tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31374733
10.01.2020
Phan Đăng Thanh
Vụ án Đồng Nọc Nạn ở Bạc Liêu năm 1928


Sao lại có thể đồng tình, reo vui trước cuộc trấn áp "bọn phản động" ở Đồng Tâm? Nếu đó là "bọn phản động" thật thì cũng không thiếu gì cách giải quyết kia mà. Máu đã đổ! Không nỗi đau nào riêng của ai!


Sao không thấy một nhà báo, nhà văn nào dũng cảm phanh phui sự việc này?


Chợt nhớ tới Vụ án Đồng Nọc Nạn, năm 1928 ở Nam Kỳ! Chợt hiện lên sáng rỡ hình ảnh cố Nhà báo Lê Trung Nghĩa, 24 tuổi, con nhà giàu, đã xả thân, hết lòng vì dân đen trong vụ án Động Nọc Nạn (Nạng) năm 1928.


Cùng các bạn đồng nghiệp của tôi hiện sống và làm việc tại Hà Nội: Tha thiết mong các bạn làm sáng tỏ việc này để cho dân đen cả nước yên lòng...



*


“Đồng Nọc Nạn” (Nạng) là tên một cánh đồng thuộc làng Phong Thạnh, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (nay thuộc ấp 4, xã Phong Thạnh B, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu), có con rạch Nọc Nạn chảy ngang qua. 


Về địa danh “Nọc Nạn”, chuyện cũ kể rằng: thuở xưa, vùng đất này còn hoang vu, chủ yếu là đầm lầy, rừng tràm, lau sậy. Dân đến đây khai khẩn phải chặt cây làm “nọc” đóng xuống bùn rồi gác “nạng” lên làm chòi tạm để tránh mưa nắng, tránh thú dữ, rắn độc…


Tái hiện lại cuộc nổi dậy của gia đình anh em nông dân Mười Chức chống chính quyền thực dân và bè lũ tay sai. Ảnh: Trọng Chín


 


Vụ án Đồng Nọc Nạn (còn gọi là Nọc Nạng) là một vụ án nổi tiếng khắp cả “Nam Kỳ lục tỉnh” vào cuối thập niên 20 thế kỷ XX, do Tòa Đại hình Cần Thơ thụ lý xét xử. Qua vụ án này, luật sư và nhà báo đã phối hợp đấu tranh bảo vệ quần chúng nhân dân bị áp bức, chống lại cường hào ác bá đạt được thắng lợi vẻ vang. Sự việc này đến nay vẫn còn truyền tụng. Mấy chục năm qua, vụ án Đồng Nọc Nạn đã đi vào lịch sử, thơ ca hò vè, tuồng cải lương, phim truyền hình… Hiện trường xảy ra vụ án đã được tôn tạo thành Khu di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1991. Hàng năm, vào ngày mồng 6 Tết, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội tại khu di tích này. Tên nhà báo Lê Trung Nghĩa dấn thân vào cuộc đấu tranh đã từng được đề nghị đặt tên cho Giải báo chí ở địa phương; hình ảnh của các luật sư tham gia bào chữa được trưng bày tại khu di tích Đồng Nọc Nạn - Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu.


 


Lược thuật vụ án


 


1. Từ một vụ tranh chấp đất đai…


 


Nguyễn Văn Toại (thường gọi là Biện Toại) là người thừa kế phần đất ở Đồng Nọc Nạn do cha ông khai phá từ đầu thế kỷ XX[1] để lại. Việc thừa kế như vậy là hợp pháp nhưng chính quyền địa phương chỉ mới cấp cho một tờ giấy gọi là “bằng khoán tạm” mang số 303 đề ngày 7/8/1916.


 


Năm 1917, có Mã Ngân (tên thường gọi là Bang Tắc) là một Hoa kiều giàu khét tiếng ở vùng Bạc Liêu mua một phần đất của bà Nguyễn Thị Dương giáp ranh với ruộng của Biện Toại. Là người giàu có, rành rẽ luật lệ, biết Biện Toại chỉ mới được cấp giấy tạm nên trong hợp đồng mua đất của mình với bà Dương, Mã Ngân ghi luôn cả phần đất giáp ranh của gia đình Biện Toại đang sử dụng khai thác[2] và coi đó thuộc phần đất mà mình đã bỏ tiền ra mua. Từ đó, tranh chấp đã xảy ra.


 


Hai bên thưa kiện nhau bốn lần lên Chủ tỉnh Bạc Liêu và bốn lần lên Thống đốc Nam Kỳ, lên cả Toàn quyền Đông Dương.


 


Năm 1919, Bang Tắc sai tá điền xông qua đất Biện Toại đốt một căn chòi ruộng và giết một con trâu để dằn mặt. Nhưng anh em Biện Toại không phản kháng gì, chỉ chờ đợi kết quả giải quyết từ phía nhà chức trách. Viên quan phủ Ngô Văn H. đang làm Chủ quận Giá Rai, theo dư luận nghi ngờ, đã nhận tiền của Bang Tắc nên yêu cầu chia đôi phần đất: Biện Toại một nửa, Bang Tắc một nửa.


 


Cũng năm 1919, quan phủ H. được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng Phái viên có trách nhiệm khảo sát đất đai, chính thức cấp bằng khoán đất cho dân ở khu vực làng Phong Thạnh. Hội đồng này đã xác nhận phần đất của gia đình Biện Toại thuộc về bà Nguyễn Thị Dương (chủ đất cũ), nay là của ông Bang Tắc.


 


Ngày 13/4/1926, Thống đốc Nam Kỳ ký quyết định xác định sở đất 50 mẫu trên phần đất của Biện Toại thuộc sở hữu của Bang Tắc. Như vậy, chính quyền chính thức công nhận phần đất mà gia đình Biện Toại đã hai đời khai thác làm chủ, là của Bang Tắc. Anh em Biện Toại rất căm phẫn và phản đối ra mặt. Thấy việc rắc rối có thể dẫn đến lớn chuyện nên Bang Tắc bèn bán sở đất 50 mẫu đất ấy cho một người có nhiều quyền lực ở địa phương là bà Hà Thị Tr. - mẹ vợ của người anh ruột của quan phủ H.


 


Từ đó, bà Tr. nghiễm nhiên với tư cách chủ đất hợp pháp, bắt đầu đòi anh em Biện Toại phải nộp địa tô, coi họ là tá điền trên chính phần đất của họ. Gia đình Biện Toại bất bình, phản ứng quyết liệt.


 


Ngày 6/12/1927, bà Tr. xin được án lệnh của tòa án cho phép tịch thu tất cả số lúa của anh em Biện Toại. Ngày 13/2/1928, lính mã tà[3] tới làng Phong Thạnh gặp anh em Biện Toại để thi hành lệnh tòa tịch thu lúa. Anh em Biện Toại kháng cự. Ngày hôm sau, lính mã tà lại tới lần thứ hai, anh em Biện Toại vẫn quyết kháng cự tới cùng, lính mã tà đành phải rút lui. 


 


2. … dẫn đến án mạng làm chết năm người


 


Trước thái độ “không hợp tác” của gia đình Biện Toại, hương chức làng đã bắt giữ bà Hương Chánh Luông (mẹ Biện Toại) 24 giờ. Vì thương mẹ, Biện Toại không kháng cự nữa, bà Hương Chánh được trả tự do.


 


Tối ngày 14/2/1928, anh em, con cháu gia đình Biện Toại tụ hợp làm lễ tạ từ, lạy ông bà. Bà Hương Chánh Luông cũng được con cháu lạy gọi là báo hiếu lần cuối cùng. Anh em Biện Toại trích máu thề ăn thua đủ, không vì sợ chết mà để mất tài sản của ông cha dày công tạo lập để lại. Họ tổ chức rút thăm để xin ông bà chỉ định ai là người hy sinh đầu tiên. Lần đầu, cô em gái tên Trọng rút được thăm. Anh em giành nhau, yêu cầu bốc thăm lại, nhưng lần thứ hai cô Trọng cũng rút được thăm. Cô nói với các anh: “Ông bà đã dạy, em xin liều chết!”…


 


Rồi thảm trạng đã xảy ra vào sáng ngày 16/2/1928. Khoảng 7 giờ sáng, hai viên cò Tây[4] là Tournier và Bouzou cùng lính mã tà từ Bạc Liêu đến Phong Thạnh để tiếp tay với hương chức làng tiến hành tịch thu lúa vừa thu hoạch của gia đình Biện Toại. Đến gần đống lúa, Tournier yêu cầu mời một người trong gia đình ra chứng kiến việc tịch thu lúa. Mười lăm phút sau, cô Nguyễn Thị Trọng - em của Biện Toại dắt theo đứa cháu gái tên Tư 14 tuổi bước ra. Tournier đuổi cô Trọng vì cho cô là con gái còn nhỏ tuổi, không biết chuyện nên không có quyền chứng kiến việc đong lúa. Cô Trọng không chịu, còn yêu cầu khi đong lúa xong phải ghi cho cô một tờ biên nhận đã đong được bao nhiêu lúa. Cò Tournier từ chối và còn tát tai cô Trọng. Cô rút ra trong mình một con dao nhỏ. Tournier đập báng súng vào người làm cô ngất xỉu. Bouzou xông tới tước dao khỏi tay cô Trọng. Trong lúc đoạt lấy dao, Bouzou bị một vết thương nhỏ ở tay không đáng kể. Anh em Biện Toại thấy vậy từ trong nhà chạy ra, mang theo dao mác, gậy gộc. Họ chia nhau thành hai tốp, tốp đầu do Mười Chức - em ruột của Biện Toại cầm đầu. Tốp thứ hai do bà Nghĩa - vợ Mười Chức cầm đầu. Tổng cộng có năm đàn ông và năm phụ nữ trong đó một người đang mang thai. Tournier ra lệnh cho lính chuẩn bị ứng phó và có bắn chỉ thiên nhưng Mười Chức không dừng lại. Tournier bèn bắn thẳng vào Mười Chức. Bị thương nặng nhưng Mười Chức vẫn cố gắng cầm mác đâm thẳng vào bụng Tournier rồi cả hai đều ngã quỵ xuống.


 


Bạo lực không thể kiểm soát được nữa. Cò Bouzou rút súng lục bắn bị thương nặng bốn người bên phía nhà Biện Toại. Hết đạn, Bouzou lại lấy súng lục của Tournier bắn tiếp làm nhiều người thiệt mạng. Trong buổi sáng hôm đó, Mười Chức và vợ là bà Nghĩa đang mang thai, cùng một người anh của Mười Chức tên Nhẫn (Năm Nhẫn) đều chết. Hai em của Mười Chức tên Nguyễn Thị Nhịn (Sáu Nhịn), Nguyễn Thị Liễu bị thương nặng. Ba ngày sau, Nhịn chết ở bệnh viện. Về phía nhà cầm quyền, cò Tournier cũng chết ngày 17/2 tại Bệnh viện Bạc Liêu. Như vậy, qua vụ bạo lực này đã gây thiệt mạng cho 5 người.


 


Sau khi án mạng xảy ra, Biện Toại cùng với con trai là Tia ra Bạc Liêu trình diện với khẩu súng mà em rể mình là Miều đã giật được. Biện Toại và Tia bị bắt giữ luôn. Miều thì hôm sau cũng bị bắt.


 


Nhà báo hết lòng đấu tranh bảo vệ lẽ phải


 


nha-bao-le-trung-nghia-5948a29f8c886


 


Nhà báo Lê Trung Nghĩa


 


Ở vùng Phong Thạnh lúc bấy giờ có nhà báo Lê Trung Nghĩa đang về quê ở với mẹ[5], hay tin ấy bèn đến dò la tìm hiểu sự việc.


 


Lê Trung Nghĩa sinh năm 1904 tại tỉnh Phú Yên, cha là ông Lê Minh Điểu từng làm quan Thượng thư dưới triều vua Khải Định (1916-1926). Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Hương, quê quán ở làng Phong Thạnh, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Thuở nhỏ ông sinh sống và học ở nhiều nơi như: Huế, Sài Gòn và ở làng Phong Thạnh - quê mẹ.


 


Lê Trung nghĩa tốt nghiệp ngành sư phạm tại Sài Gòn và làm nghề dạy học. Thầy giáo Lê Trung Nghĩa không chịu dạy cho học trò câu “Nos ancêtres étaient les Gaulois” (“Tổ tiên của chúng ta là người Gaulois”) mà sửa lại là “Les ancêtres des Francais étaient les Gaulois”(“Tổ tiên của người Pháp là Gaulois”). Viên Thanh tra học chánh người Pháp đến xét trường, khiển trách thầy Nghĩa và nhục mạ thầy bằng lời bất nhã “Sale Annamite” (“Đồ An Nam dơ bẩn”) nên thầy đánh viên Thanh tra. Thầy Nghĩa bị bắt giam và sau đó từ bỏ nghề dạy học sang làm nghề viết báo. Với bút hiệu “Việt Nam”, Lê Trung Nghĩa cộng tác với nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn: Đông Pháp thời báo, Đuốc nhà Nam, L’Indochine Nouvelle, La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương)… Ngòi bút sắc bén của ông luôn hướng về giới bình dân, đấu tranh với bọn cầm quyền áp bức, bảo vệ dân nghèo nhất là đồng bào nghèo ở nông thôn.


 


Một phóng sự nổi tiếng của ông là loạt bài điều tra vụ án “Đồng Nọc Nạn” đăng nhiều kỳ trên báo La Tribune Indochinoise của Đảng Lập hiến do lãnh tụ Bùi Quang Chiêu chủ trương (vào năm 1928). Loạt bài thứ nhất theo thể tài điều tra tựa đề “Vụ Phong Thạnh”; loạt bài thứ hai là theo thể tài tường thuật có tựa “Vụ án Phong Thạnh trước Tòa Đại hình Cần Thơ”.


 


Trong loạt bài đầu tiên “Vụ Phong Thạnh”, nhà báo Lê Trung Nghĩa đã chứng minh một hiện thực điển hình cho công luận và chính quyền thấy rõ nhược điểm trong chính sách điền địa của người Pháp, gây ra bao nỗi bất công cho lưu dân khẩn hoang bằng các thủ tục giấy tờ. Hầu hết các báo ở Sài Gòn lúc đó đều nhảy vào đưa tin vụ án Đồng Nọc Nạn. Lê Trung Nghĩa chẳng những viết bài mà ông còn ký họa làm cho trang báo sinh động, thu hút bạn đọc. Tháng 8-1928, tờ La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương) đăng cả lá đơn yêu cầu xét xử sớm của bà Hương Chánh Luông với lời lẽ gây xúc động (cũng có thể do nhà báo viết cho bà). Nhà báo Lê Trung Nghĩa đã tranh thủ mời được hai luật sư người Pháp[6] nổi tiếng là Tricon và Zévaco cãi không nhận thù lao cho gia đình nạn nhân[7].


 


Diễn tiến phiên tòa “áo đỏ”


 


Ngày 17/8/1928, Tòa Đại hình Cần Thơ đăng đường xét xử vụ án Đồng Nọc Nạn (lúc này, tiếng Pháp gọi là “Affaire de Phong Thạnh”).


 


1. Thành phần phiên tòa


 


Chủ yếu gồm:


 


- Chánh thẩm: Ông De Rozario (có viên bồi thẩm (assesseur) tên Sự).


 


- Công tố viên: Ông Chưởng lý Moreau.


 


- Luật sư: hai trạng sư người Pháp là Tricon và Zévaco thuộc Luật sư đoàn Sài Gòn cãi miễn phí cho các bị cáo, do nhà báo Lê Trung Nghĩa của báo Le Tribune Indochinoise mời.


 


- Hầu hết các báo ở Sài Gòn đều có cử nhà báo đến dự phiên tòa.


 


- Nhân dân đến dự phiên tòa rất đông, có cả người Việt và người Pháp, ở Cần Thơ và các tỉnh lân cận nữa.


 


    Tòa xét hỏi bị cáo và nhân chứng


 


Sau phần thủ tục mở phiên tòa, Tòa bắt đầu thẩm vấn.


 


Qua lời khai của các bị cáo gia đình Biện Toại và các người làm chứng được lần lượt gọi tên, nhiều chi tiết quan trọng liên quan đến vụ án đã được làm rõ trước tòa.


 


Từ năm 1910, gia đình Biện Toại đã làm đơn xin trưng khẩn phần đất mà về sau xảy ra tranh chấp. Lúc bấy giờ, Chủ tỉnh có cấp cho biên lai. Nhưng biên lai ấy đã bị mất, gia đình Biện Toại có làm đơn xin cấp bản nhì. Điều rất lạ là sổ bộ ghi đơn xin khẩn đất ở Bạc Liêu vào năm ấy cũng bị mất! Viên chức phụ trách về đất đai ở Tòa Bố[8] Bạc Liêu lúc vụ án này xảy ra là ông phủ Tâm.


 


Ông phủ Tâm khai trước tòa rằng tài liệu cũ có liên quan đến tờ biên lai cấp đất cho Hương Chánh Luông đã bị đánh cắp từ lâu rồi, trước khi ông nhậm chức.


 


Hương thân làng Phong Thạnh tên Hồ Văn Hi (nhân chứng) xác nhận trước tòa: Cò Tournier nổ súng trước; Mười Chức đâm Tournier sau khi đã trúng đạn.


 


(Lời khai này phù hợp với dư luận ở địa phương đồn đại rằng Mười Chức là người đầy đủ tiết khí và chí khí anh hùng: mặc dù bị trúng đạn rồi, Mười Chức vẫn còn đủ thần lực và bình tĩnh ngã về phía trước mà đâm kẻ thù cho bằng được, đâm trúng địch thủ rồi mới chịu chết vì bị thương quá nặng!).


 


Đến đây, Công tố viên Moreau có lưu ý tòa rằng: có thể là viên thơ ký giữ nhiệm vụ tiếp nhận đơn xin khẩn đất hồi năm 1910 đã có trao cho gia đình Biện Toại một biên lai nhưng không có đánh số, với dụng ý dành phần đất đó cho người khác về sau.


 


Nhân chứng Lâm Văn Kiết là người từng có chân trong Hội đồng Phái viên khai xác nhận: Phần đất tranh chấp là của gia đình Biện Toại khai khẩn trước tiên.


 


Công tố viên Moreau nói: Lâm Văn Kiết là hương chức làng dưới quyền, làm sao dám cãi lại ông phủ H. mà còn dám nói vậy (ám chỉ ông Phủ H. là người theo phe của Bang Tắc).


 


Tòa đòi Tri phủ Ngô Văn H. lên khai.


 


Tri phủ Ngô Văn H. (lúc xảy ra vụ án ông H. đang làm Chủ quận Giá Rai) khai trước tòa rằng: mặc dù thấy có tranh chấp về đất đai, nhưng hồi ấy với danh nghĩa là Chủ tịch Hội đồng Phái viên, ông ta đành buông trôi vì việc đo lại ranh rấp về đất đai rất phiền phức. Trắc địa đã tốn công đo đất ở làng Phong Thạnh suốt ba năm rồi…


 


Nghe vậy, Công tố viên Moreau tỏ ra tức giận, ông nói: lề lối làm việc như vậy là quá tắc trách; nếu là người có lương tâm, biết trọng công lý thì không thể lấy lý do mất thời giờ mà không đo đạc, xem xét lại ranh rấp để phân xử rạch ròi việc tranh chấp cho dân.


 


Các luật sư cũng đặt câu hỏi cật vấn, tri phủ H. đành thú nhận rằng chính anh ruột của ông ta có hùn vốn làm ăn với Bang Tắc để khai thác hai chiếc xe đò chạy trên đường Bạc Liêu - Cà Mau mang tên là Hồ Nam và Hồ Bắc…[9]


 


Tòa đòi Bang Tắc (Mã Ngân) ra khai với tư cách nhân chứng, ông ta bảo không thấy hối hận gì cả.


 


Bồi thẩm Sự ra vẻ tức giận bèn hỏi Bang Tắc: “Dân chúng nói đáng lý ông phải chết thay cho viên cò Tournier?”


 


Bang Tắc im lặng, không trả lời.


 


Bà Hồ Thị Tr. được gọi ra khai trước tòa: Bang Tắc có sự sắp đặt khi bán đất tranh chấp cho bà ta, vì thấy bà ta mới “đủ sức ăn thua” công khai với gia đình Biện Toại. Làm như vậy là vì Bang Tắc muốn phủi tay…


 


    Công tố viên buộc tội


 


Đến đây, Tòa chuyển qua phần buộc tội của công tố viên.


 


Ông Chưởng lý Moreau thay vì buộc tội bị cáo như thường lệ, ông lại yêu cầu Tòa thận trọng trong việc này. Ông nhắc lại vụ án Ninh Thạnh Lợi[10] năm ngoái và cho rằng các vụ án đó cho thấy tình hình bất ổn trong xã hội đang ngày càng gia tăng phức tạp, vấn đề đất đai đã trở nên hết sức nghiêm trọng. Ông nêu lên tình cảnh anh em gia đình Biện Toại rất đáng thương, bị những kẻ “không có trái tim” (hommes sans cœur) đến cướp đất, rồi bọn có quyền thế lại tiếp tay với chúng, đẩy họ đến bước đường cùng, không còn lối thoát nên mới xảy ra nông nỗi… Công tố viên đề nghị tòa tha bổng Biện Toại, bị cáo Nguyễn Thị Liễu (em Biện Toại) và bị cáo Nguyễn Văn Tia (con Biện Toại); giảm khinh[11] cho Nguyễn Thị Trọng (em gái Biện Toại) mặc dù đã đủ bằng cớ mà bị cáo Trọng vẫn cứ chối là không có cầm dao và bị cáo Miều (em rể Biện Toại, chồng của Nguyễn Thị Liễu) vì lúc xô xát xảy ra có giật súng của cò Bouzou bắn và đã ba lần có tiền án về tội trộm…


 


(Qua phần phát biểu của Công tố viên Moreau, ai cũng thấy hài lòng với sự kiện lạ lùng: công tố viên không buộc tội mà lại xin tha giảm cho các bị cáo).


 


    Luật sư biện hộ


 


Trước tiên, Luật sư Tricon đứng lên biện hộ cho các bị cáo, đại ý theo nhận định của ông, đây chỉ là việc tranh chấp về quyền sở hữu điền địa. Luật sư cho rằng chính sách trưng khẩn ruộng đất thời đàng cựu (tức dưới thời nhà Nguyễn) thật là công bằng và thích hợp với thực tế; trong khi đó, những luật lệ về trưng khẩn đất đai của chính quyền Pháp đặt ra chưa thực sự hoàn hảo mà có thể gây ra nhiều rắc rối khi áp dụng vào thực tế. Thủ tục thời gian quá kéo dài từ khi đương sự được tạm cấp đất đến khi được cấp giấy tờ vĩnh viễn. Vì vậy mà có thể xảy ra hiện tượng gian giảo, cưỡng đoạt. Những người có nhiệm vụ trong Hội đồng Phái viên chỉ ngồi một chỗ, không chịu bước chân xuống bùn, không chịu khó đi tới từng sở đất để xem xét. Họ chỉ ngồi một chỗ quyết định trên cơ sở ý kiến của cấp dưới báo cáo lại…


 


Luật sư Tricon đi đến kết luận: Anh em gia đình Biện Toại đã thường xuyên tranh đấu với thiên nhiên rừng rậm để khai phá đất hoang và tranh đấu với tử thần do hiểm họa của bệnh tật, thú dữ. Sau ngày làm lụng khó nhọc, đối với họ chết có lẽ còn sướng thân hơn là sống trong hoàn cảnh nhọc nhằn hiểm nguy như vậy. Đã phải tranh đấu với tử thần họ còn phải tranh đấu với những kẻ khác, đó là bọn cường hào, bọn chỉ biết có đồng tiền, chỉ biết hưởng lợi trên mồ hôi, nước mắt của người khác, làm giàu bằng thủ đoạn gian đoạt. Sau khi tranh đất với bọn người nói trên, họ còn phải tranh đấu với thủ tục pháp lý của nhà nước! Chúng ta, những người Pháp nên xây dựng ở xứ này một chế độ độc tài - không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn mà là sự độc tài của tình cảm cao đẹp. (Non pas de la dictature de la force du mousqueton, mais de la dictature du cœur)…


 


Đến phiên Luật sư Zévaco biện hộ, ông đứng lên, đầu tiên là ca ngợi lời phát biểu của công tố viên, vì công tố viên đã công tâm lưu ý đến sự thật, đến công lý và cả lòng nhân đạo.


 


Luật sư phân tích, chia vụ này ra hai vụ án: vụ án tranh chấp đất đai và vụ án giết người. Vụ giết chết người chính là do vụ tranh chấp điền thổ mà ra.


 


Luật sư cho rằng chính sách của nhà nước thì có thể tốt nhưng nhiều người thừa hành xấu đã làm cho chính sách trở nên thực sự xấu hoàn toàn đối với dân chúng. Việc cai trị trở thành xấu đi nếu các quan phủ, quan chủ quận là kẻ ác độc. Sau khi xảy ra thảm trạng, có lẽ nhà nước nên nói thẳng với Mã Ngân: “Chúng tôi trả lại cho ông số tiền 1.080 đồng mà ông đã xuất ra theo giá của nhà nước để mua phần đất của Biện Toại. Và xin ông để nhà nước được yên”(?!).


 


Luật sư Zévaco nhắc lại ý kiến của công tố viên là muốn cho bộ máy cai trị có lề lối đúng đắn thì phải sa thải những kẻ bất lương. Luật sư nói thêm: Đuổi những kẻ bất lương ở cấp dưới cũng chưa đủ, phải đuổi những người ở cấp cao hơn mà bấy lâu nay nhà nước đã tin cậy. Nên sa thải các ông phủ, ông huyện bất hảo. Ở đây, chúng ta đã thấy rõ hành vi của cặp bài trùng: Mã Ngân cấu kết với một ông phủ - chủ quận. Tên chánh phạm của tấn thảm kịch đẫm máu này chính là phủ H.


 


Luật sư Zévaco cũng xin tòa tha giảm tội cho các bị cáo và lên tiếng tha thiết: “Xin Quý ngài đừng đưa ra một bản án nghiêm khắc, một bản án được luận ra vì sự phẫn nộ. Bởi, những người nông phu khốn nạn này mai đây cũng sẽ bị trừng phạt khá đầy đủ rồi khi họ trở về tới nhà. Thừa phát lại sẽ tới tịch thu số lúa của họ và lần này Quý tòa có thể tin rằng không bao giờ xảy ra nổi loạn nữa đâu. Thưa Quý tòa, lần này sẽ có một bà lão khóc về cái chết của bốn đứa con. Bốn người này đã chết, vì họ nghĩ rằng họ có thể tự lực gìn giữ phần đất ruộng mà mấy đời đã từng rưới mồ hôi và máu trên đó…


 


    Tòa tuyên án


 


Sau phần tranh tụng, “Tòa vào phòng để thảo luận, bàn cãi rất lâu, sau đó trở ra tuyên một bản án mà không một bản án nào có thể công bằng và nhân ái hơn. Người đàn bà cao tuổi (vợ Hương Chánh Nguyễn Thanh Luông) đứng lên từ hàng ghế ngồi mà bà đã ngồi từ thứ sáu, để cám ơn luật sư và các vị quan tòa người Pháp. Đôi mắt gần như mù lòa của bà ràn rụa nước mắt vì vui sướng. Những quy tắc ngặt nghèo về trật tự của tòa được bỏ qua, một đám đông dân chúng tràn vào phòng xử án trước sự ngạc nhiên của những người giữ trật tự”[12].


 


Bản án phiên tòa đại hình của Tòa án Cần Thơ đã tuyên như sau:


 


- Các bị cáo Nguyễn Văn Toại (Biện Toại), Nguyễn Thị Liễu (em út của Biện Toại) và Nguyễn Văn Tia (con trai của Biện Toại): tha bổng.


 


- Bị cáo Nguyễn Thị Trọng (em gái của Biện Toại): 6 tháng tù (đã bị tạm giam đủ 6 tháng nên được trả tự do ngay).


 


- Bị cáo Miều (em rể của Biện Toại): 2 năm tù.


 


*             *


 


*


 


Một tiệc bày ra ở Cần Thơ để thết đãi hai vị luật sư và ký giả các báo tiếng Pháp và tiếng Việt, do một số đồng bào ở Phong Thạnh và một số nhân sĩ như ông Huỳnh Minh Chí, Nguyễn Duy Biện, Nguyễn Viết Trọng ở Giá Rai, ông Bùi Văn Túc ở Long Điền. Nên hiểu đây là thói trung hậu và hào hoa cố hữu của người dân Bạc Liêu xưa nay. Một đại diện đứng lên cám ơn hai luật sư và bà Hương Chánh Luông cũng đến cám ơn họ[13].


Phan Đăng Thanh


___


[1] Nguồn gốc ban đầu như sau: Trước năm 1900, một nông dân đến khai phá khu rừng ở rạch Nọc Nạn được một diện tích canh tác rộng 73 mẫu (ha). Năm 1908, nông dân này chết và để đất lại cho con là Hương Chánh Nguyễn Thành Luông (Tám Luông). Năm 1910, Hương Chánh Luông làm đơn chính thức xin khẩn 20 mẫu đất và chịu đóng thuế trên diện tích này, có biên nhận. Năm 1912, gia đình Hương Chánh Luông lại làm đơn xin chính quyền đo đạc và cấp bằng khoán (giấy chứng nhận quyền sở hữu đất) cho toàn bộ diện tích 73 mẫu. Chủ tỉnh Bạc Liêu chấp thuận và trao cho Hương Chánh Luông bản đồ phần đất nói trên. Năm 1916, có một người khác tên là Tăng Văn Đ. kiện lên quan Chủ tỉnh Bạc Liêu yêu cầu không cấp đất cho Hương Chánh Luông với lý do ông Đ. cũng có góp sức khẩn hoang. Yêu cầu của ông Đ. không được chấp thuận. Chính quyền vẫn tiến hành cấp giấy tờ đất cho Hương Chánh Luông nhưng có cắt ra một diện tích 4,5 mẫu cho ông Đ. Ông Luông được cấp một bằng khoán tạm.


[2] Trong tờ bán đất ghi: “Bán phần đất với ranh giới bao trùm luôn khoảnh đất mà anh em Biện Toại đang khai thác”.


[3] “Mã tà” là chỉ chung bọn lính Tây ô hợp, da đen, thời Pháp thuộc.


[4] Tiếng Pháp là “Commissaire de Police”, là cảnh sát thời Pháp thuộc mặc cảnh phục trắng.


[5] Có tài liệu viết Phong Thạnh là quê vợ của Nguyễn Trung Nghĩa (Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nxb.Trẻ Tp.Hồ Chí Minh, 2014, tr. 343.


[6] Thời này, chỉ người Pháp chính gốc hoặc nhập tịch Pháp mới được làm luật sư.


[7] Phan Trung Nghĩa, Lê Trung Nghĩa và vụ án “Đồng Nọc Nạng”, trong Một thời làm báo, Nxb. Thanh niên, tập 10, 2013, tr.191-198.


[8] Tòa Bố là cơ quan hành chính đứng đầu một tỉnh ở Nam Bộ thời Pháp thuộc.


[9] Sau vụ án này, ông H. đã bị cách chức tri phủ – Chủ quận.


[10] Làng Ninh Thạnh Lợi thuộc quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá. Việc bạo động xảy ra ở đây vào đầu tháng 5/1927, cũng liên quan đến quyền sở hữu đất ruộng, dẫn đến kết quả 14 người chết, hơn 20 người bị thương, bị bắt giam…


[11] Giảm nhẹ hình phạt.


[12] Bài tường thuật của nhà báo Lê Trung Nghĩa trên báo Diễn đàn Đông Dương ngày 20/8/1928, dẫn từ Tuổi trẻ Online ngày 16/2/2012 bài “Ngọn lửa Đồng Nọc Nạn” của Tân Đức, Chí Quốc, Minh Quốc.


[13] Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nxb. trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2014, tr. 362; Lịch sử khẩn hoang miền Nam – Sơn Nam – vantuyen_net: http://www.vantuyen.net/index.php!view=story&subjectid=12538....


Phan Đăng Thanh


Nguồn: lsvn.vn/ho-so-tu-lieu


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn - Frank Snepp 26.02.2020
Nguyễn Tài, nhà tình báo lỗi lạc, trung kiên, từng bị bôi nhọ... - Tư liệu sưu tầm 23.02.2020
Mekong đang chết, Việt Nam “chọn” gì? - Tư liệu sưu tầm 19.02.2020
18 địa danh ở Sài Gòn bị xóa sổ! - Đỗ Duy Ngọc 17.02.2020
Fidel Castro kịch liệt lên án Trung Quốc tại La Habana ngày 21/02/1979 - FIDEL Alejandro Castro Ruz 17.02.2020
Một tài năng lớn, một tuổi trẻ Anh hùng bị tha hóa – Hay là Bi kịch Nguyễn Đình Thi - Trần Mạnh Hảo 15.02.2020
Nghề Dệt ở Bảy Hiền - Nhiều tác giả 13.02.2020
Chuyến tàu Thống Nhất đầu tiên: Nối dài nỗi nhớ Hà Nội - Sài Gòn - Tư liệu 13.02.2020
Thị Nghè: Rạch, cầu, chợ đều đi vào lịch sử - Tư liệu 13.02.2020
Đồng Tâm: Vì sao? Vì sao? Vì sao? - Hoàng Xuân Phú 12.02.2020
xem thêm »