Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,810,188

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Bàn phím và... "cây búa" (7): Những cảm luận kỳ dị về thi pháp phương Đông

Nguyễn Hòa

  • Thứ sáu, 17:54 Ngày 03/06/2011
  • Những cảm luận kỳ dị về thi pháp phương Đông

    Năm 1996, tiếp xúc với hai tiểu luận bàn về quan hệ giữa văn hóa phương Đông và văn học Việt Nam của Tiến sĩ Đoàn Hương đăng trên tạp chí Văn học, tôi thật sự thất vọng khi so sánh chúng với những gì người ta đã viết về chị. Sau đó không lâu, đọc bài Con mắt tâm linh văn hóa phương Đông trong thơ Hàn Mặc Tử của nữ Tiến sĩ đăng trên tạp chí Văn học số 11. 2000, tôi càng thất vọng hơn, vì chỉ riêng việc chị trích dẫn câu thơ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh (Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử) thành Ở đây sương khói mờ hư ảo để phân tích, thì việc đánh giá các luận điểm của Tiến sĩ Đoàn Hương đối với tôi cũng đã trở nên cần thiết và tôi đã viết bài Qua một số nhận định về thi pháp nghệ thuật Phương Đông đăng trên báo Người Hà Nội. Vài tháng sau, đọc những ngôn từ đẹp đẽ của Giáo sư Hoàng Trinh dành cho các “khám phá” và “đóng góp” (!) của Tiến sĩ Đoàn Hương trong cuốn Văn luận (Tập 1, NXB Văn học, 2001) tôi lại cầm bút và đã viết bài Những cảm luận kỳ dị về Thi pháp phương Đông gửi tới tạp chí Văn học. Chờ mãi không thấy hồi âm, thì tình cờ tôi được biết dường như người ta cố tình "câu dầm" bài viết của tôi để ông Chủ tịch Hội đồng khoa học (cũng là Tổng Biên tập tạp chí Văn học khi đó) có thời gian tổ chức nghiệm thu cuốn sách như một đề tài khoa học ở Trường Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn Hà Nội, bất chấp một số nội dung hời hợt, bất chấp quy chế bởi nó mới chỉ là Tập 1 và được xuất bản trước khi nghiệm thu (!) thì đối với tôi, nếu ngại ngần sẽ là có lỗi với công chúng. Chuyện khôi hài là sau đó Giáo sư Hoàng Trinh có trách tôi đã công bố bài viết vì Tiến sĩ Đoàn Hương là một phụ nữ (!), tôi đành phải trả lời ông rằng: “Tôi không tranh luận theo giới tính nam hay nữ mà tranh luận với một Tiến sĩ Khoa học”. Sau khi Những cảm luận kỳ dị về Thi pháp phương Đông đăng trên tạp chí Văn học, ông Tiến sĩ Đỗ Văn Khang cũng đăng trên Tạp chí này bài tiểu luận đầy rẫy những lý thuyết rối rắm, bí hiểm để khen ngợi những “thành tựu”của Tiến sĩ Đoàn Hương, trong đó ông dành cho tôi đôi lời nhắc nhở có liên quan tới hai chữ quân tử (!) và tôi đã không trả lời. Vài tháng sau, trên tạp chí Nhà văn, một tác giả Hà Mật nào đó cũng cho đăng một bản tụng ca dành cho Văn luận. Một số bạn nghề nghiệp có đề nghị tôi viết bài tranh luận nhưng tôi từ chối. Vì một lẽ đơn giản: Hà Mật đã đánh đồng một công trình khoa học với một tác phẩm văn chương để cho rằng có thể đánh giá Văn luận với những cách khác nhau (một công trình khoa học lại có thể đánh giá với những cách khác nhau thì tính khoa học, tính chính xác của nó ở đâu, thưa Thạc sĩ?!). Còn một “vĩ thanh” nữa cũng không kém phần bi hài có liên quan tới bài viết này là ngày nọ, bỗng nhiên tôi được ông X - thủ trưởng của tôi khi đó, mời đi ăn trưa cùng một nữ phê bình gia. Ít ngày sau, tại một cuộc Hội thảo ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, gặp tôi, nữ phê bình gia nói: “Hôm nọ ông làm tôi mất cả buổi trưa!”, thấy tôi ngạc nhiên, chị giải thích: “Hôm ấy lão X rủ tôi đến ăn trưa để bàn cách “đánh” ông và bảo vệ Đoàn Hương, tôi về đọc lại thấy ông viết đúng quá, không thể “đánh” được!”. Than ôi, vậy là tôi đã không biết té ra phía sau cái bữa trưa đầy tình anh em, đầy tinh thần đồng nghiệp kia lại là một “âm mưu” và cho đến hôm nay, tôi vẫn tự hỏi rằng trên đời này liệu có một ông cấp trên nào lại rủ một người ngoài cơ quan “oánh” cấp dưới của mình không nhỉ?

    Theo tôi, câu chuyện quanh cuốn Văn luận là ví dụ điển hình để có thể nhận định rằng tình trạng nhiễu loạn chuẩn mực và tình trạng cánh hẩu trong sinh hoạt khoa học ở Việt Nam hiện đã cần được báo động như thế nào!

    1. Với cái tên Văn luận(1) và hàng trăm lần trích dẫn Thiền luận(2) của D.T. Suzuki, cuốn sách dày hơn 900 trang của Tiến sĩ Đoàn Hương dễ làm cho người đọc liên tưởng rằng nó được chế tạo như một sự học lỏm các luận điểm của D.T. Suzuki! Còn đối với Giáo sư Hoàng Trinh, sau khi được đọc một tác phẩm “đồ sộ, đầy đặn”, một “công trình đầu tiên công phu và có tính khoa học” là dùng các vấn đề của tư tưởng văn hóa Đông phương để giải mã văn học Việt Nam, trong bài Bàn về Văn luận đăng trên Tạp chí Văn học (số 5-2001) ông đã rất lấy làm sung sướng, đến mức thốt lên: “Là một người thuộc thế hệ trên của tác giả, tôi thật cảm động vì nghĩ rằng thế là chúng tôi những nhà khoa học Việt Nam thuộc thế hệ xưa nay hiếm có thể yên tâm về thế hệ các nhà khoa học kế cận. Những con đường khoa học mà chúng tôi đã đem tâm huyết của mình để mở đường, đã có những người đi tiếp, và dám đi tiếp”. Vào trường hợp khác, những lời khen tặng có cánh của một vị Giáo sư khả kính như thế sẽ làm người đọc tin cậy, không còn băn khoăn...

    Nhưng ở đời, mọi việc lại không diễn ra theo ý muốn của bất kỳ người nào, dù đó là ai. Và đối với một công trình nghiên cứu, dù thiện chí đến đâu, người ta cũng chỉ có thể ưu ái nhận xét sau khi đã tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, quan trọng hơn, phải có tri thức cần thiết để tiếp nhận và xử lý những vấn đề mà công trình đề cập. Song dường như trong trường hợp này, Giáo sư Hoàng Trinh đã làm ngược lại.

    Đánh giá thật khách quan, cần công nhận rằng mục đích mà Tiến sĩ Đoàn Hương đặt ra cho công trình của mình là cần thiết và táo bạo. Thật ra từ xưa tới nay, nhất là từ khi công việc nghiên cứu khoa học văn chương ra đời ở Việt Nam, đã có không ít ý kiến bàn về cách thức, phương pháp để tiếp cận các giá trị văn học nghệ thuật Việt Nam truyền thống, cũng như cách thức, phương pháp để tiếp nối, phát huy các giá trị đó trong văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Ở phần Dẫn luận vấn đề cho cuốn sách, Tiến sĩ Đoàn Hương xác định công trình của chị tập trung “giải mã văn học Việt Nam trong tinh thần văn hóa phương Đông”. Phần này, như tự giới thiệu, đây là Bài thuyết trình của Tiến sĩ tại Đại học Hoàng gia Australia (RMIT) và hai trường Đại học khác cũng ở Australia vào tháng 8-1995. Phải chăng do lo ngại người đọc không biết tới Bài thuyết trình quý giá (hay do lơ đễnh?) mà cho tới nay, đã ba lần Tiến sĩ Đoàn Hương công bố văn bản này trong ba cuốn sách khác nhau với cả hai thứ tiếng Anh - Việt! Không rõ sau khi nghe bài thuyết trình, mấy ông Tây, bà Tây sẽ lĩnh hội được những gì, nhưng quả thật đọc nó, người ta thấy e ngại vì tác giả đã mang một cái “chuông rè” đi “đấm nước người” mà không thấy phân vân!

    2. Vũ trụ quan của người Trung Hoa cổ đại coi thế giới được cấu thành bởi ba yếu tố trời, đất và con người - tam tài giả thiên - địa - nhân. Để hiểu được mối quan hệ giữa ba yếu tố đó, người ta phải lần ngược lại một triết lý được coi như hệ quy chiếu, như điểm xuất phát cho quan niệm về bản chất của vũ trụ là triết lý âm - dương, bởi vậy, xuất hiện thêm một yêu cầu nữa là phải nắm bắt mối quan hệ giữa âm và dương. Chỉ có từ sự nắm bắt được quan hệ có tính chất phổ quát và chi phối này, mới có thể lý giải được cách người xưa xem xét quan hệ Trời - Đất - Người, cũng như bất kỳ một quan hệ nào khác. Người xưa coi thiên - địa - nhân hợp nhất (trời, đất và người thống nhất), thiên nhân vô nhị (trời người không thể chia hai), thiên tắc nhân, nhân tắc thiên (trời là người, người là trời)… Họ coi Trời và Người thống nhất bởi cùng được tổ chức theo một mô hình có cấu trúc âm - dương. Theo đó, người là hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ hay là một “tiểu vũ trụ”.

    Cho nên, xem xét bất cứ một quan hệ nào từ triết lý âm - dương cũng đều phải thừa nhận sự thống nhất hài hòa, không phiến diện. Nhưng vị hành khách “trốn vé” trên đoàn tàu đi về phương Đông là Tiến sĩ Đoàn Hương lại không làm như thế. Chị không cần biết đây là quan niệm về một mô hình có cấu trúc phổ quát, chị suy luận: Ở phương Đông xưa người ta quan niệm con người là một tiểu vũ trụ thì chắc chắn phải có một đại vũ trụ. Chị viết: “Theo quan điểm của minh triết phương Đông thì con người là một tiểu vũ trụ ngang bằng với đại vũ trụ, với đại tự nhiên và xã hội”(tr.17). Từ quan hệ giữa vô và hữu, chị phát hiện ra “nguyên tắc vô thắng hữu” (có lúc được chị gọi là nguyên lý vô thắng hữu, tinh thần vô thắng hữu, không hiểu giữa nguyên tắc, nguyên lý và tinh thần có sự khác nhau nào không nhỉ - N.H). Từ quan niệm của Lão Tử: cái gì khuyết thì lại toàn, cái gì cong thì lại ngay, cái gì sâu thì lại đầy, cái gì cũ thì lại mới… chị cho rằng đó là “tinh thần đảo ngược thực tại” - một thứ “tinh thần” lạ lẫm, lần đầu tiên được nhắc tới khi nghiên cứu phương Đông. Và có lẽ chỉ Giáo sư Hoàng Trinh, bằng công cụ ký hiệu học khảo sát, thì mới coi đây là phát hiện "mới" mà thôi.

    Tiến sĩ Đoàn Hương khẳng định: “một trong những nguyên tắc độc đáo của nghệ thuật phương Đông đó là nguyên tắc đảo ngược thực tại, xuất phát từ tinh thần cơ bản nhất trong sáng tạo nghệ thuật phương Đông là tinh thần vô thắng hữu”(tr. 223). Than ôi! Chính từ quan niệm về sự thống nhất hài hòa, mà người ta mới nhấn mạnh sự thống nhất giữa hữu và vô, hay như người theo Phật giáo thì nói “sắc sắc không không”… chứ chẳng ai lại đi coi cái nào hơn cái nào kém, cái nào thắng cái nào thua. Không hiểu tại sao khi đã viết “Triết học phương Đông đi tìm sự thống nhất của những mặt đối lập trong một sự vật và coi đó là sự cân bằng cần thiết cho sự phát triển (nói chính xác phải là biến đổi chứ không phải phát triển - N.H) của một sự vật”(tr.11) mà Tiến sĩ Đoàn Hương lại đi phân tích theo kiểu duy lý như vậy. Đọc các phần sau mới thấy thì ra chị nhắc tới quan niệm về sự thống nhất hài hòa cho vui, cho có vẻ uyên thâm, chứ thật tình, hiểu nó như thế nào thì nữ Tiến sĩ cũng mù mờ, nên chị mới viết kỳ khôi thế này: “theo tư tưởng của văn hóa phương Đông mọi hiện tượng và sự vật trong đời sống tự nhiên và xã hội đều tồn tại trong tính hệ thống và tính cân bằng của nó, tức là tồn tại trong trạng thái hòa. (Như Mác đã nói: con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội)” (tr.199). Ô hay, “tính hệ thống và tính cân bằng” theo quan niệm của phương Đông Cổ đại và “tổng hòa các quan hệ xã hội” theo quan niệm của C. Mác là hai vấn đề có nội dung tương ứng với nhau ư, hay là do giữa chúng có chung chữ “hòa” (chưa kể chị còn “cứa đôi” câu nói của Mác một cách thô thiển để dẫn đến việc hiểu sai lệch về nội hàm, bởi nguyên văn câu nói này là: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”)! Cứ theo cái đà này mà đi tiếp, có ngày Tiến sĩ Đoàn Hương sẽ chứng minh rằng văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây không có gì khác nhau cho mà xem. Ấy là chưa nói, cũng trong cuốn sách, cái món “hữu thắng vô” lại còn được chị phân tích hoàn toàn khác và lại tỏ ra chính xác mới gay go chứ: “Cái chân không mà văn hóa phương Đông quan niệm không phải nằm ở phía hữu hay vô, nó không phải là cái này hay cái kia, mà nó vừa là cái này, lại vừa là cái kia. Trong cái vô có cái hữu và ngược lại”(tr.547), viết như thế này thì đúng là “nguyên lý, nguyên tắc, tinh thần hữu thắng vô” cũng cần phải đảo ngược, và điều Giáo sư Hoàng Trinh khen ngợi “một cách nhìn mới” quả cũng có “mới” thật.

    Xin nói thêm, hai từ “minh triết”, với Tiến sĩ Đoàn Hương xem chừng cũng là một thứ đồ trang sức cho hợp thời. Tỷ như cái đoạn sau đây: “Các quan điểm triết học và mỹ học của phương Đông (thường được gọi là minh triết) trong đó hàm chứa một triết lý phục vụ cho việc tìm hiểu, giáo dục và phát triển con người và xã hội hiện đại”(tr. 9). Đoạn văn có vẻ bình dị trên đã bộc lộ một cách hiểu kỳ quặc của vị Tiến sĩ. Thế này thì "hơi bị" có vấn đề. Các quan điểm triết học và mỹ học là cách viết đề cập tới (dư chữ tới!) nội dung, còn minh triết là cách viết đề cập tới tính chất của các nội dung đó, sao lại coi chúng có thể đồng đẳng với nhau. Ở đây nếu không phải là “đảo ngược thực tại” thì cũng là sự liều lĩnh, mà liều lĩnh trong khoa học thì sẽ đưa tới cái gì?

    3. Nói một cách ngắn gọn, đối với một công trình nghiên cứu khoa học, người ta thường quan tâm trước hết tới các khái niệm có tính chất công cụ và đối tượng nghiên cứu. Về các khái niệm có tính chất công cụ được Tiến sĩ Đoàn Hương sử dụng trong công trình, như đã nói ở mục 2, chúng không làm cho người ta tin cậy vì sự nắm bắt thiếu thấu đáo, và việc sử dụng, phân tích thiếu nhất quán của tác giả. Về đối tượng, Tiến sĩ Đoàn Hương xác định “thi pháp phương Đông” là đối tượng công trình tập trung giải mã. Vậy theo chị, thi pháp là gì?

    Ở bài viết Con mắt tâm linh văn hóa phương Đông trong thơ Hàn Mặc Tử (Tạp chí Văn học số 11-2000) chị mới trình bày vắn tắt cách hiểu của chị về thi pháp. Trong Văn luận, vấn đề đã cụ thể hơn. Hóa ra Tiến sĩ đã mở rộng nội hàm của khái niệm thi pháp, chị coi đó là toàn bộ những gì có liên quan tới hoạt động sáng tạo văn học, cho dù trong giới nghiên cứu, người ta vẫn xem thi pháp là khái niệm dùng chỉ các nguyên tắc, biện pháp sáng tạo có liên quan với hình thức của văn học nghệ thuật. Xin dẫn một ví dụ: “Hệ thống thi pháp này lại bao trùm và kết hợp cả những vấn đề như: vấn đề nội dung và hình thức, vấn đề tính chân thực, tính điển hình, vấn đề nguồn gốc, sự phát triển, các chức năng, vấn đề phong cách, vấn đề hình tượng, ý tưởng, ý cảnh, vấn đề truyền thống và cách tân, vấn đề kỹ xảo và thủ pháp nghệ thuật, vấn đề thi pháp sáng tạo của nhà văn và thi pháp độc giả trong văn học”(tr. 81). Chà! “Thi pháp” của chị xem ra hoặc là có vẻ thiếu khiêm tốn, hoặc là do không hiểu thi pháp là gì nên Tiến sĩ đã bắt thi pháp phải mang vác một khối lượng “vấn đề” quá tải so với khả năng có giới hạn của nó.

    Xác định đối tượng nghiên cứu còn không rõ ràng thì làm sao có thể bàn về đối tượng một cách rành rẽ được. Những điều như thế đã làm cho công trình của chị trở thành một sản phẩm khôi hài của cái mà chúng ta thường gọi là giả khoa học. Buồn thay!

    4. Thi pháp phương Đông - theo phân tích của Tiến sĩ Đoàn Hương, ngoài việc phải bê vác một khối lượng công việc quá lớn, nó còn có những đặc điểm mà sau khi “tham chiếu” tư tưởng văn hóa phương Đông chị đã phát hiện ra. Từ “lý thuyết đảo ngược thực tại” Tiến sĩ Đoàn Hương tiến tới “nguyên tắc vô thắng hữu” và dấn thêm một bước vào với thi pháp: “một tinh thần giản dị, trực nhận, mạnh mẽ và táo bạo với một thái độ không để ý đến hình thức”(tr. 167), “cũng cần nhấn mạnh là nghệ thuật phương Đông đặc biệt coi trọng yếu tố nội dung hơn hình thức”(tr. 221), “vấn đề thứ nhất của thi pháp nghệ thuật phương Đông là sự hướng nội của nó… vấn đề thứ hai của thi pháp nghệ thuật phương Đông là sự vượt qua hình thức của sáng tạo nghệ thuật Đông phương… trong các tác phẩm nghệ thuật Đông phương người ta chú trọng tối đa tới chất chứ không tới văn”(tr. 354)…

    Thi pháp như là công việc sáng tạo hình thức của tác phẩm nghệ thuật mà không được quan tâm thì đúng là không còn gì để nói. Trong Văn luận, Tiến sĩ Đoàn Hương nhiều lần dẫn ra các bài thơ haicu (một thể thơ của Nhật Bản, không vần, có mười bảy âm tiết, gồm ba câu: câu một có năm âm tiết, câu hai có bảy âm tiết, câu ba có năm âm tiết) dù không có bản dịch bài thơ haicu nào do chị dẫn ra có đủ mười bảy âm tiết mà chị vẫn tán tụng rất say sưa, thậm chí còn tính đến chuyện chẻ từng từ của bài thơ trong bản dịch! Vậy nhưng mười bảy âm tiết nghiêm ngặt của thể thơ haicu phải chăng không phải là một yêu cầu hình thức, chị sẽ lý giải sao đây về các thể luật thi, tứ tuyệt của thơ Đường. Xin dẫn lại một nhận xét của Ngô Tất Tố về lịch sử Đường thi: “Sơ Đường phần nhiều hay về khí cốt, nhưng lối đặt câu dùng chữ chưa được trau chuốt cho lắm. Vãn Đường giỏi về từ ngữ, lời đẹp ý sâu, nhưng lại thiếu phần hùng hồn, có khi còn bị cái tội ủy mị là khác. Duy chỉ có Thịnh Đường ở vào giữa hai thời kỳ ấy, cho nên chẳng có cái dở của hai thời kỳ kia mà còn gồm cả cái hay của hai thời kỳ ấy nữa”(1). Nếu văn học nghệ thuật phương Đông xưa kia “chú trọng tối đa tới chất chứ không tới văn” thì không có lý gì Cụ đầu xứ Tố lại nhọc công nhận xét cả nội dung lẫn hình thức của Đường thi. Tiến sĩ trình bày khá dài dòng về hội họa Trung Hoa (từ trang 481 đến trang 492) để chứng minh hội họa Trung Hoa “chú trọng đến cái tinh thần”, nhưng xin hỏi cái yêu cầu chỉ bằng hai màu đen - trắng mà “sáng tạo nên một thế giới đầy màu sắc”(tr.485) là yêu cầu gì nếu không phải là yêu cầu về hình thức. Chỉ với hai màu mà vẽ được cả thế giới thì đòi hỏi về hình thức quá nghiêm ngặt chứ sao lại “coi trọng nội dung hơn hình thức”. Về chuyện này có thể đưa ra vô số dẫn chứng, và chỉ một trong số đó cũng đủ biến nghiên cứu của Tiến sĩ Đoàn Hương thành chuyện tiếu lâm. Xin đừng dựa vào triết lý vô ngôn, vào duy thức luận mà “khám phá” ra các nguyên lý, nguyên tắc hoang đường để gán ghép vào thành tựu của văn học nghệ thuật phương Đông!

    5. Nếu tổ chức một cuộc bỏ phiếu thăm dò trong năm 2000 xem cuốn sách nào nói bừa, nói ẩu nhất, có lẽ Văn luận của Tiến sĩ Đoàn Hương chiếm giải “mâm xôi vàng”. Tác giả của nó không chỉ liều lĩnh về lý luận mà còn liều lĩnh cả về sử dụng và phân tích văn liệu. Xin đơn cử vài ví dụ (đơn cử thì chỉ có một, không thể vài, nên phải viết là : Xin dẫn vài ví dụ):

    - Bài kệ Cáo tật thị chúng của Mãn Giác Thiền sư được Văn luận phân tích nhiều lần và dành cho không ít lời khen ngợi tính chất “ảo diệu biến hóa vô cùng” của nó. Ai đã biết bài kệ này hẳn đều rõ phiên âm chữ Hán: Xuân khứ bách hoa lạc - Xuân đáo bách hoa khai - Sự trục nhãn tiền quá - Lão tòng đầu thượng lai - Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận - Đình tiền tạc dạ nhất chi mai, và một bản dịch khá phổ biến lâu nay là: Xuân qua trăm hoa rụng - Xuân tới trăm hoa cười - Trước mắt, việc đi mãi - Trên đầu già đến rồi - Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết - Đêm qua, sân trước, một nhành mai. Riêng Tiến sĩ Đoàn Hương lại khai sinh ra một bản dịch mới bất chấp cấu trúc và ngữ nghĩa của bài kệ. Trang 18 của Văn luận chị viết: “Xuân tới trăm hoa nở - Xuân qua trăm hoa rụng - Trước mắt việc đi mãi - Sau lưng già đến rồi - Những tưởng hoa rụng hết - Đêm qua, xuân trước, một nhành mai”. Bản dịch của chị đưa ra làm cho ý nghĩa hai câu đầu bị lộn ngược: khứ và đáo (qua và tới) thành đáo và khứ (tới và qua). Quy luật xuân qua rồi xuân đến được nhắc tới trong hai câu đầu của bài kệ là sự chuẩn bị cho câu cuối cùng Đêm qua, sân trước, một nhành mai, chúng không cho phép đảo ngược trật tự, nhưng Tiến sĩ Đoàn Hương cứ đảo ngược. Và thật là một sự “ảo diệu biến hóa vô cùng” vì Lão tòng đầu thượng lai (Trên đầu già đến rồi) được chị chuyển ngữ Sau lưng già đến rồi, hình như ở đây chị cũng “đảo ngược thực tại” khi biến “đầu” thành “lưng”, và chính từ khả năng "úm ba la" này, Tiến sĩ đã đánh mất một cách phí phạm sự tương ứng về hình ảnh giữa màu trắng của hoa mai và mái tóc bạc vốn được cấu tứ một cách tài tình trong bài thơ! Đó là chưa kể chỉ nguyên việc trích dẫn bài thơ, Tiến sĩ (người tự sửa bản in cuốn sách) chỉ mỗi việc chép lại bài kệ mà chị vẫn để còn hai lỗi tiêu biểu cho kiến văn của chị: tên bài thơ là Cáo tật thị chúng chị dẫn là Cáo tận thị chúng, câu thơ Đêm qua, sân trước, một nhành mai chị dẫn thành Đêm qua, xuân trước, một nhành mai!

    - Khi bàn về “công án” như là “một thể loại văn học thiền rất thú vị”(tr. 40), Tiến sĩ Đoàn Hương dẫn ra bài kệ Đừng theo bước Như Lai (Hưu hướng Như Lai) và coi đó là “một bài thơ nổi tiếng có cái tên như một công án”(tr.41, 42). Dù có thông cảm đến đâu cũng không thể châm chước cho trường hợp này, Tiến sĩ chịu khó tra cứu trang 522 cuốn Thơ văn Lý - Trần(1) sẽ thấy đầu đề của bài kệ này là do nhóm tác giả biên soạn thêm vào, đó chính là mấy từ lấy ở câu cuối của bài kệ chứ có phải công án gì đâu mà Tiến sĩ tán lấy được vậy!

    - Trang 171 và 172 của Văn luận kể lại câu chuyện: “Có một vị thượng sĩ (cấp cao nhất trong nhà chùa) nguyên là một Hoàng tử và anh ruột của Hoàng hậu, chính là Tuệ Trung Thượng sĩ, một hôm được mời về kinh thành. Trong bữa cơm thân mật, mọi người thấy nhà sư ăn thịt. Lạ quá, Hoàng hậu hỏi:

    - Theo đạo Phật, sao anh ăn thịt?

    Thượng sĩ trả lời bằng một câu kệ: Phật là Phật, anh là anh - Anh không cần làm Phật - Phật cũng không cần làm anh…”. Thứ nhất, đây là “mấy câu” kệ chứ không chỉ có “một câu”; thứ hai, bất cứ ai đã đọc và nắm được văn cảnh, đều thấy Tuệ Trung Thượng sĩ dùng bài kệ để diễn đạt quan niệm của ông trong việc tu hành đồng thời cũng là câu trả lời, riêng Tiến sĩ Đoàn Hương lại nói bừa: “một vị đại sư Việt Nam đã viết về Phật Tổ như sau: Phật là Phật, anh là anh - Anh không cần làm Phật - Phật cũng không cần làm anh…”(tr. 24). Đây cũng là một ví dụ sinh động nữa về “nguyên tắc đảo ngược thực tại”. Tiến sĩ đã biến một bài kệ Tuệ Trung Thượng sĩ viết về mình thành một bài kệ viết về Phật Tổ!

     - Trong những phân tích luôn lặp lại một cách rối rắm về các nguyên lý, nguyên tắc của văn hóa phương Đông, Tiến sĩ Đoàn Hương ưa dùng các thuật ngữ triết học, nhưng có một sự thật là không phải thuật ngữ nào chị cũng nắm một cách chính xác và sử dụng được một cách sáng suốt.

     Hãy xem Tiến sĩ sử dụng khái niệm “bản thể luận” như thế nào: “Chính về con người, cái bản thể cấu trúc luận của nó mà các nhà nghiên cứu triết - mỹ phương Tây tưởng đã đi cạn cùng giới hạn cũng như chiều sâu của nó…”(tr. 30), “Thật ra bản chất của vấn đề này trong văn hóa phương Đông không có gì là hoang đường hết, mà đó chỉ là sự thấu hiểu tới bản chất, bản thể luận của sự vật và những quy luật vận động của nó trong tự nhiên”(tr.110), “tất cả các sự vật đều có hai mặt, nhưng đối cực trong bản thể luận của sự vật”(tr. 141), “Trong Kinh Dịch đã xây dựng được mô hình của thế giới, xã hội và con người. Nó đã chứng minh được tính bản thể luận thống nhất giữa con người với tự nhiên và xã hội” (tr. 147), “Lại một lần nữa chúng tôi cảm thấy hết sức ngại ngùng khi phải đem những ký hiệu ngôn ngữ của khoa học phương Tây để giải thích các khái niệm triết học và văn hóa phương Đông, vì trong bản thể luận của nội dung các khái niệm có phần không trùng khít lên nhau”(tr.153)… Nhấn mạnh “bản thể luận” trong các đoạn trích trên đây nhằm giúp bạn đọc nhận rõ Tiến sĩ Đoàn Hương đã nhầm lẫn hay đã không hiểu thế nào là “bản thể luận”. Là một khái niệm triết học, bản thể luận có tư cách là học thuyết về bản chất của tồn tại. Với ý nghĩa đó, trong văn cảnh của các đoạn trích kể trên, khái niệm “bản thể luận” được Tiến sĩ sử dụng một cách vô nghĩa, trong các trường hợp này nếu muốn viết cho có màu sắc uyên bác người ta phải dùng khái niệm “bản thể” may ra mới thích hợp. Lẽ nào đây cũng là những ví dụ nữa về việc sử dụng “nguyên lý đảo ngược thực tại”!?

    6. Vào thời buổi mọi sự đều hối hả như ngày nay mà dành thời gian viết gần một nghìn trang sách cũng là điều đáng nể. Nhưng vào thời buổi khoa học phát triển như ngày nay mà làm khoa học một cách tuỳ tiện lại là điều cần phải tránh xa. Không có điều kiện tra cứu, nhưng tôi thật sự nghi ngờ khi Tiến sĩ Đoàn Hương hai lần dẫn lời Trang Tử: “Đông Tây đối lập với nhau nhưng không thể tồn tại thiếu nhau”(tr. 38, tr. 63). Trang Tử (khoảng 369 - 286 trước CN), tức là ông sống cách chúng ta hơn 2000 năm, cũng tức là hơn 2000 năm so với thời điểm Kipling (1865 - 1936) nói “Đông là Đông, Tây là Tây không bao giờ gặp nhau”. Có thể đoan chắc đây là một sử liệu cần cân nhắc kỹ trước khi sử dụng, vì sự tiếp xúc Đông - Tây diễn ra sau Trang Tử rất lâu. Vào thời đại của Trang Tử, người Trung Hoa chưa biết tới phương Tây, không lẽ gì Trang Tử lại có khả năng đưa ra một ý kiến mà chỉ tới thế kỷ XX con người mới đặt ra. Khi dẫn lại ý kiến này, Tiến sĩ Đoàn Hương không cân nhắc kể cũng khó hiểu. Thiển nghĩ, có thể đây là ý kiến Trang Tử bàn về phương hướng giữa Đông và Tây, chứ hoàn toàn không bao hàm ý nghĩa văn hóa - địa lý - dân cư như hôm nay chúng ta nghiên cứu.

    Không tính đến những sai sót về ngữ pháp và chính tả, xét về mặt ngôn ngữ, Văn luận của Tiến sĩ Đoàn Hương là bản sao khá hoàn hảo ngôn ngữ thường dùng của chị trong “Câu lạc bộ người yêu thơ” bởi nó có quá nhiều trang, nhiều đoạn được viết vừa khoa trương, vừa sáo rỗng, và dễ dãi. Từ những phẩm chất thiếu tính khoa học như đã phân tích, cuốn sách Văn luận khó có thể đưa lại một tác dụng tích cực. Đến đây, tôi nhớ tới ý kiến của Giáo sư Francoise Jullien rằng: "Có một hiện tượng phổ biến hiện nay ở cả châu Âu lẫn châu Á: Những người tự mệnh danh trí thức, đôi khi thực ra chỉ là những người đưa ra vài ba ý kiến vu vơ, bỏ lửng nó ở đó hoặc lý giải cắt nghĩa nó một cách hời hợt"(1), cũng mong Tiến sĩ Đoàn Hương không tự xếp hàng vào đội ngũ những trí thức kiểu này, và phương cách thiết thực nhất có lẽ là cho Văn luận dừng lại ở Tập 1. Đó âu cũng là vạn phúc cho khoa học văn chương xứ ta. Hơn thế nữa, xin nói thêm, lời khen ngợi của Giáo sư Hoàng Trinh dành cho cuốn sách rất dễ làm cho người đọc nghi ngờ cả những thành tựu của người “mở đường”, dẫu vẫn cho rằng, họ là những người có tâm huyết với văn chương, văn hóa nước nhà.

    Nguồn: Bàn phím và … “cây búa”. Tiểu luận, phê bình của Nguyễn Hòa. NXB Văn học, 2007.

     www.trieuxuan.info

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,810,189

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/