tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24963904
Tiểu thuyết
06.12.2018
G. G. Marquez
Trăm năm cô đơn


CHƯƠNG 11


Sau hai tháng, vợ chồng suýt thì bỏ nhau, vì Aurêlianô Sêgunđô đã chụp cho Pêtra Côtêt bức chân dung vận xiêm y hoàng hậu xứ Mađagasca để an ủi ả. Khi biết chuyện, Phecnanđa liền thu xếp quần áo cô dâu mới rồi bỏ Macônđô đi, không một lời từ biệt. Aurêlianô Sêgunđô bắt kịp vợ  trên con đường đồng lầy. Sau một hồi van xin và hứa hẹn tu tỉnh, anh đưa được nàng trở lại, và từ đó không lui tới nhà nhân tình nữa.


Pêtra Côtêt tin tưởng ở sức hấp dẫn của mình, không hề bối rối. Ả đã làm cho Aurêlianô Sêgunđô trở thành đàn ông. Ngay từ cái thuở còn là một cậu bé choai choai, đầu óc toàn những ý nghĩ viển vông và không hề hiểu biết gì về cuộc sống, ả đã lôi anh ra khỏi phòng Menkyađêt và cho anh một chỗ đứng trong cuộc đời thực. Tạo hóa đã cho anh bản tính trầm lắng và kiêu ngạo, hay suy tư cô đơn, còn ả thì rèn cho anh sự quật khởi, mạnh mẽ, cởi mở và thói hoang toàng, truyền cả cho anh niềm vui cuộc sống, niềm vui hội hè và xài phí; do đó đã biến anh từ tâm hồn đến diện mạo thành một người đàn ông đúng như ả từng mơ ước khi còn là con gái đang thì. Anh đã cưới vợ, bởi vì cũng như mọi ai khác, sớm hay muộn rồi cũng phải lấy vợ, lấy chồng. Anh không dám sớm cho ả biết tin. Anh cố giữ thái độ ngây thơ trước việc tự mình nổi giận vô cớ hay vờ ra vẻ đau khổ, cốt sao để Pêtra Côtêt sẽ là kẻ gây ra sự ly tán giữa họ. Có một ngày Aurêlianô Sêgunđô mắng mỏ ả một cách thậm vô lý. Nhưng ả hiểu ngay mưu đồ của anh, lập tức nói toạc móng heo:


- Chẳng qua là anh muốn lấy cô hoa hậu chứ gì?


Aurêlianô Sêgunđô, xấu hổ lắm, cố vờ giận dữ thêm một hồi, nói toáng lên rằng mình bị hiểu lầm và bị làm nhục, rồi sau đó không lui tới với ả nữa. Lúc nào cũng làm chủ bản thân, một sự tự chủ tuyệt vời, Pêtra Côtêt lắng nghe âm nhạc, và pháo mừng đám cưới, lắng nghe tiếng ồn ào, cuồng nhiệt trong cuộc vui chung, như thể tất cả những thứ đó chỉ là một trò ma mãnh mới của Aurêlianô Sêgunđô. Ðối với những kẻ tỏ vẻ thương hại cho ả, Pêtra Côtêt trấn an bằng nụ cười: "Các bác đừng ngại" ả nói với họ, "ngữ hoa hậu ấy chỉ là thứ để tôi sai vặt thôi". Với cô hàng xóm mang đến cho ả những cặp nến kép để soi tỏ bức chân dung người tình đã phụ bạc mình, thì ả nói một cách chắc nịch đầy bí hiểm:  


- Cây nến duy nhất khiến anh ấy trở lại sẽ luôn luôn cháy sáng.


Như Pêtra Côtêt đã thấy trước, Aurêlianô Sêgunđô trở lại nhà ả ngay khi tuần trăng mật kết thúc. Anh kéo theo những người bạn cố tri của mình và một bác phó nháy mang theo bộ quần áo và chiếc áo khoác lông điểu thử mà Phecnanđa đã mặc ở vũ hội Cacnavan. Trong không khí lễ hội suốt buổi chiều ấy, anh khoác cho Pêtra Côtêt bộ xiêm y hoàng hậu, đội cho ả chiếc vương miện nữ hoàng xứ Mađagasca, chụp ảnh rồi phân phát chân dung ả cho các bạn hữu. Ả không chỉ phụ họa vào trò chơi mà còn động lòng thương hại vì nghĩ chắc hẳn anh phải hốt hoảng lắm nên mới nghĩ ra cách làm lành lạ lùng này. Vào lúc bảy giờ tối, vẫn với xiêm y hoàng hậu, ả kéo anh vào giường. Dù Aurêlianô Sêgunđô mới cưới vợ chỉ vài tháng, nhưng ả đã nhận ngay ra rằng vợ chồng họ đã không được hòa thuận ngay ở trên giường cưới, và sướng điên vì thấy sự trả thù của mình đã được thực hiện trọn vẹn. Tuy nhiên, hai ngày sau, khi anh không những không dám trở lại nhà ả mà còn nhờ người trung gian đến giải quyết nốt các điều khoản chia ly, thì ả hiểu rằng mình cần phải điềm tĩnh hơn và rằng dường như anh đã quyết chí chạy theo cái mẽ hào nhoáng của cô hoa hậu kia. Song ả cũng không bực dọc. Và lại thuận theo mọi đòi hỏi của anh, làm cho mọi người thực lòng tin rằng ả là người đàn bà đau khổ. Vật kỷ niệm duy nhất của Aurêlianô Sêgunđô ả còn giữ được là đôi ủng màu be mà theo đúng như lời anh nói, anh sẽ mang chúng khi được liệm vào quan tài. Ả cuộn chúng trong tấm vải và giấu kĩ ở dưới đáy rương, rồi lại chờ đợi, một cách đầy hy vọng.


- Sớm hay muộn thế nào anh ấy cũng phải trở lại - ả nói với chính mình - dù chỉ để đi đôi ủng này.


Pêtra Côtêt không phải đợi lâu như ả tưởng. Thực ra, Aurêlianô Sêgunđô, ngay từ đêm tân hôn, đã hiểu rằng mình sẽ trở lại nhà Pêtra Côtêt, sớm hơn rất nhiều cái ngày phải đi đôi ủng màu be, vì Phecnanđa là một người đàn bà lạc loài trong cuộc đời này. Nàng sinh ra và lớn lên ở một nơi cách xa biển hàng ngàn kilômét, một thành phố buồn thê lương với những đêm đầy sợ hãi vang lên tiếng bánh xe lọc cọc của các bậc phó vương trên những con đường đá gồ ghề. Ba mươi hai tháp chuông cùng đổ hồi vào lúc sáu giờ chiều một cách thê lương, chết chóc. Không bao giờ nắng chiếu vào ngôi nhà cổ kính lát đá. Gió tắt lịm trên đỉnh những cây bá ở ngoài sân, trên những tấm màn gió đã úa màu trong các phòng, trên mái vòm giao nhau của những cây cam tùng ở ngoài vườn... Ngay khi đã vào tuổi dậy thì, Phecnanđa vẫn không hay biết gì về cuộc đời ngoài những bài tập pianô buồn bã nhớ nhung, do một người nào đó được phép không ngủ trưa chơi bên nhà hàng xóm. Ngồi trong căn phòng của bà mẹ ốm yếu da xanh mái, đi trong ánh sáng lọc qua những tấm kính mờ bụi; nàng nghe các cung bậc thứ tự, rền rĩ, buồn bã và nghĩ rằng âm nhạc ấy hiện hữu trong cuộc đời, trong lúc nàng mải mê tết những chiếc mũ tang bằng lá cây palma. Mẹ nàng, sốt đổ mồ hôi vào lúc năm giờ chiều, kể cho nàng nghe thời huy hoàng đã qua. Có một đêm trăng, khi còn nhỏ tuổi, Phecnanđa nhìn thấy bóng một người đàn bà vận đồ trắng đi từ vườn hoa vào phòng cầu kinh. Cái bóng vừa lướt qua quá nhanh ấy đã làm nàng lo lắng chính là vì cảm thấy nó giống hệt mình, cứ như thể đó là bóng dáng mình ở khoảng hai mươi năm sau. "Ðó là bà hoàng hậu cố nội con đấy" mẹ nàng nói khi cơn ho dịu đi, "Cụ chết vì ngộ gió khi chặt một cành cam tùng". Rất nhiều năm sau, khi cảm thấy mình giống hệt cụ cố nội, Phecnanđa đâm ra nghi ngờ bóng ma mình nhìn thấy hồi còn nhỏ, nhưng mẹ nàng đã mắng nàng về tội thiếu đức tin.


- Chúng ta vốn giàu có và có thế lực mạnh mẽ vô cùng - bà nói với nàng - Rồi con sẽ là hoàng hậu mà.


Nàng tin điều đó mặc dù gia đình nàng khi ấy chỉ làm chủ một chiếc bàn ăn dài có đủ khăn và đồ dùng ăn uống bằng bạc, và cái bàn này chỉ được dùng để ăn bánh ngọt và uống nước sôcôla. Ngay đến ngày làm lễ thành hôn, nàng vẫn mơ đến thời làm vua huyền thoại ấy, dẫu rằng cha nàng, Đông Phecnanđô đã buộc phải cầm cố ngôi nhà để lấy tiền mua sắm đồ cưới cho nàng. Không quá ngây thơ cũng chẳng hợm mình về danh giá gia đình, người ta đã giáo dưỡng nàng như thế đấy. Ngay từ thuở mới hiểu biết chút ít, nàng còn nhớ mình vẫn được ngồi trên chiếc bô bằng vàng có khắc gia huy dòng họ mình để đái ỉa. Lần đầu tiên bước ra khỏi nhà là lúc nàng đã mười hai tuổi, trên chiếc xe ngựa mà chỉ cần chạy qua hai ô phố là đến tu viện. Những cô bạn cùng lớp đều ngạc nhiên rằng sao người ta cứ tách riêng nàng ra, cho nàng ngồi trên một chiếc ghế dựa rất cao, và ngay cả trong lúc vui chơi cũng không cho nàng chơi chung với họ. "Cô ấy rất khác đấy" các nữ tu sĩ giải thích, "Cô ấy sẽ là hoàng hậu đấy". Các bạn gái nàng tin điều đó, bởi vì ngay từ lúc ấy nàng đã là một cô gái xinh đẹp, khác thường và kín đáo. Tám năm sau, sau khi đã học làm thơ bằng chữ Latinh, đã học chơi đàn clavơxanh(1), học đàm đạo với các công tử về nghề nuôi chim ưng, với các đức giám mục về môn thần học chuyên biện giải cho tôn giáo, học tranh luận với các chính khách ngoại quốc về các vấn đề nhà nước, và với Giáo hoàng về các vấn đề của Thượng đế, rồi nàng về nhà để lại tết những chiếc mũ tang bằng lá cây palma. Ở một lần về, nàng thấy nhà mình quang sạch đồ đạc. Hầu như chỉ còn những giường tủ không có giá trị, các ngọn đèn chùm, và bộ đồ ăn bằng bạc, bởi vì những đồ đắt tiền đều đã bị bán dần bán mòn để  trang trải các chi phí cho việc dạy dỗ nàng. Mẹ nàng đã từ trần vì cơn sốt lúc năm giờ chiều. Cha nàng, Đông Phecnanđô, mặc đồ đen, với áo cổ cồn và chiếc xà tích vàng vắt chéo ngang ngực, vào các ngày thứ hai, đưa cho nàng một đồng tiền bạc để chi dùng ăn uống, rồi cụ mang đi những chiếc mũ tang tết lá cây palma vừa làm xong tuần trước. Phần lớn ban ngày cụ ở lì trong phòng riêng, chỉ những dịp hiếm hoi mới ra đường, nhưng lại vội trở về trước lúc sáu giờ tối để cùng nàng đọc kinh Rôsariô. Không chơi thân với một ai. Không nghe nói về những cuộc nội chiến đang làm tổn thương đất nước. Không bỏ nghe các buổi tập đàn pianô hồi ba giờ chiều. Vào lúc nàng bắt đầu vỡ mộng mình sẽ là hoàng hậu thì ở ngoài cửa chính vang lên tiếng vồ nện khẩn cấp, nàng vội mở cửa cho một quân nhân bảnh bao, điệu bộ khoan thai, trên má mang một vết sẹo và trên ngực gài tấm huy chương vàng. Ông ta vào đàm đạo ở phòng riêng với cha nàng. Hai giờ sau, cha nàng đến phòng máy may tìm nàng. "Con hãy chuẩn bị đồ đạc của mình đi" cụ nói. "Con cần phải đi xa". Nàng bị mang đến Macônđô như thế đấy. Chỉ trong một ngày thôi, cuộc đời đã trút xuống đầu nàng tất cả sức nặng của một thực tế mà trong nhiều năm cha mẹ cố tình tránh cho nàng. Từ khi trở về nhà, nàng đóng kín cửa, ở trong phòng khóc, bất chấp những lời van xin và giải thích của Đông Phecnanđô, để xóa đi vết nhục cháy bỏng thành sẹo trên da mình. Nàng vừa tự nhủ lòng sẽ không ra khỏi phòng cho đến khi chết thì cũng vừa hay Aurêlianô Sêgunđô đến nhà tìm. Ðó là một vận may không thể dự tính trước, bởi vì trong lúc hoang mang vì tức giận, trong lúc điên tiết vì xấu hổ, nàng đã nói dối anh để không bao giờ anh lần ra được tông tích thực sự của mình. Nhưng dấu vết thực tế duy nhất để Aurêlianô Sêgunđô lần mò theo khi đi tìm vợ là lối nói vùng thảo nguyên không trộn lẫn được và nghề tết mũ tang bằng lá cây palma của nàng. Anh nhẫn nại đi tìm với quyết tâm mà cụ Hôsê Accađiô Buênđya đã sử dụng để vượt núi thành lập làng Macônđô, với lòng tự hào mù quáng mà đại tá Aurêlianô Buênđya sử dụng để khơi dậy các cuộc chiến tranh vô bổ, với lòng kiên trì rồ dại mà Ucsula dùng để khẳng định sự trường tồn của dòng họ mình. Aurêlianô Sêgunđô đã đi tìm Phecnanđa như thế đấy, và không lúc nào tỏ ra chán nản. Khi anh hỏi ở đâu có bán mũ tang tết bằng lá cây palma thì mọi người dẫn anh về nhà họ để chọn những chiếc mũ đẹp nhất. Khi anh hỏi cô gái đẹp nhất mặt đất này ở đâu thì các bà mẹ lập tức đưa anh đi xem mặt con gái họ. Anh lạc lối trên những ngọn đèo mây phủ, trong những vùng bị lãng quên, và trong mớ bòng bong của sự thất vọng. Anh đã vượt qua một cao nguyên vàng úa nơi chỉ có tiếng vọng o o lắp lại những suy tưởng và chỉ có cơn khát làm mờ mắt. Sau nhiều tuần kham khổ, anh tới một thành phố xa lạ mà ở đấy tất cả các tháp chuông đều đổ hồi thê thảm. Dù chưa từng nhìn thấy, cũng chưa từng nghe ai miêu tả, anh đã nhận ra ngay những bức tường thành lở lói vì gió sương mang hơi mặn của xương người táp vào, nhận ra ngay những ban công gỗ ọp ẹp vì mọt đục khoét lâu ngày, nhận ra ngay tấm biển quảng cáo ở đây bán mũ tang, mà chữ viết của nó đã nhòe đi trên tấm bìa các tông cũ. Kể từ lúc anh đến cho tới buổi sáng Phecnanđa để lại ngôi nhà cho Ðức mẹ Toàn năng trông nom, lúc nào anh và nàng cũng tất bật đến mức hầu như không đủ thời gian cho các cô nữ tu sĩ kịp may bộ đồ cô dâu. Họ bận rộn lo nhét những ngọn đèn chùm, những bộ đồ ăn bằng bạc, và những thứ vô dụng nhiều vô kể của cái gia đình quý tộc đã khánh kiệt từng tồn tại hai thế kỷ này vào sáu chiếc thùng lớn. Ðông Phecnanđô từ chối lời mời cùng đi với họ. Cụ hứa sẽ đi khi nào đã hoàn thành các lời hứa của mình. Kể từ lúc cúi mình làm dấu ban phước cho con gái, cụ lại đóng kín cửa để ở lì trong phòng, viết thư bằng thơ có kèm theo những hình trang trí bi thương và con dấu gia huy, vốn là những thứ mà qua đó Phecnanđa và cha mình có quan hệ trực tiếp với đời thường. Đối với Phecnanđa, ngày ấy là ngày sinh đích thực của nàng. Đối với Aurêlianô Sêgunđô, ngày ấy là ngày mở đầu, đồng thời cũng là ngày kết thúc, hạnh phúc của anh.


Phecnanđa mang theo mình cuốn lịch quý và chùm thìa khóa mạ vàng mà trong đó, vị cha cố làm thầy giáo của nàng đã dùng mực luôn tươi màu đánh dấu những ngày kiêng nhập phòng. Nếu không kể tuần lễ Thánh, những ngày chủ nhật, những ngày buộc phải nghe kinh mixsa, những ngày thứ sáu đầu tiên của một tháng, những ngày tế thần và những ngày hành kinh; là những ngày nhất thiết phải kiêng cữ, cuốn lịch bổ ích của nàng chỉ còn lại bốn mươi hai ngày được tự do nằm rải rác trong tấm mạng nhện những dấu gạch chữ thập còn tươi màu mực. Aurêlianô Sêgunđô cho rằng thời gian sẽ quật đổ bức rào trở ngại đó, đã kéo dài tiệc cưới quá giờ quy định. Mệt mỏi vì còn phải sai đổ vỏ chai rượu brandy và  sâm banh ra thùng rác để ngôi nhà được gọn gàng, và đồng thời tò mò thấy rằng cô dâu chú rể đã không đi ngủ cùng một giờ lại còn ngủ tại hai phòng biệt lập trong lúc pháo vẫn nổ, nhạc vẫn cử, gia súc vẫn bị giết, Ucsula nhớ lại kinh nghiệm sống của chính mình và tự hỏi không biết có phải Phecnanđa cũng thắt chiếc thắt lưng trinh tiết mà sớm hay muộn sẽ gây nên những lời bình phẩm độc địa của dân làng, và là cội nguồn của tấn bi kịch hay không.


Nhưng Phecnanđa đã thú nhận với cụ rằng nàng chỉ phải đợi qua hai tuần trước khi được phép ăn nằm lần đầu tiên với chồng. Quả nhiên, hai tuần qua đi, nàng mở cửa phòng mình trong sự nhượng bộ bắt buộc của một nạn nhân bị trừng phạt, và Aurêlianô Sêgunđô đã nhìn thấy người đàn bà đẹp nhất trần gian với đôi mắt rực vẻ kiêu hãnh của con vật hoảng sợ và những mớ tóc vàng màu đồng xõa trên gối. Anh sung sướng quá trước hình ảnh ấy, đến mức một lúc sau mới nhận ra rằng Phecnanđa đã vận chiếc áo ngủ trắng muốt, che kín mắt cá chân và trùm cả mu bàn tay, ở ngang bụng là một cửa mở to và tròn, được thêu viền cẩn thận, đến mức không thể kìm được chuỗi cười giòn giã.


- Ôi, cái này còn khêu gợi hơn cả những cảnh anh từng thấy - anh gào lên, hòa cùng tiếng cười rền vang khắp nhà - Anh đã cưới một nữ tu dòng Xanh Vanhxanh đơ Pôn.


Một tháng sau, vì không cách nào thuyết phục nổi vợ cởi chiếc áo ngủ ấy, anh đã mò đến nhà Pêtra Côtêt để chụp cho ả bức ảnh vận xiêm y hoàng hậu. Sau đó, khi thuyết phục được Phecnanđa đừng bỏ đi nữa, và nàng đã nhượng bộ trước yêu cầu làm lành tha thiết của anh, nhưng Aurêlianô Sêgunđô vẫn không biết cách sắp đặt việc nghỉ ngơi theo đúng như điều anh mơ ước khi đến thành phố ba mươi hai tháp chuông tìm vợ, mà chỉ tìm thấy ở nàng một ý vị chán nản. Rồi một đêm, trước khi sinh đứa con trai đầu lòng ít bữa, Phecnanđa biết rằng chồng mình đã bí mật nằm lại trên cái giường của Pêtra Côtêt.


- Ðúng thế - Aurêlianô Sêgunđô thú nhận. Rồi bằng một giọng nhượng bộ, giải thích - Anh phải hành động như vậy để cho đàn gia súc của ta tiếp tục sinh sôi nảy nở nhiều hơn nữa.


Anh không mất nhiều thời gian để vợ tin vào cái biện pháp lạ lùng ấy, nhưng khi đã thuyết phục được nàng bằng những chứng cứ dường như không thể bác bỏ, thì điều kiện duy nhất mà Phecnanđa buộc anh phải hứa, là không được để thần chết túm được mình ngay trên giường của tình nhân. Ba người sống với nhau như thế, không ai đả động đến ai. Aurêlianô Sêgunđô âu yếm và đúng hẹn với cả hai, Pêtra Côtêt hả lòng hả dạ với sự hòa thuận, còn Phecnanđa vờ như không biết sự thật.


Tuy nhiên, sự hòa thuận lại không có ở nhà. Phecnanđa chẳng thể sống hòa mình với mọi người. Ucsula tìm mọi cách, kể cả la mắng, để Phecnanđa ném đi cái khăn nỉ mà nàng dùng lót giường mỗi khi chung đụng với chồng rồi sau đó lại quàng lên vai, và chính chiếc khăn này đã gây nên bao lời nhỏ to bàn tán của dân làng, nhưng nàng không chịu. Cũng như cụ không tài nào bảo nổi nàng ỉa đái vào cầu tiêu và bán quách chiếc bô bằng vàng cho đại tá Aurêlianô Buênđya để ngài làm những con cá vàng. Còn Amaranta thì khó chịu trước cách nói năng thô bạo và thói quen gọi sai tên sự vật của Phecnanđa nên cũng thường xuyên nói lóng trước mặt nàng.


Một hôm, cáu tiết trước lời báng bổ, Phecnanđa đòi biết Amaranta nói gì và bà không dùng lối nói văn hoa bóng gió, đã trả lời:


- Tao bảo - bà nói - rằng cháu là một trong những cô gái tôm đội cứt lên đầu.


Kể từ đó, hai người không nói chuyện với nhau nữa. Khi bất đắc dĩ phải bảo nhau điều gì thì họ nhắn qua người khác, hoặc dùng cách gián tiếp. Phớt lờ trước nỗi khó chịu của người nhà, Phecnanđa vẫn không từ bỏ ý định sắp đặt thói quen cho các bậc bề trên. Nàng đã quyết định bỏ lệ ăn cơm ở nhà bếp, mà ai đói cứ việc đi ăn như trước đây, buộc mọi người phải ăn cơm đúng giờ quy định tại phòng ăn, phải ngồi vào bàn ăn lớn đã dọn dẹp tinh tươm có khăn lau, đèn chùm, đồ ăn bằng bạc. Tính chất nghiêm trang của cái việc vốn vẫn được Ucsula coi là việc giản dị nhất của đời thường, đã tạo nên bầu không khí căng thẳng khiến Hôsê Accađiô Sêgunđô lầm lì đã là người đầu tiên chống lại nó. Nhưng thói quen vẫn cứ được thiết lập, chẳng hạn như thói quen cầu kinh Rôsariô trước khi ăn bữa tối để rồi chính nó đã làm cho hàng xóm phải để ý và gây nên lời đồn rằng nhà Buênđya không ăn uống như mọi gia đình mà trái lại đã biến bữa ăn tối thành một buổi lễ misa trang trọng. Ngay đến những niềm tin tôn giáo của Ucsula, nảy sinh từ hy vọng chốc lát của cụ hơn là từ truyền thống, cũng bắt đầu mâu thuẫn với những tín điều mà Phecnanđa đã thừa hưởng từ cha mẹ. Khi Ucsula còn chắc chân mạnh tay thì một số tục lệ cổ vẫn được duy trì và cuộc sống gia đình vẫn tuân theo những cảm nhận tinh tế của cụ, nhưng từ khi bị lòa và tuổi già buộc cụ phải ngồi yên một xó thì cái vòng cương tỏa được Phecnanđa khởi xướng ngay khi vừa về nhà chồng đã khép kín lại, thì không một ai ngoài nàng quyết định vận mệnh của gia đình. Nghề làm kẹo bánh từng được Santa Sôphia đê la Piêđat duy trì theo ý nguyện của Ucsula đã bị Phecnanđa coi là nghề hèn mọn, rồi chẳng bao lâu bị đình chỉ. Cửa nhà, vốn được mở toang từ sáng sớm cho đến khi đi ngủ, đã bị đóng lại trong giờ nghỉ trưa với cái cớ để tránh ánh nắng nung nóng các phòng, và sau đó im ỉm đóng suốt ngày. Cành lá lô hội và chiếc bánh vốn được treo ở trước cửa nhà ngay từ thuở mới lập làng Macônđô nay bị thay thế bằng cái hốc để thờ tượng Chúa Giêsu. Ðại tá Aurêlianô Buênđya rồi cũng biết những thay đổi ấy, và sớm nhận ra lý do. "Chúng ta đang quay trở lại làm người quý phái" ngài phản đối. "Ðến cái bước này thì một lần nữa đến  lại phải chiến đấu chống chế độ Bảo hoàng, nhưng là để đưa một ông vua khác lên ngai vàng". Phecnanđa vốn tinh tế, rất giữ gìn ý tứ để tránh va chạm với ngài. Tinh thần tự do cùng sức phản kháng của ngài trước mọi nghi thức xã hội cứng rắn khiến nàng rất khó chịu. Những tách cà phê không đường uống vào lúc năm giờ sáng, sự bừa bộn trong xưởng kim hoàn, chiếc áo khoác sứt chỉ cũng như thói quen ngồi trước cửa nhìn ra đường vào lúc chiều tà của ngài, tất cả đều như những chiếc gai nhức nhối đâm vào mắt nàng. Nhưng Phecnanđa cần phải nhượng bộ, cần phải coi ngài như một bộ phận ở ngoài cái cỗ máy gia đình, bởi vì nàng hiểu rất rõ, rằng ngài đại tá già này là một người đã bị tuổi tác và nỗi thất vọng làm cho hiền lành đi; chứ nếu không, chỉ với một hành động quật khởi đầy sức mạnh, ngài dư sức làm lay chuyển nền móng của cả ngôi nhà. Khi chồng quyết định gọi tên đứa con trai đầu lòng bằng tên của ông nội nó thì nàng không dám cãi lại, bởi vì nàng mới về nhà chồng vẻn vẹn một năm trời. Nhưng khi sinh đến trưởng nữ, nàng một mực đòi đặt tên cho nó là Rênata như tên của mẹ mình, khi mà Ucsula đã quyết định gọi nó là Rêmêđiôt. Sau một cuộc tranh luận gay gắt, trong đó Aurêlianô Sêgunđô đóng vai nhà hiền triết vui vẻ, họ đặt tên cho nó là Rênata Rêmêđiôt, nhưng Phecnanđa vẫn cứ gọi nó là Rênata gọn lỏn, trong khi cả nhà và dân làng gọi nó là Mêmê, một tên thân mật của Rêmêđiôt.


Thoạt đầu, Phecnanđa không hé răng về gia đình mình, nhưng rồi dần dần nàng bắt đầu lý tưởng hóa người cha đẻ. Ngay ở bàn ăn, nàng ca ngợi ông như một con người đặc biệt, dám từ bỏ mọi nghi lễ trống rỗng và đã trở thành một vị thánh sống. Aurêlianô Sêgunđô ngạc nhiên với sự tán tụng không phải lúc về ông bố vợ, không đừng được, đành phải giễu nhẹ sau lưng vợ. Cả nhà đều theo gương anh. Ngay chính Ucsula, đang hết mực tự hào về gia đình êm ấm, và ngược lại phải lặng lẽ chịu đựng những mối bất hòa trong nhà, đã có lần nói rằng đứa chít còn oắt con của mình chắc chắn sẽ là một Hồng y Giáo chủ bởi nó là "cháu ngoại của một vị thánh, là con của một hoàng hậu và một thằng ăn trộm gia súc". Bất kể nụ cười mỉa ấy, bọn nhóc vẫn nghĩ về ông ngoại mình như về một nhân vật huyền thoại, người vẫn thường gửi cho chúng những vần thơ âu yếm trong các bức thư và cứ mỗi bận Noel lại gửi cho chúng thùng quà to đùng gần như không mang lọt cửa chính. Thực ra, đó chỉ là những đồ vặt vãnh cuối cùng còn lại của gia tài quyền quý xưa. Ngay tại phòng ngủ của bọn trẻ, bằng các thứ này, người ta dựng một bàn thờ với những tượng thánh to bằng cỡ người thực mà đôi mắt thủy tinh của các vị đã gây cho chúng ấn tượng sâu sắc như người thật, còn những bộ áo quần được thêu thùa sặc sỡ thì theo chúng, là những bộ đồ đẹp nhất mà chưa người dân Macônđô nào từng được mặc. Dần dần, vẻ huy hoàng tẻ nhạt của ngôi nhà cổ kính và lạnh lẽo nọ đã được chuyển về ngôi nhà sáng sủa của gia đình Buênđya. "Giờ đây, họ đã gửi cho chúng ta một nghĩa địa gia đình rồi" một lần nào đó Aurêlianô Sêgunđô bình luận, "chỉ còn thiếu những cây liễu giỏ và đá xây mồ thôi". Mặc dù trong các thùng này không bao giờ đựng các đồ chơi cho bọn trẻ, nhưng chúng vẫn cứ mong đợi cho chóng hết năm để đến tháng Chạp, bởi vì dù thế nào đi nữa thì các đồ cổ lỗ sĩ và luôn luôn không được biết trước ấy cũng vẫn là một sự kiện mới lạ trong nhà.


Trong dịp lễ Noel lần thứ mười kể từ khi Phecnanđa về nhà chồng, khi cậu bé Hôsê Accađiô đã chuẩn bị đi thi, một chiếc hòm khổng lồ của ông ngoại được đóng đinh quét xi cẩn thận gửi đến cho bà Phecnanđa đên Cacpiô đê Buênđya rất tôn kính viết bằng thứ chữ Gôtích quen thuộc, đã đến khá sớm hơn mọi năm. Trong lúc nàng ở trong phòng đọc thư, những đứa trẻ nôn nóng vội mở chiếc hòm. Như thường lệ, được sự giúp sức của Aurêlianô Sêgunđô, bọn chúng cậy các mảng xi gắn, mở nắp hòm, moi hết mùn cưa ở bên trong ra, và thấy một chiếc hòm nữa, bằng chì, được vít chắc chắn bằng các vít đồng. Trước ánh mắt háo hức của lũ trẻ, Aurêlianô Sêgunđô tháo tám chiếc vít đồng, và khi nắp hòm mở ra, hầu như anh không kịp kêu lên và đẩy bọn trẻ sang bên, vì đã nhìn thấy Đông Phecnanđô vận đồ đen, ngực đeo cây thánh giá, da dẻ nứt bung ra trong những nốt lở khẳn mùi hôi và cái tử thi này đã được chưng trong một thứ nước thịt trai nuôi lấy ngọc đặt trên bếp lửa cháy âm ỉ.


Sau ngày sinh bé gái ít lâu, lễ thượng thọ không mong đợi của đại tá Aurêlianô Buênđya được công khai loan báo. Chính phủ ra lệnh tổ chức nó để kỷ niệm ngày ký Hiệp định Neclanđia. Ðó là một quyết định trái với đường lối chính trị chính thống đến mức đại tá đã mạnh mẽ tuyên bố chống lại, và ngài từ chối lễ mừng. "Ðây là lần đầu tiên ta nghe nói đến lễ thượng thọ" ngài bảo, "nhưng muốn nói gì thì nói, điều đó chỉ có thể là một lời báng bổ mà thôi". Cái xưởng kim hoàn vốn đã hẹp rồi giờ đây lại đông nghịt các vị sứ giả. Những luật gia mặc đồ sẫm trước đây như những con quạ lượn lờ quanh đại tá, nay trở lại với dáng vẻ già nua và trang trọng hơn rất nhiều. Khi thấy bọn họ xuất hiện, như trước đây họ từng xuất hiện để ngăn cản cuộc chiến, ngài đại tá đã không thể chịu nổi những lời tán tụng quá ư trơ trẽn của họ. Ngài ra lệnh cho họ hãy để mình yên, không chịu nhận mình là yếu nhân của dân tộc, như lời họ nói, mà chỉ là một anh thợ thủ công tầm thường với ước muốn duy nhất là được chết vì mệt mỏi trong lãng quên và trong cảnh nghèo túng làm những con cá vàng của mình. Nhưng điều khiến ngài đại tá phẫn nộ nhất là tin nói rằng chính ngài Tổng thống nước Cộng hòa đã dự định sẽ đích thân tham gia các hoạt động quần chúng ở Macônđô để gắn Huân chương Công huân cho đại tá.


Và ngài đại tá Aurêlianô Buênđya đã nhờ nói lại chính xác từng từ một với ngài Tổng thống, rằng mình thật lòng khao khát đợi cái dịp tuy là muộn mằn nhưng rất quý này để cho ngài Tổng thống một phát súng, không phải để ngài chuộc tội vì những bất công và không hợp thời của chế độ mà để ngài chuộc lấy cái tội dám hỗn xược đối với một cụ già vốn không làm hại ai cả. Ðó là lời cảnh cáo đanh thép mà đại tá đã nói ra miệng, khiến ngài Tổng thống nước Cộng hòa đến phút chót đã hoãn chuyến đi, và để cho lễ mừng thêm long trọng, ngài đã cử một đặc phái viên đi thay mình. Ðại tá Hêrinênđô Mackêt, hoàn toàn ở yên một chỗ, đã rời bỏ chiếc giường bệnh bại liệt, đến an ủi người bạn chiến đấu cũ của mình. Khi thấy xuất hiện một chiếc ghế xích đu được bốn người khiêng, và thấy người bạn từng chia sẻ với mình mọi nỗi vinh nhục từ thời trai trẻ ngồi trên nó, bên những chiếc gối, thì đại tá Aurêlianô Buênđya nhận ra ngay đại tá Hêrinênđô Mackêt đã gắng gượng đến để bày tỏ tình đoàn kết của mình. Nhưng khi đã biết ý định thực của chuyến viếng thăm này, ngài đã ra lệnh đuổi người bạn cố tri ra khỏi xưởng kim hoàn.


- Thật quá muộn cho ta hiểu - ngài nói với bạn mình - nếu để chúng bắn anh thì ta đã làm phúc cho anh nhiều đấy.


Thế là ngày lễ thượng thọ của ngài đại tá được tiến hành không có sự tham gia của bất kỳ thành viên nào trong gia đình Buênđya. Lễ mừng này đã ngẫu nhiên trùng với tuần lễ hội giả trang Cacnavan nhưng không một ai có thể cởi bỏ cho đại tá Aurêlianô Buênđya cái ý nghĩ dai dẳng, rằng sự trùng hợp này cũng đã được chính phủ dự tính trước để làm cho lời báng bổ đó càng thêm thô bạo. Từ xưởng kim hoàn vắng lặng, ngài nghe các bản hành khúc hùng dũng, nghe hăm mốt loạt đại bác nổ, nghe những hồi chuông vang lên bản thánh ca tạ ân, và nghe một vài câu trong cái bài diễn văn đọc trước nhà mình khi họ lấy tên ngài đặt cho một đường phố. Khi mắt ngài nhòe nước mắt, thứ nước mắt tủi hờn, thứ nước mắt căm giận và lần đầu tiên kể từ khi chịu thất bại đến nay, ngài cảm thấy đau khổ vì không còn chí cái thế và sức bạt núi thời trai trẻ để mở cuộc chiến đẫm máu đặng quét sạch chế độ Bảo hoàng. Khi mà tiếng ồn vui vang vọng của ngày hội chưa dứt thì Ucsula gõ cửa xưởng kim hoàn.


- Ðừng làm phiền nữa - ngài đại tá nói - Ta đang bận.


- Mở cửa mau - với giọng nói thường ngày, cụ ra lệnh - Việc này chẳng can dự gì với ngày hội đâu.


Nghe vậy, ngài đại tá Aurêlianô Buênđya rút then cài ra, và thấy ở trước cửa mười bảy người đàn ông hoàn toàn khác nhau, từ vóc dáng đến màu da, nhưng tất cả đều mang vẻ cô đơn mà qua đó ở bất cứ xó xỉnh nào trên mặt đất này người ta đều có thể nhận ra họ là anh em. Ðó là những người con trai của ngài. Không mách bảo nhau, cũng không hề quen biết nhau, họ đã đến đây từ những xó xỉnh hẻo lánh nhất của vùng duyên hải đang náo nhiệt trong ngày hội. Tất cả đều tự hào mang tên Aurêlianô kèm với tên họ của mẹ mình. Trong ba ngày ở lại nhà đại tá, để làm hài lòng Ucsula và khiến Phecnanđa phải ngạc nhiên, đôi lúc họ gây ra những vụ ẩu đả. Amaranta lục tìm trong đống giấy tờ cũ cuốn sổ tay mà Ucsula đã tự tay ghi lại tên, ngày tháng năm sinh, ngày đặt tên của tất cả, và bà chỉ cho từng người phòng ở hiện tại thuộc về mình. Danh sách ấy cho phép nhớ lại hai mươi năm chiến tranh, và với nó, người ta có thể dựng lại những hành trình ban đêm của đại tá, kể từ buổi sáng sớm chàng dẫn đầu hai mươi mốt chàng trai đi khỏi làng Macônđô để gia nhập vào một cuộc khởi nghĩa đầy ảo tưởng, cho đến lần cuối cùng trở về, mình lẩn trong chiếc áo khoác bê bết máu khô. Aurêlianô Sêgunđô không bỏ lỡ dịp chúc mừng các ông chú mình bằng việc ồn ĩ mở tiệc vui gồm rượu sâm banh và đàn phong cầm, và tiệc vui này vui nhộn đến mức được liệt hạng hay hơn cả vũ hội Cacnavan không thành vì trùng với lễ thượng thọ của đại tá do chính phủ tổ chức. Họ đập vỡ một nửa số cốc tách, xéo nát cả các vườn hoa để đuổi theo một chú bê non. Họ bắn súng để giết gà, buộc Amaranta phải nhảy những điệu van buồn của Piêtrô Crêspi, dỗ ngon dỗ ngọt Rêmêđiôt - Người đẹp để cô mặc quần đàn ông leo cột mỡ, rồi thả một chú lợn bôi dày mỡ chạy trên hành lang và con lợn này đã húc ngã Phecnanđa. Nhưng không một ai ca thán những nghịch ngợm quá trớn ấy, bởi vì ngôi nhà rung lên như một trận động đất trước các trò vui mà sức khỏe và sự cường tráng của con người được tràn ra, được phô bày. Ðại tá Aurêlianô Buênđya, vốn lúc đầu tiếp họ hờ hững và thậm chí còn hồ nghi một số quan hệ máu thịt với mình, sau đã cùng vui với niềm vui sôi nổi của họ và trước khi họ ra đi, ngài đã tặng mỗi người một con cá vàng. Ngay đến cả Hôsê Accađiô Sêgunđô vốn ngạo đời, cũng hiến cho bọn họ một buổi chiều chơi gà chọi mà tí nữa gây ra tai nạn, vì một số trong số mười bảy anh em Aurêlianô này vốn là những tay sành sỏi trong các sới gà, chỉ cần thoáng nhìn cú đá đầu tiên đã lập tức phát hiện ra các trò ma quái của cha Antôniô Isaben. Aurêlianô Sêgunđô, đứng xem những người anh em cùng chung một bát máu sôi nổi chơi những trò vui vô tận đầy lý thú, đã quyết định mời mọi người ở lại làm việc với mình. Người duy nhất chấp nhận lời mời là Aurêlianô Tristê, một gã lai đen lực lưỡng vốn kế thừa được nhiệt tình hăng say và lòng ham tìm tòi khám phá của ông nội, người từng nếm trải đủ mọi gian truân ở khắp nơi, dễ dãi cho rằng mình sống ở đâu cũng vậy. Những người khác, mặc dù vẫn còn chưa vợ, vẫn muốn tự quyết định lấy vận mệnh của mình. Tất cả đều là thợ thủ công thạo nghề, đều là trụ cột gia đình, đều hiền lành. Ngày thứ tư lễ Tro, trước khi mỗi người một ngả đi khắp vùng duyên hải, Amaranta tìm mọi cách để họ mặc quần áo đẹp ngày chủ nhật và đưa bà đi nhà thờ. Thích thú hơn là sùng tín, họ đã để cho mình bị cuốn vào tận nơi làm lễ kiên tin. Chính tại đây cha Antôniô Isaben đã lấy tro vạch một chữ thập lên trán mỗi người. Về đến nhà, người nhỏ tuổi nhất muốn lau trán đã phát hiện ra vết tro không thể rửa sạch được, rồi ngay sau đó, phát hiện ra vết tro của các anh cậu cũng vậy. Họ thử lấy nước xà phòng, rồi lấy đất và bã cọ, rồi lấy đá kỳ và dung dịch kiềm, vẫn không tài nào xóa được chữ thập trên trán ấy. Trái lại, Amaranta và những người khác đi dự lễ misa đều dễ dàng chùi sạch nó trên trán mình. "Chúng ra đi như vậy cũng tốt" Ucsula nói, "Từ nay trở đi không một ai có thể nhầm lẫn chúng". Họ ồn ào ra đi trong tiếng pháo và âm nhạc đưa tiễn, để lại cảm giác rằng dòng họ Buênđya đã gieo giống khắp mọi nơi cho muôn đời. Aurêlianô Tristê, với chữ thập xám màu tro trên trán, đã lập ở ngoài bìa làng một nhà máy làm nước đá mà Hôsê Accađiô Buênđya từng mơ thấy trong những đam mê sáng tạo của cụ.


(còn tiếp)


Nguồn: Trăm năm cô đơn. Tiểu thuyết của GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ (Nobel Văn chương 1982). Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch. Nguyễn Trung Đức giới thiệu. Dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha Cien años de soledad do Viện Sách Cuba xuất bản tại La Habana, năm 1968. Theo bản sửa chữa cuối cùng của cố dịch giả Nguyễn Trung Đức, tháng 9-2000. Tủ sách Danh tác Thế giới do nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn - NXB Văn học liên kết cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







1.  Một thứ đàn phong cầm cổ xưa.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 12.12.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 06.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 05.12.2018
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.12.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 28.11.2018
Số đỏ - Vũ Trọng Phụng 28.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
xem thêm »