tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29425288
Tiểu thuyết
17.08.2012
Nguyễn Trung
Dòng đời

Vài suy nghĩ về tiểu thuyết Dòng đời 


Trần Bạch Đằng


            Đây là lần đầu xuất hiện trên văn đàn Việt Nam một cuốn tiểu thuyết (bốn tập), có độ dày khoảng hai nghìn trang, về các vấn đề hiện hữu trong xã hội ta. Nội dung tiểu thuyết trải rộng trong một không gian từ Việt Nam sang đến Hoa Kỳ, với một chiều dài thời gian từ khi giải phóng và thống nhất đất nước rồi xuyên suốt gần hai thập kỷ đầu tiên của công cuộc đổi mới.


            Kể từ ngày đổi mới, gần hai mươi năm trôi qua – đây là tác phẩm văn học đầu tiên thể hiện bao quát được nội dung này. Bản thảo tôi có trong tay và đã đọc là bản thảo thứ 10.


            Chúng ta thừa nhận, trong lĩnh vực văn chương, các vấn đề của công cuộc đổi mới đang được đụng chạm, được khắc họa với nhiều công sức trên phương diện này hoặc phương diện khác. Song Dòng đời thực sự là một cố gắng lớn mang một nội hàm mới về cách nhìn sự thế - với đôi mắt, nói cho đúng hơn, với tâm hồn mới, cố gắng mặt đối mặt với bản chất của sự vật – để ghi nhận, để nhận thức...


            Dòng đời, với nhiệt huyết tuôn chảy trong nó, thành công đáng kể trong đan kết cuộc sống khách quan với nhận thức chủ quan, để mang tải hiện thực, để gửi gắm những khát vọng, những hoài bão - về con người, về dân tộc mình, về đất nước mình...


            Dòng đời đã thể hiện được một cách thống nhất hài hòa ở mức độ đáng kể giữa con người và cuộc sống nó đang sống, giữa con người và những vấn đề nó đang đối mặt... – thể hiện khá rõ ở điều bày tỏ và cách tỏ bày, với một bố cục linh hoạt, cá tính nhân vật được phác họa thông qua đối thoại mang nhiều đặc thù, cuộc sống cứ tự nó hiện lên trong tác phẩm với nhiều tình tiết cụ thể, có tính tiêu biểu, gạn lọc từ trong biết bao nhiêu sự việc muôn mặt muôn vẻ của đời thường. Cách thể hiện ấy đã chuyển tải lên văn đàn được một khối lượng lớn những vấn đề sống còn của đất nước, những bức xúc mà từng công dân, từng đảng viên, nhất là những người giữ các trọng trách, không thể không quan tâm, không thể không tìm cách nhận thức lại sự vận động của thực tế xã hội đang diễn ra – để cùng nhau tuyên chiến với mọi tha hóa, phá vỡ mọi trì trệ cản phá, và để cùng nhau nỗ lực hướng sự vận động ấy đi theo chiều hướng có lợi nhất cho đất nước ta, cho Đảng ta. Trên tất cả, như tác giả đã gửi gắm qua nhân vật của mình, là nỗi lo day dứt làm sao tránh cho đất nước “...bi kịch lớn nhất của cuộc đời ở mọi quốc gia thường là thắng lợi của một cuộc cách mạng trở thành một thứ chiến lợi phẩm! Kẻ thắng xô sát nhau chia quả thực! Ai nhặt được cái gì thì nhặt! Ai giành được cái gì thì giành!..” (tập II).


            Thông qua câu chuyện một gia đình bị xé ra làm hai trong hai cuộc kháng chiến, cùng với các mối quan hệ mọi chiều cạnh trong xã hội, tác giả đề cập đến khá nhiều vấn đề, thể hiện qua nhiều mẫu hình nhân vật khác nhau, diễn tiến trong những hoàn cảnh khác nhau, để vẽ lên một bức tranh toàn cảnh, màu sắc nhiều khi đối chọi nhau bật thành những tiếng va đập chát chúa của xã hội Việt Nam thời hậu chiến. Trong đó, bên cạnh những mặt tích cực đày hứa hẹn, nảy sinh không ít bất cập và tiêu cực, trước hết là “tệ nạn tham nhũng... Sự bóc lột này lớn hơn hàng trăm lần, hàng nghìn lần, hàng nhiều nghìn lần so với sự bóc lột thặng dư giá trị còn đang tồn tại trong xã hội nước ta...” (tập III). Từ đó, câu hỏi “Đất nước này bây giờ là của ai?” được đặt ra, được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc day dứt.


Phải rồi, “đất nước này bây giờ là của ai?” – đấy chính là câu hỏi luôn luôn xác định lại, luôn luôn làm rõ mục tiêu của cách mạng khi chuyển qua giai đoạn mới, là câu hỏi luôn luôn cảnh giác và chống lại sự chệch hướng và mọi nguồn gốc của chệch hướng... Phạm Trung Nghĩa, một nhân vật chính yếu trong tác phẩm, vốn là một đảng viên tận tụy với sự nghiệp của Đảng, của dân tộc, một thương binh dày dạn trên chiến trường, nhìn nhận đất nước mình trong cái thế giới hôm nay, có lúc đã phải xót xa thốt lên: “...30 năm xây dựng rồi mà vẫn chưa bước ra khỏi nhóm quốc gia nghèo nhất thế giới! Vẫn còn là một quốc gia lạc hậu!..” (tập IV) Còn lớp con cháu của anh ta thì đau đáu nỗi lo “...Chẳng lẽ đã giành lại đất nước rồi, bây giờ lại chịu để mất nước vào cái kiếp nô lệ của nghèo hèn và lệ thuộc?..” (tập III, tập IV). Đấy cũng là câu hỏi mỗi người Việt ta phải tự hỏi chính mình, để thức tỉnh, để cùng nhau chống lại mọi thứ tệ nạn - và cả tệ trạng, để đưa đất nước ta lên một tầm cao mới.


            Trong suốt tác phẩm, nhiều lần tác giả đụng chạm đến cái gọi là quán tính lịch sử ở các chiều cạnh khác nhau, trong các vấn đề khác nhau và ở vào các tình huống khác nhau, trong phạm vi một con người cho đến cuộc sống của cả xã hội... - một nỗi trăn trở lớn, để tự cật vấn mình, cũng là để người đọc tự tra vấn lấy... Những quán tính lặp đi lặp lại ấy với mọi hậu quả tai hại vốn có của chúng, dẫn đến hoặc là trở thành một trong những tác nhân chính dẫn đến một quán tính lớn hơn, với những hậu quả lớn hơn...: “...Vì sao người dân nước mình cứ bị dồn vào cái thế sinh ra hình như là để hứng chịu chiến tranh?” (tập IV). Hẳn là điều đó đã được hình thành từ cái vị thế đặc biệt của đất nước này, cộng với những nguồn tài nguyên phong phú, với ý chí bất khuất của một dân tộc có niềm tự hào về một truyền thống văn hóa độc đáo, lâu đời đã giúp chúng ta không bị bị hủy diệt hoặc bị đồng hóa.., nhưng phải tồn tại một cách gian nan trong một thế giới luôn luôn có nhiều đối kháng. Chính nhờ biết khai thác bao nghiêu kinh nghiệm lịch sử rất quý báu đó, cộng với khả năng lãnh đạo của một vị lãnh tụ thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh – người cha già của dân tộc, đất nước ta đã lập nên những kỳ công, và trên cơ sở những thành tựu đó dân tộc ta đang có trong tay thời cơ ngàn năm có một xóa bỏ đi cái quán tính lịch sử quái ác ấy trong cái thế giới đầy những thách thức quyết liệt hôm nay...


Làm gì? Làm như thế nào chặt đứt vĩnh viễn các vòng xoáy của quán tính lịch sử? Làm gì? Làm thế nào để tận dụng được thời cơ có một không hai này kể từ ngày dựng nước?.. Trong Dòng đời những câu hỏi ấy lúc âm thầm len lỏi trong tâm tư các nhân vật chính diện, lúc nổ ra dữ dội giữa những dòng suy nghĩ trái chiều...


            Trước biết bao nhiêu vướng mắc như thế, ở trong quá khứ của dân tộc, rồi trong bối cảnh đầy ắp những sự kiện công phạt nhau dữ dội của cái thế giới hiện tại, tác giả cố gắng có một cái nhìn toàn diện, tổng hợp, nhưng không thể nào mô tả hết các sự kiện, nên đành tìm cách thể hiện qua những đối thoại – như một cưỡng ép văn chương – để không trối bỏ trách nhiệm của người cầm bút. Chính vì lý do này, nên chăng thể tất cho tác giả về sự cưỡng ép này?


            Theo truyền thống văn học cổ điển, Dòng đời kết thúc có hậu theo cách riêng của nó... Những kẻ có tội, những người cơ hội... kết cục cũng bị trừng phạt, tự trừng phạt, hoặc phải chuốc lấy số phận đau buồn chính tự mình gây ra cho mình.., giữa lúc đủ loại cơ hội khác vẫn còn nhởn nhơ, phè phỡn trong cuộc sống... Tác giả không tô hồng, không ru ngủ người đọc, mà muốn tìm trong người đọc nhiều bạn đồng hành cùng với mình trong dòng đời này...


            Có rất nhiều vấn đề, người đọc phải tự chắt lọc lấy, tự giải đáp lấy.., một thứ lao động khổ sai khi phải đọc cả bốn tập của Dòng đời. Nếu như chưa tạo ra ngay được sự đóng góp thiết thực nào chuyển đổi xã hội để đưa đất nước lên một tầm cao mới, thì Dòng đời với sức nặng của nó – về mặt tri thức và cả ý thức – cũng  ghi được một dấu ấn sâu đặm, lay động lòng người bằng những suy nghĩ chân thành, điều mà văn học hiện đại của chúng ta hiếm có một tác phẩm nào mang một hoài bão lớn như vậy, cũng chưa thấy có tác giả nào dám cả gan đưa ra một cái nhìn toàn diện cuộc sống đương đại với tâm huyết và ý thức trách nhiệm lớn lao như thế, kể cả những câu hỏi phía trước mà tất cả chúng ta đang phải cùng nhau tìm câu trả lời...


            Một nhân vật trong tác phẩm nói: “Dù ở con người nào thì sự chân thật bao giờ cũng có cái mãnh liệt riêng của nó!” (tập IV). Tác giả tin vào sự chân thật mãnh liệt ấy của con người. Cùng với tác giả chúng ta mong muốn chính sự mãnh liệt ấy được thức tỉnh và hun đúc nên hào khí mới của dân tộc.


            Vết thương dân tộc còn rỉ máu trong suốt Dòng đời – cho đến tận trang sách cuối cùng! Không được phản bội một hy sinh nào! Không được bỏ qua một mất mát nào! Những người đã ngã xuống giục giã Phạm Trung Nghĩa cùng với cùng với cả dân tộc mình bước vào cuộc đấu tranh lớn lao nhất ở phía trước: Tất cả cho sự nghiệp chấn hưng Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta!


 


Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 4 năm 2005


TBĐ


 


VietNamNet phỏng vấn Nguyễn Trung


Ông có lời nhắn nhủ nào đến các độc giả của Dòng đời - đặc biệt là các độc giả trẻ -không?


- Trước hết xin nói đôi lời vì sao tôi viết Dòng đời.  Như mọi người dân nước ta, tôi hiểu  cái giá dân tộc ta đã phải trả cho sự nghiệp độc lập và thống nhất đất nước. Trân trọng điều đó, tôi cố nhìn lại chặng đường 30 năm đầu tiên của đất nước độc lập thống nhất, với mong mỏi rút ra những gì có ích cho hiện tại và tương lai - nhất là mong mỏi mỗi người trong tất cả chúng ta phải làm gì cho xứng, cho bõ với những gì dân tộc ta đã phải hy sinh và trả giá. Để làm việc đó tôi chọn cách viết tiểu thuyết, như một thử nghiệm riêng tư, với ý nghĩ tạo dựng lại cuộc sống trong xã hội nước ta quãng thời gian rất đáng ghi nhớ này - những thập kỷ đầu tiên của một nước Việt Nam mới -  để tất  cả mọi người chúng ta cùng khảo nghiệm, cùng ý thức và chiêm nghiệm.


Từ khi gõ dòng chữ đầu tiên trên vi tính cho Dòng đời, cho đến khi đánh cái dấu chấm cuối cùng cho bản thảo lần thứ 16 để đưa đi in, trong tôi chỉ có một sự thôi thúc: Không được phản bội một hy sinh nào! Không một mất mát nào được phép bỏ qua!.. Đặt chân đên vùng miền nào của Tổ quốc, những tiếng nói ấy trong không trung lúc như trăm ngàn mũi kim làm tôi tê dại, lúc xuyên nhói tim tôi…


Sự thôi thúc ấy từ cuộc sống ngày đêm vang vọng da diết vào tâm khảm tôi. Nay tôi xin chuyển tải tiếp sự thôi thúc ấy đến tất cả các bạn đọc già và trẻ, như là một lời nhắn tâm huyết của chính tôi.


Tại sao ông chọn hình thức tiểu thuyết? Ông có nghĩ rằng Dòng đời có thể hơi quá dài và khiến cho một số độc giả ngần ngại không?


- Tôi chọn hình thức tiểu thuyết bởi hai lý do. Thứ nhất, tôi muốn “chuyển tải” đến người đọc đời sống hiện thực quãng thời gian lịch sử này đã được cô đọng. Thứ hai, tôi muốn thế hệ sau sẽ có “hiện thực được cô đọng” này để nhìn lại, suy nghĩ, đánh giá bằng con mắt của chính họ. Vì vậy có lẽ hình thức truyện là thích hợp hơn cả. Đúng là tiểu thuyết 4 tập này khá dài, vì 30 năm cũng là một thời gian dài…


Dĩ nhiên trong thời đại internet hiện nay, người ta có ít thì giờ và thường chỉ thích đọc, thích xem những thứ gì ngăn ngắn. Song có lẽ chính vì vậy những cuốn tiểu thuyết bám vào cuộc sống hiện thực, có dung lượng lớn, may ra có thể có ích, với tính chất là “bộ nhớ của thời cuộc”... Tôi hy vọng thế.


Vâng, từng tác phẩm nhỏ, từng truyện ngắn riêng lẻ, từng bài thơ nhỏ… không làm được việc đó.


- Gọi là bộ nhớ của thời cuộc!.. Có lẽ tôi tham lam quá… Nhưng hiện tại và tương lai nào không dựa trên quá khứ, không xuất phát từ quá khứ? Nên tôi mong được bạn đọc thể tất. Hơn nữa, cuộc đời trong Dòng đời có biết bao nhiêu thân phận con người khác nhau, hầu hết là những người bình thường… Xin mạn phép nói: Truyện ít nhiều có dáng dấp sử thi của những con người bình thường.. 


Các nhà văn trẻ hiện nay của chúng ta dường như quá bận rộn đến những vấn đề cá nhân mà ít quan tâm đến thời cuộc. Ông có nhận xét gì về tính tích cực xã hội của các nhà văn Việt Nam hiện nay, đặc biệt là các nhà văn trẻ?


Trước hết xin nói tôi không nghĩ như vậy về các nhà văn trẻ. Đơn giản vì tôi đọc họ còn ít lắm. Thú thực tôi chẳng có gì làm căn cứ để nhận xét các nhà văn trẻ ít quan tâm đến thời cuộc.


Cho phép tôi nêu vài suy nghĩ riêng: Văn học về mặt nào đó là sự khám phá không ngừng, trải nghiệm không ngừng, sáng tạo… và phần nào cả thử nghiệm nữa... Bản thân tôi không muốn và không có thước đo nào cho các nhà văn cả. Tôi không thích như thế, hơn nữa việc này quá khó đối với tôi. Đọc xong một quyển truyện, tôi chỉ lấy cảm nhận của mình làm thước đo mối quan hệ của truyên đó đối với tôi. Có trao đổi gì với bạn bè, thì cũng chỉ là trao đổi cảm nhận rất riêng tư của tôi thôi. Có thể vì ý thức và kiến thức xã hội của tôi còn kém. Khi viết Dòng đời, thước đo tự tôi áp đặt cho mình là cuộc sống chấp nhận mình đến đâu thì tôi biết tôi đi được tới đấy!


Ví dụ, ông nghĩ thế nào về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư?


- Nguyễn Ngọc Tư? …Về ngôn ngữ, là người miền Bắc nên tôi rất thích giọng văn “đặc sản” như thế ở miền Nam. Đúng là cái chất vùng miền đó. Không biết người dân quê hương cô Tư đánh giá thế nào, nhưng riêng tôi có muốn hoài công bắt chước giọng văn ấy cũng không được. Tôi cảm ơn tác giả về niềm vui này. Còn về nội dung, theo tôi nên để bạn đọc rộng rãi nhận xét. Nhận xét đi nhận xét lại mới vỡ ra vấn đề. Có thể khen, chê hết lời, đừng ngần ngại, nhưng phải với tinh thần xây dựng. Dù thế nào cũng không nên đòi dùng biện pháp hành chính đối xử với nhà văn như đã xảy ra đối với cô Tư ở địa  phương. Điều quan trọng là khuyến khích, cổ vũ nhà văn nâng cao cái tâm khi viết. Người cầm bút nếu cứ phải theo một khuôn phép nào đó thì còn đâu là sáng tạo với nghệ thuật. Trước sau tôi vẫn nghĩ không nên đòi hỏi nhà văn trẻ phải thế này thế nọ. Quyền sáng tạo của mỗi cá nhân cần được hết sức tôn trọng. Văn học phải khám phá, phải sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trước độc giả, trước xã hội… Song để phê phán cũng góp phần thúc đẩy sáng tạo, thiết nghĩ người đọc cũng không nên chỉ có cái “khuôn vàng thước ngọc” cố định, mà nên luôn luôn mới, luôn luôn tự làm mới mình...


Thưa ông, một nhà văn trẻ nữa… Đỗ Hoàng Diệu?


- Thôi chết, anh biến tôi thành nhà phê bình văn học?


Xin ông thẳng thắn nói ý kiến của mình.


- Tôi có đọc Bóng đè, nhưng thú thực, vì lý do nào đấy, đọc nhanh quá. Đọc nhanh đến nỗi tôi gần như quên hết truyện nói gì, nhưng cái tên của truyện trở thành một lời khuyên, lời nhắc nhở đối với tôi. Làm việc gì bây giờ, tôi cũng tự nhắc mình: Đừng để bị bóng đè! Mình phải là mình, đừng để bị bóng đè!.. Thậm chí đôi khi tôi làm việc gì chưa đúng với ý thức tôi phải làm, bạn tôi cũng không ngần ngại phê phán tôi thẳng thừng là bị bóng đè!. Có lúc tôi còn bị bạn còn đay nghiến: Anh còn bị bóng đè nhiều lắm!.. Thế mới khổ chứ! Chỉ riêng điều này, tôi nợ Đỗ Hoàng Diệu lời cảm ơn. Tôi có đọc một vài bài báo, một vài ý kiến về Bóng đè. Có bà mẹ còn nói: Không bao giờ bà để cho con gái bà đọc thứ văn chương sa đoạ này! Xin cứ để cho dư luận rộng rãi đánh giá, nói thẳng nói hết, đừng cuống lên. Sau đó sẽ chấn tĩnh lại chắt lọc, rút tỉa…


 Ông có dự định gì tiếp theo sau cuốn Dòng đời?


Tạm thời tôi vẫn chưa hoàn hồn sau mười năm vắt sức cho  Dòng đời. Có lẽ tôi cần thời gian...


Ông đã nhận được những phản hồi nào từ độc giả? Ông có chuẩn bị tinh thần để chờ đợi những phản hồi không thuận lợi không?


Bản thảo Dòng đời được in là bản thảo thứ 16. Gần hai năm qua tôi đã đưa bản thảo (các lượt khác nhau – các versions khác nhau) cho nhiều người đọc và góp ý, được nhận nhiều lời khuyên chân thành. Đấy là  sự tiếp sức quý báu cho tôi đi tới cùng. Phần lớn người đọc bản thảo là những bạn bè thuộc bậc đàn anh như Trần Bạch Đằng, Hữu Ngọc, Sơn Tùng, Trần Quang Cơ..,   hoặc cùng lứa tuổi như các anh Cao Huy Thuần, Phan Đình Diệu... Phản hồi thuận hay không thuận là chuyện bình thường, phải có tranh luận thì mới ra chân lý. Trong khi viết mà cứ nghĩ đến việc sẽ có phản hồi thế này thế nọ thì không viết được.


Việt Nam sắp được kết nạp vào WTO, ban lãnh đạo mới của Việt Nam đang có những hành động mạnh mẽ tỏ rõ quyết tâm chống tham nhũng và các căn bệnh khác của hệ thống. Ông có lạc quan hơn về thời cuộc không?


Anh quay ngoắt đề tài, muốn làm tôi nghẹt thở? …Tôi vẫn nghĩ nước ta đang đứng trước cơ hội ngàn năm chưa từng có, cơ hội vàng. Đi liền với những thách thức bây giờ nước ta mới đối mặt – nghĩa là  cũng chưa từng có. Tình hình đất nước xứng đáng có một “bộ tổng tư lệnh” và một “bộ tham mưu chiến lược” đầy bản lĩnh, đủ sức huy động toàn trí và toàn lực của cả nước cho hội nhập thắng lợi vào nền kinh tế toàn cầu hoá. Đây là mặt trận chính yếu của toàn dân tộc và chỉ có quyền thắng! Làm tất cả mọi việc để khơi dạy tình thần quật khởi của toàn dân tộc là yếu tố giành thắng lợi. Tôi nghĩ “Bộ tổng tư lệnh” và “bộ tham mưu chiến lược” này phải lớn hơn, bản lĩnh hơn “Bộ tổng tư lệnh” chống tham nhũng.


 


Xin cảm ơn ông.


Thụ Nhân thực hiện


 


 


 Lời tự sự


          Tôi tên là Nguyễn Đăng Trung. Hồi nhỏ đi học, thày giáo và các bạn thường gọi tôi là Đăng Trung để khỏi nhầm với bạn cùng tên khác trong lớp. Rời ghế nhà trường trung học để vào đời, tên tôi chỉ còn lại hai chữ Nguyễn Trung - một dạng của hao mòn vật liệu... Bây giờ bạn bè tôi và tôi đều lên ông, bà cả rồi, một hai người có chắt, nhưng tôi vẫn là Đăng Trung ngày ấy trong con mắt và vòng tay các thày và bạn bè tôi...


          Cuộc đời run rủi thế nào tôi bước vào ngành ngoại giao, từ cuối năm 1954, sau khi đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và tiếp quản thủ đô Hà Nội ngày 10 tháng 10 cùng năm. Tôi trung thành với cái nghề mình không tự chọn cho mình khoảng bốn chục năm, thật là một dịp may lớn được ghé mắt ra thế giới bên ngoài. Song may hơn nữa là mấy năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu tôi được đi gần hết mọi miền của đất nước, được nhìn rõ đất nước mình hơn ở độ tuổi có cái nhìn chậm chạp và cổ lỗ, song có thể vì thế thấy được đôi điều hiện tại hay hiện đại dễ lãng quên – nhất là tôi có cái tính cứ hay so so nước mình với cả thế giới. Không rõ vì tôi yêu nước mình, hay là tôi tiêm nhiễm cái bệnh nhìn gì cũng so đo với người?.. Hệ lụy của cái tính so đo là tôi cầm bút viết quyển truyện dài này – một sự dở chứng dối già?


         Ôi, ba thập kỷ đầu tiên của đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất! Tôi thấy phải làm việc gì đó ghi nhớ lại chặng đường không thể nào quên này của Tổ quốc chúng ta, theo cảm nhận riêng của mình, và bằng cách làm riêng của mình... Cái lẩm cẩm của người thuộc lứa tuổi “thất thập cổ lai hy” chăng? Hay là sự liều mạng vốn có trong tôi  đến thành thói quen điếc không sợ súng?.. Tôi không rõ...


        Chỉ biết con tim cao huyết áp thôi thúc, cánh tay yếu đuối phải nhúc nhích.


        Tôi bắt đầu viết những trang sách dài dài này trong tâm trạng như thế, lần đầu tiên, có lẽ cũng là lần cuối cùng trong đời...


         Ý nghĩa đích thực của cái bút danh Nguyên Nguyên* có lẽ chỉ là để đánh dấu sự bắt đầu của mọi sự bắt đầu trong tôi. Để thực hiện ý định viết bộ tiểu thuyết này, nói như người mới học võ, tôi đã tự chuẩn bị cho mình, là cố ...tập đi mấy đường quyền, bằng cách viết thử một hai quyển sách...


Tôi không biết là mình đã bắt đầu công việc viết lách được chưa, hay vẫn còn đang ở giai đoạn tiếp tục tập đi mấy đường quyền... Hay là sống có nghĩa là suốt đời tập đi mấy đường quyền?.. Ngày 29 tháng 10 năm 2000 tôi ngồi vào bàn để “gõ” hai chữ “Dòng đời”**, hai chữ đầu tiên của bộ tiểu thuyết này, ngày 22 tháng 7 năm 2003 tôi hoàn thành bản thảo đầu tiên, ngày 19 tháng 2 năm 2006 tôi hoàn thành bản thảo lần thứ 16.


Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc đứa con tinh thần của tôi.


____


* Trong các sách đã viết, tôi dùng bút danh Nguyên Nguyên, kể cả bản thảo của Dòng đời. Song lần này Nhà xuất bản Văn nghệ TPHCM đề nghị tôi đứng tên thật, tôi chấp thuận.


** “Dòng đời”  để xuất bản là bản thảo thứ 16, gồm 4 tập, đánh số thứ tự I, II, III, IV, đã được khoảng trên 100 người đọc (kể từ bản thảo thứ 7) và góp ý kiến. Phần Cảm nghĩ và lời bạt của các độc giả đã đọc bản thảo được chọn lọc và in ở cuối tập IV.


 


TẬp I. DÒNG XOÁY


 


1.


Cuốn theo dòng đời cùng năm tháng


Một mảnh tình riêng ta trong ta…


Trung tá Phạm Trung Nghĩa vóc người cao lớn, thời thanh xuân vốn nổi tiếng là đẹp trai và có duyên. Trong đám nữ sinh cùng học ngày xưa, trong đám bè bạn con gái trên đường đời sau này, không biết đã bao nhiêu người yêu thầm nhớ vụng Nghĩa trong lòng. Đám bè bạn con trai tị nạnh về hình dáng ưa nhìn của anh phần nào, nhưng nhiều người thực sự vừa ghen vừa mến dáng điệu nói năng hiền từ và hình như không bao giờ vội vã của Nghĩa.


Bây giờ tóc ông đã ngả sang màu muối tiêu, đuôi mắt nheo lại sâu hơn nữa sau cặp kính trắng. Những gì còn lại của nét mặt thanh tú thuở xưa hình như chỉ tăng thêm sự đôn hậu cho giọng nói tiếng cười của ông.


Đám bè bạn đồng chí thân thuộc thời chinh chiến gọi ông là công tử bột. Vì lính tráng gì mà to lớn, trắng như Tây, mặt mũi chẳng một chút dấu vết phong sương hay khói lửa của chiến trường.


- ...


- Cha mẹ sinh ra thế, da dẻ mình không bắt nắng mà...


- Béo tốt thế này, thủ trưởng cắt bớt khẩu phần của anh Nghĩa giành cho thương binh đi!


- ...


- Anh Nghĩa, cho em xin một đứa con làm giống!


- ...


- Đừng cho nó! Cho mình em thôi!


- Không, em cũng xin một đứa, nhỡ anh hy sinh mất thì hoài...


- ...


Những giai thoại, những khoảnh khắc như thế nhiều lắm. Nghĩa nhớ không xuể.


Nhiều lúc thiếu ăn hay sốt rét trong rừng, hoặc sau những chiến dịch dài ngày, Phạm Trung Nghĩa gầy rộc đi rất nhanh, xanh như tàu lá, chứ không sạm nắng. Được chăm sóc, anh cũng lại người rất nhanh.


Nghĩa còn được đồng đội và cấp trên tặng cho danh hiệu “lính tạch tạch xè”(*) [(*)Tạch tạch xè: “tts” = tiểu tư sản], vì học thức và cách sống nho nhã phần nào, con nhà giáo nòi mà. Song điều mọi người đều thấy là Nghĩa rất thích âm nhạc, như một niềm đam mê, đam mê đến lãng mạn.


Những lúc cùng đơn vị nằm ém quân hàng ngày, hàng tuần trong vùng đường 9 Nam Lào hay vùng rừng núi Quảng Trị – Thừa Thiên, những lúc nằm im chịu phi pháo địch đánh cầm chừng hoặc cấp tập dội xuống từng đợt, từng đợt, mặc... Những lúc trận đánh lắng xuống, những đợt đơn vị nghỉ xả hơi và củng cố lại sau mùa chiến dịch, những khoảnh khắc thư giãn chờ lệnh cấp trên giữa những buổi họp hành. Nghĩa là khi nào được rỗi rãi, thích thú nhất đối với Nghĩa là bật cái bán dẫn National lên, dí sát vào tai để khỏi làm phiền những người chung quanh, dò dò tìm tìm. Để tâm hồn trầm bổng theo âm nhạc.., nhất là đôi khi Nghĩa bắt được đài tiếng nói Việt Nam phát đi một bản giao hưởng nào đó... Ôi, đấy là những lúc thế giới riêng của Nghĩa trở nên bất khả xâm phạm. Cũng vì thói quen này, đối với Nghĩa quà thưởng của cấp trên, hoặc những thứ nhân dân địa phương tiếp tế cho, không gì quý bằng mấy cục pin. Ba-lô Nghĩa nặng đến mấy, lúc nào cũng phải có vài cục pin Văn Điển dự trữ.


Trong những giây phút như thế, nằm giữa chiến trường, có lúc Nghĩa thả những suy tư của mình bay đi đâu đó, có lúc như đang tâm sự với Nguyệt, vui đùa với hai con mình, nhớ đến bố mẹ, gia đình, những bước đường đời... Đấy là cách Nghĩa cố quên đi những nỗi nhớ thương da diết. Những lần như thế, không hiếm trường hợp anh phải chuốc lấy nhiều điều day dứt hơn, về thân phận biết bao nhiêu con người anh đã giáp mặt giữa sống và chết trong chiến tranh, về đất nước...


... Từng đôi chim bay đi tiếng ca rộn ràng cánh chim xao xuyến gió mùa xuân...


Gửi lời chim yêu thương...


Từ thời còn là học sinh, Nghĩa đã tìm đọc nhiều, hiểu biết nhiều về âm nhạc, say mê tiểu thuyết. Cuộc đời và tình yêu càng dẫn dắt Nghĩa vào thế giới tâm hồn. Có khi cao hứng, Nghĩa thầm hát trong đầu một giai điệu nào đó. Nhưng Nghĩa không bao giờ cầm đến cây đàn hoặc bất kỳ một nhạc cụ nào. Bạn bè hay đồng đội truy hỏi, thường được Nghĩa trả lời:


- Tớ chỉ là kẻ hưởng thụ. Một thế giới tâm hồn như thế không hưởng thụ sao được! - Một nụ cười sau khoé mắt cố thanh minh cho sự đam mê của mình.


      - Ông coi bộ tâm sự với âm nhạc hay nhớ nhà? Thực lòng đi! – một lần chỉ huy trưởng của Nghĩa gạn hỏi như vậy.


      - Cả hai, nhưng lúc này là tâm sự.


      - Với ai?


      - Với mình. Với những người anh em không bao giờ trở về nữa cậu ạ...  Không bao giờ nữa...- Giàu triết lý quá ta. Mở to cái đài lên, cho nghe nhờ một tý - chỉ huy trưởng mắc võng lại sát võng của Nghĩa ngay trước cửa địa đạo. Cả hai đều ngước nhìn lên những tán cây trơ trụi in thẫm trên nền trời, lửa của bom đạn đã làm cho chúng trở thành những bộ xương cháy rụi..


Giây phút ấy xẩy ra vào giờ nghỉ đổi ca trực chiến, khoảng một tuần sau trận tấn công ác liệt kéo dài liên tiếp 3 ngày cuối tháng ba năm 1967 của Mỹ - ngụy vào khu hậu cứ của ta tại vùng A Sao - A Vương, nơi giáp ranh hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Nam. Trận địa trong tuần lễ ấy lặng ngắt như một bãi chết, có lúc nghe rõ cả tiếng cây đổ răng rắc. Hì hục đào bới, tìm kiếm sáu bẩy ngày liền không nghỉ, đơn vị Nghĩa vẫn không sao thu gom đủ thi thể những chiến sỹ đã hy sinh. So với danh sách và quân số thì còn thiếu nhiều quá... Cũng may là trên kịp thời tổ chức ngay nhiều đợt tấn công mới vào các cứ điểm ngoại vi thành Quảng Trị để giảm sức ép cho A Sao – A Vương. Đơn vị Nghĩa được dịp củng cố lại trận địa, nhận thêm quân tiếp viện, rà soát lại bản đồ đánh dấu nơi chôn cất các tử sĩ, kiểm điểm rút kinh nghiệm trận đánh, kiểm tra và huấn luyện các chiến sĩ mới được bổ sung...


Tất bật, thầm lặng...


Trận huyết chiến đó là lần đầu tiên đơn vị Nghĩa được nếm mùi thế nào là ăn miếng trả miếng với chiến thuật “bão lửa” của Mỹ - ngụy.


Đánh trận này vào A Sao – A Vương, Mỹ - ngụy muốn triệt hạ khu căn cứ địa của ta, đồng thời muốn trả đũa cuộc tấn công của ta vào sân bay Đà Nẵng tháng trước. Đó cũng là mục tiêu chính của chiến dịch “Mini Junction City” trải rộng khắp miền Trung. Chiến dịch này được tiến hành đồng thời với chiến dịch Junction City phía Tây bắc Sài Gòn và dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. Vào thời điểm này cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ bắt đầu leo thang ác liệt trên cả hai miền đất nước.


 ... Trước khi xảy ra trận đánh, nhiều tuần liền chất độc da cam đã làm cho khu rừng trú quân của đơn vị Nghĩa trụi lá. Nghĩa hiểu đây là một tín hiệu báo trước, sớm muộn sẽ đụng độ nẩy lửa. Tình báo quân sự cũng dự đoán như vậy. Toàn đơn vị Nghĩa dốc sức chạy thi với thời gian. Ban chỉ huy vắt óc suy nghĩ ăn miếng trả miếng như thế nào để địch không thể nhổ bật ta ra khỏi khu rừng quan trọng này.


Ở thời kỳ chuẩn bị, vũ khí chiến đấu chủ yếu là cuốc xẻng. Toàn đơn vị lao động cật lực, làm tất cả mọi việc để chìm sâu hơn nữa vào lòng đất, sắp đặt trận địa sao cho có thể vô hiệu hoá tối đa ưu thế của giặc về phi pháo.


Không biết đây là cuộc chiến bằng cuốc xẻng lần thứ bao nhiêu. Nhưng lần nào cũng thế, các chiến sĩ trong đơn vị Nghĩa đều cảm thấy cuộc chiến không súng ống này vất vả gấp mấy lần so với lúc xung trận. Mọi người đều hiểu muốn ít thương vong thì phải tốn mồ hôi. Điều khác trước là bây giờ hậu cần sung túc, cho phép làm được nhiều việc mà trước đây chỉ là mơ ước, nhất là nhờ vào mấy cái máy đào đất dã chiến chạy bằng diesel. Nhờ có chúng hỗ trợ, tiến độ công việc nhanh hẳn lên, việc bố trí địa đạo, hoả điểm thuận lợi hơn nhiều.


Điện mật của trên gọn lỏn: “Chốt giữ bằng được A Sao!”


Đơn vị Nghĩa hiểu đấy là nhiệm vụ bảo vệ đến cùng cửa ngõ đi vào khu hậu cứ của ta dọc biên giới Việt - Lào.


Ngày đêm Mỹ cho máy bay trinh sát khuấy động bầu trời khu rừng, tầm bay mỗi ngày một thấp dần. Quân ta vẫn im ắng. Thế rồi đột nhiên B52 từng đợt, từng đợt ném bom rải thảm suốt từ A Lưới đến A Sao. Xen giữa là các đợt hoạt động của trọng pháo đặt trên đường 14. Rồi đến các đợt ném bom na-pam (napalm), bom bi loại 250 kg... Đấy là những loại vũ khí vô cùng lợi hại, buộc quân ta phải lặn sâu hơn nữa vào lòng đồi núi. Toàn trận địa lúc này chỉ còn là một vùng đất đầy khói lửa, loang lổ các hố bom, hố pháo. Sau cùng là các đợt ném bom Daisy Cutter loại bảy tấn rưỡi(*) [(*) Loại bom này có sức công phá rất mạnh, lần đầu tiên Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, lần thứ hai Mỹ bắt đầu dùng loại bom này từ ngày 10 tháng 12 năm 2001, ném xuống địa phương Tora Bara có địa hình hiểm trở ở Đông Afghanistan trong khi truy quét tàn quân Taliban (của Osama Bin Laden).], nhằm tạo mặt bằng cho trực thăng thả các xe tăng và đổ quân.


Lúc này quân ta mới từ dưới đất ngoi lên phản công.


Khi điện đài khu cửa rừng im bặt tín hiệu, tiếng súng của quân ta ở phía này tắt hẳn, Nghĩa xin trung đoàn trưởng cho phép rời vị trí chỉ huy, lấy theo hai trung đội gần đấy, lần theo chiến hào ra quan sát tại chỗ. Tới nơi, trước mặt Nghĩa các chiến sỹ nằm ngổn ngang, nhiều người thân hình nguyên vẹn, nhưng không còn ai sống sót. Trọng pháo và bom áp lực sát thương bằng sức ép đã giết chết họ.


Từ xa, xe tăng của giặc bắt đầu xuất hiện. Được sự yểm trợ chính xác của trọng pháo, chúng dàn hàng ngang ầm ầm gầm rú lao tới như vào chỗ không người. Núp sau xe tăng là lính thuỷ đánh bộ Mỹ và quân ngụy, vừa chạy vừa hò hét. Mọi cỡ súng của giặc xối xả, hỏa lực vượt quá mọi dự tính của ta.


Không còn cách nào khác, chưa kịp giáp mặt địch đã phải thực hiện phương án tác chiến cuối cùng: đánh giáp lá cà!


Nghĩa giao cho các chiến sĩ phụ trách hai khẩu đại liên làm nhiệm vụ yểm trợ, những chiến sỹ còn lại đi gom tất cả B40 trên tuyến này, chọn địa hình và một số công sự cho phép tập trung hai trung đội thành một hoả điểm mạnh nhưng có thể di động được. Tất cả chịu nằm im cho trọng pháo đấm lưng, chờ giặc tiến gần. Khi từng loạt, từng loạt trọng pháo của giặc dọt xuống ngày một xa về phía sau lưng mình, các chiến sĩõ hiểu giờ quyết định đang tới gần.


Hai xe tăng đầu tiên của giặc đi thẳng vào hoả điểm của Nghĩa. Khi chúng lao qua chiến hào cuối cùng, B40 của ta mới đội đất đứng lên phát hoả. Cả hai xe tăng đứng khựng và bốc thành hai đám lửa lớn. Đội hình bộ binh giặc rối loạn, đại liên của ta bắt đầu hoạt động. Giặc lùi lại, nhường chỗ cho trọng pháo dập tới, rồi lại tiến lên. Giữa những khoảnh khắc chỉ được tính bằng giây phút khi giặc tạm lùi lại, hoả điểm của Nghĩa phải rút xuống địa đạo, nhanh chóng di chuyển sang vị trí khác để tránh pháo giặc nện xuống. Một cuộc chạy thi để cướp lấy cái sống... Cứ thế, từng đợt, từng đợt các đơn vị phục kích của Nghĩa lại xông lên giáp lá cà với giặc... Cánh quân của trung đoàn trưởng đánh vào ngang sườn đội hình địch bắt đầu giành lại thế chủ động, chia lửa cho hoả điểm của Nghĩa.


Vật lộn nhau chán chê đến trưa ngày thứ ba, giặc để cho B52 một lần nữa ném bom đào xới đất cát cả khu rừng rồi mới chịu bỏ cuộc. Các chiến sĩ bới địa đạo ngoi lên mặt đất...


Sáng ngày thứ tư, trong lúc Nghĩa đang họp ban chỉ huy tiểu đoàn của mình để rút kinh nghiệm trận đánh và điểm lại lực lượng còn mất thế nào, thì thiếu úy đại đội trưởng đại đội 3 dắt một chiến sĩ trẻ măng đến gặp Nghĩa:


- Báo cáo tiểu đoàn trưởng, đây là binh nhất Nguyễn Đăng Bảo, phạm tội đào ngũ, bị chúng tôi bắt về. Đề nghị xử nghiêm theo quân luật!


- Em không đào ngũ! Báo cáo, em chỉ bỏ trốn thôi ạ!


- Bỏ trốn là đào ngũ! Thế mà còn cãi! – giọng đại đội trưởng gay gắt.


 


- Không, oan cho em quá! Nhất định không phải em đào ngũ!


- Không được cãi. Nghiêm! - đại đội trưởng quát to.


Người chiến sĩ trẻ đứng nghiêm, không dám nói năng gì nữa. Đại đội trưởng báo cáo với Nghĩa việc đơn vị mình đã bắt được Bảo như thế nào ở trong rừng trong lúc đi tìm kiếm thi thể những chiến sỹ đã hy sinh.


Đại đội trưởng vừa dứt lời, Bảo lại kêu ầm lên:


- Không, oan cho em quá các anh ơi! Em không đào ngũ!


Nghĩa không hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao, liền nói với đại đội trưởng:


- Tôi đang bận họp. Anh để Bảo ở lại đây. Đưa cậu ta xuống hầm kia kìa. Dặn cậu ta chờ tôi ở đấy. – tay Nghĩa chỉ vào một cái hầm phụ của ban chỉ huy tiểu đoàn, rồi quay vào họp tiếp.


Gần hai giờ đồng hồ sau, làm xong báo cáo gửi lên trung đoàn, Nghĩa đi lại chỗ Bảo. Thoạt nhìn thấy Nghĩa, Bảo đã vọt ra khỏi hầm, hai tay ôm chặt lấy cánh tay Nghĩa:


- Oan cho em quá! Anh cứu em với, em không đào ngũ!.


- Cậu mấy ngày vắng mặt ở đơn vị rồi?


- Báo cáo, không kể hôm nay ba ngày ạ.


- Nghĩa là ngay lúc giặc bắt đầu đánh? – Nghĩa rất ngạc nhiên.


- Báo cáo, không ạ. Hết loạt bom đầu tiên, đến loạt bom thứ hai em vẫn ở vị trí của mình ạ. Đến loạt bom thứ ba em cũng không chạy, em run lắm những vẫn cố cắn răng xem lại tiểu liên của mình, kiểm tra lại các băng đạn... Nhưng bỗng nhiên có một anh người trần như nhộng, trên lưng là một mảng lửa to tướng vì na-pam, vừa chạy vừa hét, đến chỗ em thì anh ấy ngã lăn ra không chạy được nữa! Cứ vừa quằn quại vừa kêu rống lên! Trời ơi em hãi quá liền bỏ chạy. Được vài chục bước em rơi xuống một cái hố mối to ạ. Thế là em ngồi thụp xuống đấy.


- Suốt cả 3 ngày?


- Vâng. Nhưng em không đào ngũ! Em chỉ quá sợ thôi ạ.


- Nếu tôi không tin thì sao?


- Báo cáo, nếu em định đào ngũ thì từ chiều hôm qua em có thể chạy ra khỏi khu rừng này được một hai chục cây số rồi ạ!


- Sao cậu không chạy?


- Đã bảo em không đào ngũ mà! Nói đến thế mà không hiểu! Em chỉ quá sợ thôi!


- Thế sao chiều hôm qua không về điểm danh?


- Báo cáo... em xấu hổ quá!


- Có ai biết cậu rơi xuống tổ mối đâu mà xấu hổ?


- Nhưng em thì em biết chứ!


Suýt nữa thì Nghĩa bật cười. Nghĩa động viên Bảo tả lại hết nỗi sợ và sự xấu hổ của mình, hỏi thêm về gia cảnh của Bảo. Thì ra anh ta là nhà con một, được bố mẹ chiều như chiều vong, lẽ ra được miễn nhưng vẫn tình nguyện đi bộ đội, vừa mới từ Thái Bình vào. Bảo đã dự một vài trận, nhưng đây là lần đầu tiên Bảo giáp mặt với cái chết thảm khốc như vậy. Ngồi nghe, Nghĩa tái tê, trong lòng gần như thốt lên: Chẳng ai quen được với cái chết!


Nghĩa lấy mảnh giấy ghi mấy chữ đưa cho Bảo:


- Đưa cho đại đội trưởng. Tự phê bình trong tiểu đội đi, không có chuyện bỏ trốn lần thứ hai đâu nhé!


Bảo ôm chầm lấy Nghĩa:


- Em cảm ơn thủ trưởng! Nhất định không có lần thứ hai đâu ạ!


- Bảo ơi, mình yêu cậu lắm! Cố lên nhé! – Nghĩa ôm xiết mãi rồi mới rời người chiến sĩ trẻ.


Trận ấy đơn vị Nghĩa thương vong nhiều. Tiểu đoàn của Nghĩa có 3 trung đội bị xoá sổ hoàn toàn vì không thực hiện được kế hoạch tác chiến bám sát thắt lưng giặc. Suýt nữa cả bộ chỉ huy của đơn vị Nghĩa bị tóm. Sau này nhớ lại, Nghĩa thấy trận chạm trán với giặc trong chiến dịch Lê Lợi năm 1970 cũng tại vùng này không vất vả bằng, có lẽ nhờ kinh nghiệm đánh bại chiến dịch Mini Junction City. Chiến dịch Lê Lợi của giặc quy mô hơn nhiều, nằm trong ý đồ chiến lược giành lại thế chủ động trên toàn chiến trường miền Trung.


Hình như chiến tranh chỉ rèn luyện thêm những phẩm chất vốn có của Nghĩa. Từ con người này và chung quanh anh bao giờ cũng là bầu không khí nhẹ nhàng, là hoà bình – vốn cha mẹ sinh ra tính nói năng nhỏ nhẹ, không hề to tiếng với ai, lúc nào cũng sẵn sàng một ý kiến bình tĩnh, một lời phân tích có đầu có đuôi, đôi khi là một sự nhường nhịn, một lời khuyên giải. Trong những lúc xảy ra việc gay cấn, kể cả những lúc tranh luận căng thẳng đến cực điểm giữa cái sống và cái chết trước trận đánh. Nghĩa luôn giữ được sự điềm đạm trời phú cho. Tuy là nhà binh, con người này hầu như không biết vội vàng. Trong phong cách bẩm sinh ấy, ý kiến của anh đôi khi chứa đựng những ý tưởng quyết liệt, có lúc làm cho các đồng chí của mình trong ban chỉ huy ngỡ ngàng.


- ... Dứt khoát không xuất đầu lộ diện. Chỉ phối hợp với lực lượng cơ sở, mở đường đưa một tiểu đội đặc công đánh thẳng vào bộ chỉ huy chúng nó. Còn lại cả tiểu đoàn chủ lực chỉ ém sẵn chung quanh. Nếu chúng rối loạn, không kịp gọi phi pháo chi viện, thì xông lên san phẳng luôn, rút ngay. Nếu đặc công không đạt mục đích, ta lại chờ. Phải có gan giấu quân cho kỹ và chịu để giặc đấm lưng...


Một lần khác:


- ... Địch càn đi quét lại vùng Gio Linh – Cửa Việt dữ quá, cơ sở mất trắng mấy năm liền không có cách gì gây dựng lại được. Hỗ trợ theo kiểu đánh tỉa không ăn thua. Dồn lực đánh cấp tập từ Khe Sanh, tiến sang tấn công chớp nhoáng vào Đông Hà, sau rút nhanh về đất Lào. Đánh cho địch phải co rúm lại mới giữ được cơ sở... –


Trong cả hai cuộc tranh luận gay gắt này, ý kiến của Nghĩa được chấp nhận.


Hơn một năm sau, không ngờ trận đánh bại chiến dịch Mini Junction City được coi như một khảo nghiệm đầu tiên của chiến dịch hạ thành Quảng Trị.


Phạm Trung Nghĩa là như vậy. Tuổi tác thời gian áp đặt cho mọi người chỉ làm cho ông chậm rãi hơn, ôn tồn hơn.


 


 


Từ ngày về Học viện Nghiên cứu quân sự, người ta thấy Phạm Trung Nghĩa có thói quen mặc quân phục. Đi làm mặc quân phục. Đi họp khu phố mặc quân phục. Đi đưa ma, dự đám cưới, thăm họ hàng... – mùa đông thì bộ quân phục dạ, mùa hè thì bộ quân phục vải, là ủi phẳng phiu, đầu tóc chải nghiêm túc. Lúc nào cũng giày da đen lau chùi sạch sẽ. Trời mưa thì ông đi ủng cao su. Tất cả toát lên một vẻ khoan thai, chỉnh tề. Người cao cao, dáng ông đi hơi khập khiễng do phải mang chân giả. Chân phải ông bị cưa bên dưới đầu gối. Xa xa, dù là nhìn từ phía sau lưng, vẫn có thể dễ dàng nhận ra ông.


Sau hoà bình lập lại, từ ngày có điều lệnh quân nhân phải ăn mặc chính quy lúc làm nhiệm vụ, ông có cái tật thường hay quên đeo quân hàm và nhiều lần bị phê bình về việc này. Ông phân trần: thích quân phục vì nó tiện lợi, nhưng không thích đeo quân hàm vì mỗi lần rời cơ quan, về đến nhà lại mất thời giờ tháo tháo gỡ gỡ, muốn đi làm một việc gì, hay có lúc tạt ra chợ, hoặc giả đi thăm ai đó – nhất là khi ngồi hàn huyên với đám bạn bè cũ, thấy nó bất tiện, rất bất tiện. Nể ông là thương binh 2/4, mọi người bỏ qua chuyện này.


- Chào anh Nghĩa. Về rất đúng hẹn. Hôm nay có việc gì mà đòi gặp tôi sớm thế. Ngồi xuống đây, làm điếu thuốc đã... - thiếu tướng Lê Hải - quyền giám đốc Học viện Nghiên cứu quân sự vừa đưa thuốc lá ra mời, vừa rời bàn làm việc kéo Nghĩa ra chỗ sa-lông.


Thiếu tướng tự tay pha trà. Khách chưa kịp trả lời, thiếu tướng đã nói tiếp:


- Trong những ngày anh đi vắng, tôi đã đọc xong “Báo cáo tổng kết chiến dịch Quảng Trị” của anh. Được lắm.


- Tôi có may mắn là tham gia chiến dịch này từ đầu cho đến khi kết thúc.


- Nhân chứng sống có khác. Công trình nghiên cứu này có phương pháp khoa học, phân tích khách quan, có sức thuyết phục. Có một điều nằm ngoài nội dung của công trình nghiên cứu này...


- Điều gì thế ạ?


- Anh đã làm được việc tổng kết với đúng nghĩa của nó. Cụ thể là không để khoe thành tích, không minh hoạ những quan điểm cho sẵn, mà là để tiếp tục tìm đường tiến lên phía trước.


- Có lẽ chỉ vì tôi có điều kiện kiểm nghiệm bằng người thực việc thực. Nói thấp chỗ này một chút là đánh giá thấp cơ hội, quá tự tô vẽ mình. Nói quá chỗ kia một chút là trong tương lai sẽ phải trả giá thêm nhiều sinh mạng, nhiều tổn thất.


- Đúng thế. Nói đơn giản, anh có tư cách làm công việc tổng kết.


- Tôi chỉ cố gắng làm công việc chắt lọc thôi ạ.


- Tôi phải cảm ơn anh là đã không làm công việc biên tập lại các tư liệu và không sáng tạo lịch sử.


- Thưa anh, làm ra lịch sử là sự nghiệp của nhân dân, đâu phải của ngòi bút ạ.


- Đọc tổng kết của anh, tôi thích nhất điều này... Anh cất hết các tư liệu gốc vào chỗ cũ rồi chứ?


- Báo cáo, rồi ạ. Tôi đã niêm phong lại các két sắt và lập hồ sơ trao trả đầy đủ cho lưu trữ.


- Tốt lắm. Anh có thời giờ đi được nhiều nơi trong ấy không?


- Dạ, tôi chỉ loanh quanh ở Sài Gòn.


- Thua tôi rồi. Tôi vào trước anh một tháng, cũng chỉ có 4 ngày như anh. Thế mà tôi dành được trọn vẹn một ngày ở Cần Giờ.


- Anh may hơn tôi là gặp được má Sáu và đông đủ gia đình các anh của chị Thạnh. Tôi không gặp được một ai trong họ hàng ruột thịt của mình.


- Tôi già mất rồi, không còn nước mắt để khóc... Nhưng thôi, không nhắc lại chuyện cũ nữa. Bây giờ tôi muốn được nghe chuyện của anh.


- Thưa thiếu tướng...


- Ông nội ơi, sao bỗng dưng trịnh trọng? Có cái giọng này từ bao giờ thế?


- Vâng, thưa đồng chí thiếu tướng, trước hết xin rất cảm ơn đồng chí. Không có bức thư giới thiệu của đồng chí với Ban Quân quản thành phố, chuyến đi Sài Gòn của tôi chắc sẽ công cốc. Tôi mới về tối hôm qua... – Nghĩa cầm tách chè lên, cố giấu sự lưỡng lự.


- Anh nói tiếp đi!


- Có việc quan trọng đối với gia đình, nên hôm nay tôi xin đến báo cáo ngay với đồng chí.


- Lại còn thế nữa? Học viện của chúng ta toàn công việc nghiên cứu dài hạn, có gì mà gấp gáp như vậy?


Trung tá Nghĩa chủ động rót nước đưa cho tướng Lê Hải. Ông muốn chuẩn bị cho thiếu tướng sự bình tĩnh cần thiết để nghe mình trình bày.


Sự việc là nhờ bức thư của tướng Lê Hải, sau 3 tháng liên hệ các nơi và nhờ được một số bạn bè trong Ban Quân quản thành phố giúp đỡ, cách đây bốn hôm trung tá Nghĩa xin đi ké máy bay quân sự vào Sài Gòn, mới trở về Hà Nội tối hôm qua. Trung tá đã tìm được địa chỉ em trai mình: Phạm Trung Lễ, đại tá quân đội nguỵ, hiện đang cải tạo ở trại B7. Ban Quân quản thành phố giúp đỡ Nghĩa liên hệ với Ban chỉ huy B7 qua điện thoại. Cán bộ trực ban của trại cho Nghĩa biết: Lễ đã tự khai báo với chính quyền và là một trong những người đầu tiên vào trại, thái độ học tập tỏ ra nghiêm chỉnh. Nghĩa định tới trại tìm em, nhưng người trực ban cho biết lúc này đang thời gian các trại viên học tập và tự khai báo, không ai được vào thăm, trừ khi có chỉ thị đặc biệt của trên. Ban Quân quản thành phố cũng khuyên Nghĩa nên chờ thêm cho qua đợt học tập đặc biệt này, chắc không lâu đâu...


Trại cải tạo B7 dành cho các sĩ quan ngụy cấp tá. Cơ sở của trại cải tạo B7 vốn là trường huấn luyện hạ sĩ quan ngụy, tại Bảo Lộc.


Nghĩa kết thúc phần trình bày của mình:


- Anh Hải ạ, họ hàng thân thiết của tôi trong Nam hiện nay còn một số người. Gia đình lớn của chúng tôi ở Hà Nội bị xé lẻ ngay từ ngày Nam Bộ kháng chiến. Bố mẹ tôi đã mất liên lạc với hai đứa em sau tôi là Phạm Trung Lễ và Phạm Thị Thu Hoài ngay từ hồi đó. Tất cả những điều này tôi đã khai rõ trong lý lịch quân nhân và lý lịch đảng viên. Bây giờ sau hơn ba mươi năm, tôi mới có những tin tức đầu tiên về hai em mình...


Tuy là người từng trải, nhưng khuôn mặt thiếu tướng cũng không giấu nổi sự đăm chiêu của những suy tư đang lướt đi rất nhanh trong tâm trí. Ông hình dung được cảnh ngộ éo le của Nghĩa, cũng như ông đã từng cảm thông nhiều hoàn cảnh khác trong đồng chí đồng đội của mình. Cuộc chiến tranh này thật ác nghiệt và có nhiều điều vô cùng trớ trêu. Cùng một cha mẹ sinh ra, hai anh em, hai trận tuyến đối đầu quyết liệt...


Mãi một lúc sau ông mới hỏi Nghĩa:


- Anh định sẽ làm gì?


- Thiếu tướng tin vào sự trình bày của tôi chứ?


- Anh Nghĩa, sao bỗng dưng lại hỏi thế?


- Đồng chí đang tránh câu trả lời.


- Không phải như vậy. Có gì mà tin hay không tin?


- Ý tôi muốn hỏi anh có tin vào những điều tôi đã khai trong lý lịch không ạ?


- Sao lại không? Nhưng anh đặt ra câu hỏi này để làm gì?


- Để xin anh anh hai việc: Thứ nhất, đề nghị thiếu tướng giúp tôi đến thăm em trai tôi trong trại cải tạo. Nếu được, tôi xin đi ngay trong tháng này. Mẹ tôi chắc sẽ mừng lắm, cụ bây giờ ngày một yếu đi. Việc thứ hai: tôi xin được giải ngũ.


Thiếu tướng quá bất ngờ trước đề nghị thứ hai của Nghĩa. Một quân nhân cách mạng, mấy chục năm tuổi quân, chiến công đầy người, một đảng viên kiên cường.., đột nhiên xin giải ngũ? Mãi thiếu tướng mới trả lời nhát gừng, có những câu bỏ lửng, gần như ông đang nói với chính mình:


- Thu xếp cho đi gặp em trai trong trại cải tạo? ... Được... Có thể nhờ làm được. Trong tháng này, tức là còn 10 ngày... Tạm đủ thời gian... Quyết ngay được... Giải ngũ? Sao lại xin giải ngũ? Tôi bất ngờ quá. Anh nói rõ hơn nữa xem nào.


- Thực lòng không phải vì tư tưởng nghỉ ngơi. Tôi muốn có nhiều thời giờ chăm sóc mẹ già và bù đắp những tổn thất của gia đình mình. Chiến tranh kết thúc rồi, tôi khao khát hàn gắn vết thương chiến tranh ngay trong gia đình mình. Anh có hình dung được không, một gia đình ba thế hệ, bị một chiến tuyến đẫm máu xé đôi...


- Cả nước ta bị đẩy vào hoàn cảnh như vậy...


- Vâng ạ. Nhưng sức chịu đựng của tôi có hạn. Tôi không có gì khao khát hơn là làm cho gia đình tôi đoàn tụ lại. Tôi đã nhiều lần nhìn thấy mẹ tôi khóc thầm một mình như thế nào... Tôi vừa mong mỏi, vừa cảm thấy mình bây giờ có quyền dành mọi tâm trí làm dịu nỗi đau của mẹ tôi!


- Tôi hiểu... Thế còn nghĩa vụ người đảng viên, nghĩa vụ một quân nhân?


- Tôi đã cân nhắc rồi anh ạ. Hơn nữa gia cảnh tôi như vậy mà lại làm việc tại Viện ta? Trước sau chắc sẽ khó tránh được điều này điều khác phiền toái. Rồi anh xem, kinh nghiệm bản thân đấy. Tôi tự nguyện tránh những điều phiền toái ấy trước khi xảy ra. Ngoài những điều vừa trình bày với anh, tôi không có lý do nào khác.


- Tôi khâm phục sự thẳng thắn của anh. – tướng Lê Hải lưỡng lự. - Nhưng bây giờ chưa thể nói gì. Tôi sẽ giúp anh đi Sài Gòn chuyến nữa, rồi về tính sau. Được không? Tôi thấy...


- Vâng. Xin cảm ơn anh. - Nghĩa cắt ngang lời thiếu tướng, đột ngột đứng dậy bắt tay và cáo lui.


Tướng Lê Hải ngơ ngác. Ông đoán Nghĩa muốn dồn mình sớm quyết định.


Nghĩa đã ra khuất sau cửa rồi, thiếu tướng vẫn đứng sững nhìn theo.


Một cử chỉ kỳ lạ mình chưa hề thấy ở con người điềm đạm này...


Dụi tắt điếu thuốc đã cháy gần hết, thiếu tướng đi đi lại lại giữa phòng làm việc.


... Xưa nay Nghĩa vốn là người điềm đạm, bình tĩnh... - Thiếu tướng cố hình dung lại câu chuyện. Xin đi gặp em ngay, cả em gái anh ta nữa.., còn nhiều người thân khác sống ở Mỹ... Tất cả những điều này mình thông cảm được. Nhưng xin giải ngũ? Nghĩa sợ mình hỏi han dài dòng nên rút lui ngay?...


... Tránh những điều phiền toái trước khi chúng có thể xảy ra! Mình hiểu chứ, hiểu cách suy nghĩ này của Nghĩa. Một cơ quan có nhiều chuyện cơ mật, họ hàng ruột thịt như thế, hiển nhiên là bất tiện rồi. Nhưng Nghĩa có chọn được họ hàng ruột thịt của mình đâu, hơn nữa đã từng suốt đời đứng trong quân ngũ cho đến nay! Không ít người có công lao chức tước thì quay ra đòi đãi ngộ, tư tưởng công thần từ chân đến tóc. Nhưng anh chàng này lại xin giải ngũ. Lời cầu xin của một người có nhân cách?.


Châm điếu thuốc mới, thiếu tướng tự nêu ra cho mình những câu hỏi khác. Ông biết Nghĩa hơn chục năm nay, đã từng là cấp trên trực tiếp của Nghĩa tại mặt trận miền Trung, rồi cấp trên cao hơn nữa của Nghĩa. Ông hơn Nghĩa đúng một giáp, nên cũng có thể coi Nghĩa vừa là bạn chiến đấu, vừa là bạn vong niên... Càng hiểu con người này, Lê Hải càng không thể chấp thuận đề nghị giải ngũ. Giữa ông và Nghĩa có nhiều điều rất hợp nhau, bổ sung cho nhau. Chỉ có hành trình cuộc đời quân ngũ của hai người trong kháng chiến chống Mỹ là trái chiều nhau. Ông từ Nam đi dần dần ra Bắc, còn Nghĩa từ Bắc vào Nam.


 


Ông Lê Hải đi từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp trong đoàn quân Nam tiến - hành quân từ chiến khu Thái Nguyên về Hà Nội tham gia Tổng khởi nghĩa, rồi đi thẳng vào tận Nam Bộ. Thử thách lớn đầu tiên đối với ông là tổ chức du kích ngay trong nội thành Sài Gòn.


Đây là một vị tướng của một quân đội cách mạng, bắt đầu binh nghiệp từ một chiến sĩ chân đất trên núi rừng Việt Bắc. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) 1954 ông tình nguyện không tập kết. Cuộc vũ trang chiến đấu chống Mỹ - ngụy ở miền Nam càng phát triển, ông càng được điều dần lên phía Bắc để phục vụ yêu cầu nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm, phát triển quy mô kháng chiến. Nhờ vào nghị lực kiên trì và khả năng học hỏi phi thường, ông sớm trở thành một người chỉ huy giỏi. Đặc biệt là nhờ có kinh nghiệm tổ chức chiến đấu, sự dày dạn trong mọi hình thái chiến tranh qua các thời kỳ khác nhau, dần dần ông trở thành một nhà quân sự nổi tiếng cả vùng. Vào những năm từ 1966 trở đi, cục diện quân sự cho phép tính đến khả năng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào thời kỳ quyết định. Năm 1969 ông được lệnh rời chiến trường miền Trung về tăng cường cho Học viện Nghiên cứu quân sự. Ông trở về Hà Nội, nơi trước đó một phần tư thế kỷ ông đã ra đi.


Vì đã từng chỉ huy nhiều năm chiến trường miền Trung, ông Lê Hải biết khá rõ về Nghĩa. Chính ông là người trực tiếp xin thiếu tá thương binh Phạm Trung Nghĩa từ Quân y viện 108 về đơn vị mình, đưa lên quân hàm trung tá.


Là người từng trải những đau thương của chính bản thân mình, ông Lê Hải vừa nhạy cảm, vừa có cái nhìn riêng sâu sắc về cuộc sống và con người. Sinh ra từ một gia đình nông dân vùng thuốc lào Vĩnh Bảo, cố gắng tột bực của gia đình là lo cho ông học xong trường làng, hồi đó chỉ có đến lớp 3 (cour élémentaire)... Đường đời của ông đến đây đi vào ngõ cụt đầu tiên. Bố mẹ ông sinh hạ bảy người con, nhưng chỉ có bốn sống sót, ông là con trưởng. Gia sản chưa đầy một sào ruộng trồng thuốc lào và mấy miếng đất thổ cư do tổ tiên để lại, nhưng với sáu miệng ăn mẹ ông dù tần tảo đến mấy, quanh năm giật gấu vá vai mà vẫn không xong.


Tròn 17 tuổi, người thanh niên nông dân Lê Đình Hải xin phép bố mẹ ra Cẩm Phả làm phu đào than, nhờ chú ruột ông ngoài ấy là thợ đi lò giúp đỡ. Bố mẹ ông chấp thuận, nhưng với điều kiện trước khi đi ông phải lấy vợ để có người đỡ đần cha mẹ. Cô Tấm, người con gái xóm trên, trở thành con dâu cả họ Lê. Cô hơn chồng hai tuổi. Lê Đình Hải ra mỏ đúng vào lúc phu than ngoài Cẩm Phả nổi dậy đấu tranh đòi tăng lương. Vào thời điểm này chính phủ xã hội của Léon Blum ở Pháp đổ, bọn thực dân ở Việt Nam thẳng tay đàn áp công nhân. Một số công nhân mỏ bị bắn chết, một số bị bắt đi tù vì bị tình nghi là cộng sản, trong đó có người chú ruột của Lê Đình Hải. Rất may Hải được mấy người bạn của chú cưu mang. Hai năm sau vụ đàn áp đẫm máu, năm 1939, ông chú và mấy người cùng bị bắt được tha vì không đủ chứng cớ. Ông chú quay về Cẩm Phả, bảo ông bỏ nghề đi mỏ, về quê chào gia đình, rồi cả hai đi biệt tăm...


Ông đã tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng Tám. Hai tháng sau, ông về chào gia đình để gia nhập đội quân Nam tiến, với cái tên mới là Lê Hải. Lúc này Sơn, đứa con trai đầu lòng đã năm tuổi... Kẻ ở người đi đều không hay biết đấy cũng là lần vĩnh biệt không hẹn trước. Cả gia đình ông và một số khá đông người trong làng bị giặc Pháp sát hại trong trận càn năm 1950. Giặc Pháp cho rằng làng này là nơi quân ta xuất phát tấn công sân bay Cát Bi. Ông biết tin này khi hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) 1954 được ký kết, và đấy là một trong những lý do khiến ông khăng khăng xin ở lại không tập kết. Cuộc đời ông đi vào một thời kỳ chiến đấu mới ác liệt gấp bội...


Mình hiểu rất rõ con người này... - tướng Lê Hải ngẫm nghĩ. Gia đình Nghĩa ở Hà Nội mình biết như trong lòng bàn tay. Phần họ hàng ruột thịt trong Nam Nghĩa ghi tỷ mỷ trong lý lịch, điều này mình nắm chắc. Gần ba mươi năm tuổi quân, đi từ chiến trường giải phóng Nghĩa Lộ, Sơn La, Lai Châu rồi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, cùng đơn vị hành quân vào mặt trận miền Trung từ 1966... Thế nhưng tại sao bây giờ lại xin giải ngũ? Cái gì nằm trong đầu người sĩ quan từng trải và được nhiều người mến mộ này?.. Hay là có điều gì khiến anh ta phải tự đặt vấn đề như vậy? Một quyết định của người từng trải? Một cú sốc lớn về tinh thần?


... Mới cách đây khoảng bốn năm, nhà giáo nhân dân Phạm Trung Tuyên, cha của Phạm Trung Nghĩa, cùng với vợ chồng người con trai út Phạm Trung Minh và đứa cháu nội lên ba tuổi bị trận bom B52 huỷ diệt phố Khâm Thiên giết chết. Đúng vào hôm vợ chồng Minh tổ chức sinh nhật cho con trai, một tuần sau khi gia đình lớn của nhà giáo Phạm Trung Tuyên tổ chức ăn mừng cụ thượng thọ 70. Lúc này cụ Tuyên bà tuổi ta là 67.


Trong trận bom hôm ấy, cụ Tuyên bà bị hơi bom hất vào bên dưới gầm cầu thang, rất may là được tự vệ phố moi lên kịp thời nên cứu được.


Phạm Trung Minh là nhà vật lý trẻ đang có nhiều triển vọng. Minh tham gia nhóm công tác đặc biệt của của Viện khoa học Vật Lý. Sau hơn một năm trời nghiên cứu, nhóm của Minh lặn lội khu vực cảng Hải Phòng mấy tháng ròng không nghỉ, áp dụng những sáng kiến kỹ thuật về kích nổ bằng ứng dụng những công nghệ sử dụng vi sóng, sóng từ... để phá thuỷ lôi và bom nổ chậm. Công lao của cỗ máy tính điện tử J2 duy nhất của Viện do Liên Xô giúp thật đáng ghi nhớ. Nhờ nó việc giải những bài toán, những phương trình đặt ra cho việc thiết kế các công nghệ kích nổ tiết kiệm rất nhiều thời gian và cho phép đi tới ba, bốn phương án tối ưu để lựa chọn. Việc phá thuỷ lôi và bom nổ chậm vừa kịp thời, vừa đạt hiệu quả cao làm cho Mỹ bất ngờ. Một vài tạp chí quân sự nước ngoài xôn xao về việc này. Nhóm của Minh được trên thưởng cho mười ngày nghỉ phép. Thế rồi cuộc ném bom huỷ diệt ập xuống. Lúc này Minh vừa tròn 30 tuổi, giữa lúc đang ôm mộng trở thành nhà vật lý hạt nhân. Minh đã có tên trong danh sách được cử đi nghiên cứu ở Viện Đúp-na.


Tuy đang thời sơ tán, nhưng nhân dân đi đưa đám cụ Phạm Trung Tuyên và gia đình Minh đông lắm, trong đó có nhiều thế hệ học trò của cụ. Mọi người còn nhớ thầy giáo Phạm Trung Tuyên là một trong những người có công lớn xây dựng nền trung học phổ thông của Liên khu Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp. Về dậy học ở Hà Nội sau hoà bình 1954, cụ hai lần được Bộ Giáo dục khen thưởng, một lần là chiến sĩ thi đua toàn quốc, trước khi nghỉ hưu cụ được tặng Huân chương Lao động hạng nhất...


Đúng vào lúc B52 Mỹ ném bom rải thảm xuống phố Khâm Thiên, Phạm Trung Nghĩa vừa mới bị cưa ống chân phải, sau lần mổ thứ tư không thành công tại trạm quân y trong rừng Lao Bảo. Trung đoàn của Nghĩa thuộc cánh quân đầu tiên tham gia hạ thành Quảng Trị và sau này cũng là trung đoàn chốt giữ nội thành đến giờ phút cuối cùng.


Cuộc tiến công vũ bão hạ thành Quảng Trị rất quyết liệt. Sau 40 ngày chiến đấu, các sư đoàn của quân ta đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự của giặc từ Cửa Việt đến Hải Lăng. Mỹ ngụy đã từng gọi hệ thống phòng ngự này cái lá chắn thép bảo vệ toàn bộ Cộng hòa Việt Nam. Lúc này là giai đoạn cao điểm của thời kỳ Mỹ hoá cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và là thời kỳ không quân Mỹ đánh phá dã man nhất trong chiến tranh phá hoại miền Bắc.


Ngày 2 tháng 5 quân ta hoàn toàn giải phóng tỉnh Quảng Trị. Tư lệnh trưởng quân khu I chạy thoát nhưng sau đó bị cách chức. Sài Gòn phải điều tư lệnh trưởng quân khu 4 là tướng Ngô Quang Trưởng lên thay.


Sau này, ai cũng biết khối lượng bom đạn Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam gấp hai lần chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhưng mật độ bom đạn trong khu vực nội thành Quảng Trị có lẽ là cao nhất trong toàn bộ lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ. Yếu tố bất ngờ qua đi, trong khi đó các mũi tiến công tiếp theo của ta tiến sâu vào Thừa Thiên Huế bị chặn lại. Mỹ ngụy có đủ thời giờ huy động tổng lực phản công chiếm lại Quảng Trị. Việc chốt giữ thành gian khổ và đẫm máu gấp bội so với lúc hạ thành. Ta và giặc giành giật nhau từng thước đất trong nội thành dưới bom đạn ác liệt.


Có trận đánh ban đêm trong nội thành mới được vài giờ, trung đoàn của Nghĩa hy sinh gần hai đại đội. Nửa đêm phải đưa quân mới vào bổ sung. Nhưng chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau đó, lực lượng bổ sung cho đơn vị Nghĩa lại hy sinh gần hết. Những trận đánh đẫm máu như thế diễn đi diễn lại nhiều lần. Ban chỉ huy trung đoàn của Nghĩa cũng chỉ còn lại một mình Nghĩa! Ngày đêm các loạt mưa bom của B52 và trọng pháo giặc từ các cao điểm phía Nam nội thành giặc chiếm lại được đã biến trận địa thành một cái cối xay thịt. Nghĩa ghi trong nhật ký chiến đấu của mình: Ngày 28 tháng sáu không quên... Đó cũng là ngày lực lượng chốt thành được lệnh rút khỏi nội thành.


Đến ngày thứ 116 kể từ thời điểm hạ thành, đơn vị Nghĩa rút về vành đai cuối cùng bao vây nội thành ở phía Bắc Thạch Hãn. Một quả đạn pháo giặc nổ sát ngay công sự chỉ huy của trung đoàn, người và đất cát chung quanh Nghĩa bị tung lên. Thiếu tá trung đoàn trưởng Phạm Trung Nghĩa chỉ còn là một cái xác thoi thóp. Đồng đội chung quanh kéo lê Nghĩa dưới chiến hào lui ra phía sau, rồi chọn một người khoẻ nhất cõng anh chạy tiếp dưới bom đạn về phía hậu tuyến. Số còn lại phải quay về vị trí chiến đấu, vì lực lượng ta ngày càng mỏng.


Không biết phải cõng Nghĩa chạy như thế trong bao nhiêu lâu, khi giao được Nghĩa cho trạm cứu thương đầu tiên, người chiến sĩ cõng Nghĩa nhét vội vào túi áo ngực của Nghĩa một thứ gì đó rồi chạy trở lại. Lúc này Nghĩa hoàn toàn bị điếc, cả chân phải chỉ thấy những cục máu đen sẫm bám vào những mảnh thịt như bị các thanh nứa cứa nát, bàn chân phải không còn nữa. Nghĩa ngất đi nhiều lần vì đau và mất nhiều máu.


Thiếu tá Phạm Trung Nghĩa là người duy nhất còn sống của trung đoàn mình ban đầu khi ra quân.


Đầu tháng 9 năm 1972, quân ta rút khỏi Quảng Trị.


Khi chuyển được Nghĩa ra tới Quân y viện 108 cuối tháng giêng năm 1973, lúc đó người ta mới cho Nghĩa biết tin bố và gia đình em út bị B52 giết chết. Thiếu tá thương binh Phạm Trung Nghĩa chịu đựng những mất mát lớn lao này với tất cả nghị lực của một chiến sĩ đã không biết bao nhiêu lần đối mặt với cái chết. Nghĩa có người anh cả, Phạm Trung Chính, kỹ sư xây dựng giao thông nổi tiếng, tác giả của biết bao nhiêu loại cầu ngầm, đường ngầm, cầu treo, đường ống dẫn dầu..., được ứng dụng trên tuyến đường Hồ Chí Minh.


Sinh ra và lớn lên trong một gia đình như thế, một chiến sĩ, một sĩ quan như thế... bây giờ xin giải ngũ? Thiếu tướng Lê Hải đi đi lại lại trong phòng, tự hỏi, tự trả lời. Đến điếu thuốc thứ ba, cuộc đối thoại với chính mình vẫn tiếp diễn...


 


 


Sau bữa cơm tối ở nhà ngày hôm ấy, Nghĩa lấy cái Babetta – xe máy tiêu chuẩn nhà nước cấp cho thương binh cấp tá, đi đến nhà anh trai Phạm Trung Chính ở phố Hai Bà Trưng. Nghe tiếng xe máy quen thuộc, hai con của Chính nhao ra:


- Bà ơi, chú Nghĩa đến. Chú Nghĩa. Cháu chào chú ạ...


- Cháu chào chú ạ.


- Chào hai cháu. Nhà ăn cơm chưa?


- Rồi ạ, mẹ cháu đang rửa bát. – Loan, đứa cháu gái lanh chanh, hai tay bíu lấy cánh tay Nghĩa. Nam, đứa cháu trai dắt xe cho chú.


- Con gái lớn thế này mà để mẹ rửa bát à?


- Mẹ cháu chỉ phân công cháu xếp hàng mua rau và thổi cơm chiều thôi ạ. Chắc mẹ cháu muốn cháu trở thành kỹ sư cấp dưỡng.


- Sinh viên con gái biết làm bếp giỏi, sau này chồng con được nhờ. Nhưng đừng bắt chước em Mai nhà chú. Nó vừa để mất cả ba tháng tem phiếu đấy, không biết là đánh rơi hay bị mất cắp.


- Thôi chết, thế lấy cái gì mà ăn hả chú?


- Thím Nguyệt sẽ phải chia khẩu phần mọi người nhỏ đi!


- Chú đừng lo, ở nhà cháu tem phiếu mẹ cháu quản hết. Nhưng anh Nam cháu lại được mẹ cháu ưu tiên không phải làm gì. Anh ấy còn có biết bao nhiêu thời giờ để vẽ. Con gái bao giờ cũng thiệt.


- Chú đừng nghe cái Loan. Mẹ cháu chỉ ưu tiên cho cháu học kỳ này thôi ạ. Nhưng ngày nào cháu cũng dán tương trợ cho em Loan cháu 10 hộp các-tông.


- Anh đã bảo là tương trợ thì không tính kia mà. Chú ơi, mẹ cháu lúc nào cũng bênh ông hoạ sỹ vô danh này chằm chặp.


- Chú xem, em Loan lúc nào cũng tức vì không biết vẽ như cháu.


- Chú Nghĩa ơi, Phạm Trung Picasso, hay Phạm Trung Van Gogh, đặt tên cho anh cháu như thế nào là hợp ạ?


- Ê, ê. Đấy là hai hoạ sĩ thuộc hai trường phái hoàn toàn khác nhau, thế mà lại đem gán vào cho một mình anh thì đúng là em không bao giờ học vẽ được! – Tuy vẫn phải một tay dắt xe cho chú Nghĩa, Nam vẫn lấy tay khác quệt lên má Loan một quệt dài.


- Thôi thôi, chú không dại gì dây vào chuyện của hai anh em cháu. Mậu dịch hồi này có giao đều gia công dán hộp cho nhà mình không?


- Hồi này thất thường lắm chú ạ. – Loan không để anh trả lời.


- Nam thi tốt nghiệp năm nay phải không cháu?


- Vâng ạ...


- Mẹ là bác sĩ, con sẽ đậu thủ khoa chứ?


- Cháu không dám mơ. Nhưng bác sĩ quân y thời bình chắc không có cơ hội chứng tỏ sự dũng cảm của mình như chú đâu ạ.


- Ví dụ bằng cách nào?


- Ví dụ như... băng bó chân cho chú ngoài chiến trường.


- A, chàng trai này bẻm mép.


Nghĩa bước vào đến nhà mọi người đã có mặt đông đủ ở phòng khách. Ai cũng nóng lòng về cuộc đến thăm này.


- Con chào mợ. Em chào anh chị. - Nghĩa vừa chào vừa chạy lại phía mẹ.


- Mong con suốt cả ngày hôm nay. – bà cụ giơ hai tay khẳng khiu ôm lấy Nghĩa. Cụ vừa đi vừa dựa vào Nghĩa - Ngồi xuống đây con. Mợ biết con về tối qua, Chính đã kể sơ sơ. Con kể đi. Ai còn sống? Ai chết? Khổ thân cho cháu Mạnh. Biết những gì kể đi. Có đúng Lễ và Hoài còn sống không? Chú thím Học đi Mỹ thật rồi à? Những mất mát trong gia đình chúng ta lớn quá. Bây giờ thêm sự chia ly... Mỗi người một phương...


- Sau khi nói chuyện điện thoại với em tối hôm qua, sáng nay anh đã kể với mợ. - Ông Chính xen vào, vừa nói vừa pha chè, rồi loay hoay đẩy các chồng hộp các-tông gia công cho mậu dịch sang một bên để kiếm chỗ kê cái quạt. Tiếng cánh quạt tai voi kêu vè vè... Cụ Tuyên bà xoay người né sang một bên vì không chịu được gió.


- Như thế là anh Chính đã kể cho mợ nghe hết rồi đấy ạ. Máy bay cất cánh chậm mất hai tiếng, mãi đến tám giờ tối hôm qua con mới tới Nội Bài. Về đến nhà khá muộn, con đành chỉ gọi điện thoại cho anh Chính thôi ạ. - Nghĩa quay ra nhận tách nước ông Chính đưa cho - Sáng nay em đã báo cáo với Học viện rồi. Có lẽ chỉ khoảng một hai tuần sau em lại bay vào trong ấy, anh Lê Hải đồng ý giúp rồi anh Chính ạ. Lễ còn sống, Hoài còn sống. Chắc chắn như vậy mợ ạ. Nhưng con chưa gặp được ai cả. Vào lần sau, nếu lại đi nhờ được máy bay quân sự thì đỡ mất tiền vé. Không nhờ được thì chạy tiền mua vé hàng không dân dụng. Chỉ có điều các chuyến bay của hàng không dân dụng thất thường lắm.


- Lễ và Hoài còn sống sao con không cố tìm đến chỗ các em? Trời ơi mấy chục năm nay rồi...


- Con muốn lắm mợ ạ. Lễ đang ở trại cải tạo, khá xa thành phố. Ban Quân quản cho con địa chỉ rồi, con đã liên hệ được với trại cải tạo bằng điện thoại. Nhưng ban chỉ huy trại cho biết tất cả sĩ quan nguỵ lúc này chưa được phép tiếp xúc với người nhà - vì đang là thời gian học tập để tự khai báo.


- Lễ làm gì mà phải vào trại cải tạo hả con? Có sớm được ra không?


- Đại tá ngụy mẹ ạ, đại tá lục quân, nghe đâu những năm gần đây làm việc gì đó trong Bộ Quốc phòng hay trong Bộ Tổng tham mưu của quân đội ngụy.


Ngoài ông Chính ra, cả nhà ngơ ngác. Bà Hương – vợ ông Chính, Loan và Nam ngồi im kiên nhẫn chờ đợi nghe tiếp. Cụ Tuyên bà hai tay run run bám vào vai ông Nghĩa:


- Chết, nó làm to như thế cho Mỹ ngụy liệu có phải tù lâu không con? Nếu có nợ máu nữa thì sao? Cả nhà mình ngoài này theo cách mạng... Chắc nhà mình trong đó còn nhiều người khác làm cho Mỹ nguỵ. Ông trời sao mà tai ác thế.


- Có khi quân chú Nghĩa và quân chú Lễ đã bắn nhau tơi bời trong trận nào đó rồi cũng nên. – Nam nói chen vào lời than vãn của bà nội.


- Trời ơi là trời! – cụ Tuyên bà rú lên, hai tay ôm chặt lấy ngực, đầu gục xuống.


Bà Hương và ông Chính vội lao thẳng đến chỗ cụ. Bà ngoái lại mắng con:


- Nam, sao con nói năng linh tinh thế!


- Chết, cháu xin lỗi bà ạ. Con xin lỗi cả nhà ạ!..


- Mợ, cháu Nam tưởng tượng ra như vậy thôi, mọi chuyện đã qua rồi. Làm gì có chuyện chúng con bắn nhau bây giờ nữa ạ!


- Ông Nghĩa cố tìm cách làm cho câu chuyện nhẹ nhõm đi, nhưng chính ông cũng thấy lòng mình thắt lại. – Để con kể tiếp mợ nghe. Đúng như anh Chính nói, ngày xưa chú Học làm cho chi nhánh nhà in IDEO (Imprimerie d’Extrême Orient) của Pháp ở Sài Gòn, con nhớ lời dặn này nên mới lần ra đầu mối. Con nhờ một anh bạn trong Ban Quân quản Sài Gòn tìm tòi trong giới kinh doanh ngành in xem có tăm tích gì không. Lục lọi mãi, họ thấy chủ nhà in Ánh Sáng có tên là Phạm Trung Học... Anh ấy đoán đấy có thể là người chúng ta định tìm nên tìm thêm cho con một vài điều về nhà in này. Vào tới Sài Gòn, trước tiên con tìm địa chỉ mợ và anh Chính dặn. Hỏi thăm mãi mới biết tên phố mới do chính quyền ngụy đặt là đường Phát Diệm. Đến nơi, chủ nhà cho biết: ngày xưa có Ông Phạm Trung Học ở đây, không biết là Học nào, nhưng chuyển đi nơi khác lâu lắm rồi. Sau đó con mới tìm đến địa chỉ ông chủ nhà in Ánh Sáng, ở phố Gia Long... Sài Gòn rộng quá, loay hoay mãi mới tìm được cái xích lô. Đến nơi, trời đã gần tối. Nhà riêng của ông chủ nhà in này khá to và đẹp. Con sợ đây có thể là một ông Học khác. ...Thiếu gì người trùng cả tên lẫn họ, nhưng đã cất công vào đến đây chẳng nhẽ về không. Con phân vân quá, cứ đứng mãi trên vỉa hè. Bấm chuông mấy lần mới có một ông đã khá cao tuổi ra mở cổng. Đó là ông quản gia. Trong nhà chỉ còn lại mỗi gia đình ông này. Hỏi ướm con đủ mọi chuyện, biết con là cháu chú Học, họ giữ con ở lại ăn cơm. Con nhận lời để muốn nghe thật nhiều chuyện. Càng hỏi ra, càng đúng là chú Học nhà mình thật mợ ạ. Con trả lời trôi chảy nhiều câu của ông già để gợi chuyện. Hoá ra ông quản gia biết cậu là nhà giáo, nói rõ tên họ cậu mợ, chú Tuấn, chú Phương, tên anh Chính, tên con, và em Minh, biết tên một số các cô các chú khác nữa ngoài này. Nhưng ông ấy không biết chú Tuấn, chú Phương đã hy sinh, không biết cậu và gia đình em Minh bị bom Mỹ giết chết, mà con cũng chưa muốn kể vội. Như thế chứng tỏ chú thím Học và các em chưa hay biết tý gì về ai còn ai mất ngoài này mợ ạ. Ông quản gia nói đích xác Lễ đã vào trại cải tạo, gia đình Lễ vẫn ở Sài Gòn.


- Tại sao nhà chú Học chỉ còn mỗi gia đình ông quản gia? – bà Hương thắc mắc.


- Ông quản gia cho biết: tháng giêng 1973 thấy Hội nghị Paris nhúc nhích, chú Học vội đưa tất cả gia đình và con cháu sang sinh sống tại California, đem theo cả gia đình Hoài. Bốn tháng sau Mạnh chết trong trận đánh vào Củ Chi, từ đấy chú Học bỏ hẳn việc làm ăn ở Sài Gòn. Nhà cửa và công việc kinh doanh của nhà in chú giao hết cho ông quản gia. Nghe nói một năm sau chú chuyển hẳn sang kinh doanh địa ốc và chứng khoán ở Mỹ. Theo lời ông quản gia, chú Học là một nhà kinh doanh giỏi.


- Chú thím Học vẫn có mỗi mình Mạnh thôi hả con?


- Vâng, chú thím cảnh nhà con một mợ ạ. Mợ còn nhớ không ạ, năm ấy nó là một thằng bé hiếu động, không lúc nào đứng ngồi yên một chỗ.


- Con nhớ rõ lắm mợ ạ. - ông Chính xen vào - Khi chú thím Học và Mạnh ra thăm chúng ta ngoài này, Mạnh lúc nào cũng quấn quít với Lễ và Hoài. Ba đứa nghịch phá như quỷ sứ. Mạnh nhất định không chịu về trong ấy cùng chú thím. Lúc sắp ra ga, Mạnh nước mắt ròng ròng, mếu máo, chân tay vùng vằng: ...Con không về, con không về, con thích chơi với anh Lễ chị Hoài... Trong ấy con không có bạn. Dỗ thế nào cũng không được, chú thím Học đành xin cho Lễ và Hoài vào Sài Gòn chơi ít hôm...


- Mợ nhớ lắm chứ... - cả một quá khứ sống lại trong tâm trí cụ Tuyên bà.


- Vâng. Thế là cái ít hôm ngày ấy đã trở thành hơn ba chục năm, mợ ạ. Khó mà tưởng tượng nổi! – Nghĩa nói tiếp. - Ông quản gia kể Mạnh tốt nghiệp trường sĩ quan Đà Lạt sau Lễ 3 năm, khi chết là thiếu tá. Mạnh đã lập gia đình, có một con trai. Ông bà Học tuy chỉ có Mạnh, nhưng thực ra là có ba con, vì Lễ và Hoài ông bà quý như con đẻ, chăm lo cho đến lúc lập nghiệp, có gia đình riêng. Con nghĩ rằng chú thím Học rất tin cẩn ông quản gia...


- Chồng con của Hoài ra sao hả con?


- Chồng Hoài tên là Nhân, bác sĩ nha khoa mợ ạ. Nhà có tiền chạy, nên thoát được quân dịch. Vợ chồng Hoài có ba gái một trai. Theo ông quản gia thì cuộc sống nề nếp, sung túc. Ông quản gia kể: Nhân là con ông giáo Nguyễn Hiểu, một nhà Hán học nổi tiếng, hiện còn ở lại thành phố. Ông quản gia nói là bác sĩ nha khoa mà sang California thì đời sống kinh tế sung túc lắm.


- Vợ con của Lễ thế nào? Con có tìm đến nhà Lễ không?


- Vợ Lễ tốt nghiệp đại học luật mợ ạ, nhưng ở nhà làm nội trợ. Vợ chồng Lễ có một gái, một trai. Chắc chắn tất cả vẫn đang ở Sài Gòn. Ông quản gia cho con địa chỉ. Theo những điều ông quản gia kể thì có lẽ gia đình Lễ rất khó khăn. Vào đúng lúc Sài Gòn bắt đầu nhốn nháo, Lễ bị Nguyễn Văn Thiệu hạ lệnh tống giam, không biết vì lý do gì. Khoảng một tháng trước khi Sài Gòn giải phóng Lễ mới được thả, được phong lên đại tá. Theo ông quản gia đấy chỉ là phong miệng thôi, chẳng thấy Lễ đeo lon mới. Hơn nữa lúc này Sài Gòn nhốn nháo lắm rồi... Khi tướng tá và quân ngụy xô nhau di tản, Lễ cũng chạy ngược chạy xuôi tìm cách đưa cả gia đình đi. Nhưng hình như không kịp. Từ khi Lễ vào trại cải tạo, vợ Lễ hoang mang lắm, không tin ai cả, không dám tiếp người lạ. Chính vì thế con định tìm cách đi thăm Lễ sớm rồi mới đến thăm cô ấy và hai cháu. Con nghĩ phải tìm cách đi thăm Lễ càng sớm càng tốt. Lúc này gia đình Lễ rất cần chúng ta.


- Giá mà chú cứ ghé thăm thím Lễ một tý thì hơn. – bà Hương vợ ông Chính thốt lên.- Em cân nhắc kỹ rồi, chắc mươi hôm nữa em lại vào lại mà...


- Con có lấy được địa chỉ của chú Học và Hoài ở bên Mỹ không?


- Dạ có ạ. Anh Chính và con đã bàn với nhau sẽ viết thư sớm cho vợ chồng Lễ, chú thím Học và Hoài.


- Thế còn nhà bác Sương?


- Về họ hàng nhà mình trong ấy ông quản gia biết ít thôi, nhưng có biết bác Sương. Theo ông quản gia, bác mất có lẽ đến chục năm nay rồi mợ ạ... Các chị con bác Sương đều có gia đình, nhưng di tản hết rồi.


Câu chuyện dần dà biến thành cuộc hỏi và trả lời giữa cụ Tuyên bà và ông Nghĩa. Cả một quá khứ hơn ba chục năm về trước sống lại, bị chiến tranh ngắt quãng nhiều đoạn, nhưng cụ còn minh mẫn và đặt ra những câu hỏi rành rẽ... Có thể lòng thương yêu vô bờ bến dành cho chồng con và những người ruột thịt đem lại cho cụ nghị lực bền bỉ và sự minh mẫn lạ thường, mặc dù cụ chỉ còn như một tàu lá khô, lìa cành bất kỳ lúc nào. Ông Chính là con cả trong nhà, nên hiểu nhiều nhất tâm trạng mẹ mình trong những câu hỏi đặt ra.


Cả nhà đồng ý Nghĩa phải quay vào Sài Gòn sớm, và mọi người sẽ góp sức thực hiện việc này. Nếu không đi nhờ được máy bay quân sự thì đành bán những gì có thể bán được hoặc đi vay loanh quanh đâu đó mua vé hàng không dân dụng, cùng lắm là đi nhờ ô-tô.


Tiễn Nghĩa ra đến cổng khu tập thể. ông Chính còn đứng lại nói chuyện với em một hồi lâu nữa.


- Anh vừa mừng Lễ và Hoài còn sống, vừa bàng hoàng về việc Lễ vào trại cải tạo và cái chết của Mạnh. Sau khi nói chuyện điện thoại với em, cả đêm hôm qua anh không ngủ được. Chú Tuấn, chú Phương là liệt sĩ. Cậu không còn nữa, gia đình Minh không còn nữa, em là thương binh. Không thể so với những tổn thất của đất nước, song chiến tranh đã cướp đi của gia đình chúng ta nhiều quá...


- Cuộc chiến tranh này ác nghiệt quá anh ạ.


 


- Mong sao... - ông Chính dừng lại không dám nói tiếp ý nghĩ của mình. Ông đang nghĩ đến mẹ.


- Mọi điều lành dữ sau chiến tranh đều có thể, anh ạ. Nhưng bây giờ hãy còn quá sớm để ngẫm nghĩ điều gì.


- Chúng ta có đủ lý trí, thế mà vẫn phải gắng gượng vượt lên sự tan nát trong lòng... Huống chi mợ... Anh rất lo cho mợ... Nhất là bây giờ cậu không còn nữa... Cháu Nam suy diễn đúng đấy, chỉ còn thiếu cảnh ngộ em và Lễ bắn vào đầu nhau nữa thôi! Cùng sinh ra từ một nhà...


- Ruột gan em thắt lại khi thấy mợ rú lên vì câu nói của Nam! Ngồi trên máy bay trở về Hà Nội, em cố gạt hết mọi lý lẽ để tìm câu trả lời: Giả thử đụng độ với nhau trên chiến trường, em và Lễ có dám nhìn thẳng vào mặt nhau mà bắn không?.


- Chiến tranh đã kết thúc, nhưng câu trả lời không dễ, có phải không?


- Em thực lòng không có câu trả lời. Dù đấy chỉ là câu hỏi duy lý!


- Đành chịu số phận sắp đặt?


- Vâng ạ.


- Ôi thân phận con người chúng ta!


- Anh ạ, trong chiến tranh em đã chứng kiến nhiều cảnh gia đình bị chia thành hai chiến tuyến... Nhưng đến khi chính mình phải đối mặt với cảnh ngộ này... Ôi, không tưởng tượng nổi anh ạ! Anh cũng không thể bắn vào đầu em được, có phải thế không anh Chính? Anh có thể nhằm vào em mà bắn được không?


- Nghĩa! Anh hiểu. Thấy người đứt tay, hoàn toàn khác với chính mình bị đứt tay!


- Từ vài hôm nay, lúc nào nghĩ đến điều này, người em cứ bừng bừng như phát sốt.


- Mợ quá mong em. Suốt từ sáng, cứ chốc chốc mợ lại nói một mình điều gì lầm rầm, đứng ngồi không yên, chân tay lẩy bảy. Có lúc mợ còn khóc nữa làm anh sợ quá. Sáng nay anh đành phải gọi điện thoại đến cơ quan xin phép vắng mặt, không dám để mợ ở nhà một mình như thế này.


- Gần như suốt cả chuyến bay, em cố hình dung Lễ và Hoài bây giờ như thế nào, cuộc sống của Lễ trong trại cải tạo. Ngày xưa có biết bao nhiêu kỷ niệm giữa anh em chúng mình, rồi cả Mạnh nữa...


- Anh vẫn thường chế giễu Lễ là công tử nhõng nhẽo, còn Hoài là công chúa bà già.


- Anh còn nhớ hôm ba anh em chúng mình được cậu mợ cho phép dắt nhau đi chơi bằng tầu điện đến Cầu Giấy không? Lần đầu tiên em được ra ngoại thành! Hoài bé quá không được đi cùng, khóc mãi. Ba đứa chúng mình suýt lạc nhau trong rừng nứa ở đền Voi Phục, sau đó đi bộ đến chùa Láng. Lúc trở về, Lễ vừa khóc vừa bò ra đường, anh và em phải thay nhau cõng nó từ chùa đến bến tầu điện...


- Nhớ. Hôm đó tụi mình bị mắng vì về nhà quá muộn.


- Còn bây giờ? Có lúc em nghĩ, Lễ sống sót vào trại cải tạo là nhà mình vẫn còn có phúc lớn! Thà như thế còn hơn...


- Đúng thế. Vẫn hơn là anh em nhằm vào nhau mà bắn...


- Tự tay em đã có những lần bắn Mỹ, bắn dữ dội. Có lần em đã cầm lấy AK của một chiến sĩ vừa ngã xuống, trút cả băng vào tên lính Mỹ trước mặt, lẽ ra chỉ cần một viên là đủ. Nhưng khi nhằm vào những lính ngụy, em vẫn thấy có gì đó gợn gợn trong lòng mình... Bây giờ em càng hiểu rõ hơn điều này.


- Chuyện gì xảy ra đã xảy ra rồi.


- Em lo chưa biết chúng mình sẽ còn phải gánh chịu thêm những hậu quả gì nữa sau chiến tranh anh ạ. Sau khi cậu và gia đình em Minh mất, sức khoẻ và tinh thần mợ sa sút rõ rệt. Bây giờ mợ lại phải chịu thêm sự giày vò mới... Anh Chính ạ...


- Gì vậy em?


- Em lo thời gian của mợ không còn nhiều.


- Chính vì thế em đã quyết định xin giải ngũ?


- Vâng. Em tự cho mình là đã làm trọn phận sự với đất nước, bây giờ em muốn sống tất cả vì mợ, vì gia đình. Gia đình lớn của chúng ta tan vỡ, mất mát quá nhiều, bây giờ là lúc tự chúng ta phải lo hàn gắn lại.


- Anh sẽ hiệp lực cùng em. Đêm nay anh sẽ làm ngay việc viết thư đi Mỹ, mai gửi sớm. Chiều mai đi làm về, anh sẽ đạp xe xuống Bạch Mai báo tin thím Tuấn biết. Thím hồi này bắt đầu hay quên rồi.


- Ở tuổi thím, di tật tai biến mạch máu não như thế, trời để cho sống ngày nào biết ngày ấy thôi anh ạ.


- Thím có sự chịu đựng quá sức tưởng tượng, nếu không còn gay nữa. Cũng may là thím có Cúc bên cạnh.


- Chỉ khổ cho Cúc là chuyện chồng con lận đận quá Nghĩa ạ.


- Cuộc sống oái oăm là thế, em rất thương Cúc.


- Cúc lo được cho mọi người, nhưng lại lo cho mình không xong, có phải không Nghĩa?


- Còn anh em mình bây giờ phải lo chạy thi với thời gian. - ông Nghĩa xiết mãi tay anh trong tay mình.


 


 


Nghĩa ra về đã lâu. Nén hương trên bàn thờ cụ Tuyên bà thắp sau khi Nghĩa về đã cháy gần một nửa. Cụ thường thắp hương như thế khi xúc động trong lòng - không kể rằm, mùng một hay giỗ chạp gì cả. Cụ ngồi yên trên giường trước bàn thờ, hai tay chắp vào nhau, mắt ngước nhìn đâu đâu. Suy nghĩ của cụ hình như đang chờn vờn đuổi theo làn khói nhang mảnh mai bay lên không dứt. Ông Chính rất hiểu tâm trạng của mẹ trong những phút như thế. Ngồi nhìn mẹ một lúc, ông lặng lẽ rút sang phòng bên. Bà Hương, Nam, Loan thu dọn các việc đang làm rồi cũng đứng lên đi theo.


Ông ơi, ông sống khôn thác thiêng hãy phù hộ cho Lễ chóng được tha... Minh ơi, Thu ơi hãy phù hộ cho anh con... Các chú ơi hãy giúp các cháu... Lạy trời lạy phật cho tôi sức khoẻ để được gặp mặt các con các cháu tôi. Đất nước thống nhất rồi nhưng bây giờ gia đình tôi kẻ còn người mất. Lễ ơi, Hoài ơi bao giờ mẹ được gặp các con các cháu của mẹ... Trăm lạy thánh mẫu, ngàn lạy thánh mẫu, hãy phù hộ cho, các con các cháu tôi... Mạnh ơi, cháu còn nhớ bác không?


Cụ Tuyên bà ngồi yên, nhưng thỉnh thoảng vẫn lấy khăn tay lên thấm thấm nước mắt. Từng mảng đời xô dạt, va đập vào nhau, vỡ tung toé trong ký ức cụ. Không biết bao nhiêu đêm cụ khóc thầm vì nhớ Lễ và Hoài. Thời gian, sự vất vả của những năm tháng tản cư ra kháng chiến. Bom đạn, bệnh tật doạ sống doạ chết hàng ngày. Rồi lại đến những năm tháng sơ tán khỏi Hà Nội thời đánh Mỹ. Nhiều lúc nỗi nhớ héo hắt về hai đứa con lưu lạc làm cho ruột gan cụ khô quắt. Lại thêm những năm tháng canh cánh nỗi lo cho Nghĩa ngoài mặt trận, sống chết không biết thế nào. Những năm tháng đánh Mỹ, ông bà giáo sống chung với vợ Nghĩa để an ủi con dâu và đỡ đần thêm, vì vợ Nghĩa một nách hai con nhỏ. Mỗi lần có thư xa từ đâu về, dù là của ai, bà giáo Tuyên đều tìm một chỗ, khoanh tay ôm ngực ngồi chờ đợi. Không bao giờ bà giáo dám tự tay bóc thư đọc, vì trong lòng nơm nớp không biết lành dữ ra sao, miệmg lẩm nhẩm cầu trời cầu Phật. Chờ ông Giáo hay vợ Nghĩa đọc cho nghe xong rồi, bà mới thở phào buông tay xuống, lúc này mới tự mình cầm thư đọc lại... Cứ thế những lời tụng niệm nhiều lúc tự nó cứ vọng lên trong lòng... Năm năm, tháng tháng, ngày ngày, tích góp từng điều thiện nhỏ, từ trong ý nghĩ đến trong việc làm, cụ chỉ mong sao ở hiền gặp lành, mong đức từ bi thấu hiểu và độ trì cho hai đứa con lưu lạc và đứa con trên chiến trường...


Tất cả đành trao gửi cho số phận...


Trong nỗi đau mất mát những người thân thương, những tin tức trung tá Nghĩa mang về cho cụ tối nay làm cho các mảng dĩ vãng của mấy chục năm trời bừng lên trong tâm trí cụ... Nhiều lúc bom đạn nổ đùng đùng, khói lửa mù mịt át đi hết cả...


- Chúng con chào cậu mợ ạ, chúng em chào hai anh... - cả Lễ và Hoài bảo nhau khoanh tay đồng thanh cúi chào.


- Cháu chào hai bác ạ, em chào hai anh a. - Mạnh cũng khoanh tay cúi chào theo.


- Mạnh phải chào cả anh Minh nữa chứ.


- Ứ ừ, anh Minh còn ngậm ti, cháu không chào...


- Anh chị yên tâm, bây giờ đang loạn lạc thế này, trường học ngoài này đằng nào cũng nghỉ. Mỹ ném bom Nhật dữ thế này, ngay cả trường Thăng Long của anh Tuyên đâu có tìm được chỗ chạy loạn... - ông Học rất muốn mời hai cháu cùng đi với con mình. Ông là con thứ hai trong nhà, sau ông Tuyên, vào Sài Gòn lập thân từ khi ông Tuyên chưa lập gia đình.


- Ừ, Nhật đã hất cẳng Pháp(*)[(*) Cuộc đảo chính của Nhật ngày 9-3-1945 cướp Đông Dương ra khỏi tay Pháp.]. Đánh nhau to đến nơi rồi. Mỹ ném bom Sáu Kho ở Hải Phòng cháy to quá. Nhất định Mỹ không chịu để Nhật độc chiếm Đông Dương đâu...


- Anh chị cứ cho hai cháu vào trong đó ở chơi với chúng em ít lâu. - ông Học nài nỉ.


- Hay là mợ cùng đi với chúng con đi. Mợ bảo thế nào cũng vào thăm nhà chú thím Học cơ mà... - Hoài giật giật tay mẹ...


- Thế ai trông em Minh?


- Bế cả em Minh đi, được không mợ?


Hoài rất thích có em gái và nói điều này với mẹ không biết bao nhiêu lần. Ông bà giáo Tuyên chỉ cười và hứa: Thế nào mẹ cũng đẻ cho con một em gái. Tuy nhiên ông bà giáo đinh ninh Hoài sẽ là con út. Nhưng cuối cùng Hoài lại có em Minh, kém Hoài những 7 tuổi.


Cụ Tuyên bà cảm thấy những tiếng nói ấy hình như lẩn quất đâu đây. Bất giác cụ buông tay quờ quờ ra chung quanh...


- Mình ơi, em đem cái kiềng đi cúng vào Tuần lễ vàng nhé?


- Nên lắm. Nên lắm, mình đem cả cái nhẫn cưới của tôi đi. Cách mạng đang cần tiền sắm vũ khí đánh Tây... Chúng ta cũng phải sửa soạn cùng cả nước đánh giặc. Đac-giăng-li-ơ (d’Argenlieu)(*) [(*) Georges Thirrry d’Argenlieu 1884 - 1964, thủy sư đô đốc hải quân Pháp.] đã đưa tàu chiến đổ quân vào nước ta rồi. Không thể cho giặc cướp nước ta một lần nữa...


...Ôi cái nhẫn cưới chính tự tay mình đánh cho chồng. Lũ bạn gái cùng làm trong hiệu kim hoàn Quảng Lợi cứ ra sức bắt nọn và trêu chọc mình mãi trước ngày cưới. Có đứa nói toang toác giữa nhà: “Ê, eo ơi, tiểu thư Bảo Khanh tự tay đánh nhẫn để cưới chồng!” – Thời còn con gái, bà Tuyên là hoa khôi trong đám thợ bạc và rất khéo tay của cái cửa hàng vàng nổi tiếng này ở phố Hàng Bạc.


Những giờ phút Hà Nội sục sôi. Bàn, ghế, giường, tủ, bao cát... được dựng lên thành các ụ chiến đấu trên vỉa hè các ngã ba ngã tư. Nhiều nơi các ụ lấn sâu xuống lòng đường. Tại nhiều phố tự vệ đã đục tường nhà nọ thông sang nhà kia để dễ liên lạc với nhau. Các xe GMC của lính Pháp vô cớ gầm rú chạy xé dọc xé ngang thành phố...Tại phố hàng Đậu, ga Hàng Cỏ, chợ Đồng Xuân, dốc Hàng Than, phố Hang Bún... các khẩu đại liên mười ba ly hai trên nóc xe của chúng hung hăng bắn thị uy bất kể vào chỗ có người hay không có người.


- ... Nội nhật hôm nay phải đưa chị, các cháu và gia đình em ra khỏi Hà Nội anh Tuyên ạ. Mang theo được cái gì thì mang, còn bỏ lại hết!


- Gấp thế à?


- Giặc đánh to đến nơi rồi. Anh đưa cả nhà về Châu Khê, rồi sẽ tính sau. Họ hàng chúng ta ở quê ngoại đông hơn. Hôm nay hãy còn xe ca Hà Nội đi Hải Dương đấy anh ạ.


- Chú không đi cùng?


- Em được lệnh ở lại chỉ huy tự vệ chiến đấu. Anh Tiêu cho bọn em biết chỉ ngày một ngày hai giặc sẽ đánh ta thực sự thôi và cũng dặn em lại giục anh chị và các cháu phải tản cư ngay. Anh Tiêu cho biết Phương được trên cử đi công tác đặc biệt vùng Cao Bằng gần một tháng nay rồi...


- Thảo nào mấy tuần nay không thấy Tiêu và Phương về thăm nhà. Hai người gần như không lúc nào rời nhau.


Bà giáo Tuyên đứng nghe hai người nói chuyện với nhau rồi quay sang than thở với em chồng:


- Trời đất ơi, không biết gia đình chú thím Học với Lễ và Hoài trong Sài Gòn sống thế nào. Giặc Pháp chiếm Nam Bộ đã hơn năm nay rồi còn gì chú Tuấn nhỉ...


Hà Nội trước những giờ phút đi tới quyết định lịch sử Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh! là như thế.


Cụ Tuyên bà nhớ rõ lắm... Buổi sáng hôm ấy, chú Tuấn chưa nói dứt lời, thím Tuấn, cháu Kiệt và cháu Cúc - hai con của chú thím - đã tay xách nách mang bước vào nhà. Chính ở tuổi 15, Nghĩa ở tuổi 14 nên giúp bố mẹ thu xếp được nhiều thứ. Vú Minh được giao cho mỗi việc lo đầy đủ quần áo và các thứ khác dành riêng cho bé Minh. Trời lúc này đã trở rét. Công việc sửa soạn rất nhanh. Hai giờ sau tất cả đã ngồi lên xích-lô ra Bến Nứa, mua vé xe chuyến đi về hướng đường 5. Chú Tuấn đi xe đạp theo ra tận bến xe...


Rồi đến lúc nồi súp-de phía đuôi cái xe ca nổ bành bạch, phun lên trời từng đám khói đen sặc sụa mùi dầu và than. Xe giật giật rú rú mấy lần như con ngựa già hí lên những tiếng hụt hơi trước khi cất vó... Tiếng động cơ nổ to mãi lên, át hết những lời tiễn biệt nhau giữa kẻ ở người đi, xe bắt đầu lăn bánh, bỏ lại phía sau quang cảnh phố xá tất bật, nháo nhác...


Chờ xe đi xa hẳn, chú Tuấn mới quay lại...


Những năm tháng chạy giặc đánh chiếm vùng tự do. Những đoạn trường cả gia đình phiêu dạt, chạy hết nơi này đến nơi khác. Phần lớn là chạy bộ, túi đeo, tay nải. Riêng bé Minh, lúc này đã gần bốn tuổi, có lúc được vú Minh gánh trong một cái thúng để bé dễ ngủ, đầu đòn gánh bên kia là bọc chăn và túi gạo. Có lúc các anh thay nhau cõng. Đi mãi, đi mãi, giặc đuổi phía sau... Cứ thế cả nhà bồng bế nhau lên đến tận phủ Yên Bình, trên Tây Bắc. Hồi ấy đấy còn là nơi rừng thiêng nước độc. Đêm đêm, nếu không có tiếng beo gầm, thì lại có tiếng chim kêu thủ thỉ thù thì. nghe rợn người. Sáng chưa bảnh mắt, rừng núi đã vang vang tiếng gà rừng gáy, tiếng chim bắt cô trói cột!.


Có những tối, ông bà Tuyên và thím Tuấn ngồi thì thầm với nhau bên bếp lửa lách tách, vừa để sưởi ấm, vừa để hun muỗi. Họ ôn lại những chuyện cũ, không một lời kêu khổ. Nhưng nhiều lúc bà Tuyên và thím Tuấn nước mắt ngắn, nước mắt dài, vì gia đình chia ly, mỗi người mỗi ngả, không biết sống chết thế nào... Trong khi đó bọn trẻ chụm đầu vào nhau... Chung quanh đĩa đèn thắp bằng dầu sở(*)[(*) Dầu ép từ cây sở, đổ lên đĩa và được thắp bằng ruột cỏ bấc.] trên chiếc bàn tre, chúng hí hoáy làm các bài tập... Chính, cậu con trai lớn nhất của cả nhà, vừa là thầy giáo của các em mình, bản thân cũng ngồi học thuộc lòng từng trang tất cả những cuốn sách nào mang theo được từ Hà Nội...


Có những bận trời rả rích mưa hàng tuần, thối đất thối cát. Không thể đi rừng lấy củi hay hái măng được, cả nhà quây quần bên bếp lửa, nướng sắn, nướng khoai... Có khi để ăn cho vui, cũng có khi để ăn trừ bữa – vì hết gạo. Sắn luộc, măng luộc ăn mãi cũng chán... Có hôm muối cũng thiếu. Đã có lúc dân làng mách đốt nứa lên lấy than giã ra làm muối để chấm, nhưng không ai dám thử. Bà Tuyên và thím Tuấn không giấu được nước mắt trước mặt bọn trẻ. Hôm nào có phiên chợ mua được ống mật mía(*) [(*) Mật mía, đựng trong ống nứa.] để ăn với sắn luộc hoặc sắn nướng, hoặc giả mua được cái chân giò, hôm ấy được coi là có đại tiệc...


Cuối năm 1947, giữa lúc ông giáo Tuyên cùng với các con trai nhờ vào dân địa phương bày cho cách phát nương, dựng nhà, trồng khoai trồng sắn, nuôi gà... có người mang công văn đến gặp ông giáo. Trên yêu cầu ông thu xếp việc gia đình để sang ngay An toàn khu bên Chiêm Hoá nhận công tác. Người mang công văn này cũng chuyển cho ông giáo thư của ông Tiêu báo tin ông Tuấn đã hy sinh giữa năm 1947 trong vùng địch hậu. Bà Tuấn chết đi sống lại nhiều lần...


Vừa thương xót em, vừa hiểu rằng gánh nặng của hai gia đình bây giờ dồn lên vai ông, biết làm thế nào đây? Lập bàn thờ ông Tuấn xong, cả hai bà đều khuyên ông Tuyên yên tâm đi nhận chỉ thị công tác của trên.


- Mình cứ yên tâm cùng với các chú nhà mình đi gánh vác việc nước. Dám bỏ Hà Nội lên đây thì em, thím Tuấn và các con, các cháu cũng tự lo cho nhau được. Nhắn chú Tiêu có dịp đi công tác qua ghé thăm bên này.


Trên đường đi, câu nói ấy của bà giáo làm cho ông Tuyên vững lòng. Sang đến Chiêm Hoá ông mới hiểu, trong thời gian hoạt động ở Liên khu I ông Tuấn đã đề nghị ông Tiêu yêu cầu ông Tuyên tham gia xây dựng ngành giáo dục trong kháng chiến. Ở Chiêm Hoá ít lâu, làm xong các việc trên giao cho để triển khai hệ thống giáo dục trong kháng chiến, ông được cử đi làm thầy giáo, làm hiệu trưởng ở nhiều tỉnh trong Liên khu Việt Bắc... Hai gia đình chị em bà Tuyên, vú Minh và đám trẻ ở lại tăng gia sản xuất tự nuôi nhau. Dân làng Khuân Phúc ở huyện Yên Bình chăm sóc họ như họ hàng ruột thịt... Mỗi năm đôi lần, đi bộ vài ba ngày đường về thăm nhà, nhìn cảnh hai bà, vú Minh, các con cháu chân tay rộp lên, người quắt lại đen xạm, lòng dạ ông giáo quặn lại. Nhất là Kiệt và Cúc bây giờ không còn bố nữa... Hai bà và cô Minh – chẳng biết từ bao giờ cả nhà không ai gọi cô là vú Minh nữa - kể cho ông nghe những lúc cả nhà muốn ngã gục. Giữa cuộc sống thành thị nhàn hạ của gia đình công chức cũ và cuộc sống tăng gia sản xuất trên núi rừng để tự túc, để tồn tại, để tham gia kháng chiến... thật là một khoảng cách đổi đời... “Quân chủ lực” của cả nhà là Chính, Nghĩa, Kiệt – ông giáo Tuyên vẫn gọi ba chàng trai của mình như thế. Ba thiếu niên đang sức ăn, sức lớn, tháo vát, việc gì cũng làm được. Cô Minh lại thạo việc trồng trọt, làm tương, nuôi lợn gà.., cuộc sống dần dần tạm ổn. Khi chạy khỏi Hà Nội, Chính đang học lớp thành chung năm thứ hai, Nghĩa năm thứ nhất, cả hai anh em đều học giỏi và nhảy cóc được một năm. Kiệt đang học dở dang élémentaire, Cúc - préparatoire. Tiếc phải bỏ dở học, Chính và Nghĩa cố nhồi vào bọc quần áo mấy quyển sách chuẩn bị cho hết thành chung (diplome) do ông giáo Tuyên từ lâu đã mua sẵn cho các con mình. Không ngờ mấy thứ đó lại rất được việc. Tối tối không có gì làm, Chính tự ôn bài và dạy các em học tiếp. Ông trưởng thôn Khuân Phúc thấy hay hay, nhờ anh em Chính mở các lớp xoá nạn mù chữ và dạy học cho đám trẻ trong làng. Anh em Chính hăm hở nhận lời. Thấy cả nhà trụ được, ông giáo vững lòng.


Sau này khi kháng chiến thành công trở về Hà Nội, cả nhà còn kể đi kể lại không biết bao nhiêu lần những kỷ niệm đẹp đẽ của những năm tháng ở làng Khuân Phúc, trong thâm tâm mỗi người đều không sao hiểu nổi tìm đâu ra nghị lực để tạo ra được cho mình những ngày tháng rực sáng như vậy...


Cả một phần đời gian lao đằng đẵng, bắt đầu thật đơn giản không thể tưởng tượng được:


- Phải đưa chị, các cháu và gia đình em ra khỏi Hà Nội, ngay trong hôm nay anh ạ...


Thế là bỏ nhà bỏ cửa, bỏ tất cả, bồng bế nhau đi!


... Song cũng có những trận cả nhà nằm rên hừ hừ vì sốt rét, không có lấy một người có thể ngồi dậy để đun ấm nước, nấu nồi cháo... Lợn gà trong chuồng ngoài sân nháo nhác, có mấy con gà đã vào bới ỉa ngay trên nền nhà, có khi cả vào chiếu đang có người nằm rên hừ hừ... Mấy ông bà nông dân hàng xóm phải sang lo cho mọi việc. Thổi đỡ cho nồi cháo, băm chuối cho lợn ăn... Rồi đến cái ngày cả nhà, ông trưởng thôn và nhiều người trong làng xúm xít tiễn Chính, Nghĩa và Kiệt vào trường thiếu sinh quân. Một năm sau, trường trung học phổ thông tỉnh Yên Bái khai giảng, đến lượt “cô giáo Cúc” từ biệt hai mẹ, cô Minh và dân làng để nhập học.


Hơn một năm sau, ông giáo về thăm nhà, đem theo tin buồn: Phương, người em trai út của ông giáo, đã hy sinh trong chiến dịch biên giới 1950, giải phóng Cao Bằng và Lạng Sơn. Bà giáo Tuyên lại khóc...


... Từ khi về nhà chồng, bà Tuyên làm việc miệt mài trong hiệu vàng Quảng Lợi để có nguồn thu trang trải mọi việc trong gia đình chồng. Được bố mẹ cho ít vốn chung với cửa hàng, lại chơi họ, nên cuộc sống gia đình vợ chồng bà tạm coi là đủ ăn, cũng có thể nói là sung túc chút ít. Bà hết lòng chăm lo cho ba em chồng là Học, Tuấn và Phương được học hành nên người, vì bố mẹ ông Tuyên mất sớm. Tình nghĩa chị em gắn bó... Riêng Học đã tự quyết định đi làm sớm, để đỡ gánh nặng cho anh chị mình. Bây giờ Tuấn và Phương không còn nữa. Khi chưa lấy vợ, ông Tuyên đi dạy học, một mình tự kiếm sống và nuôi ba em... Bà còn nhớ vào khoảng năm bốn mươi, bốn mốt, Tiêu – em con chú con bác với ông Tuyên – và Phương bỗng nhiên rủ nhau đi đâu biệt tăm. Giữa năm bốn nhăm cả hai cùng về Hà Nội, bí mật vận động cho Việt Minh.


... Ngồi nhìn mãi làn khói mảnh mai của nén nhang trên bàn thờ, nhiều lúc cụ Tuyên bà cảm thấy những kỷ niệm trong dĩ vãng cứ đứt quãng, bị những bóng đen xua đuổi, nuốt chửng. Những bóng đen ấy lớn lên rất nhanh, trở thành những quả bom to tướng, đùng đùng nổ tung, giết chết không biết bao nhiêu người, tàn phá nhà cửa, vùi lấp không biết bao nhiêu năm tháng... Những người sống sót bị hất tung toé đi tứ phương...


Trời ơi, Hoài, gia đình chú Học bắn mãi sang tận bên Mỹ, Lễ bị ném vào trại cải tạo. Rồi cụ thấy nhiều khuôn mặt thân thương, nghe rõ cả giọng nói tiếng cười, cứ chờn vờn lúc gần lúc xa... Ôi ông ơi, các chú ơi... Minh ơi, Thu... Ôi các cháu tôi...


Cụ Tuyên bà hai tay ôm chặt lấy ngực.


... Lễ là người đầu tiên vào trại cải tạo mợ ạ, vợ Lễ học luật... Vợ chồng Hoài có ba gái một trai... Cuộc sống của chú thím Học và các em các cháu bên ấy tạm ổn, nhưng Mạnh không còn nữa... Con chưa đến thăm vợ Lễ được, vì ông quản gia cho biết cô ấy dát lắm, không tin ai cả... Lễ và Hoài sẽ về thăm mẹ chứ? Hai con về thăm mẹ chứ, chiến tranh hết rồi mà... Mẹ muốn biết mặt các cháu... Cho mẹ biết mặt các cháu đi!..


Đoán là nén hương đã cháy hết, ông Chính nhè nhẹ mở cửa phòng bước vào:


- Đã khuya rồi, mợ đi nghỉ đi ạ. Để con mắc màn cho mợ.


- Mợ không mong gì hơn là sớm được gặp vợ chồng Lễ, vợ chồng Hoài, chú thím Học, các cháu...


- Chỉ cần mợ mạnh khoẻ, nhất định mợ sẽ gặp được ạ...


Mắc màn xong cho mẹ, ông Chính sang phòng bên, nhìn đồng hồ rồi giục Nam:


- Đã đến giờ nhà mình đi lấy nước đấy. Đêm nay cố xách đầy cả hai phuy, đừng bỏ dở như đêm qua con nhé.


- Hoà bình rồi mà điện nước cứ mất luôn.


- Con ơi, chiến tranh vừa mới kết thúc.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Dòng đời. Tiểu thuyết của Nguyễn Trung. Bản điện tử của viet-studies.info. NXB. Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2006.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »