vật đang có chửa, và, tội hơn nữa, là không ngờ viên đạn nhằm vào bụng nó, lòi cả con ra đây này… Thực đã sáu năm nay bây giờ tôi mới phạm thêm một tội ác nhường này…


Bà đứng tần ngần một lát rồi bà nhờ tôi bới đất chôn con vật ấy. Tiếng súng của mấy người Pháp vẫn luôn luôn nổ, bà Tố rùng mình nhảy lên yên ngựa, giật mạnh cương phi nước đại. Tôi vội theo sau, gọi bà. Bà không đáp, càng ngả người về phía trước, thúc gót săng đan vào bụng ngựa. Đường chạy chữ chi, mỗi khi qua chỗ rẽ, ngựa nghiêng hẳn mình đi và đạp cát bụi lầm. Nhìn bà Tố lúc đó, tôi có cảm tưởng như thấy một viên nữ tướng trong tiểu thuyết ta thường đọc; vậy mà người thiếu phụ có khí sắc hiên ngang ấy, chỉ vì quá giữ phận làm vợ, làm dâu mà trọn đời đau đớn, yếu hèn như con chim bị giam trong lồng.


***


- Đừng! Bà Tố, sao lại như thế được? Bà nên về ngay kẻo ông Lục biết thì tai hại cho bà, cho tôi… Ồ kìa, bà bắc thang sang ban công bên này à? Bà đã nhớ cất thang chưa, nhỡ đầy tớ nó thấy thì chối làm sao?... Bà Tố… bà Tố… bà!


- Ông nhất định đuổi người đàn bà đến thăm ông vì một việc cần. Tôi đã xin phép ông cho tôi vào phòng một lát, và ông đã nhận lời. Thế mà, từ nãy ông nói bao nhiêu câu..., bao nhiêu câu vô nghĩa lý để đuổi tôi. Tôi đã bảo ông đừng sợ. Nếu sự nguy hiểm có xảy ra thì chỉ xảy cho tôi, chứ ông có can gì… Tôi xin ông nên bình tĩnh và nói khẽ…


Bà kéo ghế ngồi cạnh giường tôi. Tôi tung chăn đứng dậy, với chiếc áo khoác vội ra ngoài quần áo ngủ. Tôi nhìn bà như nhìn một hiện tượng lạ lùng. Thấy hộp thuốc lá ở nệm giường, bà tự nhiên cầm lên rút một điếu hút, bởi bà nghiện nặng thuốc lá từ lâu.


- Xin cho tôi biết tôi giúp được gì cho bà.


Không đáp lời tôi hỏi như đãng trí không nghe thấy, bà ngồi bắt chéo chân, hai tay ôm má nhìn trăng sáng ngoài trời. Đêm ấy, dưới ánh trăng sương xuống đầy vườn, cảnh buồn lạ lùng. Dế bên tường ri rỉ, trong tiếng gió cành lá xào xạc, não nùng như một tiếng thở dài của người thiếu phụ ngồi cạnh giường tôi mà không cho tôi biết vì một lẽ gì, một cớ gì bí mật…


- Bà Tố!


Bà ngửa mặt, đáp tôi bằng cái nhìn đăm chiêu và kiêu hãnh, rồi tự nhiên mắt bà sáng hẳn lên, đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng. Bà cầm con búp bê xinh như cô gái nhỏ ở bên gối tôi, giơ lên, rồi ôm vào ngực như bế ẵm, cười sằng sặc:


- Rõ ê chưa! Không chịu lấy vợ để cứ ngày đêm ân ái với cô gái bằng bột này à!


Tôi đỏ mặt. Nhưng bỗng bà rên thảm thiết:


- Sao Trời Phật không cho tôi một đứa con? Nếu có một đứa con để cho người ta được hài lòng mãn nguyện thì thân mình đâu đến nỗi bị giầy vò, đau khổ, đâu đến nỗi nhơ nhuốc, xấu xa…


Bà tựa đầu vào cửa sổ, nhìn ra vườn, khóc nấc lên tựa đứa trẻ thơ. Tôi không biết cư xử thế nào. Tôi bối rối, và kinh hãi. Nhưng tôi đã hiểu đôi chút về nỗi thống khổ của bà, về tâm sự của bà…


- Khốn nạn, bà cầu xin Trời Phật một đứa con, chỉ có thế thôi ư, bà Tố? Nhưng bà lo ngại làm gì vội, bà còn trẻ, mạnh, ông ấy cũng vậy kia mà!


Xúc động vì câu nói, bà càng nức nở rồi ngồi phịch xuống giường.


- Còn hi vọng nữa đâu. Tôi khổ lắm ông ạ. Chỉ vì tôi xấu số muộn con mà bố mẹ chồng rẻ rúng, cả đến chồng cũng chẳng thương yêu, che chở được một phần. Sự hiếm hoi ấy không phải ở nơi tôi, mà tại chồng tôi bất lực, bệnh tật luôn luôn, lại thêm nghiện nữa, như vậy thì yêu đương có kết quả gì! Cả dòng họ chồng tôi mọi người đều rất hiếm con, chồng tôi có lẽ cũng bị ảnh hưởng cái không may đó. Nhưng ông ấy không chịu lấy thêm vợ lẽ mà cũng chẳng chịu nhận hai lẽ trên đây là một trở lực khiến tôi không sinh đẻ, ông ấy lại tìm cách rẫy bỏ tôi, mà sự rẫy bỏ đau đớn ấy tôi tin nó sẽ xảy ra, nếu tôi không có một đứa con để nối dõi sau này.


“Gia đình, vì vậy, hàng ngày rối nát, chúng tôi không thể gần nhau, hòa thuận với nhau. Thấy rõ hạnh phúc của đời mình dần dần sụp đổ không cách nào cứu vãn, tôi nhiều phen toan tự tử, song thú thực, không hiểu sao, tôi còn luyến tiếc cuộc đời…”


Bà Tố lau nước mắt, lặng yên… Ánh trăng ngoài vườn làm da mặt bà xanh và đẹp một vẻ đẹp mơ buồn. Bà ngập ngừng run giọng nói:


- Không có can đảm tự sát mà cũng thiếu nghị lực bỏ chồng để làm lại cuộc đời… Nghĩa ạ, tôi đành sống trong cái gia đình đầy sầu lụy, đầy sự bất công hiện tôi đang sống, vì Định mệnh đã xếp đặt thế rồi. Tôi có thể…, ừ, Nghĩa ơi, tôi có thể hy sinh trinh tiết của tôi, lòng trong sạch của tôi, cả danh dự của tôi cho một người… để có một đứa con, ôi, một đứa con mà Trời Phật sẽ cho tôi, mà người đó sẽ cho tôi!


Bố mẹ chồng tôi sẽ có cháu mà bồng, chồng tôi sẽ có con mà ẵm, thế là tôi mãn nguyện. Rồi nuôi nấng cho tới khi nó lớn lên, tôi sẽ tự tử, hoặc không thế thì tôi sẽ đi tu. Khi đó, tôi không ân hận điều gì nữa, vì tôi đã làm đẹp dạ bố mẹ chồng, làm đạt ý muốn của chồng, - tôi đã giữ tròn thiên chức một người đàn bà, bởi tôi đã có một đứa con, dù đứa con ấy là kết quả của cuộc ngoại tình nhơ nhuốc, nhưng phạm tội ấy vì tôi quá hi sinh cho hạnh phúc gia đình chồng tôi, vì tôi muốn cầu sự yên ấm cho cuộc đời đã tan nát của tôi…


Bà Tố, mặt đỏ bừng, hai mắt đắm say, nắm chặt lấy tay tôi:


- Nghĩa ơi.., ai sẽ vui lòng cho tôi, cho người đàn bà khốn nạn này mối ân tối hậu ấy,… ai sẽ.., Nghĩa! Đừng ngạc nhiên nữa, đừng lấy đạo đức mà khinh rẻ người đàn bà đáng thương này, hãy cứu đời tôi, cứu hạnh phúc của chúng tôi mà cho tôi một chút tình…


Tiếng sét làm tan vũ trụ không khiến tôi hoảng sợ bằng lời nói của người đàn bà đang nhìn tôi với đôi mắt van lơn lo sợ, cử chỉ bối rối sượng sùng.


Tôi biết đáp làm sao, nghĩ làm sao? Tôi có nên nghĩ đến hạnh phúc vợ chồng bà mà làm cái việc ghê gớm ấy. Tôi có nên tin những lời bà, thoạt mới nghe thì vô lý, nhưng, nghĩ kỹ, tôi phải mủi lòng vì hoàn cảnh đau đớn của bà?


Tôi muốn cưỡng. Nhưng tôi không nỡ, ồ, phải nói tôi không thể, bởi vì Tố nắm chặt tay tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi. Trước cặp mắt chứa một mối buồn mênh mang ấy, trước một thân hình mà vẻ đẹp hoàn toàn như cám dỗ, như khiêu khích ấy, trái tim tôi dù là đá cũng bị mềm.


Trăng buồn, trong sương nhạt, ngả dần về phía tây nam. Tôi say với cơn mộng tỉnh,… tôi đã yêu bà!


***


Cụ Tuần đi chơi vắng vẫn chưa về, ông Lục đi việc quan ở một tỉnh xa cũng chưa về.


Tố Lan - tôi phải gọi thế, vì Tố không muốn tôi gọi là bà nữa - đêm nào cũng bắc tấm ván gỗ từ bao lơn bên gác biệt thự Tố sang bao lơn căn gác nhỏ của tôi. Tố chỉ định gần tôi trong tuần lễ, Tố chỉ mong làm một kẻ hành khất ái tình, vậy mà, tuần lễ ấy đã qua, Tố yêu tôi quá, mê tôi quá, mà tôi thì trước kia miễn cưỡng chiều nàng, song lâu dần lòng tôi yếu ớt, tôi yêu nàng như yêu một tình nhân.


Tôi có một con vẹt rất khôn. Tôi dạy nó gọi tên Tố. Rồi tôi đem treo nó ở bao lơn, cứ đến nửa đêm, bốn bề vắng lặng, nó gọi liền ba tiếng “Tố Lan!” Nghe hiệu lệnh, Tố bắc ván làm cầu sang gác tôi…, cho tới lúc bừng mắt dậy nhìn sương đêm đã loãng, sao mờ thưa thớt giữa trời khuya, Tố mới leo về phòng ngủ của nàng.


- Tố Lan! Sao sự đời lại như thế được! Sao chúng ta nỡ mê mệt với một hành động đê hèn, thầm vụng như thế mãi, Tố Lan ơi!


Tôi thẹn cùng bút, sách, Tố, chẳng hay có thẹn cùng gương lược, phấn son? Tố! Tố! em hối hận ngay đi, xa bỏ anh đi, trở lại vòng luân lý, muộn lắm rồi!


***


Một đêm sương, khi con chim của tôi đã làm cái “sứ mệnh” như thường lệ, thì Tố đứng bên bao lơn biệt thự, giương chiếc cung cành dâu, nhắm bắn sang lồng con vẹt một phong giấy đỏ.


Trời hỡi! Tố đã có tin mừng, Tố đã có mang! Sự hi sinh tất cả tiết trinh, danh dự đã kết quả một đứa con. Đứa con ấy sẽ làm sống lại cuộc đời hầu chết của nàng, sẽ là một ánh sáng làm tan mây khói trong gia đình nàng bấy lâu.


Tố ơi, bây giờ thì ta phải lìa nhau? Hẳn rồi! Mà ta mong thế lắm, tuy sự xa lìa kia làm chết lòng tôi, làm héo lòng nàng, nhưng làm sống đời nàng. Thế là đủ lắm!


***


Con của Tố đấy à!... Mới năm nào.., à, mới ba năm nay, cũng một đêm sương, tôi khắc khoải trên gối, lắng tai nghe tiếng cười của bố mẹ chồng nàng, tiếng reo mừng của ông Lục sự, tiếng khóc lanh lảnh của đứa con vừa lọt lòng nàng. Thế mà bây giờ nó đã lớn nhường kia, xinh xắn thế kia.


Đứng bên vườn nhà tôi nhìn sang vườn biệt thự xem ông Lục đang vui đùa với con bên hòn non bộ, tôi nhận thấy ông béo tốt hơn xưa, nét mặt tươi tỉnh, vô tư lự, thật là một người mãn nguyện về hạnh phúc đầy đủ của mình.


Lên gác, vào gian phòng cũ: vẫn nệm giường kia, vẫn đôi gối ấy, nhưng còn đâu mùi hương thoảng trên da thịt nàng, trong mớ tóc nàng.


Ra ngoài bao lơn đứng, tôi ngẩn ngơ nhìn sang phòng ngủ nàng, song nào thấy bóng nàng đâu. Duy chỉ còn một kỷ vật gợi cho tôi nhớ những đêm sương, những cuộc giao tình vụng trộm: tấm ván gỗ, xưa kia nàng vẫn dùng làm cầu để sang ân ái với tôi. Tấm ván ấy vẫn còn nguyên chỗ cũ, ở góc tường.


Không sao ngủ được, tôi ra bao lơn ngắm trăng sao và trông đợi bóng nàng.


Người bõ già lẳng lặng đến sau tôi, tôi khẽ hỏi:


- Lão Bộ có biết tin bà Lục bên kia thế nào?


Lão nhìn tôi, buồn bã:


- Ông đi xa vắng từ ba năm nay, bây giờ về cảnh láng giềng, hàng xóm thay đổi khác xưa nhiều. Thỉnh thoảng vẫn xảy ra đám cháy, cướp bóc, giết người luôn ấy, ông ạ.


- Ồ, tôi hỏi lão về tin bà Lục kia mà!


Lão lại buồn thảm hơn:


- Bà ấy chết nửa tháng nay rồi, mà nghe đâu như chết một cách khả nghi lắm. Tội nghiệp, người xinh đẹp thế, sung sướng thế!


Trời ơi! Tin sao mà ghê gớm! Có phải là tiếng sét giữa trời đông? Nhát búa giữa đầu tôi? Viên đạn giữa tim tôi?


Tố chết một cách khả nghi à? Nàng tự sát? Mà sao nàng chẳng đi nương cửa Bồ đề mà sám hối, như lời nàng hứa với tôi trong đêm hôm ấy?...


Nàng chết rồi! Em đã chết rồi!...


TỐ LAN! Con chim của tôi, vẫn còn sống để chờ chủ nhân trong mấy năm xa vắng, nay thấy tôi về, nó vui mừng kêu ríu rít, bay đậu lên vai tôi, rồi chờ tới nửa đêm, nó lại làm cái “sứ mệnh” gọi tên nàng:


“Tố Lan! Tố Lan! Tố Lan!” Nhưng chim ơi, đừng gọi nữa, khổ lòng ta lắm, nàng đã chết rồi, Em đã chết rồi!


“Tố Lan”!


(Tiểu thuyết thứ Bẩy số 153/1937)


                                        


Một đêm trăng đỏ 


Tôi biết làm gì bây giờ? Cái tỉnh bé nhỏ này đối với tôi xa lạ quá. Người bạn tôi định tìm đến thăm đã đổi đi làm tỉnh khác. Tôi bị bơ vơ, chưa biết sẽ thuê đâu được cái phòng ngủ qua đêm nay, rồi mai ra ga sớm. Tiết trời nóng cùng độ. Nhưng may gió con sông kia cũng cho tôi đỡ cái mệt đường xa bụi, nắng. Tôi đứng bên bờ nhìn chiếc thuyền to chở đá đè ngang sóng, từ bờ kia sang tới bờ bên này.


Đây là miền gió muối và nước mặn. Những đám mây bồng bềnh từ ngoài biển xa trôi về, ngưng lại và vương vào những ngọn thông trên đỉnh trái núi cao đứng ngay giữa tỉnh như một bức bình phong thiên cổ. Vị trí tỉnh này làm cho tôi dễ chịu dần dần, thấy rằng sự không gặp bạn cũng chẳng đến nỗi là một việc bất hạnh đáng phân vân nữa.


Nhưng trời đang ngả bóng. Phải tìm một chỗ nào ăn, ngủ. Và cần nhất một chậu nước trong để vục mặt, vục tóc vào cho tỉnh lại sau một ngày nắng lửa.Tôi đi về phía chợ. Ở một ngõ hẻm có vài tiệm ăn. Cái ngõ chật hẹp, ít nhiều mái ngói, mái gianh nhô ra thụt vào lủng củng. Hai bên hè không lát gạch. Đường lởm chởm đá. Một mùi khó chịu, chừng ở bãi cỏ chứa rác nào đâu đó bay tạt lại. Khá nhiều người và khá ồn ào. Toàn những bộ mặt đen bóng, mặc quần đùi, cởi trần trùng trục. Tôi nghĩ rằng đây là những quán rượu của bọn thuyền chài, và của những kẻ thuỷ thủ có dịp đổ bộ chơi mỗi khi tàu ghé bến ăn than, nhả khách. Ánh nắng tàn từ trên đỉnh núi cao rót xuống, soi sáng giòng nước cống ngầu bùn, bay loạn lên những con muỗi mắt và một đám nhặng xanh lè đang bám rỉa xương thịt một con chuột chết nằm trước một quán ăn. Quán đó treo lướt mướt bộ dồi chó đen sì và một con chó thui dốc ngược đầu xuống, răng nhe ra trắng nhởn.


Tôi đứng lặng, choáng váng trước những thứ mùi thứ tiếng khó phân biệt và nhận xét. Vạt nắng tàn nơi cống rãnh, hẳn soi rõ từng hạt bụi trên mớ tóc người đàn ông lạ đang rùng mình hỏi: chẳng hay nơi đây có nhiều tội lỗi và nhiều bí mật? nhiều như bụi vương trên tóc kẻ lữ hành chưa từng hướng về đất thánh?


Đất thánh hay ngục a-tỳ? Tôi còn thấy kia: dăm ba ả mày ngài áo cánh trắng, quần vải tây đen cạp đỏ, lê guốc khệnh khạng như những con mụ hủi, mụ què lê nạng gỗ; chúng nhởn nhơ đi trên hè rồi lại ngồi xuống những chiếc ghế dài bày trước những cánh cửa nhà quét vôi trắng hếu như mặt gái giang hồ hạ cấp.


Tôi đã biết rằng tôi đứng ở đâu. Ở đâu thì cũng có mặt trời và có quỷ.


Tôi vào, không cần chọn lựa, và như một sự may rủi, tôi vào một tiệm ăn tận cùng ngõ hẻm.


Than ôi, mưa gió rầm rìa,


Tình quân xa cách em sầu nhớ thương...


Đó là cái thứ giọng cải lương Nam Kỳ, và một người đàn bà ngân nga hát, khi tôi bước chân qua ngưỡng cửa.


Nói thực, tôi cũng rất ưa cái điệu hát “bi đát nát ruột, tan hồn” này lắm. Mấy cô đào tài sắc của những gánh cải lương ra Bắc đều khiến tôi yêu chuộng và cho tôi thành thật nhân danh những kẻ đàn ông mà nói rằng tôi đã nghĩ rất nhiều đến các ả.


Người đàn bà ca cải lương đâu đó? Tôi đã ngồi xuống chiếc ghế què thọt, tôi đã ngắm mỏi mắt mấy chai bia nước chanh, bụi kết thành áo tơi, tôi đã ngửa chiếc cốc vại lên để đợi một con giải khát, vậy mà người đàn bàn hát cải lương vẫn chưa hiện hình, tiếng hát thì vẫn còn réo rắt. Tôi ngờ có cái máy hát giấu xó xỉnh nào. Nhưng người đàn bà ấy đã ra. Mụ có khuôn mặt khá đẹp, cao lớn, khỏe mạnh, mặc chiếc áo cánh rất ngắn, chật, cụt tay và chiếc quần lụa trắng hoa rất đẹp. Khuy ngực không cài, để hở một đường “đăng ten” rất hữu ích cho sự gây duyên dáng.


Người đàn bà cúi chào tôi, cười một lối ỡm ờ bằng đuôi con mắt sắc. Mụ hỏi tôi dùng thứ giải khát gì và có dùng cơm không. Thì ra người đàn bà ca cải lương Sài Gòn đó quả là người Sài Gòn. Giọng nói của mụ ngọt ngào, cười để hở một chiếc răng vàng và đi ve vẩy đôi cánh tay trần không trắng nhưng đậm đà sinh sắc của cái thứ đàn bà cao nhiệt độ.


Tôi đòi chai bia. Mụ vừa mở nút, vừa ca, vẫn cái giọng “nát ruột, tan hồn” như ban nãy.


... Tình lang ôi, ai sui ta gặp gỡ nhau đây...


Để lòng này ngất ngây...


Mụ liếc nhìn tôi, mủm mỉm cười, đẩy cốc bia đến tay tôi. Trong khi đẩy cốc bia, mụ có ý nhoài người ra, có ý sát gần vai tôi cánh tay trần mầu mỡ.


Tôi bảo lấy rượu và đồ nhắm. Tôi uống cốc này, cốc khác. Người đàn bà ngồi chiếc ghế đối diện, lấy kim chỉ ra khâu cái áo lót mình bằng lụa xanh, vừa khâu vừa hát. Thỉnh thoảng mụ giơ chiếc áo đang khâu lên ngắm, cố tình cho tôi trông thấy. Tôi nghĩ đến tấm “bích la nhu” của người thiếu phụ tài và tình thuở cũ, để hỏi rằng tôi có say, trời đất có say?


Anh đi muôn dặm mịt mù...


Em buồn đối bóng phòng thu...


Chiếc lá vàng hiu hắt... con nhện nó còn


vương tơ mãi ở ngoài song...


Câu hát cuối cùng rơi chìm vào cái im lặng chán chường. Người đàn bà ngả đầu ra lưng ghế, đôi mắt lim dim và đăm đăm. Bỗng mụ vùng đứng dậy, với tay lên cái tủ nhỏ treo trên tường, lấy xuống một chai rượu ngâm thuốc. Mụ rót ra chiếc cốc lớn. Tôi nghe rõ tiếng rượu chảy ồng ộc xuống lòng cốc, và tôi nghe rõ tiếng thở dài của mụ.


Mụ giơ cốc ra hiệu mời tôi, rồi mụ nốc một hơi. Mụ uống luôn cốc nữa. Mụ kéo ghế đến bàn tôi cùng ngồi. Mụ hỏi tôi từ đâu đến, chuyện ba hoa, rồi sau cùng mời tôi ở lại đêm đó. Tôi sẽ được dành một cái giường rất sạch ở trong nhà. Tôi chưa trả lời về sự mời chào ấy thì một kẻ đàn ông bước vào. Hắn đi rón rén. Mặt mũi hắn không ác lắm, nhưng mấy vết sẹo to ngang dọc trên cái trán sói, trên cái cằm đầy râu tạo cho hắn một bộ dạng “thanh tích bất hảo”.


Quần áo của hắn là bộ tây vải vàng ngắn chật, cũ. Hắn khập khiễng, bước nhẹ như con mèo ốm.


Mụ đàn bà trừng mắt nhìn hắn. Hình như không để ý sự đó, hắn cúi đầu tiến đến cái bàn ở một góc kín đáo, kéo ghế ngồi. Mũ để nguyên trên đầu, hắn ngồi không nhúc nhích, mắt nhìn mặt bàn, thu hai tay vào túi, tưởng chừng hắn đang nắm chắc một thứ gì - món tiền chẳng hạn, con dao chẳng hạn.


Mụ Sài Gòn cạn cốc rượu thuốc thứ ba, hỏi xin tôi thuốc lá. Tôi đưa hộp thuốc. Nhưng không có diêm. Mụ ngậm chếch điếu thuốc trên môi, vừa búi lại tóc, vừa hất hàm bảo gã đàn ông mặt sẹo:


- Đưa mượn hộp quẹt, mầy!


Gã từ từ đứng lên, móc túi đưa mụ bao diêm. Gã không nhìn mụ, không nhìn tôi, từ từ về chỗ ngồi, hai tay thu vào túi quần và cúi gầm xuống nhìn mặt bàn như trước.


Mụ đàn bà say rồi, lè nhè nói với tôi:


- Thằng quỷ kỳ cục quá, tối nào cũng tới ám hoài!


Mụ rủa gã, nhưng gã không đáp lại, cũng không ngoảnh lại. Sự im lặng đó khiến tôi ngạc nhiên. Tại sao lại thế?


Tôi tợp chén rượu cuối cùng. Ăn phải miếng thịt dai, tôi vất xuống đất. Một đứa trẻ con gái, gầy còm, chừng năm, sáu tuổi mà từ nãy tôi thấy đôi mắt đen hau háu thập thò ở cửa bếp, rón rén ra, chui vào gậm bàn, dưới chân tôi, nhặt miếng thịt bỏ vào mồm.


Gã đàn ông đứng dậy, tiến đến bàn tôi, cúi xuống lôi đứa trẻ ra. Hắn dắt con bé về bàn của hắn, đặt nó lên ghế. Mụ Sài Gòn nhẩy xổ đến, kéo giật con bé xuống. Con bé gày còm bị giật mạnh quá, ngã soài ra đất, nằm còng queo, nhưng nó lại vội vàng ngồi lên không dám khóc. Mụ tát, đấm con bé huỳnh huỵch:


- Mày đói vậy kia? Mày không thể chờ đồ ăn thừa của khách mà ăn sao?


Rồi mụ sỉa sói vào mặt gã đàn ông mặt sẹo:


- Thằng khốn kiếp, mày có thương con thì hãy bỏ ra trăm bạc, tao cho mày mang nó đi. Gạo củi mắc mỏ thế này nó ăn suốt ngày như chó đói. Tao phạt ăn đúng ba ngày đó, cho đáng kiếp, hè!


Rồi mụ lôi sềnh sệch con bé vào trong buồng. Tôi nghe thấy tiếng sắt kêu ghê rợn trên nền gạch. Hẳn là tiếng xích. Rồi tiếng khóa cửa tiếp theo. Mụ trở ra, mắt còn long sòng sọc. Gã đàn ông tròn đôi mắt cú vọ nhìn vào mặt mụ Sài Gòn. Hắn từ từ rút một tay ở túi quần ra. Dưới ánh đèn, tôi thấy một vật gì lấp lánh. Một cảm giác lạnh rợn chạy khắp mình tôi, tôi tưởng trước mặt tôi có hơi thép và hơi máu.


Mụ Sài Gòn tiến sát gần hơn, quắc mắt soi mói vào mắt hắn rồi cười khẩy:


- Đồ khốn, mày làm chi tao đặng mày! Nè, ngực tao đây.


Mụ ưỡn ngực ra, sát mãi vào ngực hắn, thách thức. Hắn lùi lại. Mắt hắn không nhìn mắt mụ Sài Gòn nữa, mà nhìn cái ngực. Cái ngực bọc ỡm ờ bằng chiếc áo cánh mỏng, bằng mảnh “đăng ten”. Hắn lùi lại thêm bước nữa. Cái cục tròn ở cổ hắn đưa lên thụt xuống. Không biết là hắn nuốt tức giận, hay nuốt nước bọt. Hắn lùi thêm bước nữa, “phì” một tiếng rồi quay phắt mình đi ra cửa.


Mụ Sài Gòn vẫn đứng ở giữa nhà, chống hai tay vào cạnh háng, ngửa mặt cười sằng sặc một hồi dài. Tôi rùng mình nghe tiếng cười của con mụ say, của người đàn bà đẹp ca cải lương rất du dương, rất tình tứ ấy. Mụ lại ngồi xuống ghế cạnh tôi. Lúc này mặt mụ sầm hẳn lại. Bàn tay mụ nổi gân lên ấn nốt mẩu thuốc lá đang hút dở xuống cạnh bàn. Giọng mụ hổn hển và khổ sở.


Rồi, mụ vào trong sân, bước lao đao, và mụ lại khe khẽ ca, vẫn cái điệu buồn đứt ruột.


Đầu nặng trĩu, không nghĩ ngợi gì hơn nữa, và thừa lúc người đàn bà vào trong nhà, tôi ném vội lên mặt bàn tờ giấy năm đồng rồi đi nhanh ra cửa.


Ngoài ngõ hẹp, ánh trăng lênh láng. Tôi đột ngột bước vào trong ánh trăng, có cảm tưởng như nửa đêm thức giấc thấy mặt trời treo trên gối. Nhưng cái thứ ánh trăng này làm tôi sợ. Tôi ngẩng đầu lên; vầng trăng mười sáu, to, tròn, đỏ quạch.


Tôi đi rảo cẳng. Gió bờ sông thổi vùn vụt, sóng vỗ ì ọp vào những mạn thuyền. Tôi đi trên con đường trắng đỏ, không, tôi bước trên giòng máu tươi và nóng. Máu, máu chảy từ đâu? Từ vành trăng đỏ, hay từ cái ngõ hẻm, ngõ cụt có người mặt sẹo lừ lừ, tay giấu túi quần để nắm chắc một vật gì loáng sáng?


Đêm ấy, tôi ngồi dựa lưng vào một gốc thông trên sườn trái núi mọc giữa cái tỉnh bé nhỏ như một bức bình phong thiên cổ. Tôi lắng nghe hơi gió, và nhìn xuống cái ngõ hẻm tràn ngập ánh trăng đỏ một mầu ghê rợn như máu chảy. 


Tiểu thuyết thứ Bảy, số 465/1943 


 


Hà Thành hoa lệ 


Hà Thành, ngày 4 avril vừa rồi, tươi đẹp, trẻ trung trong một cuộc vui đầy đủ, một ngày hội lớn tưng bừng.


Các anh em học sinh trường Luật, trường Thuốc đã khéo tổ chức một trò chơi mà tuy năm ngoái, năm kia Hà Thành đã mỏi mệt với trò chơi ấy, ta vẫn thấy nó hợp thời, mới mẻ, ta vẫn chẳng thể quên họp mặt để chung vui.


Này đây, các thiếu nữ của Hà Thành, dưới trời xuân lạnh mờ bụi nước, đang lũ lượt kéo nhau đi mua khoái lạc của chợ phiên.


Những cô nàng mà xác thịt đã tới thì in đầy bóng mộng, lẫn với những cô em choai nhỏ còn đào tơ, vô tội, vô tình, hình như hôm nay, dùng hết nghệ thuật mà thoa son điểm phấn, mặc những tấm áo màu tươi nhất, tha thướt nhất để, gót sen qua, còn quyện theo những cái nhìn thèm muốn của các chàng.


Những cô nàng mà bóng xuân đã xế, hôm nay cũng mỹ lệ như các gái thơ lẫn với các bà quả phụ, gượng vui đến chốn chợ đời, cố nở nụ cười cho lòng sầu tươi lại trong giây lát, cho dĩ vãng xa xa sống lại với ngày xuân.


Những cô gái giang hồ nhị hoa chưa hoàn toàn nát rữa, sắc tài còn hứa hẹn với gió sương, lẫn với các bà mẹ mà hình hài đã nửa đời mệt mỏi vì tình duyên chung chạ, hôm nay cũng tươi, cũng đẹp, cũng nhởn nhơ lượn riễu như những con cá vàng vô tư lự lượn diễu trong bể nước, nhả bọt ra để đớp mồi chơi...


Hà Thành với buổi chợ người. Kìa kìa, đừng vội trốn! anh hãy đứng lại mà ưỡn ngực chờ cô đầm tóc bạch kim, xiêm ngắn hở đùi, bó lẳn lưng ong, cố hở cái thiên nhiên mời công chúng ngắm, đang tiến đến hé vành son hình quả tim, xuyên vào “ve” áo anh một chiếc kim, một chiếc kim nhọn hoắt mà dẫu người đẹp có ác tay đâm tới đáy tim anh, anh cũng sướng mà!


Đây này, hãy nhìn mấy cô gái non tràng hoa tươi quấn quanh vành tóc, cả thân hình nho nhỏ phơi nét đậm đà khiêu khích bậc đàn anh, đang kéo đến ngoan ngoãn dâng anh chiếc giỏ mây: anh hãy đỡ gói hoa giấy ở bàn tay bé xíu cô em mà nhận lãi một nụ cười.


Ở đây, ở cuộc vui này, anh đừng dại dột mà làm mặt trang nghiêm, già xọm như mặt nhà thi sĩ. Phải cười, phải nói, phải ngoan như đứa trẻ thơ.


Vỗ tay đi để khen cái xe hoa này đẹp, có ngụ ý nghĩa hay, nhất là có mấy nàng tiên... Mấy nàng tiên có lý lịch não nùng bí mật lẫn với mấy nàng tiên có lý lịch vẻ vang, cao quý ngồi xe hoa để tung hoa. Thi sĩ của tôi! Các nàng đã ném lên đầu anh, đã rắc quanh mình anh những cánh hoa giấy đủ màu sặc sỡ, đẹp như những vần thơ mà anh đã... - biết đâu!... - đã rắc, đã ném, đã gửi vào trái tim đầy cảm giác của các nàng.


*


Uống say đi, nhảy nữa đi, trong Palais des Fêles, đêm nay, ta vui quên chết đến canh tàn. Hoa từ trên cao rủ xuống, đèn giội cơn mưa ánh sáng làm rực rỡ một buổi dạ hội hoa đăng. Mỗi bàn một ngọn đèn xanh, đỏ u ẩn tắm màu son phấn của các bà các cô kiêu hãnh với phút say vui đắt giá, làm nổi bật màu đen những bộ lễ phục của những tay ăn chơi lịch sự, mở champagne, không nghĩ đến tiền.


Uyên ương và uyên ương đắm hồn trong bài nhạc thần kỳ êm như mộng của các nhạc công đứng tận lầu cao che hoa lá. Mấy cô đầm đi từng bàn, vui vẻ bán hoa, bán kẹo, bán những nụ cười tươi. Mấy ông quan trẻ tuổi mà ta quen tên, quen mặt, tự đất Thần kinh ra, ở cuộc khiêu vũ này, cũng tạm quên áo gấm thụng, mũ cánh chuồn để đeo bộ spencer, đội mũ giấy kiểu quan binh, cười đùa như quỷ.


Hà Thành! Cái đêm hoa lệ ấy...


*


Nhưng cuộc chợ phiên ấy, cái đêm hoa lệ ấy hết rồi.


Hoa giấy với những hoa tàn rải rắc trên mặt đất bùn lầy, ướt ẩm, những gian nhà bằng giấy trơ nan, tốc mái sau một đêm vui và một đêm mưa.


Các anh em học sinh, lại chúi đầu vào quyền luật, vào cái xác chết trên bàn mổ... để chờ đợi, ở ngày mai cái chức tri huyện, đốc-tơ!


Những cô gái lỡ thì chung tâm sự với những bà góa bụa, - cuộc vui ấy hết rồi - nay lại âm thầm buồn với quạnh hiu!


Những cô nàng mà cả xác thịt, linh hồn đã đắm trong ân ái, với những cô em nụ non đang chớm nở - cuộc vui ấy hết rồi - nay lại nỉ non, cười cợt cùng hi vọng ngày mai.


Những ả giang hồ, đã nửa kiếp nặng nề sương gió, với những ả điếm chưa hoàn toàn phai lạt màu son - cuộc vui ấy qua rồi - nay lại trở về bóng tối, tìm khách chơi mà sài phí cho rồi nửa kiếp gió sương...


Một khi ngắm cảnh chợ tàn, người vắng, một khi men say đã nhạt rồi, ta thấy lòng ta buồn tênh vô hạn, đời ta trống trải vô cùng...


Lúc này, ta muốn để bút rơi...


 


Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 151/1937 


 


Chết


Viết tặng J.LeibaI


Bạn ơi, tôi vừa ở nghĩa địa về đây. Tôi đem theo về gian phòng trơ vắng cái lạnh của gió đồng nước ruộng, cái lạnh của hơi thịt, hơi xương nát lũa dưới bao nhiêu nấm mồ, thấm đượm vào tôi. Sao tôi lại đi đến đấy? hỡi ơi, tôi còn biết vì sao nữa! Tôi đang mê trong cái chết nửa vời. Tôi nằm trên giường bệnh, tôi nằm trong lòng đất, có gì khác lạ với tôi đâu.


Nấm mả kia mới đắp, mấy nén hương còn cháy dở, và những thỏi vàng hồ chưa nát vì bùn, vì bước chân kẻ sống rải rác trên bờ ruộng, trên bãi cỏ xanh phất phơ mấy bông lau trắng. Ai vừa nằm dưới đó? Tôi biết. Đó là một người con gái. Tôi không ngạc nhiên về cái chết của cô. Bởi vì tôi đã biết trước rằng cô phải chết, cũng như tôi biết từ lâu rằng tôi cũng như cô, sớm mai đây được người ta đem xác tôi ra nghĩa địa này. Tôi không rợn khi thấy chiều hôm trước người ta khiêng qua cửa vườn nhà tôi cỗ quan tài. Nhưng lúc đêm khuya không hiểu tại sao tôi lại lần mò ra ngoài xóm đứng nấp dưới một bụi chuối để nghe tiếng chày nện thình thịch vào mặt ván săng, và lúc mờ sáng hôm sau nằm trong chăn nghe tiếng thanh la khua ngoài giếng gọi đô tùy, lòng tôi bỗng nao lên và ngực càng nhói buốt. Tôi không đưa đám người bạc mệnh, nhưng tôi đứng lặng như pho tượng ở trong cổng làng, nhìn cành phướn đỏ bay trên ruộng mạ và cỗ áo quan ngả nghiêng trên những cái vai gầy.


Người ta đã trở về hết cả. Tôi lửng thững ra với ngôi mà mới. Mưa bụi trắng cả trời. Tôi, một mình, lắng chìm giữa cái mênh mông. Mặt tôi ngửa cao lên, tìm trong tám hướng trời một con đường gió để cho hồn tôi được vút bay lên, lìa khỏi chút thân cát bụi.


*


Chết. Đó là cái tận cùng thường như tất cả mọi cái tận cùng trong cõi phù du. Lòng tôi chẳng còn bận với những thế tình, thế sự hư huyền. Chao ôi, hư huyền tất cả! Cái hữu hình, cái vĩnh viễn chỉ là chiếc nôi bắt đầu đựng mảnh hình hài non nớt, rồi đến một nấm mồ vùi lấp mớ thịt xương đã bị bám đầy tục lụy, đã bị đục khoét vì bệnh tật, vi trùng. Còn thì ảo ảnh mà thôi. Chúng nhân, ngươi tôn ta là hiền triết, là kẻ sĩ đại tài trong khi tin tưởng kính phục những hành vi, những tác phẩm của ta, nhưng mà chính ta, ta chỉ thấy ta là đứa trẻ lạc lõng, yếu hèn trước cái chết tối đen bát ngát.


Bạn ôi, dư mười năm cầm bút, tôi đã viết được những gì dâng cho bao con người thân mến vây bọc quanh tôi? Tôi đã làm được những gì phi thường, vĩ đại để tôi, - dẫu biết chỉ là bụi cát - được tự hào vì tài trí của mình? Nào có gì đáng kể đâu! Có chăng cái đáng kể, - trong cuộc sống của ta và trong vũ trụ của ta - cái đáng kể chỉ là sự chết. Tư tưởng ta càng cố xa lánh nó, càng bị nó ám ảnh thêm, càng trải rộng bóng đen để vây trùm ta vào đó.


Chính lúc này đây, tôi đang khom mình đi dưới cái bóng ghê rợn, mông mênh ấy, yếu mềm, cam chịu như cây sậy dưới một trời giông bão. Cái chết đi từ từ trên các ngả đường u tối của linh hồn tôi, và như con nhện độc, nó dăng mắc mãi những sợi tơ, không còn có sức gì gỡ nổi.


*


Bạn thương tôi, tôi biết lắm. Nhưng nếu bạn thương tôi hơn nữa thì xin bạn đừng gửi thuốc và đừng mời bác sĩ về thăm bệnh tôi làm gì.


Napoléon đã nói: “Từ lâu, những ông y sĩ và những ông thầy dòng làm cho cái chết thành đau đớn” (Il a longtemps que les medecins et les prêtres rendent la mort donloureuse). Tôi thản nhiên đón chờ cái chết đến trước tôi, không tưởng tượng, không sợ hãi. Nhưng tôi đã có một giây, một phút, nghĩ tới cuộc chiến đấu khốc liệt của tôi với cơn hấp hối một ngày mai, một đêm mai. Tôi tin nó sẽ là một giấc mộng dị kỳ say sưa và hoa mỹ. Vậy tại sao phải cần thang thuốc! Khoa học càng thêm tiến bộ, càng kéo dài cơn hấp hối ra càng bắt bệnh nhân chịu quằn quại bởi sự đau đớn, sự dày vò; càng bắt bệnh nhân cảm thấu cái khổ sở tột bực của xác thịt con người.


Bạn cũng như tôi, đều nhận rằng ông bác sĩ của tôi muốn tận lực cứu tôi khỏi cái chết. Mà ông thầy thuốc nào chẳng vậy. Họ yên trí tin khoa học, lấy khoa học chiến đấu cùng cái chết, - than ôi, con người! con người bé nhỏ phá huỷ làm sao cái luật cao cả, mãnh liệt của Thiên công. Nếu khoa học cho tôi sống thêm vài ngày, vài tháng, thì sự sống của tôi sẽ chẳng còn là sự sống hoàn toàn nữa. Một giờ chiếm lại được của cái chết, là một quãng sống đầy ác mộng, đầy đau đớn mà thôi.


Bạn quên tôi đi, bạn! Nói thế thì phụ lòng nhau, nhưng chính đó là câu chí tình. Bạn đừng gửi sách báo, thư từ về cho tôi nữa. Tôi không còn sống cùng ngoại vật. Tôi đang hòa hợp tất cả năng lực, tất cả lương trí để sống ở trong tôi. Tôi đang hăm hở đón mong những cái gì là huyền bí xô vào cái tâm hồn điên dại của tôi như lớp, sóng triều trào ồ ạt xô vào cát biển.


Có khi suốt ngày tôi không nói một lời. Người bõ già nhìn tôi mà khóc. Lão già khốn khổ! Mái tóc trắng như sương tuyết thương khóc mái đầu tươi xanh như lá mùa xuân. Thực là não cảnh! Nhưng mà nước mắt lão già kia khiến tôi thấy cái hèn yếu của con người.


Bossuet, thi sĩ của cái chết, nói rằng “Một tín đồ chỉ cố sức chống với cái chết lúc nó đến thì không đáng là một tín đồ” (Il n’est pas digne d’un chrétien de nes’évertuer contre la mort qu’au moment qu’elle se présente pour I’enlever).


Tôi, tôi đã sẵn sàng thấy cái hào quang rực rỡ của một cõi đời mới lạ nào sắp mở rộng cửa đón tôi. Linh hồn tôi sẽ mọc cánh bay khỏi cái xú xác này, như một vị thần lên mây gió.


*


 


- Nắng! nắng! chúng bay ơi, ra đây mà sưởi nắng.


Lũ trẻ reo và dắt tay nhau nhảy bên sân đình làng.


Tôi mở rộng cánh cửa sổ ra. Nắng chảy ùa vào như suối. Bướm, hoa, và chim tưng bừng ở ngoài trời. Tôi bỏ bút xuống bàn, đứng dậy, lao đao muốn ngã. Tôi ra cánh đồng. Muốn ra cánh đồng, phải qua nhà lão Năm Điên. Đó là một ông già nghiện ngập, ốm yếu, mà lúc nào cũng vui vẻ, cười đùa như đứa trẻ con.


- Mời ông hãy vào đây làm một vài điếu đã.


Tôi không để lão nài. Lão tiêm cho tôi hút, hút rồi ra cửa, càng lảo đảo hơn lên.


Tôi còn phải qua quán hàng của bà lão Sải.


- Mời ông vào sơi nước. Có chai rượu ngang mới cất đượm giọng lắm. Ông nếm chơi với lạc rang.


Tôi uống dăm ba chén. Rượu hun đốt lòng. Rượu làm tôi say, lẫn với say thuốc phiện đang sức ngấm. Tiếng hát của các cô gái hái chè ở sườn đồi vang lên. Ở cuối đồng xa, những gầu nước tung cao dưới nắng, trắng ngần như gieo bạc.


Tôi trèo lên trên đồi chè. Các cô gái, đã đến bữa ăn trưa, rủ nhau quảy lá chè ra về hết. Còn lại một mình tôi trên đỉnh đồi cao.


Gió thổi vào tôi, làm dịu sức nóng của men say trong máu. Nắng loang loáng trên lá chè xanh, rợp đi rồi sáng bừng lên, bởi vì mây trắng vẩn theo gió lướt qua mặt trời.


Trong cái cao cả “vô thủy vô chung” của vũ trụ tôi nghĩ đến cái tịch diệt và cái bất tử của con người.


Bạn có ngẫm rằng: sự “tịch diệt hoàn toàn” của con người không thể có chăng? Chúng ta là kẻ tù nhân đầy ải trong một cái không cùng, ở đấy chẳng có gì bị mục nát, chẳng có gì bị tan rữa, chẳng có gì bị mất hẳn đi. Không có một hình thể, một ý nghĩ nào có thể rơi ra ngoài vũ trụ, ngoài thời gian, ngoài không gian. Ánh sáng một ngôi sao tắt đi tự ngàn năm xưa vẫn còn lang thang giữa lớp khinh không mà mắt ta có lẽ bắt gặp buổi tối nay, trong khi nó còn lang thang bay đi mãi, theo con đường của nó. Trong cõi vô biên, thể chất của ta rồi cũng được hưởng những hạnh phúc, những vinh quang; rồi sẽ được biến hóa một cách nhiệm mầu thành hoa, thành hương, thành vẻ đẹp, thành ánh sáng, thành khinh không, thành tinh tú, - chắc chắn rằng như vậy đó; thể chất ta, nghĩa là mớ thịt xương nghiền thành cát bụi của ta, sẽ không mãi mãi ở dưới mồ ta, mà nó ở cõi không gian, ở trong vũ trụ. Và cũng chắc chắn rằng: lúc chết đi, tất cả sự đau đớn của xác thịt ta đều mất theo cùng, bởi vì ta không thể tưởng tượng có một linh hồn đau đớn trong một cái xác thịt không còn nữa. Xác thịt ta nát lũa ra một cách dễ chịu dần dần, tư tưởng trong đầu ta tắt cả đi, biến vào cái tăm tối không bến không bờ; thật là giấc ngủ ngon lành hoa mỹ quá!


Tôi xuống chân đồi, đi giữa cánh đồng. Tôi chạm phải một gã đàn ông, vác cuốc trên vai. Cái mặt lầm lỳ lúc nào cũng sặc men rượu này, tôi quen lắm. Gã chuyên làm nghề đào huyệt.


- Chào ông. Độ này, trông ông xanh lắm ạ.


Tôi cười với gã:


- Tôi sắp phiền đến bác. Bác vui lòng giúp tôi đấy nhé.


Tôi đi qua ngôi hàng sũ, chơ vơ bên cái lò gạch đổ.


Một lão già đang bào cái ván thiên cỗ quan tài.


- Lão già ơi, để dành tôi một chiếc, nhớ không! Thằng cha chôn người kia nó cũng vui lòng giúp tôi như lão đó. Để dành tôi một cái, xấu tốt thế nào cũng được.


Lão ngẩng đầu, dụi mắt nhìn gần vào mặt tôi, lão vuốt râu cười thét lên như con quỷ.


Người ta bằng lòng sự sống của người ta.


Tôi bằng lòng cái chết của tôi.


Hai đằng như nhau cả, và cùng không quan hệ gì.


II


Đêm nay trăng mười sáu. Tiết trời đã sang hè. Tôi mệt hơn trước nhiều rồi, bạn ạ. Cố viết dăm ba trang tiểu thuyết, làm chơi dăm ba câu thơ điên dại, mà chẳng nên câu, chẳng thể ngồi dậy được.


Tôi bảo bõ già hái tất cả hoa ngoài vườn đem vào phòng tôi và bảo lão kê cái ghế vải của tôi ra gần cửa sổ. Tôi nằm đấy để nhìn trăng sao, và để lắng nghe tiếng sóng của con sông chảy ngang ngõ nhà tôi, thì thầm hát bên bờ tối.


Tiếng sóng quen thuộc từ ngày tôi còn thơ nhỏ, đã ru tôi trong bao giấc ngủ êm đềm.


Có tiếng mái chèo khuấy nước, và tiếng rì rầm vọng đến tai tôi. Đó là tiếng cầu kinh của một gia đình thuyền chài theo đạo Gia Tô, đã bao nhiêu năm sinh nhai trên con sông này, mất đi đâu một dạo, đêm nay mới lại trở về.


Ánh lửa ở đầu thuyền lấp lánh ngoài bụi ruối bờ sông. Trong những tiếng cầu kinh Chúa đều đều, nhè nhẹ của mọi người, tôi nhận thấy cái tiếng trong trẻo của người con gái - có lẽ là con lão thuyền chài - cất lên, cao hơn tất cả, buồn rầu hơn tất cả... Hình ảnh một cặp mắt quầng đen rầu rĩ dưới chiếc khăn vuông mà tôi đã thoắt thấy một lần, lại hiện dần ra trong tâm tưởng tôi.


Tôi chắc lúc này, đôi mắt ấy đang thảm đạm ngước lên cây thánh giá treo ở dưới mui thuyền, đôi bàn tay xanh xao nhỏ bé của nàng đang chắp lại một cách kính cẩn trước khuôn ngực yếu ớt khẽ rung rung.


Hỡi người con gái không quen biết của tôi! Có lẽ đêm nay, trở lại con sông cũ, linh tính nàng nhủ cho nàng biết rằng dưới mái lá cô độc này có một kẻ đang hấp hối khát khao chờ lời cầu Chúa của nàng để rồi nhắm mắt cho yên.


Nàng ơi, hãy cắm sào lại đó, đọc trọn tập Thánh Kinh cho đến lúc trăng lặn ở chân trời.                                                        


 


Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 351/ 1941 


 


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
xem thêm »