tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30130443
Tiểu thuyết
16.08.2019
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua


Trong lúc những sự kiện ấy diễn ra và gây khá nhiều ồn ào, tôi sống ở nước ngoài vì tôi cảm thấy rằng sự khuấy động đang ngự trị ở Áo khiến tôi không thể yên tĩnh làm việc được. Ngôi nhà của tôi ở Salzburg quá gần biên giới đến mức tôi có thể mắt trần nhìn thấy ngọn núi của Borchtesgaden ở đó có ngôi nhà của Adolphe Hitler, láng giềng không lấy gì làm thích thú mà rất đáng lo ngại. Sự gần gũi với biên giới Đức ngoài ra còn cho tôi dịp phán đoán tốt hơn các bạn tôi ở Vienne về hoàn cảnh bị đe dọa của nước Áo. Ở Vienne, những người hay lui tới các quán cà phê và cả những nhân viên các bộ coi chủ nghĩa quốc xã như một sự kiện diễn ra “ở phía bên kia” và không thể đụng đến nước Áo về bất cứ mặt nào. Không có ở đó đảng xã hội dân chủ với tổ chức cứng rắn của nó mà một nửa dân số xiết chặt đội ngũ sau nó ư? Và cả đảng các tăng lữ nửa phải chăng không thống nhất trong sự chống đối hăng say, từ khi những người công giáo Đức của Hitler công khai truy hại đạo Thiên Chúa và tuyên bố công khai và trắng trợn rằng Führer (Lãnh tụ) của họ “lớn hơn đức Cristô”? Nước Pháp, nước Anh, Hội quốc liên không phải là những người bảo vệ nước Áo ư? Ngay những người Do Thái cũng không cảm thấy lo lắng và ứng xử như việc phế truất các thầy thuốc, luật sư, nhà bác học, diễn viên diễn ra ở Trung Quốc chứ không phải ở nơi chỉ cách ba giờ tàu hỏa, trong cùng một lĩnh vực ngôn ngữ. Họ yên tĩnh sống trong nhà mình và đi ô tô. Hơn nữa, mỗi người có câu nói cửa miệng an ủi mình: “Điều đó không thể kéo dài lâu hơn”. Nhưng tôi, tôi còn nhớ cuộc đàm thoại với người xuất bản sách của tôi ở Léningrad trong chuyến đi của tôi sang Nga. Ông ta kể cho tôi nghe ông đã giàu có như thế nào, có những bức tranh đẹp nào, và tôi hỏi ông tại sao ông không ra đi như biết bao người khác ngay lú khởi đầu cách mạng. “Than ôi! Ông trả lời tôi, ai lúc đó có thể tin rằng một sự vật như nước Cộng hòa của công nhân và binh sĩ có thể kéo dài trên mười lăm ngày?” Cũng là cùng một thứ ảo ảnh ấy, bắt nguồn từ cùng một ý nghĩ tự lừa dối mình.


Quả thật là ở Salzburg ngay kề biên giới, người ta nhìn thấy các sự vật rõ hơn. Diễn ra một sự qua lại thường xuyên trên những sông ngòi đánh dấu biên giới, ban đêm, những người trai trẻ lẻn sang phía bên kia và được luyện tập ở đó; những người phá rối đi qua biên giới với tư cách là những nhà du lịch khiêm nhường trong những chiếc ô tô hoặc với những chiếc gậy leo núi và tổ chức những “tổ” ở tất cả các tầng lớp xã hội. Họ bắt tay tuyển mộ những người hội viên đồng thời đe dọa những ai không liên hợp kịp thời; “Chúng sẽ phải trả giá sau này”, họ nói. Điều đó làm cảnh sát và nhữn viên chức nhà nước rụt rè e sợ. Tôi luôn cảm thấy thêm một sự thiếu vững vàng nào đó trong cảnh ứng xử rằng con người bắt đầu do dự. Mà trong cuộc sống, chính là những kinh nghiệm cá nhân nho nhỏ luôn có sức thuyết phục lớn nhất. Ở Salzburg tôi có một người bạn thời thanh niên, một nhà văn khá nổi tiếng, mà với người ấy tôi đã nuôi dưỡng những quan hệ thân tình nhất và thắm thiết nhất. Chúng tôi xưng hô “mày, tớ” với nhau. Chúng tôi đề tặng sách cho nhau, chúng tôi gặp nhau hàng tuần. Một hôm tôi bắt gặp người bạn cũ trên đường phố đi kèm một người không quen và tôi nhận xét thấy anh ta đứng lại ngay trước một quầy hàng tuyệt đối không có gì đáng chú ý đối với anh và quay lưng lại phía tôi, anh chỉ một vật gì đó cho ông bạn và tỏ ra đặc biệt quan tâm. Tôi tự bảo: lạ thật! Anh ta đã phải trông thấy tôi. Nhưng cũng có thể là một sự ngẫu nhiên. Ngày hôm sau anh bất ngờ điện thoại cho tôi, hỏi tôi xem anh ta có thể đến nhà tôi nói chuyện với tôi một lát không. Tôi đồng ý, hơi ngạc nhiên vì thường chúng tôi gặp nhau ở một tiệm cà phê. Tình hình là anh ta không có gì đặc biệt để nói với tôi mặc dầu anh hăm hở gặp tôi đến thế. Và tôi thấy rõ ngay rằng một mặt anh muốn gìn giữ tình bạn của tôi, nhưng mặt khác để khỏi bị tình nghi với tư cách bạn bè thời thanh niên, anh không muốn tỏ ra quá thân tình với tôi nữa trong cái thành phố nhỏ này. Điều đó làm tôi chú ý hơn. Tôi nhận thấy rằng cả một loạt những người quen biết thường hay đến nhà tôi, không còn đến nữa. Người ta đang ở một nơi bị đe dọa!


Tôi chưa nghĩ đến việc từ giã Salzburg hẳn nhưng tôi quyết định một cách dễ dàng hơn mọi khi sống mùa đông ở nước ngoài để thoát khỏi tất cả những va chạm. Nhưng tôi không ngờ rằng đây đã là một loại vĩnh biệt khi, tháng Mười 1933, tôi từ giã ngôi nhà của mình.


*


*           *


Ý định của tôi là sống tháng Giêng và tháng hai ở Pháp để làm việc. Tôi yêu đất nước xinh đẹp này mà tôi coi như Tổ quốc thứ hai của tôi và ở đó tôi không cảm thấy mình là người xa lạ. Valéry, Romain Rolland, Jules Romain, André Gide, Roger Martin du Gard, Duhamel, Vildrae, Jean Richard Block, những người chủ của văn chương, đều là bạn cũ của tôi. Các sách của tôi ở đây có số độc giả xấp xỉ với ở Đức; không ai coi tôi như một nhà văn xa lạ. Tôi yêu dân chúng, tôi yêu đất nước, tôi yêu thành phố Paris và tôi cảm thấy ở đó như ở nhà tới mức mỗi khi con tàu chạy vào ga phương Bắc, tôi có cảm tưởng như “trở về nhà mình”. Nhưng lần này, do hoàn cảnh đặc biệt, tôi ra đi sớm hơn thường lệ và chỉ muốn đến Paris sau Nôel. Vậy khoảng trống đó, tôi sẽ đi đâu? Lúc ấy, tôi nhớ ra rằng từ hơn một phần tư thế kỷ nay - từ thời tôi còn là sinh viên - tôi chưa trở lại nước Anh. “Tại sao chỉ luôn luôn là Paris mà thôi?”. Tôi tự bảo. Tại sao không một lần ở Luân Đôn mươi mười lăm ngày? Tại sao không nhìn thấy lại sau nhiều năm và với những cái nhìn mới các viện bảo tàng, đất nước và thành phố. Thế là thay vì đi tàu suốt tới Paris, tôi lấy vé tàu đi Calais và một ngày tháng Mười một chìm ngập trong sương mù thường có, tôi lại sau ba mươi năm xuống tàu ở ga Victoria và tôi chỉ ngạc nhiên lúc đến là đã không đi xe ngựa tới khách sạn mà lại đi ô tô. Sương mù, màu xám nhạt và tươi, trông giống như của ngày xưa. Tôi chưa đưa mắt nhìn đường phố, nhưng khứu giác của tôi sau ba mươi năm đã nhận ra cái không khí buốt, dày, ẩm đang bao bọc bạn sát sàn sạt.


Hành lý tôi mang theo rất mỏng và kỳ vọng của tôi cũng như vậy. Tôi hầu như không có quan hệ bạn bè ở Luân Đôn và những tiếp xúc văn chương giữa chúng tôi người lục địa và các nhà văn Anh không nhiều. Họ có một cuộc sống riêng, hết sức hạn chế và ảnh hưởng của họ được thực hiện trong một vòng truyền thống mà chúng ta không thể hoàn toàn tiếp thu được. Tôi không thể nhớ lại xem trong vô số những sách đã được đưa đến nhà ở trên bàn tôi từ khắp các nơi trên thế giới, có một quyển nào là tặng phẩm do quan hệ đồng nghiệp của một nhà văn Anh không. Tôi đã gặp Shaw một lần ở Harlleran. Wells đã đến thăm tôi một lần tại nhà tôi ở Salzburg, các sách của tôi thực ra đều được dịch tất cả nhưng ít được biết đến. Nước Anh luôn là xứ sở mà các sách của tôi ít phát huy ảnh hưởng nhất. Vì vậy trong khi tôi kết bạn với những nhà xuất bản Pháp, Mỹ, Italia, Nga, tôi chưa bao giờ gặp một chủ của nhà xuất bản các sách của tôi ở Anh. Vậy tôi đã chuẩn bị để cảm thấy cũng xa lạ ở đấy như ba mươi năm về trước.


Nhưng sự tình cờ đã khác hẳn. Sau vài ngày, tôi sống đặc biệt tốt ở Luân Đôn. Không phải là Luân Đôn đã thay đổi một cách sâu sắc. Nhưng bản thân tôi đã thay đổi. Tôi đã già thêm ba mươi tuổi và sau những năm chiến tranh và sau chiến tranh, sau nhiều căng thẳng và siêu căng thẳng, tôi chỉ có khát vọng được một lần lại sống hoàn toàn yên tĩnh và không nghe nói chính trị. Tất nhiên ở Anh cũng có nhiều đảng phái, những Whigs và những Tories, một đảng bảo thủ, một đảng tự do và một Labour-party( ), nhưng những cuộc tranh luận của họ không liên quan đến tôi. Chắc chắn trong văn học cũng có những khuynh hướng và những trào lưu, những cuộc cãi vã nhưng tranh chấp kín đáo, nhưng ở đây tôi hoàn toàn ngoại cuộc. Nhưng điều ích lợi thực sự đối với tôi là cuối cùng tôi lại cảm nhận xung quanh tôi một không khí dân sự, lễ độ, không kích động, không hận thù. Không gì đầu độc cuộc đời tôi trong những năm qua nhiều bằng luôn nhận thấy quanh mình, trong đất nước, trong thành phố, sự căm thù và sự căng thẳng và luôn tự giữ gìn mình để khỏi bị lôi cuốn vào các cuộc tranh cãi. Ở đây trong đời sống công cộng ngự trị một trình độ trung thực và tôn trọng lề thói cao hơn ở những đất nước của chúng ta, đã trở nên vô đạo đức do cái đại bịp của nạn lạm phát. Con người sống yên tĩnh hơn, hài lòng hơn và chăm sóc nhiều đến khu vườn của mình và những mối tình nho nhỏ của mình hơn là đến công việc của những người láng giềng. Ở đây người ta có thể thở, tư duy và nghĩ ngợi. Nhưng cái lý do chân chính giữa tôi lại là công việc mới.


sự tình diễn ra như sau. Quyển Marie Antoinette của tôi vừa xuất bản và tôi đang đọc lại bản in thử của quyển Erasme, trong đó tôi đã thử phác một chân dung trí tuệ của nhà văn nhân đạo chủ nghĩa, mặc dầu hiểu rõ hơn những người cải cách chuyên nghiệp, sự phi lý của thời đại mình, lại không có khả năng ngăn được nó với tất cả lý trí của mình do một định mệnh bi thảm. Sau khi hoàn thành các kiểu tự thú giấu mặt ấy, ý định của tôi là viết một quyển tiểu thuyết mà tôi đã dự kiến từ lâu. Tôi đã chán ngấy các tiểu sử. Nhưng một điều xảy đến với tôi là ngay từ ngày thứ ba ở Bảo tàng nước Anh được sự đam mê cũ về các bút tích lôi cuốn, tôi xem xét các mẫu vật trưng bày ở phòng mở cửa cho công chúng. Trong số các mẫu vật có bản tường thuật viết tay về sự hành quyết của Marie Stuart. Tôi vô tình tự hỏi: Trên thực tế Marie Stuart là gì? Bà có thực sự nhúng tay vào việc ám hại người chồng thứ hai của mình không, bà có vô tội không? Buổi tối vì không có gì đọc, tôi mua một quyển sách về bà. Đó là một tụng ca bảo vệ bà như một nữ thánh, một quyển sách nhạt nhẽo và ngu ngốc. Với tính tò mò không chữa được, hôm sau tôi tìm một quyển khác, quyển này ủng hộ cái trái lại. Tôi bắt đầu quan tâm. Tôi đi tìm một quyển sách đáng tin cậy hơn. Không ai có thể chỉ cho tôi một quyển sách như vậy và trong khi tìm kiếm và thu thập thông tin, tự nhiên tôi đi đến việc thiết lập những so sánh và không tự nhận thấy tôi đã bắt đầu một quyển sách về Marie Stuart; vì nó, tôi đã làm việc mấy tuần trong các thư viện. Đầu năm 1934, khi tôi trở về Áo, tôi đã quyết tâm trở lại Luân Đôn đã thành thân thiết đối với tôi, để viết xong quyển sách đó.


*


*           *


Tôi chỉ phải ở Áo hai hoặc ba ngày để thấy rằng tình hình đã xấu đi tới mức nào trong vài tháng qua. Chuyển từ bầu không khí yên tĩnh và bình an của Luân Đôn sang bầu không khí của nước Áo bị những cuộc chiến đấu làm lay động chẳng khác nào trong một ngày tháng bảy oi bức ở New York, đi ra khỏi một căn phòng có máy điều hòa nhiệt độ làm mát, người ta bỗng chốc đặt chân xuống một đường phố nóng bỏng. Sức ép của những người quốc gia - xã hội bắt đầu dần dần làm suy sút các dây thần kinh của những giới tăng lữ và tư sản. Họ luôn cảm nhận nhiều hơn những ràng buộc về kinh tế và sức ép lật đổ của nước Đức không còn đủ kiên nhẫn. Chính phủ Dollfuss muốn gìn giữ một nước Áo độc lập và tránh được cái họa Hitler, luôn tìm kiếm một cách càng tuyệt vọng hơn một chỗ dựa cuối cùng. Nước Pháp và nước Anh ở quá xa và thật ra quá thờ ơ; Tiệp Khắc đang còn đầy rẫy hận thù cũ và sự kình địch đối với Vienne. Chỉ còn Italia đang tìm cách mở rộng đến Áo sự bảo hộ kinh tế chính trị của nó nhằm bảo đảm những lối đi xuyên qua Alpes và Trieste. Mussolini đòi một giá rất cao cho sự bảo hộ đó. Nước Áo phải đi theo khuynh hướng phát xít, nghị viện và qua đó cả nền dân chủ phải bị bãi bỏ. Chỉ có thể làm được điều đó nếu người ta gạt bỏ và tước các quyền của Đảng Xã hội - dân chủ, đảng mạnh nhất và được tổ chức tốt nhất ở Áo. Để bẻ gãy nó không còn có cách nào khác là bằng sức mạnh tàn bạo.


Nhằm vào hoạt động khủng bố đó, người tiền nhiệm của Dollfuss là Iganace Seipel, đã lập một tổ chức gọi là Heimevehr( ). Nhìn từ bên ngoài, nó hiện ra một vẻ khá nghèo nàn; nó được lập thành từ những quan tòa nhỏ của tỉnh, từ tất cả những người tầm thường tuyệt vọng căm ghét nhau một cách rất mãnh liệt. Cuối cùng hoàng tử Starhemberg; ông hoàng này trước đây đã lê mình dưới chân Hitler và gào thét chống nước Cộng hòa và nền dân chủ nhưng bây giờ, với số lính đánh thuê của mình, tự giới thiệu khắp nơi là địch thủ của Hitler và hứa hẹn sẽ “làm lăn những cái đầu”. Điều mà những người của Đội cận vệ địa phương thực sự muốn là hoàn toàn tăm tối. Trên thực tế nó không có mục đích nào khác là được có mặt ở máng ăn bằng cách này hay cách khác, và tất cả sứ mạnh của nó là ở trong nắm tay của Mussolini đang đẩy họ về phía trước. Cho rằng những người gọi là yêu nước ấy của nước Áo đang cưa cái cành họ đang ngồi trên đó với những lưỡi lê được nước Italia cung cấp, họ không hề có chút nghi ngờ về điều đó.


Đảng Xã hội - dân chủ hiểu rõ hơn nguy cơ thực sự đang náu ở đâu. Trong thâm tâm, nó không phải sợ sự đấu tranh công khai. Nó có vũ khí và bằng tổng bãi công nó có thể làm tê liệt tất cả các đường tàu hỏa, tất cả các lực lượng thủy lợi, tất cả các nhà máy điện. Nhưng nó cũng biết Hitler chỉ chờ đợi một cuộc “cách mạng đỏ” như vậy để có cớ đi vào nước Áo như một vị “cứu tinh”. Vì vậy, nó phán đoán rằng tốt hơn là hy sinh một phần đáng kể các quyền của mình và cả Nghị viện để đi đến một sự thỏa hiệp có thể chịu đựng được. Tất cả những người biết điều thừa nhận một sự dàn xếp như vậy khi xét tới tình trạng bị bắt buộc mà nước Áo đang trải qua trong bóng đen đầy đe dọa của chủ nghĩa Hitler. Bản thân Dollfuss, một con người mềm mại, tham lam nhưng hiện thực một cách sâu sắc, nghiêng về biện pháp hòa giải này. Nhưng người trai trẻ Starhemberg và cò mồi của anh là đại úy Fey, về sau sẽ đóng một vai trò khá lạ lùng trong cuộc ám hại Dollfuss, bắt Schutzbund( ) phải giao nộp vũ khí và mọi dấu vết của dân chủ và tự do chính trị đều bị xóa bỏ. Những người xã hội - dân chủ đấu tranh chống lại sự cưỡng bức đó, những sự đe dọa nói lên giữa hai phe. Một quyết định đang ở trong không trung, người ta cảm thấy điều đó và trong cảm giác của sự căng thẳng chung, tôi nghĩ đến, đầy lo sợ, câu thơ của Shakespeare: So foul a sky clears not without a storm( ).


*


*           *


Tôi chỉ trở về Salzburg được vài ngày đã phải tiếp tục ngay cuộc hành trình đến Vienne. Và đúng là vào những ngày đầu tháng Hai này, bão tố đã nổ ra. Ở Linz, đội cận vệ địa phương đã tấn công Nhà những người Lao động nhằm chiếm các kho súng mà họ nghi là đặt ở đó. Thợ thuyền đã trả lời bằng một cuộc tổng bãi công. Dollfuss, đến lượt mình, đã ra lệnh triệt hạ bằng vũ lực cuộc “cách mạng” được gây ra một cách giả tạo. Thế là các toán quân chính quy của đội cận vệ địa phương tiến đánh bằng đại liên và đại bác các khu thợ thuyền ở Vienne. Trong ba ngày những trận đánh ác liệt diễn ra từ nhà này sang nhà khác: đây là lần cuối cùng trước chiến tranh Tây Ban Nha mà ở châu Âu nền dân chủ tự bảo vệ chống lại chủ nghĩa phát xít. Thợ thuyền giữ vững được ba ngày để rồi cuối cùng ngã xuống trước ưu thế kỹ thuật.


Tôi đã trải qua ba ngày đó ở Vienne và thế là tôi đã là chứng nhân của trận đánh quyết định này và của sự tự sát của nền độc lập nước Áo. Nhưng vì tôi muốn là một chứng nhân chân chính, trước hết tôi phải thừa nhận sự việc này bề ngoài có vẻ nghịch lý, là bản thân tôi đã tuyệt đối không nhìn thấy gì của cuộc cách mạng này. Ai đã dự định đưa ra về thời đại mình một hình ảnh càng đúng đắn và gợi cảm có thể được, phải có can đảm làm thất vọng những quan niệm lãng mạn. Và không gì đối với tôi có vẻ đặc trưng hơn về sự kỳ lạ và kỹ thuật những cuộc cách mạng hiện đại sau đây: diễn ra trong không gian bao la của một thành phố lớn, nó trong thực tế chỉ chú ý đến rất ít điểm và là hoàn toàn không thể thấy được với phần lớn dân cư. Dẫu điều đó có vẻ lạ đến đâu đi nữa, tôi ở Vienne trong những ngày lịch sử tháng Hai năm 1934 và tôi không hề thấy gì về những sự kiện quyết định diễn ra ở Vienne, và tôi không biết gì cả, tuyệt đối không biết gì, trong thời điểm chúng diễn ra. Người ta bắn những phát đại bác, người ta chiếm các ngôi nhà, người ta mang đi hằng trăm xác chết, - tôi không hề thấy lấy một xác trong số đó. Mỗi độc giả các báo ở New York, Luân Đôn, Paris có một tri thức đứng đắn hơn về những gì đã thực tế xảy ra so với chúng ta là những người bề ngoài là những chứng nhân. Và về sau tôi luôn thấy được xác nhận hiện tượng kỳ lạ này là ở thời đại chúng ta, cách mươi đường phố, người ta hiểu biết về các sự kiện quyết định kém hơn cách xa nhiều ngàn kilômét. Khi Dollfuss bị ám hại ở Vienne vào tháng sau, lúc mười hai giờ trưa, thì lúc năm giờ chiều tối đã thấy những áp phích trên các đường phố ở Luân Đôn. Tôi thử điện thoại ngay về Vienne, tôi hết sức ngạc nhiên khi nhận được lập tức sự liên lạc và càng ngạc nhiên hơn nữa khi biết rằng, cách Bộ ngoại giao năm đường phố, người ta biết ít hơn nhiều so với ở mỗi góc phố Luân Đôn. Vậy tôi chỉ có thể trình bày một yếu tố tiêu cực do kinh nghiệm của tôi về cuộc cách mạng vở Vienne và chứng minh bằng ví dụ của mình rằng một người đương thời có thể nhìn thấy ít biết bao những sự kiện biến đổi bộ mặt của thế giới và dòng đời của bản thân, nếu nó không tình cờ ở nơi quyết định. Đây là tất cả những gì tôi đã thấy: buổi tối tôi có hẹn gặp bà quản lý các balê của nhạc kịch, Marguerite Wallman, ở một quán cà phê của Ring. Tôi đi bộ tới Ring và sắp sửa qua đường không nghĩ ngợi gì. Nhưng, kia là mấy người với quân phục cũ mặc vội và mang súng đến gần tôi và hỏi tôi đi đâu. Khi tôi báo cho họ biết tôi đi đến tiệm cà phê J…, họ yên tĩnh để tôi đi qua. Tôi không biết tại sao những cận vệ đó bất ngờ có mặt trên đường phố và sự có mặt của họ có ý nghĩa gì. Trên thực tế, người ta bắn nhau và chiến đấu kịch liệt trong các vùng ngoại ô đã từ nhiều giờ nay, nhưng ở trung tâm không ai nghi ngờ gì. Chỉ có buổi tối khi tôi trở về khách sạn của mình và chuẩn bị để thanh toán bản kê tiền phải trả vì tôi dự định ngày hôm sau trở về Salzburg, người gác cổng nói với tôi rằng anh ta sợ là không thể được vì các chuyến tàu không chạy nữa. Có cuộc bãi công của những nhân viên đường sắt, và đã xảy ra một điều gì đó ở các khu ngoại ô.


Ngày hôm sau, các báo đem đến những tin tức khá mơ hồ về một cuộc nổi loạn của những người xã hội - dân chủ nhưng nó đã được ít nhiều bóp nghẹt. Trên thực tế, cuộc chiến đấu vừa đạt đỉnh cao ngày hôm đó và Chính phủ đã quyết định đưa súng đại liên và đại bác tham gia chống lại thợ thuyền. Nếu toàn bộ nước Áo lúc đó bị chiếm đóng hoặc bởi những người xã hội chủ nghĩa, hoặc những người quốc gia - xã hội, hoặc những người cộng sản, tôi biết về điều đó cũng hoàn toàn ít như trước đây những người dân Munich chỉ được tờ Thời báo Munich cho biết rằng thành phố của họ đã nằm trong tay Hitler. Ở trung tâm thành phố, cuộc sống tiếp tục yên tĩnh và đều đặn như thường lệ, trong khi ở ngoại ô, cuộc chiến đấu đang hoành hành và chúng ta dại dột tin ở các thông báo chính thức rằng tất cả đã kết thúc. Ở thư viện Quốc gia, ở đó tôi có một điều cần kiểm tra, sinh viên đọc và học như mọi ngày, các cửa hiệu mở cửa, dân cư hoàn toàn không có vẻ kích động. Chỉ có vào ngày thứ ba, khi tất cả đã hết, người ta mới biết sự thật qua từng mẩu nhỏ một. Khi tàu hỏa lại tiếp tục chạy vào ngày thứ tư, buổi sáng tôi trở về Salzburg, một số người quen tôi gặp dọc đường hỏi tôi dồn dập: cái gì đã thực tế xảy ra ở Vienne. Và tôi, tuy nhiên là một “chứng nhân bằng mắt” cuộc cách mạng, tôi bị buộc phải chân thành nói với họ: “Tôi không biết gì cả. Tốt hơn cả là bạn nên mua một tờ báo nước ngoài”.


*


*           *


Điều kỳ lạ ngày hôm sau xảy ra trong cuộc đời của riêng tôi một sự kiện quyết định có liên quan đến các sự kiện trên. Buổi quá trưa, tôi về đến ngôi nhà ở Salzburg; tôi thấy ở đấy có cả một núi thư và bản in thử và tôi đã làm việc đến nửa đêm để không còn gì đọng lại. Ngày hôm sau, tôi đang nằm trên giường thì có tiếng gõ cửa. Người đầy tớ già đôn hậu của chúng tôi thường không bao giờ thúc tôi dậy khi tôi không định trước một giờ dứt khoát, đi vào với vẻ rất lo lắng. Ông yêu cầu tôi xuống, những đức ông cảnh sát đang đứng dưới ấy và muốn nói chuyện với tôi. Tôi hơi ngạc nhiên, tôi khoác vào người một áo dài mặc trong nhà và đi xuống tầng trệt. Ở đó có bốn cảnh sát mặc thường phục: họ nói họ được lệnh khám nhà; tôi phải nộp cho họ ngay tức khắc tất cả những vũ khí của Liên minh bảo vệ nước Cộng hòa được cất giấu ở đây.


Tôi phải thú nhận rằng lúc đầu tôi rất sửng sốt đến nỗi không trả lời được điều gì cả. Vũ khí của Liên minh bảo vệ nước Cộng hòa trong nhà tôi? Thật quá phi lý. Tôi không bao giờ thuộc một phe phái nào, tôi không bao giờ quan tâm đến chính trị. Tôi vắng Salzburg đã bốn tháng, và độc lập với tất cả các điều đó, sẽ là chuyện nực cười nhất trên đời sắp xếp một kho vũ khí ở ngôi nhà này, đứng trên một ngọn đồi ở ngoài thành phố, khiến cho ai đó mang một khẩu súng hay một vũ khí gì sẽ bị phát hiện dọc đường ngay. Tôi chỉ trả lời một cách lạnh lùng: “Xin các ông cứ tự mình xem lấy”. Cả bốn người trinh thám khám nhà, mở một vài cái hòm, đánh ở một vài cái thành, nhưng tôi thấy ngay qua cách uể oải mà họ làm rằng sự khám nhà này chỉ là hình thức và không ai trong số bốn người nghiêm chỉnh tin rằng trong ngôi nhà này có một kho vũ khí. Sau nửa giờ đồng hồ, họ tuyên bố cuộc khám xét đã hoàn tất và họ biến mất.


Để giải thích tại sao vở kịch hề lố bịch đó làm tôi bực tức cau có đến như vậy, tôi phải đưa vào đây một chú thích lịch sử nhỏ. Trong những thập kỷ vừa qua, châu Âu và thế giới đã quên đi rằng những quyền cá nhân và sự tự do chính trị trước đây là những gì thiêng liêng. Từ năm 1933, việc khám nhà, những cuộc bắt bớ độc đoán, việc tịch thu tài sản, những bản án đày biệt xứ và tất cả những hình thức khác có thể tưởng tượng ra được để làm nhục đã trở nên những thứ nói chung là đã quá tự nhiên. Tôi hầu như không biết một trong những người bạn châu Âu của tôi mà không trải qua những kinh nghiêm như vậy. Nhưng lúc đó, đầu năm 1934, một cuộc khám nhà ở Áo còn là một sự xúc phạm lạ lùng. Một người như tôi đã chịu nhịn hoàn toàn mọi thứ chính trị, đã nhiều năm không thực hiện cả đến quyền bầu cử, là đối tượng của một sự khám xét; phải có ở đó một lý do đặc biệt, và quả vậy đó là một sự việc điển hình của nước Áo: cảnh sát trưởng của thành phố Salzburg buộc phải có những biện pháp nghiêm khắc chống lại bọn quốc gia - xã hội đêm đêm quấy rối dân cư bằng những quả bom và những gói thuốc nổ, và sự giám thị đó là một hành vi nguy hiểm vì ngay lúc đó đảng đã sử dụng kỹ thuật khủng bố của mình. Ngày nào các trạm cảnh sát cũng nhận được những thư đe dọa: họ phải trả giá đắt nếu họ tiếp tục “truy hại” những người quốc gia xã hội, và trên thực tế - khi nói về phục thù thì những người quốc gia - xã hội luôn giữ lời hứa trăm phần trăm, những nhân viên cảnh sát Áo trung thành nhất đã lê mình trong những trại tập trung ngay ngày đầu Hitler nắm quyền. Như vậy, người ta cũng có thể bị lôi cuốn để tin rằng cuộc khám nhà của tôi chứng tỏ rõ ràng rằng người ta không lùi bước trước bất cứ ai, khi vấn đề là thực hiện những biện pháp có ích cho sự an ninh chung. Về phần tôi, tình tiết này, khá vô nghĩa trong bản thân nó, làm cho tôi quan niệm rằng tình hình ở Áo đã trở nên nghiêm trọng đến như thế nào và áp lực của nước Đức mạnh mẽ ra sao. Ngôi nhà của tôi không còn làm tôi yêu thích sau cuộc khám nhà đó của những nhân viên cảnh sát và một cảm giác không lừa dối tôi nói với tôi rằng những tình tiết như vậy chỉ là khúc dạo đầu cho những biện pháp độc đoán có quy mô to lớn hơn nhiều. Ngay chiều hôm đó tôi bắt đầu đóng gói những giấy tờ quan trọng nhất, quyết tâm từ nay sống ở nước ngoài, và ra đi, tôi không chỉ phải xa cách ngôi nhà của tôi và đất nước của tôi vì gia đình tôi gắn bó với ngôi nhà này cũng như với Tổ quốc, nó yêu mến ngôi nhà này. Còn tôi, tự do cá nhân của tôi đối với tôi là tài sản quý báu nhất đời. Không báo ý định của mình với một người bạn nào và với một người quen nào, hai ngày sau tôi đi Luân Đôn. Điều chăm lo đầu tiên của tôi khi đến Luân Đôn là báo cho các quan chức ở Salzburg biết rằng tôi đã từ bỏ hẳn nơi ở của mình. Đó là bước đầu tiên tách tôi ra khỏi Tổ quốc tôi. Nhưng từ ngay những ngày còn ở Vienne tôi đã biết rằng nước Áo đã mất, - nhưng quả thật tôi chưa ngờ tới những gì tôi bị mất mát trong tình hình đó.


 


 


SỰ CÁO CHUNG


CỦA MỘT NỀN HÒA BÌNH


 


Mặt trời La Mã đã lặn. Ngày của chúng ta đã tàn. Mây mù, hiểm nguy hãy kéo đến. Sự nghiệp của chúng ta đã kết thúc.


The sun of Rome is set Our day is gone. Clouds, dews and dangers come. Our deeds are done.


Shakespeare, Julius Caesar


 


Cũng như thời ở Sorrente đối với Gorki, nước Anh đối với tôi trong những năm đầu không phải là đất lưu đày. Nước Áo tiếp tục tồn tại, cả sau “cuộc cách mạng” đó, như người ta thường thích gọi, và sau sự cố gắng của những người quốc gia - xã hội kéo đất nước về mình bằng một sự hành động mau lẹ và việc ám hại Dollfuss. Sự hấp hối của Tổ quốc tôi còn phải kéo dài bốn năm. Tôi có thể bất luận giờ nào trở về nơi tổ ấm, tôi không bị loại bỏ, không bị đày biệt xứ. Các sách của tôi còn nguyên vẹn trong ngôi nhà của tôi ở Salzburg; tôi còn hộ chiếu Áo, tổ quốc còn là tổ quốc tôi, tôi còn là công dân ở nơi đó, và là công dân có tất cả các quyền. Hoàn cảnh kinh khủng không tổ quốc, không giải nghĩa được cho tất cả những ai không trải qua nó, chưa phải là hoàn cảnh của tôi. Cái cảm giác cứa vào các dây thần kinh của bạn, bị chuếnh choáng trong hư vô, cặp mắt mở to và biết rằng khắp nơi bạn đặt chân tới, bạn có thể mọi lúc bị xua đuổi, cái cảm giác ấy cũng chưa là cảm giác của tôi. Tôi còn mới ở điểm khởi đầu mà thôi. Hẳn đây là một sự đi đến khác với khi vào cuối tháng hai 1934, tôi xuống tàu hỏa ở ga Victoria. Người ta nhìn với con mắt khác một thành phố ở đó người ta quyết tâm ở lại so với những thành phố mà người ta chỉ là một người khách đi qua. Tôi không biết tôi sẽ ở Luân Đôn bao lâu. Một điều duy nhất quan trọng đối với tôi: lại bắt tay vào công việc, bảo vệ sự tự do bên trong và sự tự do bên ngoài của mình. Tôi không mua nhà vì mọi sự sở hữu bao hàm một sự trói buộc, mà chỉ thuê một flat( ) nhỏ, vừa đủ lớn để lèn vào hai tủ hốc tường một ít sách mà tôi không sẵn sàng chịu thiếu và đặt một bàn giấy. Thế là tôi có tất cả những gì mà một người làm việc trí óc cần có xung quanh mình. Quả là không có chỗ cho đời sống xã hội. Nhưng tôi thích sống tách biệt trong một khung cảnh hẹp nhất để có thể khi gặp dịp đi du lịch được tự do: cuộc đời tôi đã được tổ chức nhằm cái tạm thời chứ không nhằm cái vĩnh cửu, mà tôi đâu có hay.


Buổi tối đầu tiên (đêm đã xuống và bờ các vách đã nhạt nhòa đi trong bóng hoàng hôn), tôi đi vào căn hộ nhỏ cuối cùng đã sẵn sàng và tôi rùng mình, vì tuồng như vào giây phút đó tôi lại đi vào căn hộ nhỏ khác mà tôi đã thu xếp cho mình ở Vienne khoảng ba mươi năm trước; các phòng cũng đều bé và dấu hiệu đón tiếp duy nhất là những quyển sách ở vách phòng và cặp mắt đầy kinh ngạc của King John do Blake vẽ đã đi theo tôi khắp nơi. Thực ra tôi cần có một lát tĩnh tâm vì trong nhiều năm và nhiều năm tôi không còn nhớ đến nơi ở đầu tiên này. Phải chăng đây là lời báo trước mang tính tượng trưng rằng cuộc đời của tôi từ rất lâu đã giãn nở theo chiều rộng, sắp khép về quá khứ và tôi sắp chỉ còn là chiếc bóng của bản thân mình? Ba mươi năm trước khi tôi chọn căn phòng ấy ở Vienne, đó là bước khởi đầu. Tôi chưa sáng tạo được gì hoặc ít nhất được gì là thiết yếu, các sách của tôi, tên tôi chưa được sống trong đất nước tôi. Bây giờ, bằng một sự tương đồng kỳ lạ, sách của tôi lại một lần nữa biến mất trong ngôn ngữ gốc của chúng, những gì tôi viết từ nay trở nên không được biết đến ở nước Đức. Bạn bè của tôi ở cách xa, vòng các quan hệ xưa bị cắt đứt, tôi đã mất ngôi nhà với những bộ sưu tập, những bức tranh và những sách ở ngôi nhà đó. Tất cả những gì tôi đã thử nghiệm, đã hoàn thành, đã học được, đã thưởng thức trong quãng thời gian đó dường như đã bị gió cuốn đi, trên năm mươi tuổi tôi lại ở một sự khởi đầu mới, một lần nữa tôi lại là người sinh viên ngồi vào bàn làm việc và mỗi buổi sáng long tong đi đến thư viện, - nhưng tôi không còn có bấy nhiêu niềm tin và sự hứng khởi; tôi đã có một vài vệt xám trong tóc và một bình minh vô định của sự ngã lòng dậy lên trong tâm hồn đã mỏi mệt.


*


*           *


Tôi do dự nói nhiều về những năm 1934-1940 ở Anh, vì tôi đã đến gần kề với thời đại của chúng ta và chúng ta tất cả hầu như đã sống những năm tháng đó một cách như nhau, với cùng một sự lo âu mà rađiô và báo chí làm cho nặng nề thêm, với cùng những niềm hy vọng và cùng những sự bận tâm. Tất cả chúng ta nghĩ với không mấy tự hào đến sự mù quáng chính trị của những năm đó và nhận ra với một sự rùng mình kinh hãi nơi chúng đã đưa ta đến. Người nào muốn giải thích lại phải buộc tội và ai trong chúng ta có quyền làm điều đó? Hơn nữa cuộc đời của tôi ở Anh chỉ là một sự gìn giữ ý tứ dài. Mặc dầu tôi ý thức được sự ngu xuẩn của tôi đã không thể chế ngự một sự ngượng nghịu rất thừa, tôi sống, trong những năm nửa lưu đày và thực sự lưu đày đó, thiếu một tính xã hội chân thật, trong ý nghĩ điên rồ rằng tôi không phải xen vào cuộc đàm thoại ở nước ngoài, khi người ta thảo luận về thời đại của chúng ta. Tôi đã không làm được gì chống lại trò ngu ngốc của các tầng lớp cầm quyền ở Áo, làm sao tôi lại có thể thử ở đây, khi tôi chỉ là khách của hòn đảo xinh đẹp này và tôi biết rất rõ rằng nếu - với tri thức rõ ràng và có căn cứ hơn - tôi nói bóng gió tới hiểm họa mà Hitler đe dọa thế giới, người ta sẽ cho rằng đó là một ý kiến do quyền lợi cá nhân của tôi áp đặt. Quả là nặng nề đôi khi phải mím chặt môi lại trước những sai lầm rõ rệt. Thật đau đớn thấy rằng đúng là đức tính chủ đạo của người Anh, sự trung thực của họ, ý muốn chân thành của họ trao lòng tin cho tất cả những người khác mà không đòi hỏi chứng cứ cho thực tâm của họ bị một ngành tuyên truyền đã trở thành kiệt tác của sự đạo diễn khai thác vì những mục đích đáng ghét. Người ta không ngừng đánh lừa bạn bằng những lời hứa, người ta bảo đảm rằng Hitler chỉ cố lôi kéo về mình những người Đức ở các lãnh thổ láng giềng, rằng lúc đó hắn sẽ thỏa mãn và để tỏ lòng biết ơn, hắn sẽ nhổ tận gốc chủ nghĩa bolsêvich; miếng mồi đó gây hiệu quả một cách tuyệt diệu. Hitler chỉ cần đọc lên từ “hòa bình” trong một bài diễn thuyết, thế là các báo chí hoan hô nhiệt liệt, quên hết toàn bộ quá khứ và không tự hỏi tại sao nước Đức vũ trang điên cuồng đến như vậy. Những người du lịch từ Berlin trở về, ở đó, để đề phòng, người ta đã hướng dẫn họ và bao bọc họ bằng những lời nịnh hót, đã ca ngợi trật tự và ông chủ mới, và dần dần ở Anh người ta bắt đầu một cách rất dịu dàng tán thành như là một điều được biện minh những “tham vọng” của hắn đối với nước Đức lớn. Không một ai hiểu rằng nước Áo là tảng đá đỉnh vòm của tòa nhà và nếu người ta đánh sập nó, cả châu Âu sẽ sụp đổ. Về phần tôi, tôi nhìn sự ngây thơ, sự tin cậy bao dung mà người Anh và những người cầm đầu nước họ đã để bị lạm dụng với những con mắt nóng bỏng của một người khi ở nước mình đã nhìn thấy rất gần những bộ mặt của các trận xung kích, đã nghe họ hát: “Ngày nay nước Đức thuộc về chúng ta, ngày mai sẽ là cả thế giới!”. Sự căng thẳng chính trị càng được nhấn mạnh, tôi càng tránh mọi cuộc đàm thoại và nói chung là mọi hoạt động công cộng. Nước Anh là nước độc nhất ở Thế giới cũ tại đó tôi không bao giờ nói ở đài truyền thanh, viết một bài thời sự ở trong một tờ báo nào, tham gia một cuộc tranh luận công cộng về chính trị. Tôi đã sống ở nơi ấy trong căn hộ nhỏ ẩn danh hơn cả người sinh viên - bản thân tôi - trong lòng Vienne ba mươi năm về trước. Vì vậy tôi không có quyền mô tả nước Anh với tư cách một chứng nhân không thể bác bỏ, và điều đó càng ít hơn vì trước chiến tranh tôi không bao giờ thực sự nhận ra sức mạnh lớn lao nhất của nước Anh, một sức mạnh hoàn toàn được chứa đựng trong bản thân nó và chỉ độc lộ ra vào giờ phút nguy nan nhất.


Tôi chỉ gặp ít nhà văn. Cái chết đã sớm lấy đi hai người độc nhất mà tôi bắt đầu có quan hệ chặt chẽ hơn, John Drinkwater và Hugh Walpole. Tôi không thường gặp những nhà văn trẻ nhất bởi vì với cảm giác khốn khổ không an toàn của một “foreigner”( ) luôn ám ảnh tôi, tôi tránh những câu lạc bộ, những bữa tiệc tối và những cuộc biểu tình công cộng. Quả là tôi có được niềm vui thực sự không bao giờ quên, được gặp một hôm hai trí tuệ sắc bén nhất, Bernard Shaw và H.G.Wells, đang dấn thân vào một cuộc thảo luận chứa đầy sấm sét, nhưng bề ngoài có vẻ hiệp sĩ và hào nhoáng. Đó là một bữa tiệc đứng ở nhà B.Shaw, tập hợp một nhóm những người thân tình nhất, và tôi ở trong một tình huống vừa hấp dẫn vừa khá nặng nề của người không biết trước cái gì trên thực tế gây ra sự căng thẳng ngầm mà người ta cảm thấy tồn tại giữa hai cây cổ thụ, và ngay ở dáng điệu họ chào nhau với một sự thân mật nhuốm mùi châm biếm - tất phải có giữa họ một sự bất đồng ý kiến cơ bản vừa được hàn gắn cách đây không lâu hoặc phải được hòa giải trong bữa tiệc này. Hai gương mặt lớn đó, những vinh quang của nước Anh, đã từng nửa thế kỷ trước, chiến đấu bên nhau trong câu lạc bộ những người Fabiêng( ) cho chủ nghĩa xã hội lúc bấy giờ cũng còn nen trẻ như họ. Từ đó đến nay, phù hợp với cá tính rất nổi bật của từng người họ đã phát triển theo những con đường ngày càng cách biệt; Wells trung thành với chủ nghĩa duy tâm tích cực của mình, làm việc không mệt mỏi cho cách nhìn tương lai nhân loại của mình; Shaw, trái lại, luôn xem xét tương lai cũng như hiện tại với chủ nghĩa hoài nghi hài hước của mình, để nghiệm thấy ở đấy trò chơi của tư duy vừa cởi mở vừa vui đùa của mình. Ngay cái vẻ bề ngoài của họ trong những năm qua cũng làm rõ nét mâu thuẫn giữa họ. Shaw, ông già tám mươi tươi mát đến không thể tin được, cao lớn, gầy, luôn dụng công, vào các bữa ăn chỉ gặm nhấm trái cây và quả hạch, luôn có một nụ cười châm chọc trên đôi môi hay chuyện và luôn càng mê những trò pháo hoa của các nghịch lý; Wells, ông già bảy mươi vui sống, ham hưởng thụ và thoải mái hơn bao giờ hết, nhỏ con, cặp má đỏ, và nghiêm túc một cách khắc nghiệt dưới những cơn vui tình cờ. Shaw, chói lọi trong sự gây gổ hung hăng, thay đổi một cách khéo léo và nhanh nhẹn những luận cứ tấn công của mình; người kia đứng vững ở những vị trí phòng thủ có chỗ dựa vững chắc, không thể lay chuyển như người có đức tin và người được thuyết phục luôn là như vậy. Tôi có ngay cảm tưởng rằng Wells không chỉ đến để trao đổi những lời lẽ bạn bè trong bữa ăn mà để có một cuộc tranh luận về nguyên tắc. Và chính vì tôi không được thông báo về những cái bên dưới của cuộc xung đột tư tưởng này, tôi chỉ càng thêm nhạy cảm với không khí mà nó tạo ra. Người ta cảm thấy trong mỗi cử chỉ, trong mỗi cái nhìn, trong mỗi lời nói một tâm thái gây gổ thường là hăng say nhưng tựu trung khá nghiêm túc, tôi tưởng như nhìn thấy hai người đấu kiếm trước khi tiếp cận nhau thực sự, thử sự mềm mại của bản thân mình bằng những nhát kiếm so tài. Shaw có trí tuệ nhanh hơn; đằng sau những hàng mi rậm rạp, mỗi khi ông đưa ra một câu trả lời hoặc đỡ một cú đánh, mắt ông ánh lên, sự ham thích lời nói dí dỏm, lối chơi chữ mà qua sáu mươi năm tập luyện, ông đã đạt được một sự điêu luyện vô song, lại hăng lên theo cách có phần nào gây gổ. Bộ râu trắng và rậm đôi khi rung lên trong một cái cười im lặng và giận dữ và cái đầu hơi nghiêng nghiêng, ông hình như luôn để mắt theo dõi mũi tên mình phát ra để xem nó có bắn trúng không. Wells, với đôi má nhỏ và đỏ, cặp mắt yên tĩnh và mờ mờ, cay độc hơn và đánh những cú trực tiếp hơn, trí tuệ của ông cũng làm việc với một sự nhanh nhậy phi thường, nhưng ông không thích những kiểu quay vòng óng ánh, ông thích đánh những cú trực tiếp, với một thứ buông thả, làm như những gì ông nói đều tự nhiên phải như vậy. Những câu đối đáp trao đi đổi lại với một sự nhanh chóng chói lọi tới mức, qua cú đánh cú đỡ, cú đỡ cú đánh, luôn bề ngoài bằng một giọng bông đùa, người xem vô tư ngưỡng mộ không biết chán cuộc đấu kiếm này, trò chơi các tia chớp, những nhát kiếm đánh trúng và đỡ khéo. Nhưng dưới cuộc đối thoại nhanh và luôn ở một tư thế chững chạc cao, người cảm thấy một thứ cuồng nhiệt trí tuệ được đưa vào kỷ luật một cách cao thượng trong những hình thức biện chứng của phép lịch sự cao nhã nhất. Có ở đây - và chính điều đó làm cho cuộc tranh luận hấp dẫn đến như vậy - cái nghiêm túc trong cái đùa cợt và cái đùa cợt trong cái nghiêm túc, một sự đối lập mạnh mẽ của hai tính cách chỉ cháy bùng lên ở bề ngoài theo chất liệu của cuộc đàm đạo, chất liệu này trên thực tế được xác định một cách không lay chuyển nổi trong những chiều sâu và chiều sâu thẳm mà tôi không biết đến. Dẫu sao, tôi đã nhìn thấy hai người tốt đẹp nhất của nước Anh trong một thời điểm tốt đẹp nhất của họ và sau này khi cuộc tranh luận chính được đăng trên báo Quốc gia, tôi đọc và không thấy có được một phần trăm cái thú mà tôi được hưởng khi trực tiếp dự vào cuộc đối thoại đầy thận trọng bởi vì đằng sau những luận cứ đã trở thành trừu tượng không còn trông thấy con người sống động, cái thực tại cụ thể và chân chính. Hiếm khi tôi được hưởng nhiều đến như vậy sự phát lân quang tạo ra do sự cọ xát của hai trí tuệ; không ở một vở hài kịch nào trên sân khấu - cả trước đây và cả từ nay về sau - tôi được thấy thực hành nghệ thuật đối thoại với nhiều tài điêu luyện như vào dịp đó, bởi vì nó được triển khai không có ý định, không hề có cái gì là có vẻ sân khấu và trong những hình thức cao nhã nhất.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »