tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30437641
19.11.2019
Ngọc Giao
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng


Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng


 


Người ta đã thường nhắc nhở nhiều đến Thiên Hư Vũ Trọng Phụng. Đời còn nhớ tiếc anh, văn mạch còn khóc thương anh, Phụng ơi, vẫn hay rằng cái nghề của lũ chúng mình chẳng nuôi sống được người, nhưng dẫu văn tinh rụng sớm, anh còn ngự trị trên văn đàn xứ sở và trong lòng những kẻ bạn đã chia đau khổ với anh. Những độc giả đã thông cảm với anh qua những nhân vật điển hình bất tử: ông Týp-phờ-nờ, bà Văn Minh, Xuân Tóc Đỏ, cụ Cố Hồng, Phúc Cái Đinh, Nghị Hách...


Thực vậy, Thiên Hư không bao giờ chết một khi nhân loại còn những con người, con vật, tiêu biểu cho thất tình thú tính mà chính Christ, Như Lai chưa diệt nổi, và tiêu biểu cho Thiện, Ác, Giả, Chân mà chính họ Khổng đất Lỗ xưa chưa định được trong Kinh Thi, Dịch, Lễ, Nhạc truyền thiên hạ.


Thế cho nên, bá đạo đang tung hoành trên mặt đất nhầy nhụa tội lỗi, chúng ta càng nhận thấy rằng nhân loại mất Molière, Balzac, Vũ Trọng Phụng... ấy là đã mất những bộ Bách khoa từ điển, trong đó ý nghĩa thực tiễn của con người, con vật đã được giải thích và minh họa với ống kính của những nhà vi trùng học chân chính nhất...


Nhân loại mất Thiên Hư, xã hội mất một văn hào, và vườn văn hóa Việt Nam mất một cây tùng, cây bách. Khoảng đất trống kia còn trống mãi. Đã làm gì có một loài cổ thụ khác thay vào cho đời nghe lá gió rung nhạc quỷ, cho mặt đất tiềm tàng đón đợi sức sống của rễ mạnh đục muôn trùng.


Hôm nay, tôi nghĩ đến anh, viết về anh. Đốt tâm hương, chiêu niệm anh linh một cây thần bút, cái kẻ còn gửi mình vào buổi chợ chiều này còn thấy dư đôi hạt lệ gọi hồn ma, thì thầm nói chuyện cùng ma.


Ờ, Phụng nhỉ, hình như 1929 tôi gặp anh tại văn phòng Ngọ Báo sau đền Bà Kiệu. Việt Quang tức Bùi Xuân Như tức Micro (lại một văn hữu ngã vì nát phổi!) đã chỉ cho tôi biết cái anh chàng mặc áo the thâm, khom cái mình gầy trên bàn máy chữ lách tách trong xó tối và giới thiệu đó là tác giả thiên truyện ngắn Chống nạng lên đường.


Người thư ký làm việc âm thầm và sống nghèo nàn nhũn nhặn kia đã dám cam làm chân cậu ký quèn để tập viết thử một vài truyện ngắn, dăm cột báo phụ trương, không hề mơ tưởng tiền nhuận bút. Độc giả thờ ơ đọc và lạnh lẽo quên một nhà văn mới, có biết đâu rằng đó là ánh đuôi sao chổi sẽ làm sáng cả một trời, và đó là một danh tướng bắt đầu chống giáo lên yên để tung hoành trên trường văn trận bút.


Vũ Trọng Phụng đã chống nạng bước lên đường văn nghiệp. Cần cù, nhẫn nại, Phụng lao thân ốm đi tìm một chân trời. Chân trời hé mở đón anh với kịch phẩm Không một tiếng vang mà bạn anh chỉ một lần đem lên sân khấu để rồi không một tiếng vang nào vọng lại.


Phụng thôi thí nghiệm kịch trường. Anh mê mải rẽ sang tiểu thuyết và phóng sự.


Từ Lấy nhau vì tình lâm li lãng mạn đến tác phẩm sau cùng Trúng số độc đắc (riêng tôi cho là chua cay, châm biếm, sâu sắc nhất), cây bút Vũ Trọng Phụng quả đã là cánh đại bàng vượt Thái Sơn, Nam Hải.


Tuy nhiên, chưa hề có lần nào Phụng hài lòng. Dễ dãi cởi mở với cuộc đời hung bạo bao nhiêu, Phụng càng khắc nghiệt, nghiêm nghị bấy nhiêu với những tác phẩm mà anh chỉ dám coi là non yếu lắm.


Trái ngược với các văn hữu khác, Vũ Trọng Phụng rất rụt rè. Hay tin Phụng vừa viết xong một truyện, các bạn vội quay ngay đến căn gác lụp xụp ở phố Hàng Bạc kia để đòi Phụng cho xem bản thảo. Phụng giấu kỹ tập giấy dày cộm đóng cẩn thận như sách học trò vào ngăn kéo, chỉ miễn cưỡng moi ra nếu bị đòi hỏi dữ, không chối được. Anh không thích ai đọc văn mình trước mặt mình, e thẹn như cô gái nhà lành chịu ép ngồi cho người ta xem mặt.


Thường lệ, anh vuốt ve bản thảo của anh, bận rộn quyến luyến đứa con tinh thần ấy độ ba ngày rồi mới trao cho nhà xuất bản.


Vũ Trọng Phụng là một nghệ sĩ không ưa bừa bãi. Anh thủ tín và giữ lễ như một nhà nho tự trọng, một nhà đạo đức chính tông. Không bao giờ anh chịu sai lời hẹn với nhà xuất bản, ông chủ báo, khi đã hứa viết bài, đưa tác phẩm. Trước mặt anh, một tấm thời khắc biểu đóng trên tường, kèm bên một tờ giấy lớn, viết bằng mực đỏ ghi ngày tháng phải viết xong và danh sách những người đã đặt tiền mua văn phẩm.


Nhà văn Vũ Trọng Phụng làm việc chăm chỉ như một cậu học trò nghèo và ngày đêm lo thanh toán nợ văn chương, không muốn để ai được phép làm thương tổn danh dự và lòng tự ái. Đến nỗi những văn hữu sẵn tiếng là chây lười, hay là đãng trí như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai, Nguyễn Tuân - nhất là Nguyễn Tuân - đã bực mình gắt bên giường Phụng, những ngày anh đang cố giãy giụa chống với hai làn phổi nát: “Cái đức tín nghĩa và cái văn tài đầy đủ của người đã đến lúc có thể cho phép người quỵt chơi dăm ba món nợ mà đời không ai dám rủa xả đã có lũ chúng ta đây hứng chịu, trang trải sạch cho người. Can gì mà cứ ôm ngực, khạc mãi máu vào giấy mực để mà lo trả nợ!”


Phụng chỉ mỉm cười. Anh vẫn khom lưng viết, ôm ngực viết Người tù được tha là cuốn tiểu thuyết được tạo tác công phu nhất trong thời kỳ lao phổi đang trầm trọng. Tiểu thuyết đó là thiên hồi ký của một chánh trị phạm bị phát vãng ngoài Côn Đảo, do một tù nhân khác thuật lại cho Phụng viết. Phụng đã thức một đêm, lắng tai nghe và thưởng thức câu chuyện giang hồ ấy bằng những mồi thuốc lào khiến anh ho sòng sọc, rũ ra như gà giãy chết. Thế rồi, chỉ hai tháng sau, Vũ Trọng Phụng đã tìm người kể chuyện, trịnh trọng và kín đáo hai tay đưa bạn giang hồ đọc tập bản thảo dày ba trăm trang lẻ. Người này đọc xong, đã toát mồ hôi, ôm lấy cái thân hình gày gò của Phụng mà bái phục: “Thế này thì thật là lạ quá! Anh đã sống hơn một thằng tù mọt xiềng nát xích là tôi. Thực là một thiên tài, một thiên tài!”. Nhưng tiếc rằng hồi ấy, kiểm duyệt không cho cuốn sách ấy ra đời.


Vũ Trọng Phụng được thiên bẩm một khả năng kinh tưởng và tạo tác mạnh phi thường. Quanh năm, co ro, rên rỉ vì nghèo túng và bệnh tật trong bốn bức tường giăng mạng nhện, vậy mà cây viết thần linh đó đã có sức vượt không gian, thời gian để nhập điệu tất cả cái gì là thầm kín nhất, sâu lắng nhất, u minh nhất, gai lửa nhất của nhân loại và vũ trụ.


Viết Kỹ nghệ lấy Tây, Vũ Trọng phụng chỉ nghe một lão hảo hán ngõ Sầm Công vui kể cạnh khay đèn mà đã khiến thiên hạ rùng mình tưởng tác giả vốn đã nửa kiếp ghi tên dưới trướng, nghênh ngang quán Sở, lầu Tần.


Viết Cạm bẫy người, cái con người văn học mặc áo the gài đủ năm khuy, đội khăn phải soi gương cho chữ “nhân” đứng vào giữa trán, nghĩa là một con người không biết cả đến kết tốt đen đề tốt đỏ thế nào, mà chỉ nghe một công tử phá gia kể có nửa ngày, Vũ Trọng Phụng lại đã làm cho lũ chủ sòng hết vía và phẫn nộ đến mực cần phải giết ngay cái anh văn sĩ có lẽ đã đốt rất nhiều văn tự ấy, nếu không thì bao nhiêu mòng két biết hết tẩy của chúng rồi, thì còn làm ăn gì được nữa!


Cho đến cả Cơm thầy, cơm cô, Lục xì, Vũ Trọng Phụng cũng chỉ lượm lặt được chút ít tài liệu qua những câu chuyện cợt đùa của mấy dân nghiện hút, thế mà rồi những tác phẩm ấy đều là những hòn đá lớn ném vào ao ếch. Dư luận xôn xao về tác phẩm họ Vũ, ở các tao đàn, tại những gia đình trưởng giả, cho đến cả những lầu xanh, máy nước. Do thế, có thể bảo rằng giữa cái thời phong trào lãng mạn, tư tưởng bi quan đang cực thịnh, Vũ Trọng Phụng đã là một nhà văn tiên tiến khả dĩ biểu dương quan niệm xã hội, nhân sinh và đại chúng, những danh từ, hồi ấy, chỉ là phiếm ngữ, hư văn được nêu lên bởi một nhóm nhà văn tư sản.


Thực vậy, Vũ Trọng Phụng đã có tinh thần đấu tranh và thiết thực. Nhưng hỡi ôi! Phụng đã cả một đời chỉ có dịp tranh đấu một lần, để rồi chưa kịp hưởng gì anh đã vội theo Thần Chết.


s


Đây là câu chuyện cũ: chúng tôi, một số lớn văn nghệ sĩ Bắc Hà - từ 1935 trở đi - đều giúp ông Vũ Đình Long mà dạo đó mặc dầu chúng tôi không nhận, người ta cũng cứ gọi là văn phái Tân Dân, nghĩa là một văn phái đối lập với anh em Tự lực văn đoàn. Sự thực đâu có thế, chúng tôi chỉ là những nhà văn độc lập, những mảnh buồm tơi tả không bảo nhau mà giạt cả vào một bến, bởi vì không có gió để ra khơi!


Nếu tôi nhớ không lầm thì năm ấy nạn kinh tế khủng hoảng làm lung lay các xí nghiệp, thương gia. Bọn hàn sĩ chúng tôi chung ảnh hưởng. Thế là Vũ Trọng Phụng nhìn quanh cái đói của anh em, đã cố ngóc đầu khỏi giường bệnh, cổ xúy các bạn cùng tranh đấu, nghĩa là làm một bản yêu sách tăng tiền nhuận bút. Chúng tôi họp ở căn gác tối tăm của anh Trương Tửu, phố Hàng Gà, tuy Trương Tửu không viết gì cho họ Vũ. Khói thuốc lào, thuốc lá, tiếng ho khù khụ, tiếng cười nhạt nhẽo gây cho căn phòng ảm đạm một không khí nghẹn ngào, tức thở, khiến Lan Khai thu hình trong xó tối đang gân cổ hít điếu thuốc bào chữa suyễn, long lanh đôi mắt cú rừng ái ngại: “Họp thế này để làm gì? Tôi tin rằng chúng ta sẽ làm một trò cười”.


Lưu Trọng Lư, một nhà thơ tình tứ, một con nai vàng ngơ ngác không thích lá vàng mà lại thích giấy bạc hơn, bởi vì trên vai anh nặng một đàn thê tử, đã trợn mắt quát: “Sao lại không kết quả! Thằng thì ho nát phổi không biết đến thời kỳ thứ mấy, thằng thì rên suyễn gù gập cả xương sống, thằng thì ôm mãi khăn áo đến nhà Vạn Bảo[1] cầm cố, đến nỗi khách trú nó chán không cần nhìn mặt, thế mà cứ viết mãi tám hào một trang giấy rộng, để rồi chết rũ cả hay sao?” Nguyễn Tuân phì phèo píp thuốc khói mù ở góc tường, lặng lẽ nhìn ra cửa sổ, nhất định không nói một câu nào. Có lẽ anh đang nghĩ tới ống khói một con tàu mặt biển, có lẽ anh đang nghĩ biết đến bao giờ người ta róc mảnh da đã được thuộc nhiều chớp bể mưa nguồn, mưa rừng nắng núi của anh, để làm va li bán cho người Do Thái?


Rồi đó, ký kết xong, Vũ Trọng Phụng cùng chúng tôi chống nạng lên đường... nhắm “động” Tân Dân thẳng tiến. Phụng lòng còng cái lưng thảm hại, khăn len bịt kín đầu, lê đầu ba toong trên đường nhựa, đi tiên phong, và đi hăng hái lắm, tuy rằng đôi chân anh nặng nề nhấc bước như con rùa bò mặt đất.


Tới tòa báo đồ sộ phố Hàng Bông, Vũ Trọng Phụng không còn hơi thở. Tôi phải dìu cánh tay anh, leo đủ 32 cấp cầu thang nhẵn bóng. Kết quả vô cùng rực rỡ: bản yêu sách được chấp nhận ngay: đang từ tám hào một trang khổ giấy học trò (32 dòng, mỗi dòng đủ 14 chữ) vụt nhảy lên một đồng hai.


s


Phụng đau trầm trọng. Tôi đã hai lần lau dòng máu chảy ở môi anh.


Nhưng anh vẫn viết, và bảo bạn chơi một lần chót vở kịch xưa Không một tiếng vang, để anh đành nhắm mắt. Song bạn anh không có điều kiện chiều theo con bệnh sắp đến giờ vĩnh quyết. Hàng ngày, Phụng vẫn cố ngồi viết nốt truyện Trúng số độc đắc, một tác phẩm vĩ đại sau cùng. Anh gượng cười bảo bạn:


- Ta đã tranh đấu. Ta đã thắng. Ta cần được hưởng thêm bốn hào một trang, rồi chết cho an thỏa, cho mát mẻ, chúng bay ôi, chúng bay ôi!


Viết đến trang cuối cùng bộ truyện dài trào phúng và hí lộng kia, Phụng đã vật mình xuống manh chiếu rách, trên tay mẹ già, một tối mùa đông.


Anh chống gậy đến tòa báo, tự tay trao bản thảo, để rồi trở về túi rỗng. Phụng nghiêm trang khoe với bạn trong cơn sốt:


- Phụng của các anh sống không nợ, chết thủy chung. Món nợ tôi vay trước của nhà xuất bản, thế là đã được trang trải hết bằng 400 trang đủ dòng đủ chữ. Lương tâm ta yên ổn lắm, không còn lo gì quỷ sứ, Diêm Vương kìm cặp linh hồn ta nữa.


Rồi lại có một chiều, tôi gặp Phụng ở giữa đường, tôi rợn mình vì mặt anh không còn sinh sắc nữa. Anh lê gậy đi như một con ma giữa cái thiên hạ đang tranh sống, dưới mặt trời, trong bụi gió, Phụng lảo đảo ngã vào tôi, hổn hển:


- Đưa tôi đến nhà báo thu thập những bản thảo cũ đã in. Rồi cần giữ bản thảo của tôi. Tôi thích chơi bản thảo, càng dây bẩn nhiều vết tay anh em thợ chữ lại càng quý.


Lần thứ hai, tôi vực Phụng lên 32 cấp thang đánh bóng, xin bản thảo về. Tới nhà, Phụng lại ngất trên tay mẹ già không còn nước mắt mà nhỏ xuống vầng trán lạnh người con hiền. Anh nắm tay tôi.


- Giao ôi, khi liệm xác tao, nhớ cho tao gối đầu lên bản thảo. Đó là điều yêu sách cuối cùng nhờ ở lũ chúng bay còn sống sót. Đừng quên, nhá!


s


Bao nhiêu năm qua rồi nhỉ? “Đừng quên, nhá!” Không, tôi vẫn nhớ anh. Đời vẫn nhớ anh.


Tôi chân thành đốt trầm hương trong phòng vắng, viết những dòng tâm huyết thiết tha này giữa một đêm cầu nguyện cuối năm Thìn.


Cái xã hội này đang lúc cần có mặt anh để cho thiên hạ được soi gương, trên những dòng chữ của anh, và được che mặt gượng cười thêm chút nữa. Anh đã vội đi rồi. Viết về anh, tôi đã nói, và tôi còn nhắc lại, tin tưởng mà nhắc lại nữa rằng: “Cái chết của nhà văn không có nghĩa là mất hẳn. Đấng sĩ phu kia đã có quyền an nghỉ trên những vòm hoa trắng của tháp đài văn học sử”.


 


 1939.


 


Đôi điều tôi biết về Vũ Trọng Phụng


 


Năm 1939, Vũ Trọng Phụng mất, tôi đã viết về ông trong Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng. Bài này đăng báo nào, nhiều năm đã qua đi, tôi không nhớ. Nhưng gia đình ông còn lưu giữ.


Nửa thế kỷ đã trôi qua...


Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng những gì tôi biết về con người ông, với tư cách là một nhà văn, một đồng nghiệp, một bằng hữu, vẫn luôn làm tôi cảm thương, tiếc xót. Một con người tài năng siêu hạng là thế, sống nghĩa tình, đầy đặn với đời là thế, sao lại rời bỏ cõi thế gian này sớm vậy?


Lần đầu tôi gặp Vũ Trọng Phụng tại tòa soạn báo Loa của Côn Sinh và Tam Lang đường Gia Long xưa, nay là Bà Triệu. Tôi tới đưa bản thảo truyện ngắn Đời tư Lã Bố. Khi đó Tam Lang đang thích thú cái “tít” hài hước của truyện thì bỗng thấy một anh chàng nhỏ nhắn, gầy gò, đầu đội khăn xếp, mặc áo the đen, xuất hiện. Đó, Vũ Trọng Phụng. Và tôi thật sự sửng sốt trước cái nhan đề tập phóng sự mà họ Vũ đưa ra: Kỹ nghệ lấy Tây. Vừa lúc đó Lan Khai y phục cũng giống Vũ Trọng Phụng bước vào. Ông là người chuyên viết về Chuyện lạ đường rừng cho tờ Ngọ Báo (anh em vẫn gọi đùa là nhà văn “mán xá”). Vốn rất vui tính, Lan Khai cười hô hố rồi la: “Jeu de titre! Các ông toàn chơi những cái “tít” quái ác thế này!”


Quả là sau đó, nhiều truyện của Vũ Trọng Phụng đều mang đầu sách giật gân, đập vào thị hiếu người đọc.


Vậy mà Phụng lại vốn là người rất lành hiền. Ngạn ngữ Pháp: Văn là người - với Vũ Trọng Phụng - không hẳn đúng. Đang học năm thứ ba trường Bưởi, Vũ Trọng Phụng bị đuổi vì tham gia bãi khóa ủng hộ Phan Châu Trinh. Ông bắt đầu viết văn. Truyện ngắn đầu tay là Chống nạng lên đường. Hồi này ông rất nghèo, chưa vợ, chưa bệnh. Ông rất thích đàn nguyệt. Giữa đám đông, bao giờ Vũ cũng ngồi im một góc, gẩy “vọng cổ hoài lang”. Thỉnh thoảng giữa dăm ba văn hữu nổ cuộc tranh cãi về một tác phẩm nào đó, một nhà văn nhà thơ nào đó, hoặc về một học thuyết nào đó. Vũ nổi hăng cũng đập bàn xô ghế, bảo vệ bằng thắng ý kiến của mình. Xong, lại rút vào một góc ôm đầu. Tôi chưa bao giờ nghe Vũ cười thành tiếng, mà chỉ đôi khi nhếch mép. Nhưng nụ cười lạnh ấy không khiến người ta liên tưởng tới một bụng dạ thâm hiểm mà chỉ nói lên một tâm hồn u uẩn, châm biếm, đến độ làm nạn nhân có thể chết luôn! Ông không bao giờ quát tháo to tiếng, nói bậy. Câu khiển trách nặng nề nhất của ông là: “Cậu xoàng lắm!”. Thế thôi!


Tôi và bạn bè đều rất lạ vì Vũ không hề biết người đàn bà nào ngoài người vợ hiền mà lại viết những Kỹ nghệ lấy Tây, Làm đĩ, Lục sì... Sau mới biết cách “đi thực tế” của ông. Thấy Vũ viết về đề tài đĩ điếm, tôi bảo Vũ: “Ở Hà Nội chỉ có mấy ổ lầu xanh ở ngõ Hàng Mành, ngõ Hàng Hương, Cống Đục, Đường Thành, Cống Chéo, Hàng Lược. Còn me Tây phải tìm họ ở Sơn Tây, Đáp Cầu, Tông (ở đấy có nhiều trại lính lê dương đóng)”. Thế là Vũ lặn lội đến những sào huyệt ấy. Đi luôn mấy hôm, trở về viết, hoàn thành bản thảo. Hồi đó chúng tôi không đi thực tế như bây giờ. Nếu hiểu “đi thực tế” như ngày nay thì chúng tôi quả là “nằm tháp ngà”. Viết văn như nhờ một thiên bẩm nào đó, như chỉ nhờ sức tưởng tượng, sức sáng tạo của mình. Nhưng nhìn lại thì thấy cũng không hẳn thế. Để viết Cơm thầy, cơm cô Vũ Trọng Phụng đã ăn mặc như một người làm công bình thường, ra ngồi ở máy nước công cộng chợ Hàng Da. Đó là nơi những “con sen”, “thằng nhỏ” tập trung để lấy nước. Và ông đã biết được những thói hư tật xấu của những ông chủ, bà chủ qua những câu chuyện mỉa mai, phê phán của đám người nô lệ ấy.


Khi viết Lục sì, Vũ Trọng Phụng tìm được viên đội Tây người Coóc tên là Mác, trùm “đội con gái” chuyên bắt loại gái “ăn sương”, không có giấy “lục sì”. Viên đội này đã dẫn ông vào nhà dispensaire (chữa bệnh cho gái lầu xanh). Và nhờ đội Mác, ông biết được số phận của người gái đĩ. Hồi đó Hà Nội có khoảng ba mươi vạn dân thì có hơn hai nghìn gái đĩ.


Câu hát của gái lầu xanh thời đó, nói lên cảnh đời dày dạn, ê chề của họ:


Hôm nay thứ sáu mình ơi.


Ngày mai thứ bảy, phiên tôi lục sì!


Cũng vì những chuyến “thám hiểm” như thế mà khi viết Cạm bẫy người, Vũ Trọng Phụng đã suýt chết. Ông là người không biết đánh bạc, đến đánh tam cúc với vợ con vui ngày Tết, ông cũng không hề cầm đến lá bài. Thế mà lại dám liều mình “đâm đầu” vào các sòng bạc của Cả Vê, Hai Mơ, Ba Sinh là ba tên cầm đầu các sòng bạc thời bấy giờ ở Hà Nội. Đi theo một con bạc, ông la cà trong sòng bạc, xem đánh xóc đĩa, thầm thì hỏi han, quan sát cặn kẽ các tay chơi. Và ông đã “lật tẩy” tất cả các mánh khóe cạm bẫy, lột túi giết người của bọn chủ sòng ác ôn trên mặt giấy. Chúng đe dọa sẽ giết tác giả Cạm bẫy người. Bạn bè lo lắng cho ông, nhưng Vũ Trọng Phụng vẫn bình thường, chỉ mỉm cười: “Tôi thích viết, tôi cần viết. Chết vì nghề cũng được. Không ai thù nạt được tôi”.


May mà bọn chủ bạc ấy cũng còn biết sợ nhà tù, nên rồi chúng phải lờ đi.


Bình thường Vũ Trọng Phụng là người ôn hòa, thậm chí yếu ớt là khác. Vậy mà khi “vào cuộc”, ông dũng cảm, nhanh nhẹn, xông xáo, có tài ứng biến với những tình huống nan giải. Tôi còn nhớ một câu chuyện vui, rất nghịch ngợm, nói lên tính cách ấy ở Vũ Trọng Phụng, nhà văn trào lộng bậc thầy.


Ngày ấy ở Hà Nội có hai tờ báo trào phúng. Tờ Con Ong do ông Huyến Voi (bố vợ Văn Cao) làm chủ bút. Tờ Vịt Đực do Vũ Bằng làm chủ bút. Các cộng tác viên là Vũ Trọng Phụng, Tam Lang Vũ Đình Chí, Phùng Bảo Thạch. Chúng tôi thường đùa là: Trong thiên hạ có ba con ác quỷ, ba cây bút sắt đảo thiên nghịch địa đó là ba thằng họ Vũ, một thằng họ Phùng (sau đó nhà nho vui tính Ngô Tất Tố cũng tham gia). Tờ Vịt Đực dám ngỗ ngược chửi cả toàn quyền, thống sứ Tây đến cả đức Cựu hoàng Bảo Đại, cho đến tất cả quan trường vô tài, bất đức. Nhưng từ quan Tây đến quan ta vẫn vì lẽ gì đó cứ lờ đi. Ở Hà Nội, người bị Vịt Đực nắm tóc nhiều nhất là mụ Hồng Khê (mà họ Vũ nói lái là mụ Kề Hông). Mụ này, theo Vịt Đực, chuyên quan hệ với Môhamét bán vải ở Hàng Đào, Hàng Ngang, nhờ đó mụ có cơ ngơi dọc ngang phố Huế. Nguyên do là tờ Vịt Đực thường xuyên ở tình trạng ba chìm bảy nổi. Nhà in không chịu in cho vì thiếu tiền. Ba ông họ Vũ bất đắc dĩ nghĩ ra mẹo làm vụ chantage (tống tiền) cứ réo mụ Hồng Khê, chờ mụ chịu “nộp phạt” lấy tiền in báo. Thế là Vịt Đực liên hồi xa xả bới móc mụ Kề Hông. Nhưng Hồng Khê keo kiệt nhất định không cởi túi. Trả miếng, mụ thuê hai chục nữ nặc nô chợ Hôm, kéo đến tòa soạn Vịt Đực, góc phố Phủ Doãn, sau khách sạn Asia để “xé xác” ba họ Vũ. Có người báo cho ba ông biết sẽ có cuộc “tử chiến”. Để đối phó lại, Vũ Trọng Phụng vẫn rung đùi bình tĩnh, bàn mưu, chơi trò “Ba Giai, Tú Xuất”. Trước cửa tòa soạn thường có hàng chục trẻ ngồi chờ lấy báo và bọn hành khất nằm chờ xin ăn cửa sau khách sạn Asia. Các ông cho mỗi đứa năm xu và dặn chúng phải hoàn toàn khỏa thân, nấp trong tòa soạn. Khi bọn nữ nặc nô kia đến. Ba tướng họ Vũ, có cả ông Ngô Tất Tố nép mình trên gác hô to: “Mở cửa thành!”. Vậy là hai ba chục thằng trần như nhộng, giữa ban ngày ban mặt rùng rùng chạy ra quát tháo. Bọn nặc nô đỏ mặt, ù té chạy. Hai chàng họ Vũ trên gác cười vang. Riêng Vũ Trọng Phụng vẫn điềm tĩnh, đội khăn, mặc áo the của cụ đồ Ngô Tất Tố, bắc ghế ra bao lơn gác, ôm cây đàn nguyệt ung dung gảy bài Khổng Minh tọa lầu (tích Khổng Minh tay không dùng mưu đánh thắng 30 vạn quân Tư Mã Ý trong Tam Quốc diễn nghĩa). Nhưng thói thường, cực lạc sinh bi, vui lắm buồn nhiều. Bọn nữ tặc chạy xa rồi, mấy tướng họ Vũ không ai nói với ai, chợt thấy nỗi buồn mênh mông xâm chiếm. Buồn về nghề với nghiệp, buồn về thân thế, buồn về cái trò lục sở vừa mới bày ra đó, rõ ràng là “phi quân tử”!


Các ông ấy, ở thời ấy, nghịch như vậy đấy. Nghịch đến nỗi nhiều người ở Hà Nội sợ tờ Vịt Đực, nhất là mấy cha nghị gật, mấy anh trọc phú đại gian thương, mấy mụ me như cô Ba Tú, Tư Hồng đĩ có tàn có tán, có hương án bàn độc đều nguyền rủa chú Vịt điên khùng. Và cũng từ đấy xuất xứ câu thành ngữ “Làm báo nói láo ăn tiền”. Thực ra thì nhiều điều báo Vịt Đực, Con Ong chửi đúng. Người viết có bản lĩnh khiến kẻ thù kiêng nể. Nhưng cuối cùng Con Ong của Huyến Voi cũng do chính trị - kinh tế rút nọc, Vịt Đực cũng vậy, bị “đánh tiết canh”. Các ông chủ bút quan niệm, làm báo cũng là một cách chơi với đời (đời mất nước, đời nô lệ) vậy thôi. Thời đó hầu hết chúng tôi là như vậy. Mặc dầu văn phái khác nhau, viết lách, suy nghĩ, sinh hoạt khác nhau, chúng tôi không hề đối nghịch nhau. Anh em trân trọng, thương xót, đùm bọc nhau trong tình bạn. Chúng tôi thầm ví mình như Vân Hạo trong Lều chõng của Ngô Tất Tố. Chẳng phải chúng tôi không thấy, không thấm cái nghèo, cái nhục của cảnh sống vong nô. Đã không làm được cách mạng thì rỡn nghịch chơi, phá phách chơi rỡn cho thiên hạ cười, và mình cũng cười. Ờ mà cười nhếch mép trước đắng cay, đểu cáng của cuộc sống xô bồ, Tây, Tầu, Nhật, đĩ đực, đĩ cái, nhớp nhúa, từ ngai vàng đến cống rãnh hôi tanh. Ờ hãy biết cười nhếch mép như Phụng, Phụng ơi!


Nụ cười nhếch mép của Phụng ít khi trọn vẹn, thường tắt lặng nửa chừng. Nụ cười ấy chưa lúc nào giải tỏa được cõi lòng ông và cũng buộc người đời chẳng thể chỉ cười. Đọc Vũ Trọng Phụng quả là cười sa lệ, vì những cảnh đời éo le, những cảnh đời nhố nhăng, đảo điên, đồi trụy vì tiền. Trúng số độc đắc là bản thảo cuối cùng của Vũ Trọng Phụng đăng dài kỳ trên Tiểu thuyết thứ Bảy cũng lột tả những mảnh đời như thế. Ông nói với tôi là ông viết tiểu thuyết này dưới ảnh hưởng của nhà văn Pháp Marcel Pagnol. Ông tìm thấy ở cốt truyện của nhà văn này cái “típ” lí thú thể hiện những thực tế của xã hội Việt Nam bấy giờ. Nhân vật chính là Phúc Cái Đinh, một thằng cha vô tài bất tướng, thất nghiệp dài dài, ăn hại báo cô, đến nỗi bố khinh vợ ghét, em gái coi rẻ. Hắn mơ ước được trúng số độc đắc, để trả thù đời bằng cách làm đủ mọi việc từ thiện cho xã hội, giúp dân nghèo, lưu danh thiên cổ. May, thần tài cười với hắn: Trúng số độc đắc, Phúc Cái Đinh trở mặt. Hắn biến thành con quỷ dữ, thằng bần tiện. Trước hết hắn trả thù ông bố, trước kia đã dám khinh rẻ hắn. Rồi trả thù vợ, em gái cũng có tội như lão bố, đã dám khinh hắn là thằng vô học, thằng thất nghiệp. Suốt từ đầu đến trang cuối, tác giả không nửa lời phê phán, chỉ cảm thấy nụ cười lạnh, nụ cười nhếch mép của anh chàng họ Vũ giá băng này.


Con người từng trải cảnh đời, tình người, từng trải đến mức nhiều khi cay nghiệt ấy, lại là người sống trung hậu, tình nghĩa đầy trách nhiệm với bổn phận của mình, với nghề nghiệp, với bạn bè. Vũ Trọng Phụng đã viết hàng loạt phóng sự, truyện ngắn, tiểu thuyết về “tình trường”, nhưng ông lại rất ngây thơ về “tình riêng”. Ông chịu ảnh hưởng quan điểm của đạo Khổng: “Nam nữ thụ thụ bất tương nhân”, nên khi đã đi hỏi vợ rồi mà vẫn chưa hề gặp gỡ chuyện trò với vợ chưa cưới. Lấy nhau xong, bà Phụng mở một hiệu sách nho nhỏ ở đầu phố Hàng Nón. Cảnh nhà Vũ Trọng Phụng vẫn luôn túng thiếu. Đến nỗi tôi phải nói với nhà in Tân Dân cho ông nhận sửa morat lấy thêm món tiền nhỏ sinh sống, thuốc thang. Những năm sau đó Vũ Trọng Phụng ngã bệnh, người rất yếu rồi. Tôi còn nhớ ông còng lưng, gập người chữa bản morat. Nhưng ông vẫn sửa rất cẩn thận, sửa lỗi chính tả và có khi còn đề nghị tác giả thay đảo cả đoạn văn dài (tất nhiên là những người viết, trong đó có Như Phong mới bước vào nghề, đều vui lòng nghe theo lời ông). Nhà văn lớn của lịch sử văn học Việt Nam, thời ấy, đã vì cơm áo vợ con mà làm cái công việc khổ sai này để một tháng nhận thêm có 10 đồng.


Vũ Trọng Phụng đã làm việc gì đều làm cẩn trọng, hết mình. Bản thảo của ông đầy đặn. Ông dùng loại giấy khổ học trò, chữ đúng ngòi “ma la”, mực tím, nét rõ ràng. Bản thảo đưa cho Tiểu thuyết thứ Bảy dù mấy trăm trang, cũng chỉ viết một lần mà vẫn rất sạch sẽ. Đó là điều khiến lũ chúng tôi kinh ngạc, khác hẳn bản thảo của nhà văn, nhà giáo Nguyễn Công Hoan chữa bằng mực đỏ, như thầy giáo chấm bài vở học trò. Thợ sắp chữ đọc bản thảo ông Hoan kêu mệt.


Ông Phụng đau bệnh, nhiều khi nằm viết, viết trong cơn đói, giữa cơn ho, cơn sốt. Vậy mà ngòi bút ông, mỗi dòng, mỗi chữ, hạ xuống giấy, mạnh như kiếm, như dao.


(Ờ mà, Vũ Trọng Phụng của chúng ta, sống như thế đấy, viết như vậy đấy! Phụng ơi!).


Điều đáng lạ nữa là, theo lệ nhà xuất bản, ông viết đúng mỗi trang 32 dòng và mỗi dòng đúng 14 chữ. Ông nói rằng ông không muốn “ăn gian của nhà in một chữ”. Khi đưa tôi năm trang cuối cùng Trúng số độc đắc, Vũ Trọng Phụng mệt quá, hổn hển bảo tôi: “Đây là những trang nợ cuối đời tôi. Giao nhớ nói với ông Vũ Đình Long rằng, hôm nay Phụng thanh toán nợ cũ. Tôi không nợ Vũ Đình Long (kể cả thế gian này) một đồng, một chữ”. Hồi đó các nhà văn thường lĩnh tiền ứng trước của nhà xuất bản và viết sau. Vì thế nên họ thường cuống lên vì nợ. (Trong số con nợ, khổ nhất là Lan Khai, nhà văn “mán xá” quanh năm suyễn nặng, hai vợ, năm con nghèo xơ xác, luôn viết không hề rời bút và phải bám chặt nhà xuất bản). Nhưng Vũ Trọng Phụng dầu biết mình sắp tắt, vẫn giữ sĩ khí của mình, quyết không nợ, không lụy một ai. Phẩm tiết ấy, đức độ ấy, tài năng ấy đã giúp ông không những không nợ đời mà còn để lại cho đời, nhất là cho những người viết văn chúng tôi bao bài học không ước lường được giá. Ngay trước khi sắp “được” biệt giã cõi đời, Vũ Trọng Phụng vẫn còn nghĩ đến những người ở lại. Hồi đó anh em viết nghèo chúng tôi, đội quân bút lông, bút sắt, hàn sĩ khá đông đều tập trung tại nhà in báo Tân Dân số 93 phố Hàng Bông. Tiền nhuận bút ít ỏi không đủ sống. Nhưng vì cái bệnh “sĩ khí” và mang tâm trạng của kẻ “may thuê viết mướn” nên chúng tôi không bao giờ nói đến chuyện tiền. Vậy mà Vũ Trọng Phụng, thoi thóp chờ “đi” đã cố ngóc dậy nói với chúng tôi là cần phải “làm reo” với nhà xuất bản. Phải viết kiến nghị đòi tăng nhuận bút từ tám hào, trang viết (32 dòng, 14 chữ một dòng) lên một đồng hai hào một trang.


Chúng tôi, gồm Vũ Trọng Phụng, Thanh Châu, Lê Văn Trương, Trúc Khê, Lan Khai, tôi... tập trung tại nhà Trương Tửu, 53 phố Hàng Gà để viết “yêu sách”. Sau đó chúng tôi “xuống đường” nhằm 93 phố Hàng Bông thẳng tiến. Tôi đỡ cánh tay Phụng, dìu đi, từng bước, từng bước nhỏ. Tay kia ông chống ba toong. Đường gần mà Vũ Trọng Phụng cứ rũ ra, dường như muốn ngã. Đến Hàng Da, tôi đùa ông, nói nhỏ: “Đi đấu tranh, Phụng cố thẳng lưng lên nào, gắng lên nào!” Phụng nổi cáu mắng tôi: “Cậu xoàng lắm!” Đó là câu mắng lời trách cuối cùng của ông đối với tôi. (Đến nay thoảng nghe câu “xoàng lắm” tôi lại nhớ đến Phụng, nhớ đến câu trách mắng thân thương ấy, tôi muốn khóc!).


Đến nhà in Tân Dân, tôi dìu Phụng leo ba mươi hai bậc cầu thang, lên lầu cao gặp ông Vũ Đình Long. Tôi còn nhớ, khi nhận bản yêu sách của chúng tôi, ông Vũ Đình Long mặt tái mét, tay run lập cập (ông vốn bệnh đau tim mãn tính). Cuộc “biểu tình” ấy đã thắng lợi nhờ chàng họ Vũ, người chiến hữu đã đành chịu thua số mệnh, ném vũ khí, ném bút xuống rồi!


Vài hôm sau, có lẽ Vũ Trọng Phụng biết mình sắp chết, nên ông nói tôi đưa ông đến nhà in Tân Dân lần nữa. Tôi hỏi đến làm gì, ông bảo “Cứ đi, sẽ biết”. Vào nhà in, Vũ Trọng Phụng xin gặp xếp typô, ông Phú già. Phụng thều thào bảo ông Phú: “Cho tôi xin vài tờ bản thảo Trúng số độc đắc”. Ông Phú đưa chúng tôi ra sọt đựng giấy “hồi đó, bản thảo đưa in đều là bản viết tay chứ không phải bản đánh máy như bây giờ, thợ sắp chữ xong là vứt vào sọt rác, đốt đi ngay). Vũ Trọng Phụng run tay lục tìm, chọn mấy tờ bản thảo lem luốc dấu tay dầu mỡ của người thợ sắp chữ, cẩn thận bỏ vào túi. Xuống đường, ông nói: “Giao ạ, khi tôi chết, người nhà, khi liệm sẽ đặt đầu mình lên hòn gạch theo thường lệ. Cậu hãy lót mấy tờ bản thảo này lên hòn gạch cho mình được gối đầu lên...”.


Năm đó Vũ Trọng Phụng mới 28 tuổi. Ông mất ở Cầu Mới. Tôi đến và làm theo lời trăng trối của ông.


Cuộc đời Vũ Trọng Phụng thật ngắn ngủi. Lúc sinh thời ông đã sống nhiều, đã lăn lóc nhiều với cuộc sống bụi bặm của tầng lớp thợ thuyền, những con người “dưới đáy” thị thành thời ấy. Đã mấy ai đau được nỗi đau của họ như Vũ Trọng Phụng. Và cho đến lúc chết, ông vẫn muốn đem theo chút hơi ấm bàn tay những con người cần lao ấy. Tôi biết Vũ Trọng Phụng không thích nói chuyện chính trị. Ông cũng “ngây thơ” về chính trị như nhiều người viết lách lúc bấy giờ. Nhưng với thiên tư một nhà văn hiện thực lớn, trái tim ông đã tự nghiêng về phía những người lao khổ, nói lên nỗi đau không được làm người của họ, phê phán quyết liệt cái xã hội mà nhà thơ bất đắc chí Tú Xương đã thốt lên:


Quân cu li


Thần cu li


Dân cu li


Tút mo[2] cu li


Vũ Trọng Phụng, bút danh Thiên Hư không còn đó, nhưng tinh anh vẫn còn đây, còn đấy, cả một thiên thu.


Vũ Trọng Phụng, đầu đông năm 1930, “chống nạng lên đường”, “không một tiếng vang”[3] đã dũng cảm lăn vào trường văn, trận bút để chung cục trước khi xuống ngựa, người chiến sĩ họ Vũ đã tận dụng sức mạnh vũ khí của ông - cây viết của ông, xuyên tới đỉnh cao văn học Việt Nam hiện đại.


 


Lê Kim Vinh ghi theo lời kể của nhà văn Ngọc Giao.
Tạp chí Văn học số 5/1989.


 


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 








[1] Vạn Bảo: tiệm cầm đồ nổi tiếng ở ph ố Hàng Chiếu, Hà Nội trước năm 1945.




[2] Tout le monde: Tất cả mọi người (tiếng Pháp). Tú Xương nhại lại thành tiếng Tây bồi là "tút mo".




[3] Không một tiếng vang: kịch nói 5 màn (1931).




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
xem thêm »