Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,342,841

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Chim gọi nắng

Hoài Anh

  • Thứ tư, 15:35 Ngày 25/07/2012
  •  

     

    Mụ đầm gác ngục, mụ Lơ-cuya kê ngay một chiếc ghế trước cửa khám theo dõi câu chuyện của hai chị em. Nhưng cả hai chị em đã nói với nhau bằng giọng Nghệ An chất nặng ân tình.

    Minh Khai lựa những trái cây tươi nhất, bự nhất để riêng ra, bảo em:

    - Trái này là dành cho đồng chí Tần, trái này dành cho anh Ba([1]), anh Cừ, còn thuốc lá chia cho các đồng chí nam khác.

    Quang Thái nhìn chị không cầm được nước mắt. Thấy vậy, Minh Khai cười nói:

    - Chị em lâu ngày mới được gặp nhau, em phải mừng chớ sao em lại khóc?

    Quang Thái vội lau nước mắt:

    - Gặp chị, em mừng. Em đi kiếm chị mấy ngày mới được gặp.

    Thái bóc cam cho chị ăn, nói với chị:

    - Thầy đẻ, gia đình, các bạn bè đều lo cho chị. Thầy đẻ tính mướn thầy kiện cầm chừng, chờ thời cơ nếu có thể giải thoát cho chị.

    Minh Khai chậm rãi:

    - Mướn thì mướn nhưng không có tác dụng nhiều lắm đâu. Mình phá hoại chính quyền nó, phá hoại giai cấp nó, dễ gì nó chịu dung tha. Trạng sư là công cụ của chính quyền nó. Nó chỉ làm vở kịch ăn tiền mình mà thôi. Còn em nói thời cơ thì chưa biết đến chừng nào. Chủ quan mình chưa giải quyết được. Còn thời cơ khách quan của quốc tế nữa. Em đã từng nếm mùi nhà lao Thừa Phủ ba năm, em còn lạ gì cái gọi là “công lý” của tụi nó... Thế nào, thầy đẻ và các em vẫn được như thường chứ?

    - Chị à, từ khi chị đi thoát ly, thầy đẻ thường thương nhớ chị ngày càng già thêm. Lúc nghe tin chị bị bắt, đẻ buồn quá sinh bệnh nặng...

    - Đẻ bệnh nặng ư em?

    Quang Thái gật đầu. Minh Khai rơm rớm nước mắt:

    - Còn các em Du, Hiên, Dương, Tú, Dung, Quỳnh thì sao em?

    - Chúng nó nhớ chị lắm. À, Du có lẽ sắp sửa phải thôi học chị ạ!

    - Vậy hả em? Du nó chỉ ao ước được ra Hà Nội học thêm về bác vật, nếu phải bỏ dở thì nó tiếc lắm đấy. Còn gia đình em, anh Giáp([2]) thế nào, có mạnh khỏe không?

    Quang Thái nói khẽ:

    - Anh Giáp đã đi bí mật. Em cũng có một cháu gái nhỏ tên Hồng Anh, hiện em gửi cháu cho đẻ. Cháu đã được một năm, có khuôn mặt tròn, cái miệng giống em, đôi mắt rất sáng giống ba nó...

    - Nghe nói em đã đi học cô đỡ, phải không?

    - Nhờ chị Tụy Phương học trò anh Giáp giúp đỡ, em đã thi đỗ xuất sắc vào trường cô đỡ quốc gia. Nhưng vào ngày cát-tơ duy-dê, bọn Pháp bắt cả trường làm lễ chào cờ, em liền nói với một người bạn đứng bên: “Chào gì mà chào, cờ như cái đuôi chó mà cũng bắt chào”. Câu nói của em lọt vào tai giám thị, nó báo cáo với giám đốc. Giám đốc báo cáo với bọn Tây. Bọn này quyết định đình chỉ việc học của em, trục hồi bản quán. Em lại bế con về nhà thầy mẹ đẻ ở Vinh. Về nhà, em vừa nuôi cháu Hồng Anh, vừa giúp đẻ trông hàng và tiếp tục hoạt động...

    Thấy mụ Lơ-cuya dỏng tai nghe, Minh Khai nói lảng sang chuyện khác:

    - Nhà ta vẫn ở 139 Phố Ga chứ em? Cái gác xép có tủ sách của chúng mình còn không đấy?

    Trong óc Minh Khai hiện lên hình ảnh cái cầu thang góc nhà dẫn lên gác xép, ở đó có tủ sách cấm của hai chị em. Khi Minh Khai gia nhập Đảng Tân Việt, có lần chị đánh liều đưa các đồng chí trong tiểu tổ lên họp trên gác. Đang họp thì bà mẹ ở chợ bỗng tạt về. Thấy tiếng động ở trên gác, bà cất tiếng hỏi. Minh Khai vội đập đập lên sàn rồi nói to lên: “Trên gác có con rết to lắm, con đang đánh nó đây”. Bà mẹ vốn sợ rết vì một lần bà bị rết cắn phải đắp vỏ thị lên vết cắn hàng tháng mới khỏi, thấy nói có rết bà không dám trèo lên gác xép chỉ bảo Minh Khai cố tìm cách đánh chết con rết. Lát sau bà lại ra chợ thế là cuộc họp lập tức giải tán. Từ đó, mọi người rủ nhau lên núi Quyết họp. Một lần Minh Khai đứng trên núi nhìn xuống dãy nhà máy dưới chân núi, chị suy nghĩ về câu nói của cô giáo Phương: “Dân mình mất đất, mất ruộng sống khổ cực, đi làm thợ cho Tây. Mất ruộng, nông dân phải vào nhà máy làm thuê”. Ý thức vô sản bắt đầu nảy nở trong đầu óc Minh Khai, thay thế cho quan niệm “cách mạng quốc gia” của Tân Việt. Lúc này chị bỗng cất tiếng hỏi em:

    - Còn bà con thành phố ta thì sao?

    - Bà con vẫn thương nhớ chị, các đồng chí cũng luôn tới nhà hỏi thăm chị...

    - Chị rất cám ơn tấm lòng của các đồng chí, của bà con. Tình hình thợ thuyền Bến Thủy, Trường Thi có gì mới không em?

    - Từ ngày chị đi tới giờ, các cuộc đình công biểu tình nhà máy vẫn nổ ra liên tục, chị ạ.

    Minh Khai giọng xa vắng:

    - Quang Thái à, em có nhớ hồi còn nhỏ một lần chị em mình ra bờ sông vốc cát để làm nhà chơi như mọi khi thì bọn lính xua đuổi: “Cút ngay. Đây không phải chỗ trẻ con chơi!” Thì ra hôm ấy thợ thuyền Bến Thủy đình công không chịu chở than, khuân vác nên tụi nó giới nghiêm, thiết quân luật! Cũng từ hôm ấy, chị bắt đầu nhìn đời bằng con mắt khác. Trước kia chị em mình còn hồn nhiên vô tư, chiều chiều ra Bến Thủy ngắm những con sóng tự ngoài khơi, vồ vập đổ vào bến phà từng đợt, nhìn vai núi Quyết nhô lên trên nền trời xanh ngắt, ngắm cái cột đèn sừng sững ở ngã ba... Nhưng từ khi nhìn thấy những thợ thuyền nhem nhuốc bụi than, áo quần vá chằng vá đụp, vẫn hiên ngang đứng lên đấu tranh đòi quyền sống cho mình thì chị tự thấy mình phải đứng về phía những người cần lao và dũng cảm ấy. Và từ khi dấn thân vào con đường cách mệnh, chị cũng đã tự nhủ mình phải chấp nhận sự hy sinh. Chị biết rằng em đã đoán ra chị đi hoạt động ngay từ hồi ấy nên mỗi khi chị đi họp khuya về em lại thức mở cửa cho chị và rót cho chị một chén nước nóng. Cuối cùng chị đành nói thật với em...

    Quang Thái nhớ lại cái bữa được cùng chị đến cuộc họp chi bộ ở một làng hẻo lánh ngoài thị xã. Các anh trong chi bộ cứ nhìn hai chị em cười, hỏi chị Minh Khai:

    - Bữa nay o lại cho em gái đi họp chi bộ nữa hả?

    Chị Minh Khai đáp:

    - Các anh hiểu cho, đi khuya có chị có em thầy đẻ tôi đỡ rầy.

    Được ảnh hưởng trực tiếp của chị Minh Khai, được chị dìu dắt. Quang Thái hoạt động không kém chị. Thái đã tham gia Đảng Tần Việt cánh tả, tiền thân của Đông Dương cộng sản liên đoàn, một trong ba đảng sau này hợp nhất thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

    Năm 1929, Quang Thái từ biệt chị vào Huế học trung học.

    Quang Thái không ngờ sau hơn mười năm xa cách, hai chị em lại gặp nhau trong cảnh này. Quang Thái sẽ đi khắp các nơi kêu kiện. Luật pháp tư bản đâu có xử tử hình một phụ nữ, mình sẽ dựa vào đó để đấu tranh. Còn nước còn tát, gia đình sẽ chính thức viết đơn. Minh Khai thì không tin điều đó có thể được thực hiện.

    Minh Khai dặn Quang Thái tới lấy một ít tài liệu chị còn gởi lại cơ sở ở ngã Sáu Chợ Lớn, nhà ông Mười Thìn, tiệm bánh đập gần hồ tắm và tìm thăm cháu Lê Nguyễn Hồng Minh.

    Quang Thái hỏi:

    - Cháu giờ ở đâu chị?

    Minh Khai ghé tai em nói nhỏ:

    - Chị gởi cháu nhà má Tư ở An Nhơn.

    Mụ Lơ-cuya vào gắt gỏng, giục:

    - Quá giờ rồi, ra đi thôi!

    Quang Thái bước ra cửa, còn ngoái lại nhìn theo chị.

    Khi bị giải ra tòa án đỏ để xét xử, Minh Khai không hề lo lắng mà còn vui vì được gặp các đồng chí giữa tòa sau bao ngày cách mặt. Kia là anh Phùng, đôi môi rỉ máu vẫn nhô ra đầy vẻ tự tin. Kia là anh Ba Duẩn, Ủy viên Trung ương phụ trách tài chính của Đảng. Trong cái đêm địch lùng sục vây bắt cán bộ cấp cao của Đảng, chị và anh Ba Duẩn trốn trong một ngôi chùa ở Nam Kỳ, suốt đêm hôm ấy chị đã kể cho anh nghe về bé Hồng Minh. Được anh động viên, chị đã nguôi được phần nào lòng mong nhớ con. Tuy sau đó anh bị bắt, nhưng địch không có chứng cớ gì để khép anh vào án tử hình.

    Kia là anh Hà Huy Tập, vẫn giữ nguyên cái dáng thanh nhã của một ông thầy giáo trường Cao Xuân Đạc mà chị từng theo học ngày nào, mặc dầu trên mặt đầy vết tím bầm. Chị nhớ lại hồi chị và anh Lê Hồng Phong tham dự Đại hội Quốc Tế Cộng Sản lần thứ 7, khi ấy anh Tập thay mặt Ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài đã đứng lên tổ chức lễ thành hôn cho hai người. Trước mặt vị “chủ hôn”, hai anh chị đã hứa sẽ yêu nhau suốt đời và suốt đời phấn đấu cho lý tưởng cao đẹp. Không ngờ đến phút này, anh Tập lại là người được chứng kiến chị thực hiện lời hứa ấy. Chứng nhân của hạnh phúc cũng là chứng nhân của sự hy sinh... Lại kia là anh Phan Đăng Lưu với khuôn mặt chất phác đôn hậu nhưng kiến quyết rắn rỏi, vẫn như hồi anh còn là thư ký ở Sở Nông Lâm thành phố Vinh, hồi đó anh đã từng đưa cho chị đọc những tờ báo Le Paria và cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp của đồng chí Nguyễn Ái Quốc gởi từ hải ngoại về, chính những sách báo này đã bước đầu gieo hạt giống yêu nước vào tâm hồn trong trắng thơ ngây của chị. Tiếp đó là bản dịch những cuốn Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Mác, Ăng-ghen và Làm gì của Lê-nin, những tác phẩm đó đã gây ý thức và tình cảm cách mệnh vô sản trong con người chị, giúp chị sẵn sàng rời bỏ Đảng Tân Việt để chuyển sang Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong buổi tiễn anh sang Quảng Châu tìm gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc, chị đã nhờ anh chuyển lời kính thăm ông Nguyễn, và tha thiết tâm sự với anh: “Tôi đã chọn con đường cách mệnh, nguyện sẽ đi theo con đường này trọn đời”. Và hôm nay, chị lại phải đi tiếp chặng đường đấu tranh gian khổ ấy trong trận chiến đấu quyết liệt với kẻ thù ngay giữa tòa án này.

    Trong phiên tòa xử Minh Khai có Quang Thái. Cô ngồi ở hàng ghế thân nhân những người bị cáo. Nhìn thấy Quang Thái, anh Ba Duẩn đưa mắt nhìn cô tỏ vẻ biết ơn. Quang Thái nhớ lại, một lần vào thăm chị Minh Khai, Minh Khai trên đường về, còn anh Ba Duẩn thì được đưa đi hỏi cung, chị Minh Khai đã lén ném cho anh một mảnh giấy. Cử chỉ này đã lọt vào mắt một lính Pháp, hắn cúi nhặt. Chỉ với mảnh giấy làm bằng cho mối liên hệ giữa hai người này là đủ để chuyển anh từ án chung thân sang tử hình. May thay đúng lúc đó Quang Thái xuất hiện. Hiểu ngay tình thế nguy cấp, Quang Thái đã sán tới tên lính Pháp đó rồi hết chuyện này sang chuyện khác cô nói. Với sắc đẹp đủ để lập tức gây ấn tượng, sự thông minh và vốn tiếng Pháp phong phú, Quang Thái đã khiến tên lính mụ mị đến quên phứt ý nghĩa mảnh giấy, vừa nghe chuyện hắn vừa xé nhỏ vất từng mẩu giấy đi.

    Bước ra giữa vành móng ngựa, hiên ngang trong chiếc áo dài đen, đôi mắt chị long lanh sáng quắc. Bọn quan tòa cất tiếng hỏi chị có chịu nhận tội đã chủ trương cuộc nổi loạn không, chị đập tay rầm rầm xuống vành móng ngựa, nói lớn tiếng:

    - Tôi không có tội gì hết! Chỉ có những kẻ cướp nước mới là những kẻ có tội! Giờ trừng phạt đã sắp sửa đến rồi!

    Tên quan tòa rung chuông ngắt lời chị. Rồi lại giở giọng vu cáo:

    - Những người cộng sản mưu đồ khởi loạn, giết người cướp của, phá rối trị an, tang chứng rành rành còn chối cãi gì nữa!

    Minh Khai chuyển sang nói tiếng Pháp thẳng với tên quan tòa:

    - Chúng tôi là chính nghĩa, chính đế quốc Pháp cướp nước chúng tôi, chính các ông mới là kẻ giết người cướp của. Chính điều đó thúc đẩy chúng tôi đứng lên vận động cách mệnh để giành lại độc lập cho Tổ quốc và tự do cho nhân dân chúng tôi. Chúng tôi chết nhưng vẫn còn Đảng Cộng sản, còn nhân dân, còn đấu tranh đến cùng.

    Nghe chúng tuyên án tử hình chị, Quang Thái không cầm được nước mắt. Bọn lính đẩy Thái ra, đưa Minh Khai đi. Minh Khai quay lại dặn em:

    - Em đừng khóc. Chị dù mất nhưng rất vui sướng vì đã làm tròn nhiệm vụ. Em hãy giúp chị, chừng nào Hồng Minh khôn lớn, đi học được, thì em đưa cháu về nuôi và dạy bảo cháu nên người. Nhờ em dạy bảo cháu để sau này cháu tiếp tục sự nghiệp của ba mẹ cháu.

    Sau vụ xử án, nén nỗi đau thương, Quang Thái trở về Vinh báo tin cho thầy đẻ và các em được rõ. Đoạn cô đáp tàu tốc hành ra thẳng Hà Nội. Thái đi tìm gặp chị Lê Thị Bân trong Ban Cán sự Thành ủy. Thái nói:

    - Bọn chúng đã khép chị Minh Khai vào án tử hình. Nhưng luật pháp tư sản không xử tử hình đối với phụ nữ. Đề nghị chị nói với Thành ủy Hà Nội làm thế nào có tiếng nói phản đối án tử hình chị Minh Khai.

    Chị Bân chia sẻ nỗi đau với Quang Thái:

    - Tôi sẽ cố hết sức cùng Thành ủy lo việc này Thái ạ!

    Thành ủy Hà Nội đã kịp thời in truyền đơn phản đối án tử hình đối với chị Minh Khai. Song lúc này bọn thực dân Pháp đã phát xít hóa bộ máy cai trị, chúng không hạ mức án chị Minh Khai.

    Trong xà lim án chém của Khám lớn Sài Gòn. Một gian buồng hẹp chiều ngang độ ba thước, chiều dài năm, sáu thước. Ba bức tường kín và một tấm cửa sắt đóng bịt bùng. Trên một phía tường có “cửa sổ”: một miếng sắt đục lỗ li ti không đút lọt điếu thuốc lá. Xà lim tối như bưng, suốt ngày thắp một ngọn đèn đỏ đòng đọc. Lại nóng hầm hập như trong nhà thiêu. Minh Khai ngồi trên sàn xi măng, tước vải áo tù, may đôi áo gối, một tặng mẹ già, một gửi bé Hồng Minh.

    Buổi tối ngày 27-8-1941, khi thấy người lính gác bữa trước vào xà lim nước mắt giàn giụa, Minh Khai bình tĩnh hỏi:

    - Nó sắp mang tôi đi chém phải không?

    Người lính gác gật đầu. Anh ta lấy trong người ra một chiếc áo dài cẩm nhung trắng:

    - Đây là chiếc áo dài của cô Tư con bà Hai Mai may gởi vào tặng chị đây...

    Minh Khai cầm chiếc áo giơ lên xem:

    - Màu trắng này tôi thích lắm... À, tôi nhờ anh giúp tôi chuyển giùm mấy vật này ra ngoài: đây là chiếc áo gối anh giao cho chị Hai Sóc ở Bà Điểm để chị gởi cho bé Hồng Minh. Còn đây là chiếc khăn bông tôi dùng quấn cho bé Hồng Minh lúc mới sanh, nếu anh thấy có người bạn lính nào đổi ra ngoài Côn Lôn thì nhờ người ấy chuyển cho anh Lê Hồng Phong giùm. Cám ơn anh nhiều...

    Người lính đỡ lấy mấy món đồ, giọng xúc động:

    - Tôi xin ráng sức làm tròn công việc chị giao cho!

    Sáng sớm ngày 28-3-1941, chị dậy sớm, lấy chiếc bát gáo dừa, múc nước ở thùng gỗ đai bằng mây ra gội đầu bới tóc cao, mặc chiếc áo cẩm nhung trắng, xỏ chân vào đôi guốc gỗ. Lúc này tay phải bị tra tấn đã bại, chị lóng ngóng mãi mới cài được khuy áo. Chị nhìn lại dòng chữ máu chị đã viết trên tường:

    Vững chí bền gan ai hỡi ai,

    Kiên tâm giữ dạ mới anh tài.

    Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ,

    Con đường cách mạng vẫn chông gai.

    Chị thoáng mỉm cười nghĩ đến hình ảnh đường chấm vẽ bằng máu người lẫn xác muỗi mà chị nhìn thấy hôm mới bước chân vào bót Ca-ti-na. Hai hình ảnh khác nhau biết bao nhiêu. Chị đăm đăm nhìn về xa, nhìn về ngày mai hay nhìn về thế hệ sau... Và những dòng chữ này phải chăng là tâm huyết chị gởi gắm lại.

    Đã nghe thấy tiếng giày đinh lộp cộp và tiếng xô cửa khám rít ghê lạnh.

    Chị bước lên một bước. Chiếc áo dài trắng của chị nổi lên như một vầng sáng giữa mảng tối đen ngòm những tên lính mang đầy súng ống.

    Biết kẻ thù đem một số đồng chí và mình đi xử bắn, Minh Khai liền tranh thủ thời giờ nói to lên:

    - Các bạn tù hãy nghe lời tôi nói: Các bạn hãy đoàn kết đứng lên đấu tranh với bọn chúa ngục tàn bạo! Các bạn hãy chuẩn bị tinh thần để phá ngục, trở về với nhân dân tiến hành cách mạng lật đổ bọn thực dân đế quốc! Chiếc lồng sắt nhỏ hẹp này sao có thể giam cầm chúng ta mãi mãi được.

    Nhiều tiếng thét hưởng ứng từ các xà lim chung quanh:

    - Phải đó. Phản đối bọn chúa ngục đày đọa giết hại đồng chí chúng ta!

    - Phải tiêu diệt hết bọn đế quốc, phong kiến trả nợ máu cho đồng bào!

    Bọn lính hung bạo đâm lưỡi lê vào ngực Minh Khai. Máu chảy loang đỏ cả chiếc áo dài trắng của chị. Tiếng phản đối của tù nhân lại nổi lên vang dội. Mặc dù bị vết thương đau nhức nhối, Minh Khai vẫn giơ tay xích lên vẫy vẫy:

    - Tôi đi đây! Xin chào đồng chí, đồng bào ở lại!

     

    XIV.

    Côn Đảo. Lê Hồng Phong một mình đi thơ thẩn dài theo mé biển từ Mũi Cá Mập đến bến Đầm, bên tay mặt là núi non che chở, đứng sững giữa trời, bên tay trái, xa ở dưới chân, những làn sóng bạc từ ngoài khơi đưa lại đập vào các mỏm đá ầm ầm, bọt tung trắng xóa. Trên cành cây, tiếng ve sầu rền rĩ từng hồi. Lê Hồng Phong nhìn ra biển khơi bao la một màu xanh biếc. Ngoài xa tít mù, tận chân trời, mấy làn mây bạc im lìm báo cho anh biết đó là đất liền, nơi có người vợ hiền và đứa con yêu quý của anh.

    Hai người lính da đen đi qua, một người trông thấy Lê Hồng Phong tỏ vẻ kính nể nói với bạn:

    - Người kia là ông Lê Hồng Phong đấy! Ông ấy bị bọn cai tù đánh đập không biết bao nhiêu lần mà vẫn dũng cảm chịu đựng không thèm kêu một tiếng. Có hôm tù nhân vừa bưng bát cơm ăn thì bọn cai tù lại xông vào đánh đập. Ông Lê Hồng Phong và mấy người bạn khác một mặt nhất loạt hô to phản đối, mặt khác vẫn thản nhiên ngồi ăn. Một viên cai đến hỏi ông Phong: Tại sao tao đánh mày như thế mà mày vẫn thản nhiên ngồi ăn. Mày không biết đau à? Ông Phong đặt chén cơm chan máu xuống, rồi ngẩng đầu lên nói dằn từng tiếng: Chúng mày nói ngày nào chúng mày không đánh được chúng tao chảy máu thì chúng mày thấy ăn không ngon. Vậy chúng tao cũng phải ăn để có máu đối phó với chúng mày.

    Người bạn trầm trồ kính phục:

    - Thật là một người gang thép! Thật là một người gang thép!

    Rồi chợt nhớ ra điều gì, anh hỏi bạn:

    - Tôi nghe nói ông Lê Hồng Phong có người vợ tên là Nguyễn Thị Minh Khai phải không?

    - Phải. Anh hỏi để làm gì?

    Người lính da đen nói lảng:

    - À hỏi để biết vậy đấy thôi!

    Sở Đập đá gần núi Chúa. Mặt trước núi trơ trọi, ít cây chỉ có những tảng đá hoa cương khổng lồ chồng chất lên nhau. Dây bìm bìm xanh tươi vẫn trồi lên từ kẽ đá mọc lan đến bờ biển.

    Những công trình xây dựng từ cầu đá Ma Thiên Lãnh, cầu tàu 917 đến tư dinh Chúa Đảo, cái nhà thờ đạo với cái hang Bết-lem xinh xắn của Chúa Hài Đồng cũng đều được làm bằng đá lấy ở đây. Hàng ngày tù nhân phải làm khổ sai đập đá vô cùng nặng nhọc. Đã thế khi trời mưa, đã không có chân lăn lông lốc đè chết tù nhân là chuyện thường.

    Mỗi kíp 40 tù làm việc suốt ngày không được nghỉ để khai thác đá. Mìn nổ liên tục không ngớt. Cứ mỗi xe goòng có 4 người đẩy. Họ phải chuyển một mét khối đá đi xa hơn 1,8 km. Họ phải đẩy như vậy buổi sáng 4 chuyến xe, buổi chiều 3. Họ phải chạy hết tốc lực dưới gậy của bọn cặp rằng, lúc nào cũng giơ lên sẵn sàng giáng xuống đầu họ. Có lần tên chúa ngục bắt tù đi lấy đá dưới chân một hòn núi đá. Bỗng một hòn đá to chừng 300 mét khối, bị lở chân, rơi xuống. Ba tù chính trị và hai tù thường chết, nhiều người bị thương. Sau tai nạn này đã phải đưa hàng trăm tù đi moi xác những nạn nhân, mỗi xác để trên một xe goòng riêng. Xác nào cũng mất một chân hay một tay. Thịt da tả tơi, xương gãy lòi qua da, máu chảy ròng ròng. Có người bị vỡ đầu, chân phải và cánh tay phải mất đâu không tìm thấy.

    Theo sổ sách nhà thầu, một suất gạo một ngày của tù nhân là 0,750 kg. Thật ra khẩu phần đó luôn luôn bị rất nhiều những kẻ trung gian ăn bớt và chỗ gạo đến tay tù nhân bao giờ cũng lẫn cát, sỏi, trấu, mảnh sành. Gạo toàn là gạo lứt. Cá khô lấy từ các nơi đánh cá của Biển Hồ, nhưng tù nhân bao giờ cũng chỉ nhận được cá cơm, cá sặt, cá thác lác, vừa bé vừa lắm xương, dễ thối, lại có mùi dầu rất khó ngửi. Nhiều khi cá chứa trong kho lâu ngày, trên thì nước mưa, dưới thì khí đất ẩm làm cho cá khô ấy mục rữa ra. Đây là một môi trường thuận lợi cho dòi bọ nảy sinh, hóa thành các ổ mục nát lúc nhúc đầy dòi đến ghê tởm.

    Khẩu phần rau lại càng đáng sợ hơn nữa: khi là những thân cây chuối dại, thái to, khi thì là rau sam, rau càng cua, rau dền dại, tất cả các loại rau này đều hái ở trên núi, khi thì là khoai lang vừa già vừa xơ, nhai mãi cũng không nổi. Thỉnh thoảng cũng có cà, rau xa lách, bí, mướp... từ Sài Gòn đưa ra nhưng mặc dù được ghi vào khoản “dành cho tù”, tù nhân bao giờ cũng chỉ nhận được một phần rất nhỏ, toàn những thứ đã khô héo, thối, bị sâu đục. Nước mắm cố nhiên là loại bét; pha muối, pha nước lã đến bảy phần mười, ngửi mùi đến nôn mửa. Mỡ dành cho tù nhân là thứ mỡ hứng của các con lợn quay và người ta đã pha bột vào. Còn muối thì tù nhân tự sản xuất lấy.

    Mỗi năm cứ đến ngày 14-7, và ngày Tết, người ta phát cho tù nhân mỗi người một bộ quần áo xanh bằng vải thô, nói cho đúng chỉ là lược qua thôi chứ không phải khâu thực sự. Khi cần giặt quần áo, tù nhân phải ở truồng, ngay cả khi có gió lạnh. Những anh em tháo vát tìm cách quấn người bằng những mảnh chiếu cũ. Khi đi làm về, người đầy cát, vôi, bụi, vậy mà không được phép tắm rửa.

    Những tù nhân định vượt ngục bị giam vào hầm xay lúa hay bỏ vào hầm tối. Hầm xay lúa có chấn song sắt, với 5 cối xay làm bằng những thùng “ton-nô”cũ. Phải 8 người tù mới đẩy nổi một trong những cái cối đó. Những người bị nhốt ở đây phải làm việc từ 6 giờ sáng đến 5 giờ chiều, cứ hai người xiềng làm một. Hầm tối là một xà lim dài 2 mét, rộng 1 mét, chỉ để hở một cái lỗ nhỏ, có lưới sắt bịt kín. Trên sàn xi măng có chôn một cái cùm gồm một suốt và hai vòng sắt, người tù bị chốt hai chân vào đó suốt ngày, mỗi tháng anh ta phải ăn mười ngày cơm nắm. Nhiều người đã chết trong chốn địa ngục trần gian này.

    Lê Hồng Phong cầm búa đập những cục đá to ra thành đá miếng trải đường. Vừa đập anh vừa cao hứng ngâm bài thơ của cụ Phan Châu Trinh:

    Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,

    Lừng lẫy làm cho lở núi non.

    Xách búa đánh tan năm bảy đống.

    Ra tay đập bể mấy trăm hòn.

    Tháng ngày bao quản thân sành sỏi.

    Mưa nắng chi sờn dạ sắt son...

    Người lính da đen đến gần Lê Hồng Phong:

    - Có phải ông là Lê Hồng Phong không ạ?

    Lê Hồng Phong ngạc nhiên trước vẻ lễ độ của người lính:

    - Vâng chính tôi. Ông cần gặp tôi có chuyện chi?

    Người lính da đen trân trọng:

    - Thưa ông, tôi xin tự giới thiệu tôi là người đã tham gia vào vụ xử bắn bà Minh Khai nhà ta... Xin thú thực với ông, đời tôi chưa bao giờ được chứng kiến một người anh hùng như bà. Khi mười hai anh em chúng tôi được lịnh đưa bà ra trường bắn, bà không cho bịt mắt. Bà hướng về phía dân chúng rồi nói với bọn tôi: Phải để cho tôi nói chuyện với đồng bào tôi một tiếng đồng hồ. Cuối cùng viên chỉ huy người Pháp để cho bà chỉ được nói năm phút. Bà nói năm phút, nhưng rồi năm phút nữa, giọng sang sảng: Việc chúng tôi làm là chính nghĩa. Vì muốn cho Tổ quốc chúng tôi được độc lập, dân chúng tôi được ấm no mà chúng tôi làm cách mạng. Chúng tôi không có tội gì. Rồi bà nói lớn kêu gọi dân chúng đứng lên đánh đổ nhà nước Pháp ở Đông Dương! Viên chỉ huy ra lịnh bắn, thấy bà và những người bạn khác cứ nhìn thẳng vào họng súng của chúng tôi, tôi run tay quá không bắn được nữa. Những người bên cạnh tôi nổ súng, bà và những người bạn của bà còn hô to mấy khẩu hiệu rồi mới chịu ngã xuống. Sau đó, viên chỉ huy người Pháp kiểm tra súng, thấy súng của tôi còn nguyên đạn, khiển trách tôi về tội bất tuân thượng lệnh, giáng cấp bậc tôi và đổi tôi ra ngoài này...

    Lê Hồng Phong cảm khái:

    - Tôi rất hiểu lòng anh và tin tưởng ở lương tâm của anh. Nếu cứ trong mười viên đạn của bọn thực dân mà có một viên đạn lép, điều đó cũng chứng tỏ bọn Pháp sớm muộn cũng sẽ không tồn tại trên đất nước này... và cả trên đất nước quê hương anh...

    Người lính da đen xúc động, nghẹn ngào, cúi đầu xuống. Khi ngước lên, anh ta nhìn thấy trên khuôn mặt phong sương của Lê Hồng Phong đầm đìa nước mắt. Ngoài xa sóng biển vẫn ào ạt vỗ vào bờ. Dãy núi Chúa uy nghi nổi bật lên nền trời tím thẫm.

    Hình ảnh Minh Khai trong bộ quần áo trắng hiện ra lồng vào bóng núi rồi dần dần rõ nét trước cặp mắt nhòa lệ của Lê Hồng Phong.

    Mấy con chim cắc ca ức trắng, cổ trắng, cánh đen từ đỉnh núi bay lên và kêu mấy tiếng báo hiệu trời sắp nắng.

    Hết.

    Nguồn: Chim gọi nắng. Quyển 16 trong bộ Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.

    www.trieuxuan.info

    ___

    1 Tức đồng chí Lê Duẩn.

    2 Tức đồng chí Võ Nguyên Giáp.

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 15

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,342,841

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/