tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30438320
19.11.2019
Ngọc Giao
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính


Chơi sách 


Thuở ấy, 1945, tôi có ông bạn văn mắc chứng mê say sách quý đến mức điên cuồng rồ dại. Anh em gọi đùa ông là anh chàng mang bệnh “dâm thư” không thuốc chữa. Tôn thờ sách quý đã đành, ông còn yêu sách đẹp, in đẹp. Chữ đúng, cỡ 10, soi trang sách nơi ánh sáng, dòng chữ bên này phải căn chỉ với dòng chữ trang sau. Giấy phải loại ngoại hạng, Boufflant. Gờ sách nhà in không được xén bằng máy, mà phải để cho người mua sách, nghĩa là độc giả, dùng dao con bằng tre nứa, nhẹ tay rọc tờ này sang tờ khác, những sợi bông giấy thổi ra tua tủa dưới lưỡi dao tre. Người đọc sách vui sướng vuốt ve, ngửi hít mùi hương hồng giấy, say sưa như hôn hít người đẹp trong trắng dâng tình.


Cái anh chàng “dâm thư” ấy là nhà văn đường rừng, chuyên viết tiểu thuyết giả lịch sử Lan Khai, cùng thời với Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc. Thời ấy văn đàn từ Nam, Trung đến Bắc phần, chỉ có Lan Khai, Triệu Luật, Trần Chúc chuyên viết tiểu thuyết sử, tác phẩm nào cũng đẹp, cũng li kỳ, làm độc giả mê say. Truyện của Lan Khai thường được các rạp hát chuyển thể cải lương, tuồng chèo.


Ở tuổi hoa niên, Lan Khai rời sinh quán Tuyên Quang về Hà Nội, theo học trường Bưởi. Đỗ bằng thành chung lại trở về rừng núi Tuyên Quang, nằm đọc sách “trau dồi kinh sử”, đi sâu vào văn học, lịch sử Trung Hoa, dưới sự hướng dẫn của phụ thân vốn là một danh y nhân hậu chữa trị bệnh nhân nghèo không đòi tiền thuốc. Trong cảnh nhà tan nước mất, cụ cũng thuộc vào hàng ngũ những bậc danh nho đêm ngày gạt lệ thầm ngâm ngợi lời thơ bất hủ của bà Huyện Thanh Quan: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc - Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. Cụ lang, trải nhiều năm, lấy ngôi nhà tranh làm thuốc cứu dân nghèo, làm nơi chiêu anh quán kín đáo tiếp cận, đón đưa hết tốp người vượt tuyến này đến lớp người yêu nước khác tìm đường ra hải ngoại.


Ngày ấy, Lan Khai cũng đỡ đần thân phụ, hết lòng hầu hạ, chăm sóc những tráng sĩ ra đi, lòng nặng căm thù như Ngũ Tử Tư căm thù nước Sở thời chiến quốc.


Nằm suông nghe núi rừng rung chuyển không chịu được, Lan Khai bắt đầu cầm bút viết văn. Tức thì Chuyện lạ đường rừng hàng tuần, được gửi về Hà Nội, Thủ đô văn học. Tờ Ngọ Báo của Bùi Xuân Học, Tam Lang làm chủ bút được hân hạnh đăng tải bài của Lan Khai. Mỗi sáng thứ Hai trẻ bán báo rao ơi ới “Ngọ Báo đây! Chuyện lạ đường rừng của Lan Khai, mua mau kẻo hết”. Tờ Ngọ Báo đang có cơ chết chìm, nhờ có Chuyện lạ đường rừng lại ngóc được lên, số lượng in gấp bội.


Vậy mà Lan Khai, nhà văn đường rừng hàng tuần thấy chuyện lạ của mình trên trang nhất tờ Ngọ Báo, không cho là chuyện lạ mà chỉ thấy làm lạ là chưa hề được nhận một lá thư, một tờ giấy ngân phiếu của ông chủ báo Bùi Xuân Học. Nghĩ rằng con không khóc mẹ không vạch vú. Lan Khai viết thư hỏi ông chủ báo họ Bùi. Không hề có hồi âm. Không chịu được. Nhà văn đội khăn xếp cũ rách, áo the thâm bạc màu, về Hà Nội. Đứng giữa đất Thủ đô văn hiến, nhà văn tâm trạng bồi hồi, xao xuyến, nghiêng mình chào Khuê văn các nơi Văn Miếu, run tay mó vào chân tượng đồng khổng lồ đền Quan Thánh, bâng khuâng về thần thoại rùa đớp kiếm nước Hồ Gươm... Sau đó, lại tình cờ thấy mặt một số nhà văn Hà Nội ông vẫn mến yêu những năm tháng dài nằm ôm mộng trường văn trận bút ở rừng xanh. Ngày nay, tay bắt mặt mừng anh em văn bút, thôi thì chuyện văn học, chuyện tình đời, chuyện “nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc”, rồi đến chuyện yên hoa “nửa giấc yên hoa cười mộng cũ, hai hàng si lệ khóc tình xưa”.


Lan Khai bị cuốn vào câu chuyện hàn huyên chảy thao thao như thác loạn, cứ nghễu mặt ra, rồi thì dòng thác ấy cuốn phăng xuống xóm “Kính trời” (Khâm Thiên) mặc cho sênh phách cuốn hồn, nụ cười hồ li xé xác. Nhà văn ba đêm liền chết lịm trong mê hồn trận, do nhà thơ giang hồ vặt Tchya dẫn dắt. Sang ngày thứ tư, Lan Khai tỉnh dần ra, hồn phách trở về. Ông soi gương, ngắm hình bóng khăn xếp, áo the cũ rách, chán đời. Ông định đến Ngọ Báo đòi tiền nhuận bút, sắm bộ quần áo tây, mặc vào mình cho nó ra người, ra ngợm. Tchya gạt đi: “Không cần món tiền còm ấy. Anh đến nhà tôi, ngồi viết một tiểu thuyết lịch sử thật hay, với nhan đề thật ngộ đưa cho tuần báo Loa, họa sĩ Côn Sinh là chủ báo, cũng là một kẻ biết nhìn văn nhân và văn phẩm bằng mắt xanh. Nó sẽ trả anh số tiền lớn, đủ may bộ âu phục bảnh, đủ giúp cho các em bé xóm “Kính trời”.


Thế là không quá hai tuần, nhà văn thiên bẩm về tiểu thuyết lịch sử đã viết xong Ai lên phố Cát, Côn Sinh nhiệt liệt hoan nghênh. Đọc Ai lên phố Cát thấy quý mến con người Lan Khai: trung hậu, chân thật, phóng khoáng, mắc chứng bệnh đa tình.


Lập tức, Ai lên phố Cát được báo Loa quảng cáo ầm ĩ, rồi đăng tải.


Báo Loa nổi tiếng. Các tuần báo, cả nhật báo khác, cũng xô nhau đặt cọc, thuê Lan Khai viết truyện dài lịch sử, tạm quên hai nhà văn sử học quá quen thuộc là Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc. Tchya khuyên Lan Khai không nên viết bừa bãi, giá văn sẽ rẻ đi, phải biết từ chối, treo cao giá ngọc. Côn Sinh chủ báo Loa xin Lan Khai chỉ viết cho báo Loa. Côn Sinh giữ độc quyền cây bút sắc sảo của Lan Khai. Nhưng rồi Côn Sinh cũng không làm chủ được tài năng trí tuệ của con “người rừng” này được mãi. Vì cuộc sống của lũ vợ con kéo nhau về Hà Nội, Lan Khai phải tìm cách tự làm chủ bản thân mình. Ông được tiên ông, chủ động Tân Dân phố Hàng Bông, đọc Ai lên phố Cát mến tài Lan Khai, bảo tài xế đánh xe đến nhà thi sĩ Tchya đón rước Lan Khai về sơn động.


Gặp minh chủ, Lan Khai làm việc hết sức mình. Ông ngồi ghế lớn trong tòa soạn. Động chủ Vũ Đình Long dùng cả tòa nhà gác (xưởng in tầng dưới) trang trí văn phòng cho các nhóm nhà văn đặc trách tạp chí Tao Đàn, Ích Hữu, Tiểu thuyết thứ Bảy, sách nhi đồng Truyền bá, sách Phổ thông nửa tháng ra một số. Từng nhóm nhà văn ngồi riêng biệt, mỗi nhóm có một kẻ hầu chạy việc vặt do các nhà văn sai khiến, như mua thuốc lá, bia, rượu, đưa thư. Các nhà văn lão thành thuộc thế hệ bút lông ngồi phòng ngoài, bút sắt buồng trong. Cứ như là một Hàn lâm viện ở một nước châu Âu thế kỷ cũ.


Lan Khai, lúc này đã có ghế ngồi trên văn đàn Bắc Việt, mặc dầu mang danh chủ bút một tạp chí văn học, tiền lương tháng vẫn là số tiền quá nhỏ nhoi không đủ cứu lũ vợ con nheo nhóc giữa cái Hà thành hoa lệ.


Chính giữa lúc hữu danh vô thực ấy, chính giữa lúc nghèo nàn chen chân với thiên hạ giàu sang ấy, nhà văn Lan Khai, qua nhiều ngày mò mẫm vào các thư viện Thủ đô, trở về nhà bắt đầu không ốm mà rên vì mắc nhiễm đột ngột cái bệnh chơi sách đẹp.


Ôi chao, sách Thư viện Quốc gia, chất cao như núi, Lan Khai thấy rùng mình. Nhớ hồi còn thiếu niên, cậu bé lâm tuyền này một mình vẩn vơ trong khe đá, trên ngọn núi, thấy tảng đá nào hình thù quái dị thì sụp xuống, cung kính lạy, gọi là bái thạch vị huynh. Lạy đó, là vì cậu bé sơn nhân này một hôm nghe phụ thân vui chén kể chuyện về cái tính khí ngang tàng cao ngạo của văn nhân tráng sĩ thời xưa vào triều không sụp lạy vua nhưng đi đường thấy hòn đá lạ thì sụp lạy. Không phải lạy đá, mà lạy khí thiêng âm dương của trời đất, của vũ trụ đã trải triệu triệu năm hun đúc thành đá lạ. Thật vậy, trước kia, cậu bé Lan Khai chỉ biết vách đá cao sừng sững. Lúc này, nhà văn sử học Lan Khai nổi da gà trước những núi sách tưởng như dài vô cùng, cao vô tận. Núi đá lóe sáng dưới nắng nóng mặt trời. Ở đây núi sách lóe hào quang dưới ánh đèn chiếu sáng rọi vào những nét vàng in trên lưng sách, xếp liền nhau trùng trùng điệp điệp. Nhà văn đứng như đá mọc trước những hàng núi sách bìa cứng gáy mạ vàng, có sức hấp dẫn tâm hồn dễ xúc cảm, chỉ suýt chút nữa thì Lan Khai sơn nhân ngày cũ quỳ xuống lạy sách như lạy đá.


Mắc bệnh gì còn có thuốc, vướng vào cái bệnh si mê sách hay, sách đẹp thì không còn có thuốc gì ngoài tiền, mà bệnh nhân lại quá nghèo. Càng túng kiết, không mua được sách quý, không gây được một thư viện tại gia, sách hay hàng ngày, hàng vạn cuốn, sách đóng bìa cứng, bọc gấm vóc, vàng son chói lọi, con người “dâm sách” Lan Khai càng rên xiết vì con trùng sách ngày đêm hành hạ, nguy hơn trùng lao, trùng hủi.


Lan Khai đã mê sách hay, sách đẹp, lại mê cả cách chơi bản thảo của chính mình mỗi khi phác họa một tác phẩm đã chín mùi trong não. Chỉ là bản nháp thôi nhưng ông rất coi trọng bản nháp, phải viết nó trên giấy trắng, dày dặn, bút mực phải tốt. Phải thuê thợ đóng bìa gáy mạ vàng, gáy sách phải có bốn gân. Phải có triện đóng vào bìa sau sách, triện đủ loại, triện lá lật, triện âm, triện dương...


Đó, bản thảo của nhà văn nghèo yêu cái đẹp, cái sang, cái hiếm. Viết kín tập bản thảo đầu đóng bìa đẹp, đắt tiền như vậy, ông đọc lại, sửa chữa cắt xén, sửa đi sửa lại, chữa chán chữa hồi, sửa chữa đến nỗi mấy trăm trang viết chữ như rồng như phượng, bị bôi trát nhem nhuốc, đưa cho nhà xuất bản, họ phải khước từ, nói là không đọc nổi, thợ nhà in sắp chữ cũng xin thua. Thế là nhà văn có tính chơi ngông này lại vác tập bản thảo về, móc túi vợ, lần lưng con, cố gom góp số tiền nữa đến nhà đóng sách giỏi nhất Hà Nội là nhà Trung Ký ở vườn hoa phố Cửa Nam, ông còn nhăn nhó khi vợ thở than cái bệnh chơi bản thảo đẹp của ông chồng túng kiết. Tập bản thảo thứ hai lại đẹp hơn tập đã vứt đi. Ông ngồi chép lại, khó nhọc như trâu cày, ngựa kéo. Các bạn văn thấy vậy, thương ông. Họ cười nói đùa ông:


- Cái bất tử là văn hay. Bản thảo miễn là viết rõ cho thợ sắp chữ khỏi la trời là được. Cái vỏ áo mũ đẹp, không biến con quỷ thành ông thánh.


Câu nói đùa ấy không khiến Lan Khai giận. Bởi vì khi chơi cái bản thảo cầu kỳ, đắt tiền ấy Lan Khai đã qua ba tháng trời, rút mồ hôi, hơi thở, viết Mực mài nước mắt, một thiên ai sử tặng làng văn.


Đã muốn là phải được. Nén chịu ba năm khổ nhục, nhà văn mê sách đã cố sức gây được tủ sách gia đình. Khá nhiều pho sử cổ kim, khá nhiều tác phẩm Âu Tây cổ đại, trung đại, hiện đại đã có mặt và mặc áo đẹp, đứng hiên ngang trong tủ kính. Thậm chí, ông đã nhờ ông bạn quý, nhân chuyến công du Pháp quốc, đến bờ sông Sein tìm hàng sách cũ. Ông già bán sách đã trao cho ông bạn ấy ba pho sách của ba nhà văn lớn kỷ nguyên ánh sáng loại thực, không phải giả.


Có một số khá đông, hàng ngày rình xem giờ nào Lan Khai ở nhà báo về, đến gõ cửa, xin vào xem nhờ một cuốn nổi danh, chỉ tìm thấy trong thư viện Lan Khai. Có một số đến xin ghi chép, chụp ảnh những trang hay. Khi chúng rút lui, nhìn vào tủ thấy khuyết đi một chỗ.


Lan Khai nhăn nhó, hoảng hốt, lại ngửa tay xin vợ đủ số tiền đi chuộc sách về cho đủ bộ. Ngày ấy, ở Hà Nội, có một nhà chuyên mua sách cũ, tức là sách ăn cắp được. Nhà đó ở phố Hàng Trống, số 64. Bạn bè, kể cả mấy bạn chí thân, cũng mượn sách không trả lại. Đến nỗi, người mê sách phải viết lên tấm biển, treo ngoài tủ kính:


“Có thể cho mượn vợ. Không cho mượn sách”!


 


Báo Người Hà Nội, số 46, 24/11/1996.


 


Hồi ức về Lê Văn Trương


Thời tiền chiến, 1930-1945, kể về số lượng tác phẩm. Lê Văn Trương là một nhà văn lớn. Theo tôi nhớ, ông có tới 60 tiểu thuyết dài, không nói khá nhiều truyện nhỏ đăng trên các báo khắp ba miền trong nước. Ở miền Nam, nhất là tại Sài Gòn, tủ sách nhà nào cũng có Lê Văn Trương. Giai đoạn ấy, văn học lãng mạn thịnh hành. Về mặt chính trị, con người, nhất là giới trí thức, lâm vào đời sống tinh thần bế tắc, đứng ở ngã ba lịch sử kể từ sau cái đêm Yên Bái đỏ, mười ba cái đầu yêu nước, cùng một lúc, rụng dưới lưỡi dao thực dân Tây.


Bắt đầu từ 1932, xuất hiện Lê Văn Trương trong làng báo, làng văn. Họ Lê ra mắt độc giả một cách khiêm tốn với những bài ngắn đăng đều hàng ngày trên nhật báo Trung Bắc Tân Văn của ông Nguyễn Văn Luận (bố nhà cử nhân văn chương thứ nhất của Việt Nam - ông Nguyễn Khắc Kham ở Pháp về, thiên hạ hồi ấy quen miệng gọi là cậu Cử Kham). Trên báo Trung Bắc Tân Văn mỗi ngày một cột trang đầu, không hề thiếu vắng tên Cô Lý (cô lý luận) nội dung triết lý, hài hước, nói về các tầng lớp xã hội, đả kích rất chua cay. Quan lại phần lớn bị ông xỉa bút vẫn làm ngơ, Tây cũng mần thinh, không có dấu hiệu gì phản ứng. Tờ nhật báo của ông Luận nhờ Cô Lý được nhiều người yêu mến, làm ngả nghiêng mấy bạn đồng nghiệp Ngọ Báo của Bùi Xuân Học, Đông Pháp của Ngô Văn Phú, Tia Sáng của Ngô Vân...


Được hơn một năm, Lê Văn Trương thôi viết báo, bắt đầu sáng tác văn học. Tôi không nhớ tác phẩm đầu tay là cuốn gì, chỉ biết rằng ngay từ bước đầu, chủ động Tân Dân Vũ Đình Long đã rung đùi xoa tay, hài lòng với tiểu thuyết Cô Ba Trà của họ Lê. Thuở ấy, người ta đang say sưa với mớ tiểu thuyết tình lâm li của Pháp như Trà hoa nữ, Mai Nương lệ cốt, Graziella... Độc giả nữ mê say và ảnh hưởng đến mức đã xảy ra mấy vụ “trầm hương đắm ngọc” ở Hoàn Kiếm, Tây Hồ. Về vụ đó, đáng kể nhất là vụ “Tuyết Hồng lệ sử”. Cô gái đẹp Hà thành này là Hội viên hội “Phi Cao đẳng bất thành phu phụ”. Hội viên nào phạm nội quy: Không lấy chồng sinh viên Cao đẳng sẽ bị tử hình. Cô Tuyết Hồng, vì khuôn phép giáo dục gia đình đã bị bức bách lấy một thanh niên tên là Đạm ở phố Hàng Mã. Ngay hôm đón dâu, cô nhận được bản án tử hình. Cô vẫn bình tĩnh lên xe hoa, rồi sớm ngày nhị hỉ, một nữ đao phủ đứng đón Tuyết Hồng tại đầu phố Hàng Mã, áp đảo cô lên Tây Hồ, đọc bản án, rồi lập tức đưa mình xuống nước.


Nhân vật cô Ba Trà của Lê Văn Trương cũng như các nhân vật nam nữ khác ở mọi tiểu thuyết của ông không hề có hành động, tư tưởng yếu hèn, sống khổ, chết khổ vì tình. Ông quyết liệt chống đối lối yêu đương, lề thói hôn nhân ngu muội của cái bọn nữ ma đầu tư sản “Phi Cao đẳng bất thành phu phụ” đó. Từ Cô Ba Trà, tiếp đến Cô Tư Thung, ông được độc giả hoan nghênh. Đây là hai cô gái đẹp, nổi danh tài sắc của Sài Gòn, yêu tỉnh táo, yêu cuồng bạo với thủ đoạn dẫm lên đầu kẻ đàn ông, không hề biết khóc, không hề quỳ gối trước mấy ông nghị gật, mấy anh nhà giàu đốt giấy bạc kiểu công tử triệu phú Cần Thơ. Hai cuốn tiểu thuyết này đã khiến những chàng, những nàng vốn tôn thờ Mai Nương lệ cốt, Trà hoa nữ... quay đầu về phía Lê Văn Trương, ôm ấp tác phẩm của ông, và đón đợi những tác phẩm sau. Cuốn truyện ra tiếp đó là Người anh cả, in thành hai tập loại Phổ thông bán nguyệt san của Tân Dân. Đây cũng là một tác phẩm đáng ghi nhớ. Nhân vật chính chỉ là một chàng trai nhà nghèo, sau lưng anh, một đàn em nheo nhóc đói ăn, thiếu học. Người anh cả đã lao vào cuộc sống kiếm tiền nuôi lũ em, dạy dỗ, dẫn dắt chúng, trở nên những con người hữu dụng. Câu chuyện cũng rắc rối, phức tạp, li kỳ như Anh em nhà Karamazov của Dostoievxki. Tác phẩm Lê Văn Trương chủ yếu dựng lên những nhân vật, nam cũng như nữ, phải có một cơ thể mạnh để chứa đựng một tinh thần mạnh. Bởi thế, thời đó, người ta mệnh danh ông là nhà văn triết lí người hùng với luận điệu nửa đùa, nửa mến. Thời kỳ ấy, một số đông trí thức hâm mộ hai nhà văn chủ trương con người phải mạnh. Đó là Nietsch và Kant. Lê Văn Trương tán thành ảnh hưởng chủ thuyết này. Lê Văn Trương luôn nghĩ con người phải nuôi dưỡng tinh thần mạnh, ý chí nam nhi. Ông thường nhắc nhủ “Soyons hommes!” (Hãy là Người!) Và với luận cứ ấy, ông bám chặt vào con người hùng trong tất cả sáng tác của ông. Giữa giai đoạn này, xuất hiện một số trí thức tôn sùng André Gide qua tiểu thuyết La porte étroite (Cửa hẹp). Ô famille, je te hais (Gia đình, ta căm thù mi). Nhà thơ Lưu Trọng Lư đã là tín đồ của Gide. Bài thơ tứ tuyệt của ông đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy, tôi đã bảo thợ đóng khung trang trọng:


Vô liêu như chiếc đồng hồ


Đôi kim đã chết trên giờ thê nhi.


Sông hồ thưa vắng biệt li


Người lành của rẻ có đi cũng sầu.


Tâm trạng những người trí thức, nhất là những văn nghệ sĩ, như tôi đã nói, đứng ở ngã ba lịch sử, ngày tháng rối ren, không biết làm gì, không biết đi đâu, ngoài những chuyến đi giang hồ vặt.


Lê Văn Trương, ngược lại, không tán thành A. Gide, không căm ghét gia đình, coi gia đình là cái lồng hẹp, nhốt đại bàng. Ông càng viết khỏe, càng bảo vệ chủ thuyết yêu cuộc sống, vượt qua mọi thăng trầm. Hồi đó, một số người nhắc đến Lê Văn Trương với giọng mỉa mai, xem ông là người hùng kiểu Đông Ki Sốt đánh cối xay. Và cho đến ngay cả bây giờ, thanh niên chưa hề đọc Lê Văn Trương, cũng tưởng Lê Văn Trương là người hùng loại cao bồi phong kiến.


Số lượng tác phẩm khổng lồ của Lê Văn Trương, trước khi in, tôi đều đọc bản thảo, thật tình, chưa hề bắt gặp một truyện nào thiếu đạo đức, vắng cái hào khí của con người đất Việt.


Tôi tưởng cũng cần phác họa dáng dấp nhà văn Lê Văn Trương. Ông cơ thể to cao, da ngăm đen, trán hơi gồ, cặp mắt tinh khôn, có một hột cơm dưới đuôi mắt phải, tiếng cười sảng khoái, đi đứng ung dung, chững chạc. Bạn bè quý mến tính hào phóng, lễ độ, ngang tàng, chân thật, gắn bó với bạn văn nghèo. Gần họ Lê, không có gì đáng phải đề phòng. Duy có điều đáng ngại là mỗi lần gặp nhau, cái bắt tay thân ái của ông khiến người được ông chào phải cố gắng giấu nét mặt đau đớn trong bàn tay sắt của ông. Thật vậy, bàn tay Lê Văn Trương không phải sinh ra để cầm bút, mà để bóp chết những kẻ nào mà ông căm ghét. Mỗi lần Lê Văn Trương đến động Tân Dân hoặc nhà xuất bản nào đó, về đến nhà thì anh em văn hữu, được ông hẹn, đã ngồi chật căn nhà lá hẹp ông thuê tại Ngã Tư Sở, gọi đùa là “Chiêu Anh Quán”, cũng được mang cái tên nữa là Lương Sơn Bạc, bạn bè đùa ông là Tống Công Minh.


Bà vợ cả Lê Văn Trương quanh năm ở ngôi nhà dưới ngõ Chùa Vua với hai con trai, một con gái. Bà cả người miền Nam, dáng điệu cốt cách ung dung như một phu nhân mệnh phụ. Cạnh bà vợ quá nghiêm túc, ông tìm hết cách sống riêng, xa vợ, xa con. Và, quả vậy, ông đã sống riêng với một nàng kỹ nữ (chị Đào) nhảy ở tiệm Fantasio, phố Hàng Bông. Bà cả không hề phản đối, không hề liếc mắt ngó coi ông chồng nghệ sĩ sống cách nào.


Những ngày trong túi có món tiền bán sách, ông hô bạn đến nhà, cơm rượu suốt đêm ngày, cầm bằng như đốt bạc. Ông có hai đồ đệ tận tụy trung thành là hai gã trẻ tuổi Đặng Đình Hồng, Tân Hiến. Hồng thấp bé, những ngày đói rách, đã từng làm cái nghề đi tuyên truyền đạo Tin Lành ở khắp nơi. Hiến thì cao lớn bên cạnh vẻ thấp lùn của Đặng Đình Hồng. Tân Hiến tháo vát, khỏe mạnh, tính nết hiền hòa. Tôi nhớ mỗi lần tôi vào “Lương Sơn Bạc”, thăm Lê Văn Trương, thấy bóng tôi từ đầu ngõ, ông đã vui vẻ hô to: “Kìa, đại ca đã đến, chú Hồng, chú Hiến đâu mau đi làm việc”. Làm gì, tôi kinh ngạc tự hỏi? Thì ra, ngay lúc đó, Tân Hiến đã với tay lên vách, lấy cây lao sắt nhọn. Còn Đặng Đình Hồng thì cắp cây nỏ và một túi tên tre. Tuần trà vừa trọn, ngoảnh ra sân, thấy hai cao đồ của họ Lê đã xách về một chú gà, một chú vịt, và không thiếu một xâu cá béo bắt trộm ở ao trong xóm. Những nhà văn, nhà thơ gần gũi Lê Văn Trương hồi ấy là Nguyễn Bính, Lan Khai, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm... lẫn cả anh chàng Viễn, một tay đồ tể khét tiếng ở lò sát sinh Lò Đúc. Làm nghề chọc tiết lợn, nhưng Viễn rất yêu mến, hiểu biết về văn học, hào hiệp như một hảo hán thời Đông Chu liệt quốc. Bài thơ Tống biệt hành bất tử của Thâm Tâm chính là ông gửi tâm sự vào đó trong bữa rượu tại nhà Lê Văn Trương, chia tay Viễn, đi xa... Thâm Tâm ứng khẩu đọc bài thơ ấy trên chum rượu bến Hồ. Nhắc đến Thâm Tâm tôi không thể nào không thương nhớ con người gầy choắt, cao thước rưỡi, hầu như không nói, không cười. Có cảm giác, con người Thâm Tâm, sâu như cái giếng. Rượu uống chẳng kém gì thi sĩ đời Đường. Thơ ứng khẩu nhanh chẳng kém Tào Thực nhà Hán. Con người nhỏ bé này chưa hề biết sợ ai. Chúng tôi thường ví Thâm Tâm là Yêu Ly, là Lạn Tương Như đất Triệu. Cũng ví Lê Văn Trương là đại tướng Liêm Pha, cũng người nước Triệu. Một Lạn Tương Như nhỏ bé, một Liêm Pha thét lửa, cả hai đều khiến bạo Tần phải nể.


Lê Văn Trương chịu đọc sách, nghiên cứu sâu văn học Pháp, từ thế kỷ Ánh sáng. Nhưng ông không khoe sách trong câu chuyện văn học với bạn bè.


Về sức mạnh, họ Lê luôn khiêm tốn. Hồi ấy, ở Hà Nội, phố Hàng Trống có một lực sĩ tên là Nguyễn Lộc, mở lò dạy võ, chụp hình trên sách báo, bắp thịt trông ghê như nhà quyền anh vô địch thế giới Tyson ngày nay. Nguyễn Lộc vắng đồ đệ, có cơ đói rách. Có người xui Nguyễn Lộc thách đấu với Lê Văn Trương, mà thiên hạ thì thầm nhà văn này là cao thủ gồng trà kha, vũ thuật Cao Miên. Chuyện ấy đến tai Lê Văn Trương. Trương chỉ mỉm cười. Sau lại nghe vũ sĩ Nguyễn Lộc được báo đưa tin ông vừa biểu diễn võ nghệ cho công chúng nhìn tận mắt: trước một tấm mành che cửa, ông Lộc phất tay một cái là lá mành tự động cuốn lên chừng bốn mươi phân. Sau đó, ông Lộc đứng bên một miệng giếng, nước cao gần bằng thành giếng, ông phất tay, làm cho mực nước dâng lên, sóng lăn tăn bắn ra ngoài giếng. Rồi thì báo chí đăng rầm rĩ ca ngợi Nguyễn Lộc quá trời. Báo Đông Pháp lại mạnh hơn, tung ra cái tin vũ sĩ Nguyễn Lộc thách đấu với nhà văn gồng trà kha Lê Văn Trương.


Đã có một lúc, Lê Văn Trương mất cái bình tĩnh thường ngày. Ông định nhận lời thách thức đó. Chúng tôi vội xúm lại hết lời can ngăn, nhắc ông: dù thắng bại cũng làm trò cười thiên hạ. Nguyễn Lộc, bán sức kiếm ăn như một anh mãi võ, thua không ai cười. Nhà văn Lê Văn Trương mà bị Lộc đánh ngã trước quần chúng thì đó là cái nhục chẳng riêng cho ông, mà nhục chung cho cả làng cầm bút. Cuối cùng ông nghe chúng tôi, rồi câu chuyện lố bịch ấy cũng qua đi.


Năm tháng không đứng lại. Chúng tôi tan tác dần, mỗi người một ngả, vác bút đi kiếm ăn ở khắp ba kỳ. Chao ôi, cái nghề viết mướn may thuê!


Lê Văn Trương vẫn ở ngôi nhà lá cũ với hai đồ đệ, với kỹ nữ Đào, người đàn bà xinh đẹp, hiền hậu, cơm nước, hầu hạ ông chồng, càng thêm tuổi càng sinh biến tật, nóng nguội thất thường.


Ông vẫn viết, quanh năm ít có một ngày nghỉ bút. Chỗ làm việc của Lê Văn Trương là một góc gian phòng tối. Những hôm thời tiết đông âm u tối, ông bảo đốt nến trắng, soi bản thảo. Một bàn giấy gỗ mọt, một ghế gần như còn có ba chân. Ông ngồi đó, mặt đăm chiêu, suy nghĩ. Trên bàn giấy, ngay trước mặt đặt một cái sọ người luộc kỹ, sọ bóng lên bởi nhiều bàn tay đã mó vào. Ông ngồi đó, môi mím chặt, mắt trũng sâu, dưới tay một chồng giấy bản thảo. Chúng tôi lặng lẽ ngắm nhìn cái đầu ông lẫn với cái đầu lâu sọ người nào đó lung linh trong ánh nến. Theo thói quen, có khi mạch văn bí tắc, ông cầm bút gõ mạnh lên cái đầu lâu mấy tiếng liền. Rồi im lặng. Sau đó ít phút, ông cầm bút viết lia viết lịa, không ngừng nghỉ, có lẽ không cả thở.


Biết ông say viết, chúng tôi bấm nhau lặng lẽ ra về. Cũng đã nhiều lần, ông bảo đồ đệ Đặng Đình Hồng, Tân Hiến, mỗi người ngồi một đầu bàn, cầm bút viết theo ông đọc. Đầu ông ngả lên lưng ghế, mắt nhắm lại, như người ngủ nói mê. Không, ông rất tỉnh. Ngồi mãi mỏi, ông vùng đứng dậy, đi đi lại lại quanh bàn giấy, vẫn tiếp tục đọc cho hai đồ đệ viết. Những tác phẩm sáng tạo theo kiểu đó, khá nhiều. Có tác phẩm thành công, cũng không ít cuốn thất bại. Cũng nhiều khi ông thảo nội dung với đầy đủ chi tiết, ném cho hai đồ đệ viết. Bởi thế, qua mấy năm liền, mấy nhà xuất bản cương quyết khước từ bản thảo tiểu thuyết Lê Văn Trương, vì kém quá, hơn nữa, chữ bản thảo không phải là nét chữ quen thuộc của ông. Họ Lê đi vào túng quẫn. Ông đành vác bản thảo kiểu hàng rởm đó đến “động” Tân Dân. Tất nhiên, ông chủ Vũ Đình Long đưa tôi đọc, cho ý kiến. Thật tình, (nói trộm linh hồn ông Vũ Đình Long) tôi đã biết là hàng rởm, nhưng thương bạn, tôi không đọc, phê ngay bằng mực đỏ ngoài bìa: “Tốt. In được”. Thế là, ngay hôm sau, Lê Văn Trương, lúc nào cũng y phục chỉnh tề, ngửa cao đầu bước qua động Tân Dân, tay múa can như Saclô, tiếp nhận chiếc phong bì lớn đầy giấy bạc do tay “Tiên ông” đưa.


Sau đó, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Vũ Trọng Can được tin mừng, đã đến đủ mặt trong “Lương Sơn Bạc”. Với Lê Văn Trương, viết là cho văn học, cho độc giả thân kính, tiền viết kiếm được, chỉ có giá trị trong việc tiếp đãi, giao du, thỏa mãn bạn văn nghèo. Cho nên, hôm nay tiệc lớn, không tiếc một ai. Ngày mai, lại xác xơ, nghèo túng. Nhưng họ Lê không vì thế mà than thở, chau mày. Những năm tháng ấy, chúng tôi thực tình yêu thương nhau, đùm bọc nhau, cái nhục cái vinh cùng chia sẻ.


Cho đến một buổi chiều cuối đông, gần Tết. Anh em cùng kiết xác, họp nhau uống rượu suông ở nhà Thâm Tâm. Trần Huyền Trân nâng cốc, nhìn Thâm Tâm, Nguyễn Bính, nước mắt lăn xuống má. Trân cúi đầu, lau nước mắt, ứng khẩu mấy câu thơ này, mỗi lần nhớ đến, tôi thấy não lòng:


Thôi thế anh về yên xóm cỏ


Xứ nghèo đã cỗi gốc yêu thương.


Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió


Cho đống xương đời được nở hương.


Nghe xong, con người sắt thép như Lê Văn Trương mà cũng cúi đầu giấu tiếng thở dài.


s


1950, nhà văn Lê Văn Trương vào Nam, chúng tôi không hề biết trước. Tôi tình cờ giở tờ tuần báo Mới của Phạm Văn Tươi, chủ nhà in, nhà xuất bản Tín Đức thư xã phố cũ Sabourin, thấy truyện dài in hàng tuần, nhan đề Cô gái họ Phạm. Ít ngày sau, tin Sài Gòn đưa ra: Làng báo trong đó, không biết vì lí do nào, đang phát động phong trào tẩy chay Lê Văn Trương? Tuần báo Mới không in tiếp Cô gái họ Phạm nữa. Lần lữa mãi, Lê Văn Trương, cũng như Vũ Bằng, Tam Lang, Thượng Sỹ, đều thất nghiệp.


Sống chơ vơ, cùng quẫn, họ Lê ốm, già, kiệt sức. Không ai thân thích, ông vẫn hàng ngày đi xoay xỏa. Đói thì chịu vậy, nhưng ông không nỡ để đói lũ mèo ba mươi con, đủ các loại, các giống, sống quanh ông, bầu bạn chung thủy với ông.


Cho đến một ngày, ông bạn Thanh Châu nhận được thư Thượng Sỹ (nhà văn, nhà phê bình cũ trong nhóm Vũ Bằng) gửi ra, kèm theo một mẩu báo cắt nham nhở, đưa tin nhà văn Lê Văn Trương đã qua đời trên căn gác ổ chuột. Trương ơi, anh chết đói hay chết bệnh? Bệnh gì? Vẫn chỉ là căn bệnh chung của lũ chúng mình, cái bệnh của những con người không chịu sống bình thường. Bài báo không quên tả, quanh thi thể ông, một đàn ba mươi con mèo đói, không kêu gào gì hết. Chúng lặng lẽ bám quanh xác chết, rúc đầu vào nhau. Chúng, chỉ có chúng, những con mèo chung thủy, tiễn ông đi.


s


Lê Văn Trương ơi.


Hôm nay, ngày xuân Hà Nội. Mây trời u ám. Gió xuân se lạnh. Tôi, đã tám mươi, râu tóc bạc phơ rồi. Tôi khép chặt cửa phòng, run tay cầm bút, viết về Anh, nhớ thương Anh. Viết theo thể hồi ức, nhớ gì viết nấy, không bố cục, không văn hoa.


Con chim già, đang rơi rụng cánh, tiếng hót thường lảnh lót. Bạn đọc cổ kim thân quý của tôi, đọc tôi, hãy tin tôi. Sức quá yếu rồi, mạch văn cũng yếu. Bạn đọc thể tình cho cây bút về già.


 


Tạp chí Văn học, số 3-1991.


 


Tam Lang Vũ Đình Chí
với nỗi vinh nhục của nghề làm báo


Cái vinh


Thời xưa, cứ đầu xuân, nho gia có thói quen khai bút, dầm đầu bút lông vào nghiên đá, phất tay áo rộng, chữ nghĩa như rồng như phượng nhảy múa trên mặt giấy hoa tiên. Một đôi câu đối. Một bài thơ tâm sự với chúa xuân. Một bài từ, bài phú chuyện trò với cõi phù sinh.


Thời nay, vẫn còn mấy cụ già, mấy ông văn báo, cũng múa bút bi, sớm ngày mồng một Tết, gọi là “khai bút cái chơi”.


Phần tôi, vốn biếng lười không ưa quá nệ cổ, chẳng xuân nào khai bút. Vậy mà, đầu xuân năm nay, cái xuân con khỉ này, tôi cảm thấy nỗi xốn xang, man mác, nhớ thương một cái gì trong quá khứ. Đêm giao thừa qua hai tiếng đồng hồ, ngồi bịt kín tai mong trời đất im tiếng pháo, tôi chui vào màn, tìm giấc ngủ. Nhưng sao mà ngủ được! Chao ôi, những ngày xuân, những đêm xuân thời trai tráng vẫn cứ đến hoài với cái thân già, giờ đây, ngẩn ngơ trong một gian phòng nhỏ, một đèn một bóng, mình nói với mình, nhớ rất nhiều đến những người thân kẻ sơ đã khuất.


Nửa đêm thức giấc, bật ngọn đèn nhỏ đầu giường, nhìn chồng báo chí xếp đầy mặt bàn con, tôi nghĩ ngay tới ông Tam Lang Vũ Đình Chí, sư phụ tôi, dẫn dắt tôi viết từng dòng, kể từ năm 1929.


Ông Tam Lang nếu sống được đến nay thì gần tròn trăm tuổi. Ông là một nhà văn viết báo, không là một nhà báo viết văn.


Nói không ngoa, ông Vũ Đình Chí sinh ra để đa mang nghề báo. Ông đến báo nào, người ta cũng sẵn lòng đặt ghế, mời ông làm chủ bút, mà lại là thứ chủ bút khác thường, rành nghề quá, sắc sảo quá, đến mức bạn đồng nghiệp phải ghét ghen.


Thuở ấy không có trường huấn luyện làm báo, làm văn. Viết được, sống được, đứng ngồi vững được là do một năng khiếu bẩm sinh nào đó, không một ai dám tự đắc nhấn đến chữ thiên tài.


Đêm giao thừa năm nay, tôi trăn trở nhớ đến ông Tam Lang Vũ Đình Chí, là vì tờ lịch trên tường nhắc tôi nhớ rõ ông Tam Lang sinh đúng năm Canh Thân.


Những ngày xưa ấy, các bạn đồng thời, đồng nghiệp với ông Tam Lang, trong cuộc vui đùa, trà dư tửu hậu, thường bạo miệng bảo thằng Chí Béo (ông cao lớn, to béo) chính là con khỉ Tề Thiên Đại Thánh. Con khỉ Tôn Ngộ Không có cây gậy sắt như ý bổng, đánh loạn cả thiên đình thủy phủ, trừ diệt yêu ma. Con khỉ Chí Béo có một cây bút sắt cũng là một thứ như ý bổng, nó đánh “tút mo” (tout le monde) chẳng sợ ai, kể từ phủ toàn quyền, triều đình Huế, đến loại tham quan nội giám hạng bét là tỉnh trưởng, quận trưởng, lãnh chúa đồn điền Việt, Pháp.


Cá tính đặc biệt của ông Chí lầm lì, rất ít nói cười, tránh hết sức các cuộc tranh luận với bất cứ ai. Nhưng cái tật nóng tính, khi cặp mắt lành hiền trên khuôn mặt chữ điền, đỏ sọc lên thì coi chừng đấy, bạn hữu bấm nhau né tránh ông ngay. Các cụ bảo “người lành hay cục”, quả tình như vậy.


Tờ Ngọ Báo sở dĩ được suy tôn là anh cả làng báo, nhờ vào thủ pháp Tam Lang. Hàng ngày, ở góc bên phải dưới trang nhất Ngọ Báo, hút mắt độc giả là cái khung kép “Mỗi ngày một chuyện”. Là báo thông tin, nhưng bất cứ tin long trời lở đất nào cũng không được người đọc lưu ý hơn cái “mục máy chém” này. Quả nó là cái giá treo cổ, cái hố mìn bom, lưỡi đao “chém treo ngành”. Mỗi ngày, ở góc báo ấy, treo lủng lẳng một cái đầu, tưởng như đang rỏ máu hoen nhòa mực in trên trang báo. Người đọc, đọc xong, rợn lo cho tác giả, tên đao phủ nhà nghề, sắp sửa được bốc lên ô tô đen bịt kín, biến đi vào lúc nửa đêm, khi cả thành phố đã ngủ say. Vậy mà, cái con khỉ Chí Béo này vẫn ngày ngày, sáng sớm, từ số 15 ngõ Hàng Hành, lững thững đến nhà báo phía sau đền bà Kiệu, sau đổi đến 15 ter phố Gia Long (nay là Bà Triệu), con khỉ Tề Thiên vẫn bình thản đi cạnh ông bạn là nhà văn chuyên viết bình luận Thái Phỉ Nguyễn Đức Phong. Ngọ Báo, tôi nhắc lại, là cơ quan ngôn luận thông tin, đúng như tôn chỉ. Nhưng tôi đã nói Tam Lang Vũ Đình Chí vốn là một nhà văn, ông bắt Ngọ Báo làm hai việc: thông tin và văn học, mang một sứ mệnh riêng, bộ mặt riêng, không muốn, không thể giống bộ mặt tất cả báo hàng ngày khác.


Các báo hàng ngày thuở đó không đăng thơ văn, ngoài tin tức, kể cả tin chó chết. Ngọ Báo thì khác hẳn. Không cần nói kỹ thuật trình bày khác lạ, chọn từng cỡ chữ đẹp cho đầu bài, đến cách theo đúng nội dung bài dùng chữ đứng hay chữ ngả, bài đóng khung kép hay khung đơn, góc khung phải khép kín, hở một ít là ông bắt thợ phải sửa chữa liền. Căn bản là không được để bài có lỗi hụt dòng, mất câu, lỗi chính tả, làm sao không bao giờ báo phải xin lỗi độc giả về sai lầm thiếu sót. Khi cầm bút ký “bon à tirer” cho máy chạy, thấy ông cứ nhìn chằm chằm vào mắt người công nhân đứng máy, như có ý đe dọa, nhắc nhủ: “Ông phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về chữ ký của tôi”.


Ngọ Báo được người yêu thích, là vì nó đăng cả thơ ca, truyện ngắn ngay trên trang nhất. Cho mãi đến bây giờ, gần mãn kiếp rồi, tôi vẫn nhớ những truyện ngắn thật hay do họa sĩ Côn Sinh minh họa. Đây là một chuỗi ngọc trên trang nhất Ngọ Báo. Tôi tin rằng Hà Nội ngày nay còn một số độc giả cao niên vẫn chưa quên: Chống nạng lên đường của Vũ Trọng Phụng, Thần giữ của của Tchya, Lầu Thụy Hoa viết theo phong cách liêu trai của J. Leiba Thanh Tùng Tử, Tiếng sáo của Thanh Châu, Cái chết của người kỹ nữ của Thanh Tử. Phần tôi, tên lính mới tập cầm bút cũng được sư phụ Tam Lang sớm đặt thanh kiếm lên vai, đăng lên trang nhất bài Dưới con mắt tôi, cái xã hội người. Nỗi mừng không bù được cái lo. Hồi ấy tôi mới cưới vợ, đúng 22 tuổi, ở thuê căn nhà phố Hàng Chiếu trông thẳng sang Nhà Vạn Bảo tức hiệu cầm đồ của Hoa kiều. Bài báo ra được ba hôm. Qua ngày thứ tư, vợ tôi khẽ rỉ tai: “Coi kìa, sáng nào cũng đúng 7 giờ là cái lão kia đã đỗ xe đạp đứng hút thuốc lá, nhìn chòng chọc vào nhà ta. Cậu lên xe đạp, hắn cũng đạp theo liền. Có thể là mật thám”. Tôi để ý, theo dõi thằng cha ấy. Khoảng ngót chục ngày, sự kiện ấy diễn đều. Lo quá hóa liều. Mỗi sáng dắt chiếc xe đạp cũ ra vỉa hè, thấy nó, tôi nổi cáu, làu nhàu trong miệng: “Et alors jái des flics dans mes couilles” (1). Nhưng rồi, cái họa cũng lặng lẽ qua. Tôi lại tiếp tục viết, viết mãi, viết hoài cho tờ Ngọ Báo. Viết cả thơ, đăng mục Sợi tơ lòng. Về thơ, tôi tự thấy bất tài, xin bỏ, vì hồi đó, thơ J. Leiba, Thanh Tùng Tử, Sybar, Sybarite (đều là bút danh nhà thơ thiên tài chết non Lê Bái, người Nam Đàn, Ý Yên, Nam Định, đồng hương cụ Nhượng Tống danh nho, dịch Tây sương ký) hay quá được cả thiên hạ đọc báo ngợi ca. Anh nổi tiếng trước cả Thế Lữ và các thi sĩ Tự lực văn đoàn. Mới tròn ba mươi tuổi, Lê Bái đã lìa đời vì lao phổi, chưa in được tập thơ nào, vì bài anh đăng tản mát khắp các tờ báo, không có cách sưu tầm. Anh sống như đùa, làm thơ viết truyện cũng như đùa, cho đến lúc chết, cũng lại như đùa. Ba mươi tuổi mà tài học phi thường, Hán văn, Pháp văn, Latinh, Hy Lạp, hiểu biết đến tầm sâu. Đôi khi buồn quá, viết chơi vài bài đăng báo Pháp, trong bài pha cả Latinh, Hy Lạp; Chủ bút René Candelon báo L'œurre, chủ bút Patrie Annamite Lê Thăng (cử nhân văn đã du học ở Pháp) đọc bài Lê Bái (anh thường kí Jacqueline Lệ Thủy) đều không hiểu nổi. Hai tay cử nhân chủ bút Pháp, Việt ấy mò đến phố Hàng Chiếu nhà tôi, tìm gặp Lê Bái, nhờ giải cho những từ Latinh, Hy Lạp. Một văn tài hãn hữu trong thiên hạ! Ngày anh chết, chúng tôi buồn thương anh, thương như làng văn mặc thương Đỗ Phủ và - ngây thơ hơn mà cũng thực tình hơn - như người đọc Tam quốc chí, buồn thương cái chết nửa chừng đại nghiệp của Khổng Minh nhà Hán.


Tôi vội đến văn phòng Ngọ Báo, đưa cái tin Thanh Tùng Tử chết. Ông Tam Lang đang ngồi cặm cụi soạn bài, nghe tin ấy, ném bút xuống bàn, ngồi lặng đi, mấy giọt nước mắt lăn xuống má.


Nỗi nhục


Giờ đây, tôi nói đến nhà văn, nhà báo Tam Lang Vũ Đình Chí “đi thực tế”. Hồi ấy, chúng tôi chưa biết danh từ này. Cứ nói chung chung là đi làm phóng sự.


Chúng ta đã rõ là ông to béo, nặng nề, không bước được nhanh. Thế mà, một sớm mờ sương, nhà văn Chí Béo cuốc bộ từ ngõ Hàng Hành xuống phố Sinh Từ (trông sang Văn Miếu) đến xưởng xe kéo của Cai Mơ. Ông xuất trình giấy căn cước, thuê xe. Tên lưu manh cai xưởng là Tuế Lợn, phát cho ông bộ quần áo culi đóng dấu số, thu bộ quần áo tồi tàn của ông ném vào xó xưởng. Thân hình ông to béo quá, mà áo culi thì chật hẹp ngắn cũn, quần cũng vậy. Áo không cài được khuy, hở cả ngực cả rốn. Quần ống quá hẹp, bó vào đùi, khó chạy.


Ông dắt chiếc xe kéo ra ngoài phố, sụp nón rách che nửa mặt. Dắt xe qua mấy phố, lên đến đường đôi, gần cột cờ, có tiếng gọi: “Ê, culi!”. Một tên lính Tây da đen cao lớn sừng sững chặn xe ông. Hạ càng xe cho người khách đầu tiên mở hàng lấy may, ông kéo (lần đầu tiên trong đời một nhà văn nhà báo nổi danh!). Ờ, ông Tam Lang culi của tôi bắt đầu kéo, kéo, bước chậm, bước nhanh, chạy. Ôi chao, sao mà nặng thế. Thằng Tây ngồi chễm chệ trên lưng ông, cao hứng rung đùi. Xe kéo ngày xưa có nhíp khiến xe nhún nhảy. Tên Tây càng rung đùi, cặp nhíp càng thêm đà nhún lên nhún xuống, khối nặng của xe do vậy càng tăng. Xe đến Hồ Tây, ông bắt đầu thở dốc, mồ hôi nhỏ giọt. Hai cánh tay cầm càng xe tê dại. Đôi bắp đùi nhức buốt. Bụng vốn béo phệ quặn đau. Lồng ngực tức nghẹn. Mắt bắt đầu hoa, đầu nhức choáng. Lại thêm buốt thận, đau lưng, buồn đi tiểu cộng với nỗi buồn nôn mửa, ông ngừng chạy, cố dài bước, tưởng chừng khách sẽ vừa lòng, đưa mắt ngắm cảnh đẹp Hồ Tây. Nhưng nhà văn culi gặp phải ông khách không là thi sĩ. Nó duỗi dài chân, thúc cả mũi giày săng đá vào lưng ông. Nó quát: “Culi! Plus vite, plus vite” (nhanh hơn, nhanh hơn!). Nhà văn Tam Lang, nhà báo phóng sự của tôi, sư phụ của tôi! Cắn cứng hàm răng chịu cái đạp thứ hai, gắng chạy. Xe bắt đầu lên dốc Cổ Ngư - làm sao lên được? Không bỏ cuộc, cố thử sức mình, ông dồn hết lực lôi chiếc xe lên, cho đến lúc không còn sức, thân thể rã rời, mấy lần xe dọa lộn nhào. Ông vẫn cắn răng, cố, cố, cố lôi xe, hai đầu gối sắp khuỵu. Vừa lúc ấy, may sao, hai em nhỏ vai vác cần câu, tay đu đưa xâu cá, chạy ùa lên, vừa reo hò, vừa bám sau xe đẩy cái khối nặng sắt thép, xương thịt ấy lên đầu dốc. Xe dừng lại ông lau mồ hôi mặn làm xót cặp mắt mờ, nhìn hai em bé, muốn cảm ơn tấm lòng trẻ nhỏ, nhưng chúng đã chạy biến rồi, bởi vì ngay lúc đó, hai thầy đội xếp bắt đầu phóng xe đạp đuổi bắt chúng, đoạt cướp xâu cá, phạt tội xâm phạm cá của quốc gia.


Cũng may là thằng Tây không đi nữa. Nó thấy ông không còn sức kéo. Nó lầu nhầu: “Sale culi Annamite”. Nó quẳng cho ông một hào chỉ trắng. Ông nhìn nó, lại nghiến răng, cúi nhặt đồng hào dưới đất. Đứng thở một lúc, nhà báo phóng sự Tam Lang dắt xe quay lại, đỗ trước cổng chùa Trấn Quốc, nhất định ngồi nghỉ đã. Ông rút cuốn sổ tay bé xíu, ghi vội mấy dòng gì đó. Một bà già bước đến với ấm nước, chiếc bát, điếu cày. Ông uống bát nước, tỉnh dần ra. Nhà văn Tam Lang tạm trút bỏ cái xác culi, đưa mắt ngắm nhìn cảnh đẹp Tây Hồ, viên ngọc của Thăng Long - cố đô bao triều đại, tâm hồn nhà văn bỗng nhớ đến bên hồ nước lịch sử này, Nguyễn Trãi đã gặp cô gái Thị Lộ bán chiếu gon ở chỗ nào đấy... Trịnh Sâm, Đặng Thị Huệ đã ngự thuyền rồng hái sen, ngâm thơ, nghe đờn sáo ở chỗ nào đây... Vợ chồng bà huyện Thanh Quan, sau vụ chê văn hoàng đế bị đuổi ra khỏi cung đình, mất chức đại học sĩ, làm sao tấm thân liễu yếu đào tơ ấy trảy bộ ra Bắc Hà qua rừng xuyên núi, hùm beo rắn rết, qua đỉnh Đèo Ngang cảm khái nước non thân thế mà ứng khẩu bài thơ châu ngọc “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà...”. Thôi thì bị thất sủng về vườn cũng là cái phúc cho bà, cũng là cái may cho văn học Việt Nam, nhờ đó mới có bài thơ giá trị thiên cổ ấy.


“Này, anh xe, kéo lên chợ Đồng Xuân nào”.


Cái tiếng lanh lảnh, đanh đá ấy giựt phắt nhà văn nhà báo tài hoa ra khỏi giấc mơ lịch sử nặng kiếp, phù du, ảo cảnh. Anh culi xe to béo lại còng lưng, thót bụng, lôi cái xe cót két, chứa một mụ to lớn chẳng kém gì tên lính Tây đen.


Chạy thêm vài chuyến nữa, Tam Lang đưa xe về xưởng, thay quần áo, trả xe, trả tiền thuê, tiền thuế, về nhà, tắm rửa. Bà Tam Lang là con gái cưng một ông quan huyện về hưu. Bà bệ vệ, chuyên cầm cái họ, lúc nào cũng ung dung đài các như một vị phu nhân. Thấy ông chồng thân tàn ma dại như vậy, bà la trời kêu đất. Ông vẫn lầm lì ngậm miệng, ăn qua tí chút, mặc bộ com lê màu nâu, vội vã đi bộ đến tòa báo, viết bài cho tập phóng sự Tôi kéo xe. Ông còn tiếp tục đến xưởng Cai Mơ nửa tháng nữa thuê xe kéo, cho đến khi cảm thấy đã đủ tư liệu rồi, ông mới giã từ lão Cai Mơ, thằng cai Tuế Lợn.


Tiếp sau, ông làm liền mấy thiên phóng sự nữa tại “Dạ lữ viện”, “Viện tế bần” ở phố Hàng Bột. Ông vẫn lê bộ quần áo rách trăm mụn vá, tối nào cũng đến mấy hang ổ thảm khốc này, nằm chui ngủ rúc, gậm xương, nhai chuối với bầy người khố rách, ăn mày, móc túi, cù đinh thiên pháo, ghẻ lở nặng đến gần như hủi.


Sớm về, ông trút bỏ áo quần cho bà bắt rận tuốt trứng, nấu luộc trong tiếng kêu la trời đất. Những phóng sự này đều được đăng Ngọ Báo. Có điều lạ là khi xuất hiện tại những hang địa ngục kia, không bao giờ ông chịu xuất trình Thẻ Nhà Báo, tuyệt đối giữ kín tuổi tên, sự nghiệp, rất hài lòng cái tiếng “Ê, culi. Này, thằng cùng đinh hạ bộ, ôlala! Thằng ăn mày, móc túi, ăn uống cái gì mà béo thế!”.


Như thế đấy, nhà văn nhà báo Tam Lang Vũ Đình Chí, niên kỷ 1927-1930 đã “đi thực tế” theo kiểu hoàn toàn lao động, hoàn toàn vô sản, hoàn toàn con người, sống đau sống khổ với con người.


Thưa các bạn đồng nghiệp cao tuổi của tôi, thưa các vị độc giả yêu thương báo chí qua mấy thời đại của tôi! Các vị đọc những dòng này xin hãy tin tôi. Tôi chân thành run tay bút viết về con người, thân thế, sự nghiệp của bậc sư phụ đáng kính của tôi, tôi xin thề với mái tóc bạc của cái tuổi kề cõi chết, rằng tôi viết với tất cả cái não cái tâm, không hề sai một việc, một lời, một ý.


Ông Tam Lang bình sinh điềm đạm, thành tín, trung hậu với nghề nghiệp, với cuộc đời. Thế mà có một lần ông nổi trận lôi đình không khác gì con khỉ Tôn Hành Giả vác gậy sắt xuống thủy cung hỏi tội Long Vương.


Số là, câu chuyện thế này: Năm 1950, ông làm chủ bút nhật báo Lẽ Sống. Quanh ông, có cụ Bạch Diện chuyên dịch tin AFP, cụ Thu Sơn chuyên dịch Tân Hoa Xã, Phạm Mạnh Phan phụ trách hai trang tin ruột, tôi viết bài phỏng vấn, tường thuật các trận đấu thể thao, chủ yếu viết đều truyện dài (Xã Bèo, Người của đất), phần trình bày mỹ thuật có họa sĩ tài ba Lưu Văn Sìn (lúc nào cũng phong lưu công tử, song luôn túng quẫn. Anh em gọi đùa là Lưu Không Tiền). Bên cạnh chúng tôi còn có một nghệ sĩ lão thành sân khấu kịch nói thời ấy, đó là Trương Đình Thi, con một nhà giàu sang nổi tiếng ở Hà Nội. Chúng tôi, chỉ có bốn người, tiền vốn không có, lại thuê in, ngồi nhờ trên căn gác chật hẹp của một nhà in phố Hàng Bồ. Nghệ sĩ Trương Đình Thi chỉ nhận làm công việc người sửa bản in thử (Correcteur). Công việc túi bụi cả buổi sáng, anh em làm không xuể. Trong khi ấy, tôi và cả độc giả Hà Nội biết rằng tuần báo Loa của Côn Sinh đã đăng nhiều tuần thiên hồi ký nổi danh Tôi, kép kịch, tác giả Trương Đình Thi. Một hôm, tôi ngồi cạnh nghệ sĩ Thi trong lúc ông chưa có bài sửa. Tôi ân cần thủ thỉ với ông: báo thiếu người viết, nghèo nàn về bài vở. Sao anh không viết cho báo chúng mình một phóng sự hay một hồi ký tuyệt vời như Tôi, kép kịch...


Tôi nhắc lại câu nói ấy hai lần. Ông nghệ sĩ trợn mắt nhìn tôi, mặt hầm hầm, đi xuống gác. Tôi ngạc nhiên. Tam Lang vẫy tôi lại gần, bảo tôi: “Ông bảo nó thế, nó cho là ông chửi nó, lật tẩy nó. Nó thù ông rồi đấy, phải coi chừng”. Tôi càng ngơ ngác. Tam Lang nói tiếp: “Hồi kí Tôi, kép kịch được nổi tiếng, nổi tên Trương Đình Thi, sự thực thì hồi ký ấy Vũ Trọng Phụng viết hộ, cho nó kí tên”.


Sáng hôm sau, nghệ sĩ “kép kịch”, gây sự với tôi trong tòa soạn. Tam Lang đã nóng lại thẳng tính, ném bút, vùng đứng dậy, dẫm đạp nghệ sĩ già đến nỗi ông ta phải chui xuống gầm bàn. Cuộc đại náo ấy khiến chủ nhà in và thợ in phải ầm ầm chạy lên gác can xin, dàn xếp hộ.


Giấy mực có chừng, tôi xin phép ngừng ở đây thôi. Tôi chỉ băn khoăn một điều là lịch sử văn học của mình, khởi điểm phóng sự có từ năm nào, lao sâu vào lãnh địa phóng sự là ai?


Tôi chỉ biết 1927 đến 1930, Tam Lang Vũ Đình Chí, một mình, một sổ tay, một bút, ngày và đêm, đi kéo xe giữa “Hà thành hoa lệ” trong lúc có phong trào “Phi cao đẳng bất thành phu phụ”, gái thì son phấn rình mò các ông sinh viên cao đẳng thi đỗ ra làm tri huyện. Ông Tam Lang, ngày và đêm mò vào mấy hang ổ thối tha, ăn ngủ, sống với hàng trăm con người cặn bã, xã hội không thèm nhìn ngó.


Những cống hiến cho văn học của ông Tam Lang có cái đã in sách, có cái đã đăng trên báo. Vậy thì nó là chứng cứ có sự sống, còn tồn tại.


Từ 1930 trở đi, ông Tam Lang cảm thấy đuối mệt rồi, an phận ngồi yên ghế chủ bút các nhật báo, viết không run sợ, đánh không chùn tay bọn tham quan, lũ nội gián, những tên hề chính trị.


Năm 1954 ông vào Nam. Nằm nhà, không nuôi nổi bà vợ, hai đứa con gái tật nguyền, cuối cùng vì miệng ăn, ông miễn cưỡng theo yêu cầu đối phương, ông phải phụ trách một tạp chí cho tên Bộ trưởng Thông tin, Trần Chánh Thành, thời Diệm.


Báo ra được năm số, một cú điện thoại réo bên tai Tam Lang: Lập tức lên Bộ hầu Bộ trưởng. Ông đến. Tên Bộ trưởng Trần Chánh Thành, đập bàn, ném tờ báo vào mặt ông Tam Lang. Nó quát: “Có trông rõ nét mực đỏ gạch hàng chữ kia không? Ông định ý dùng mấy từ của Việt cộng để phản Chính phủ Quốc gia đó hả?”.


Ông Tam Lang chưa kịp đáp thì nó lại đập bàn: “Ông xuống phòng trị sự lĩnh lương. Mai không được bước chân đến nhà báo nữa”. Ông vẫn không nói một câu, mỉm cười, bình tĩnh ra về, cũng không cần lĩnh nửa tháng lương.


Hỡi ơi, cái vinh, nỗi nhục của nghề làm báo đấy. Từ 1927, ông Tam Lang Vũ Đình Chí là một cây bút đàn anh trong làng văn bút, không ai chối cãi. Ông Tam Lang Vũ Đình Chí là lá cờ đầu mở ra cho văn học xã hội con đường làm phóng sự, cũng không ai chối cãi. Sau ông, văn đàn mới thấy xuất hiện Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang, Tràng Khanh.


Sư phụ! Vào ngày đầu xuân Nhâm Thân, kẻ môn sinh già yếu này xin đốt hương, rửa bút, viết mấy trang hồi ức về thầy. Theo thói thường xưa nay, kẻ võ sinh sau khi biểu diễn kiếm thuật hoặc côn quyền, không thể thiếu cái lễ tì đốc kiếm hoặc chắp đôi bàn tay trước ngực, tỏ lòng thành kính bái tổ, bái sư.


Từ 1930 đến nay, kiếp đời sắp hết, kẻ môn đồ này mỗi lần viết xong một tác phẩm dù thất bại hay thành công, vẫn cúi đầu nhớ ơn thầy dìu dắt. Ngày nay, kẻ môn đồ chắt chiu có được một số tác phẩm nhỏ nhoi, với một cái tên cũng nhỏ nhoi, môn đồ cho đến ngày nhắm mắt, không hề một phút quên sư phụ.


 


Đầu xuân Nhâm Thân
Tạp chí Cửa Việt, số 15-1992.


 


Hồi ức về nhà thơ Nguyễn Bính


Giờ đây là mùa thăm viếng Chùa Hương. Đã quá lâu rồi, tôi không còn sức khỏe, không còn hứng thú rủ bạn văn đi vãn cảnh động Nam Thiên. Không còn cái thú được nhìn các cô gái hái mơ. Nhưng giữa phố phường Hà Nội, lão già tôi còn đủ sức chống gậy đi nhìn các cô gái bán mơ, trên mấy vỉa hè bốc bụi kinh thành. Nhìn những thúng mơ đầy, những bàn tay cô gái bán mơ thoăn thoắt bốc mơ trao cho khách, làm sao tôi không thể nhớ đến bài thơ Rừng mơ bất hủ của thi nhân Nguyễn Bính. Bởi vậy, sớm nay tôi cố ngồi nghĩ về anh, viết về anh.


Viết hồi ký là gì nhỉ? Là thẩn thơ nói chuyện với hồn ma. Ít lâu nay, tôi đã nói chuyện khá nhiều với các anh, những con người chí thiện thuở thiếu thời. Hỡi những hồn ma thân hữu của tôi ở bên kia cõi thế. Nếu quả có linh hồn thì các anh đã có thể đọc tôi, nghe tôi khóc thương cái chết, phần đông là chết quá trẻ của các anh trên những trang giấy đầy nhân hậu, đầy tình nghĩa, thủy chung này. Tôi nhắc đến các anh cả cái tốt và đôi khi có cả ít điều gọi là cái xấu.


Bọn văn bút chúng mình, hãy can đảm nói to lên, chúng ta viết khôn mà sống dại, chỉ vì nhân hậu, chỉ vì tình nghĩa, chỉ vì quá hào hoa phong nhã trong cái nghèo, cái khổ. Nhà tiểu thuyết Lê Văn Trương, Lan Khai, Vũ Trọng Phụng thuộc vào loại người tiêu biểu cho cái phóng khoáng này.


Tôi viết về các anh, những hồn ma sống dại chết khôn, chính là cái lão già này, cũng sống dại và chết dại, làm cái công việc đọc kinh sám hối, nói theo lời đạo là rửa tội.


Gần đây một bức thư của một bạn văn tên tuổi ở miền Trung(1) - một cử nhân triết học - bay đến tay tôi. Qua bốn trang giấy dày, anh triết luận về cái sống và cái chết của Kipling, của Sartre, của anh. Anh đã đọc tất cả các bài hồi ký của tôi. Tôi xin trích một đoạn ngắn trong thư, nhà triết học trẻ tuổi này ngỏ ý về ký sự:


Cháu rất mong những bài anti-mémoire của bác, để nhìn lại lịch sử dưới con mắt của một nhà văn đã trải cuộc sống, đủ năng lực phán xét thực sự. Ai cũng có thể viết mémoire được nhưng viết anti-mémoire thì chỉ một số người đủ trung thực, và đủ trí tuệ để phán xét về sự thực ấy....


Tôi coi những câu này là lời tâm đắc, khích lệ tôi, dầu não yếu, tay run, vẫn cố sức viết ký sự nói về những hồn ma chí thân chí thiết của tôi, đồng thời, nói với những người còn tồn tại trên cõi thế gian tạm bợ này về những nghiệp văn oan trái của một số người trước kia đã cúi đầu hứng chịu những roi đòn định mệnh.


Như tôi thường nhắc nhiều lần, bọn viết lách chúng tôi, thời cũ, sống với nhau, cũng như đối với cuộc đời hết sức trân trọng, hết tình thân ái. Chúng tôi luôn giữ cách sống cho phong nhã, nghiêm chỉnh mà vui vẻ, lễ độ, dù chung sống với cô gái yên hoa, sa chân lỡ bước...


Ngày ấy đã quá xa rồi, ngày nay tôi thấy một số bài viết phê phán, có thể nói là giễu cợt...


Thưa rằng, không có những trò hề ấy ở thời chúng tôi. Quả tình chúng tôi có lạy nhau, chỉ khi nào trong phòng kín, chúng tôi bái phục một áng văn tuyệt bút của tiểu thuyết gia này, nhà thơ nọ. Lê Văn Trương, Lan Khai, những con người ngang bướng ấy, đã nhiều lần vái lạy Vũ Hoàng Chương, J. Leiba, Đinh Hùng, Nguyễn Bính... Người xưa, nhất là kẻ sĩ, đi vào triều kiến hoàng đế, có khi không lạy, nhưng đi đường, thấy tảng đá núi dáng hình kỳ lạ, ông ta vội thụp xuống lạy, gọi là “bái thạch vi huynh”. Kẻ sĩ biết ngẩng cao đầu, cũng có lúc biết cúi đầu.


Ô này, tôi đã lạc đề rồi. Xin trở lại với mấy cô bán mơ trên vỉa hè, nghĩ về mấy thôn nữ hái mơ rừng Chùa Hương của thi nhân Nguyễn Bính.


Tôi nhớ năm 1939, một bọn nhà thơ thành phố Nam Định, trong đó có Hiếu Lang, tức Đồ Đức, Võng Xuyên, Nguyễn Bính, Việt Quyên (nhà thơ trào phúng tuyệt vời), Nguyệt Hồ họa sĩ, cuối là tôi. Các ông đều chết cả rồi. Nay còn sót lại họa sĩ Nguyệt Hồ (nhiều năm minh họa cho Tiểu thuyết thứ Bảy, nay đã 92 tuổi).


Chúng tôi thuê chiếc thuyền lớn trên sông Đáy, khởi hành từ Phủ Lý vào Bến Đục, Chùa Hương. Trong thuyền, ngoài lũ chúng tôi, còn có một đào nương ca trù, một ông kép đờn luống tuổi. Trong khoang rộng trải chiếu hoa, đặt một khay đèn nha phiến, theo đề xuất của nhà thơ Nguyễn Bính. Thời ấy chuyện mượn “ả phiến” làm khuây là chuyện rất bình thường. Cuộc họp mặt bình văn nào, cuộc du hí lớn nhỏ nào cũng không thể vắng nàng tiên nâu nũng nịu, duyên dáng.


Thuyền rời bến Phủ Lý vào chập tối. Đàn đáy đã rung tơ, phách đàn nương đã hòa nhập cùng sóng vỗ mạn thuyền. Tiếng trống của Hiếu Lang đã lách vào đàn, vào phách, khuyên những lời văn đẹp ca trù của Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà, Dương Thập Lang (con Dương Khuê, một tay chơi sành sỏi như tiến sĩ phong lưu Nguyễn Khản).


Con dê buộc ở đầu thuyền đã được ông lái thuyền hóa kiếp. Ông và cô gái xinh đẹp đang dọn tiệc. Nửa đêm, trời đổ cơn giông, gió xoáy, sấm ran trời, mưa trút. Gió giật mạnh liên hồi, con thuyền tuy được cha con ông lái già cố điều khiển mà vẫn trườn lên ngụp xuống, có khi quay theo sức lốc.


Chúng tôi không ai biết làm dấu thánh, cũng không ai biết “nam mô” chỉ nhìn nhau bình tĩnh chờ thăm Hà bá. Nhà thơ Nguyễn Bính bình thản hơn ai hết, anh vẫn nằm bên ả phù dung, tay che ngọn đèn gió thổi, tay vẫn múa tiêm như Quan Vũ múa đao.


Thế rồi, sóng gió im dần. Nguyễn Bính nói đùa: Lũ mình thì trời chu đất diệt cũng không nổi, kể gì cái gió xoáy này.


Sáng hôm sau đã đến Chùa Hương. Chúng tôi nhập cùng thiên hạ, một chốc đã không thấy Nguyễn Bính đâu. Mãi đến gần bữa ăn chiều, mới thấy gã về nhà trọ tìm chúng tôi. Trong bữa ăn Nguyễn Bính uống nhiều rượu hơn thường, miệng luôn lẩm bẩm, có lúc, rút sổ tay ra ghi vội đôi câu gì đó.


Sau này tôi mới biết, thì ra Nguyễn Bính đang thai nghén bài thơ Cô gái hái mơ từ thuở ấy. Thoạt đến Chùa Hương, anh đã một mình lẻn vào rừng mơ, một mình cấu tứ. Điều khiến tôi lạ là Nguyễn Bính chưa bao giờ phải đăm chiêu vò tóc về việc hoàn chỉnh một thi phẩm dài ngắn và khó dễ. Anh thường ứng khẩu đọc trước mọi người, coi việc sáng tạo một bài thơ dễ dàng như tớp rượu. Bài Cô gái hái mơ nằm trong đầu Nguyễn Bính từ năm 1939. Vậy mà cho đến gần đây viên ngọc bích ấy mới sáng rực lên khi anh đã vĩnh viễn đi vào cõi tối, tan vào nơi cảnh ảo.


Thi nhân Nguyễn Bính quả là một thi nhân rất dễ thương khi anh say túy lúy. Bộ mặt da nâu lúc nào cũng như nhãy mồ hôi. Vẻ mặt chỉ nghiêm nghị lúc nào ngậm miệng, không có chén bên tay trái mà chỉ có bút bên tay phải. Nói là cười, cái cười nhếch mép. Chẳng bao giờ nói to, không hề cầu xin ai kể từ đồng xu nhỏ đến đôi tất rách. Uống khó bao nhiêu thì ăn và mặc, nhất là mặc cẩu thả không nói được. Đức tính này giống hệt Nguyên Hồng. Tôi nhớ một hôm Bính đến chơi nhà tôi. Thấy Bính quần áo nhem nhuốc quá, tôi mở tủ lấy bộ đồ mới may, cho đến cả sơ mi, quần đùi, rồi ngọt ngào mời thi sĩ thay cái vỏ ấy vào người. Nguyễn Bính trợn mắt nhìn tôi, mặt hầm hầm: “Các ông sợ tôi rách rưới, coi tôi như hủi, không dám chơi với tôi nữa à? Sợ xấu hổ à? Thế thì thôi, cái kẻ rách rưới này xin vĩnh biệt các ông!”. Nhà thơ ôm vội mớ bản thảo, định ra đường. Ngay lúc đó, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Đoàn Phú Tứ bước vào. Tôi ra hiệu. Đoàn Phú Tứ, cản lối ra. Vũ Hoàng Chương níu áo Nguyễn Bính giữ lại. Tôi phân trần. Bộ ba Đinh Hùng phải họa lời, đề nghị Nguyễn Bính chấp nhận tặng vật và lòng yêu kính của bạn. Nguyễn Bính nguôi tự ái, cười to, vào phòng tắm gội, thay bộ đồ mới, lại như một công tử thư sinh. Sau đó, chúng tôi hò nhau xuống xóm. Bính phản đối đề nghị xuống xóm (Khâm Thiên, Vạn Thái) mà anh muốn “sang sông” nghĩa là qua cầu Bồ Đề, sang Gia Thượng, Gia Quất (Gia Lâm).


Rồi những năm kháng chiến, thi nhân Nguyễn Bính vào Nam, chúng tôi xa nhau, tưởng chừng muôn thuở. Nhưng may sao, 1954, lại thấy nhau trong bốn bàn tay nóng hổi. Bính ở Hà Nội có một mình, tâm sự một lần trên miệng chén đầy, rằng anh ra Bắc, để lại bên dòng sông Thu Bồn một cô vợ trẻ đẹp, một đứa con thơ.


Không thể nào xa cây bút, Nguyễn Bính xoay xỏa cả tám phương, lấy tiền để ra tuần báo Trăm hoa. Tôi chưa kịp viết gì cho bạn cố tri, chỉ đến tìm anh, thăm báo. Ngồi bên anh, tôi thấy một nàng nho nhỏ, khá xinh tươi. Anh nháy mắt ra cái điều cô nàng là nữ thư kí của Trăm hoa. Tôi thấy lo sợ thay cho cô gái non trẻ ấy. Hàng ngày, có thể cả hàng đêm giữ gìn sao được tấm thân mình bên con quỷ rượu. Chỉ ít ngày sau, báo Trăm hoa, đâu như mới ra ba số đã tàn rồi, nghĩa là đã chết.


Nhà thơ chỉ biết ngẫu hứng làm thơ, đâu có biết gì về kinh tế, về phương pháp điều khiển tờ tuần báo, từ bài vở, đường lối chính trị, đến việc tiếp cận các người trợ bút, cận tiếp nhà in... Nhà thơ không thể trở nên nhà báo mà không cần học hỏi. Trăm hoa chết không trống kèn. Riêng cô nàng thư ký đi đâu? Tôi nghe thiên hạ đồn cô đã trở thành phu nhân Nguyễn Bính. Tôi không tin và cũng không cần tìm hiểu rõ, coi đó là chuyện quá thường.


Nguyễn Bính về Nam Định sống với gia đình, coi như an phận. Chị Bính là người hiền hậu, nết na. Chị hàng ngày ra chợ Rồng, thu nhặt từng xu từng hào với mẹt bày quả chanh, quả ớt. Chị tháo mồ hôi, phai tàn tuổi trẻ, làm sao cho hàng ngày có đủ rượu, đồ nhắm, bồi dưỡng cho ông chồng thơ.


Ngày tháng qua đi trên cái thị xã tẻ buồn. Một ngày gần Tết, người ta tấp nập đón xuân. Nguyễn Bính quá nghèo, chị Bính đành bất lực với cái mẹt ớt chanh cay chua ấy. Bính quá buồn, một buổi sáng gió đông se lạnh, anh lững thững rời đất Vị Hoàng, đến một thôn xóm ven đô. Tình cờ, anh gặp một người lạ mặt. Ông này đã biết Nguyễn Bính, chịu tài Nguyễn Bính, vồ vập ngay Nguyễn Bính, nói rõ lòng thán phục nhà thơ, tự giới thiệu là Hân, cựu y sĩ thời cũ, xin kính mời thi nhân về nhà uống rượu.


Tất nhiên, nhà thơ không từ chối. Sự tiếp đãi quá nồng hậu, với rượu đế thơm ngon, đồ nhắm tốt, lại thêm ông Hân còn có huê viên, mai trắng, đào phai, hải đường, hoàng cúc nở rộ. Chủ nhân mời khách quý ngồi dưới gốc mai, đào, đánh chén liền qua Tết. Bà Bính không biết ông chồng thơ ở mô tê, bà đi tìm kiếm. Ông thi sĩ không cần biết chuyện vợ tìm, cứ uống tối ngày với đào, mai.


Thế rồi, trưa một ngày đầu Giêng, nhà thơ vẫn chưa tắm rửa, thay quần áo. Trong người ngứa ngáy không chịu được, mặc cơn say, nhà thơ bò ra bờ ao nhà ông Hân. Bính lao đao bước xuống ván cầu, ngồi cởi áo, xắn cao ống quần, vốc nước ao bèo gội tóc, rửa mặt, rửa cả mình. Xong, áo vắt cánh tay anh lại lao đao bước khỏi ván cầu. Cơn gió bấc phào thổi đến. Nguyễn Bính thấy trời đất xoay tròn, anh chỉ kịp kêu một tiếng, rồi cả thân hình đổ sấp xuống, mặt úp vào bùn nước, máu mũi rỉ ra. Anh vừa mổ dạ dày ít đó không lâu. Có lẽ anh chết vì bục dạ dày.


Nhà thơ thiên tài Nguyễn Bính đã đi rồi, sự thực như thế đấy. Anh rời cõi đời giữa mùa mơ rừng Chùa Hương gửi hương cho thiên hạ, và kết trái, cùng với bài thơ Cô gái hái mơ của anh giao duyên với những ai bấy lâu yêu thương Nguyễn Bính, suốt từ Nam đến Bắc, qua từ già đến trẻ, nữ như nam, có học như thất học.


Nguyễn Bính ơi, anh đã đi rồi! Thôi nhé! Hôm nay người bạn già này tâm niệm, uống hớp nước mơ do bà vợ già đưa trong khi đang viết về anh, đang nói với anh, với một hồn ma lang thang như làn sương khói trong rừng mơ ấy.


Nguyễn Bính ơi, anh đã đi rồi! Thôi cũng cứ coi là một việc bình thường của kiếp phù du. Xưa Lý Bạch say rượu vồ trăng, chết chìm trên dòng sông lớn. Nay thi nhân Nguyễn Bính cũng say, chết nổi bên vũng nước ao bèo, âu cũng là cái chết, bằng cách nào cũng là cái chết. Và Bính ơi, nó cũng nhẹ nhàng như


... rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi.


 


In trong Đốt lò hương cũ, Nxb Khánh Hòa, 1992.


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info








(1) Câu chửi tục của người Pháp.




(1) Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
xem thêm »