Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập45,795,830

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Đằng sau một vụ án mạng

I. SKORIN

  • Thứ bảy, 19:06 Ngày 25/10/2008
  •  

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Vừa đi vừa huýt sáo miệng giai điệu bài hát mà anh đã nghe được lúc ngồi cạnh ngôi nhà vòm, đại tá trở về khách sạn.

    Sáng tinh mơ. Sảng khoái vì đánh được một giấc ngon lành, đại tá cạo mặt chải tóc cẩn thận rồi đến phòng làm việc. Ở bộ phận thường trực, đại tá gặp Kixêlép.

    - Alếchxanđrơ Đmitriêvích, chào anh!

    - Chào đại úy. Có gì mới không?

    - Không có gì. Các đồng chí ở quận Xtépnôi đã có mặt còn các đồng chí ở quận Giêlêđôrônui thì vừa gọi điện đến báo cách đây nửa giờ là đang sửa soạn lên xe. Chúng ta sẽ tổ chức họp ở đâu? Ở phòng làm việc của anh hay ở phòng của đồng chí trưởng ban?

    - Có lẽ không nên làm phiền đồng chí ấy. Và sau nữa, đây là cuộc nói chuyện của chúng ta, trong một phạm vi hẹp và hoàn toàn mang tính chất nghiệp vụ. Ta cứ làm thế này: khi nào mọi người đến đông đủ, anh mời họ vào phòng tôi. À nhớ là đừng quên thiếu úy Kôzơlenkô đấy nhé... Thế nào, anh ấy đi với các đội viên tự vệ rồi à? Tôi quên khuấy đi mất, tôi đã cử thiếu úy đi theo dõi mấy phạm nhân đang bị giam vì tội càn quấy.

    - Thiếu úy cũng đã báo cáo với tôi.

    - Thế thì tốt rồi.

    Đại tá đón các cán bộ được mời đến họp, làm quen với từng người và mời họ ngồi xuống. Tất cả có sáu người: ba người của quận Giêlêđôrônui hai người của quận Xtépnôi và đại úy Kixêlép. Nhìn quyển sổ ghi chép, đại tá đứng dậy nói:

    - Tôi mời các đồng chí đến đây là để trao đổi bàn luận một số vấn đề. Chúng ta sẽ làm một cuộc “brain attack”.

    Những người có mặt ngơ ngác nhìn nhau. Thấy vậy, đại tá mỉm cười giải thích:

    - Cách đây không lâu, tôi có được đọc một quyển sách tâm lý, trong đó có nói về “brain attack”. Thì ra đó là một phương pháp trong tâm lý học, dịch từ tiếng Anh ra là “cuộc tấn công trí tuệ”. Thực chất của phương pháp ấy là thế này: mỗi khi cần phải giải quyết một vấn đề phức tạp, những người am hiểu tập hợp nhau lại để tìm cách giải quyết vấn đề sao cho tốt nhất. Nói chung ở nước Nga, người ta đã biết đến từ lâu. Thực ra, ở nước ta nó được gọi khác: “ba người dại, hợp lại một người khôn” – Đại tá đùa vui – Huống hồ ở đây chúng ta có những bảy thằng dại hợp lại. Còn vấn đề là làm sao để phát hiện ra vụ trộm cửa hàng. Chúng ta bắt đầu từ quận Giêlêdôrônui. Ở quận các đồng chí còn hai vụ chưa phát hiện ra phải không?

    - Báo cáo đại tá, vâng còn hai vụ.

    Một người đeo lon thiếu tá, trạc chừng ba tám, bốn mươi tuổi đứng dậy. Cái huy hiệu sinh viên lấp lánh trên ngực áo.

    -          Đồng chí ngồi xuống đi – Đại tá nói và cũng ngồi xuống – Chúng ta không nên quan cách quá. Phải tạo một không khí thoải mái, ai muốn hút thuốc thì cứ việc hút – Anh nói và đưa mắt tìm tên thiếu tá trong bản danh sách những người được mời họp. Vitali Alếchxanđrơvích, đồng chí báo cáo về tình hình của quận đồng chí đi.

     

    Không vội vã, không nhìn vào sổ ghi chép, với vẻ mặt của một người hiểu rõ những điều mình sắp nói, thiếu tá báo cáo:

    - Vụ trộm thứ nhất xảy ra vào một đêm thứ bảy rạng ngày chủ nhật tháng sáu năm ngoái. Bọn tội phạm đã mở khóa cửa một gian phòng trống chung tường với cửa hàng giày rồi đục tường chui vào. Ở đấy bọn chúng đã cuỗm đi hơn một trăm đôi giày đàn ông loại thời trang. Toàn giày nhập cảng của Pháp, của Úc... Vụ mất trộm đã phát hiện vào hôm thứ hai, khi cửa hàng mở cửa. Bọn trộm có mang theo một chiếc xe hơi, nhưng xe gì thì không ai biết. Gian phòng trống có cửa thông ra một khoảng sân, ở đấy có nhiều người có xe hơi riêng. Khi chúng tôi đến xem xét hiện trường thì không còn làm sao có thể xác minh được đâu là dấu vết của ai nữa. Tại khu vực bức tường bị đục và cả trong cửa hàng chúng tôi cũng không phát hiện thấy dấu vết gì. Nhìn chỗ bức tường bị đục, chúng tôi nhận định bọn tội phạm đã mang theo những công cụ sắc bén. Chúng tôi đã tốn rất nhiều công sức để điều tra, song cho đến nay vẫn chưa làm ra. Vụ thứ hai xảy ra hôm mồng bốn tháng tám năm nay, cũng vào tối thứ bảy. Lúc đầu bọn tội phạm lấy cắp chiếc xe “Mốtxcơvích” chuyện đó xảy ra lúc hai mươi mốt giờ mười lăm, điều này chúng tôi đã xác minh chính xác. Chủ nhân của chiếc xe, trên đường đi công tác ghé về nhà, dừng xe ở ngõ, lên lầu một phút sau chạy xuống thì không còn thấy xe đâu cả. Lúc đầu người chủ xe tưởng là có ai đó đùa nghịch lái đi đâu đó nhưng chạy tìm quanh mãi không thấy đâu nên đành chạy đến báo với chúng tôi. Hôm ấy chính tôi đang trực ban. Tôi liền dùng bộ đàm báo cho các trạm cảnh sát giao thông. Một giờ sau, một chiến sĩ công an của chúng tôi nhận thấy chiếc xe ăn cắp. Đi quanh khu vực của mình xong, đồng chí đi về phía cửa hàng “Vải sợi” muốn kiểm tra xem có chuyện gì không. Bỗng một chiếc xe “Mốtxcơvích” màu “đêm trắng” phóng tới. Nghĩ bụng “đây chính là, chiếc xe vừa báo mất” đồng chí ấy liền lao ra chặn đường nhưng bọn lấy cắp xe đã cho xe đâm thẳng vào. Thấy thế, người chiến sĩ công an nhảy phốc một cái kịp thời tránh ra thế nhưng bọn chúng cũng đã làm người chiến sĩ đó ngã và gãy xương chậu. Bị ngã và bị thương nặng người chiến sĩ ấy đã kịp nổ hai phát súng và kịp nhận thấy bọn chúng có hai đứa. Cả hai đều là người lớn, mặc áo sơmi màu tối, không đội mũ. Chúng tôi lập tức huy động toàn bộ lực lượng truy tìm khắp thành phố, nhà ga, các vùng ngoại thành và bốn mươi phút sau mới tìm được chiếc xe. Bọn tội phạm đã vứt nó ngay trên mặt đường. Một viên đạn đã xuyên thủng bình xăng phụ rồi mắc kẹt sau lưng ghế vì thế mà tên tội phạm đã không hề gì. Dưới sàn xe, giữa hai hàng ghế chúng tôi đã phát hiện thấy một cái nhãn của cửa hàng “Vải sợi”. Chúng tôi liền cho mời chủ cửa hàng đến. Cùng với chủ cửa hàng, chúng tôi đã xem xét kỹ càng mọi thứ một lần nữa. Cả ba ống khóa của cửa hàng đều bị mở và điều rất lạ là không hề để lại một dấu hay vết xước nào. Trước khi rút lui bọn tội phạm đã khóa cửa ngoài lại và thậm chí còn quét dọn sơ qua. Lần này bọn chúng đã cuỗm đi ba súc vải đắt tiền. Về vụ này cho đến nay vẫn chưa có gì sáng sủa.

    -  Người chiến sĩ công an có thể nhận diện được bọn tội phạm chứ?

    - Không, đại tá, không thể. Anh ta chỉ kịp nhìn ra bọn chúng. Xét theo đồng hồ tốc độ thì bọn tội phạm chỉ sử dụng xe có hai giờ, và chỉ chạy có bảy cây số. Trước khi mất xe, chủ nhân của chiếc Mốtxcơvích đã cùng với vợ ra ngoại thành và vì muốn biết khoảng cách từ nhà đến nhà nghỉ nên họ đã nhớ rất chính xác số đo trên đồng hồ. Chúng tôi đã lùng sục khắp mọi nơi. Đã tiến hành xác minh mọi giả thuyết đặt ra, đã cho gọi những người bị tình nghi lên thẩm vấn nhưng – thiếu tá khoa tay – cả bọn tội phạm lẫn hàng hóa đã “rơi xuống đáy biển”.

    - Từ chỗ chiếc xe bị lấy cắp đến chỗ phát hiện ra nó cách nhau bao xa? – Đại tá hỏi.

    - Nếu như cho xe ghé qua cửa hàng Vải sợi thì gần ba cây, chính xác là hai cây số và bảy trăm mét.

    - Đồng chí có muốn nói thêm gì nữa không?

    - Về bằng chứng và chứng cứ thì không còn gì để nói. Nhưng giả thuyết và kết luận thì có.

    - Cái đó chúng ta sẽ bàn luận sau. Bây giờ để nghe đồng chí đội trưởng đội hình sự quận Xtépnôi báo cáo đã.

    Người đại úy có nước da ngăm ngăm đứng dậy. Bộ ria mép đen nổi bật trên khuôn mặt rám nắng, mái tóc xõa xuống trán. “Một anh chàng Côdắc” – đại tá nghĩ vậy và sực nhớ đến ông già bán dưa hôm qua.

    - Đồng chí Grigôrép, chúng tôi nghe, đồng chí báo cáo đi.

    - Vụ trộm ở quận tôi xảy ra hôm hai mươi bảy tháng tư, cũng vào tối thứ bảy rạng ngày chủ nhật. Đó là một cửa hàng trung tâm quận vừa mới được xây dựng. Đang đêm bọn tội phạm đã đánh một chiếc “Mốtxcơvích” đến đậu sát tường sau cửa hàng, leo lên nóc xe, dỡ một miếng brô ximăng chui vào khuyết trần rồi trèo xuống kho. Bọn chúng đã chui vào phòng cửa hàng trưởng và cuỗm đi một cái hộp sắt nhỏ. Trong hộp là các thứ tài liệu quan trọng và một ngàn chín trăm rúp. Trong số hàng hóa có ở cửa hàng, hầu như không bị mất gì. Vì là một cửa hàng tổng hợp nên một bên là hàng công nghiệp một bên là hoa quả, thực phẩm. Ở quầy thực phẩm bọn gian đã lấy đi một bánh pho mai, mấy hộp cá sardin và mười lăm chai rượu cô nhắc. Ở đấy có một bao gạo và bọn gian đã đổ gạo ra sàn và có lẽ đã dồn hết các thứ vừa lấy được vào cái bao đó. Xét theo dấu vết thì bọn gian đã lấy trộm cửa hàng ở quận chúng tôi cũng gồm hai tên. Nhưng ngoài vết bánh xe, chúng tôi đã không tìm thấy tang vật gì cả. Người gác cửa hàng là một ông già sống đối diện. Chân ông ta bị cà nhắc nên đi lâi khó khăn. Ông ta ngồi suốt đêm trong nhà nhìn qua ô cửa sổ nhà mình, nhưng cũng không nhìn thấy gì cả.

    Sau đó đến lượt đại úy Kixêlép báo cáo. Đại tá đề nghị:

    - Chúng ta sẽ không nghỉ giải lao. Tôi chỉ hỏi mấy câu sau đó chúng ta bàn luận. Đồng chí Grigôrép, thế có ai nhìn thấy chiếc “Mốtxcơvích” ấy không?

    - Không, đồng chí đại tá ạ, chỉ có vết bánh xe thôi.

    - Thế các đồng chí có tìm thấy dấu tay không?

    - Không. Chỉ tìm thấy sáu mẩu thuốc là “Opal”. Có đưa xét nghiệm nước bọt.

    - Đồng chí thiếu tá, trong hai vụ trộm xảy ra ở quận đồng chí cũng không tìm thấy dấu tay à?

    - Cũng không.

    - Thế còn trong chiếc xe?

    - Chúng tôi đã tìm kiếm từng dấu vết trong xe thế nhưng ngoài dấu tay của hai vợ chồng chủ xe ra, không tìm thấy dấu vết gì khác. À chúng tôi còn tìm thấy hai mẩu thuốc “Belomorkanan” và mấy mẩu giấy gói kẹo.

    - Kẹo gì? – Đại úy Kixêlép nhấp nhổm trên ghế, hỏi ngay.

    - Kẹo “Khôlôđóc” sản xuất tại nhà máy Babaép ở Mátxcơva. Hai vợ chồng chủ xe nói rằng đó là loại kẹo mà họ ghét cay ghét đắng...

    - Lý thú, rất lý thú! – Đôrôkhốp mỉm cười nói.

    Một đại úy công an bước vào. Anh ta đập chân, đưa tay lên mũ chào, báo cáo.

    - Đồng chí đại tá! Mời đồng chí ra phòng trực ban nghe điện thoại.

    - Điện thoại Mátxcơva à?

    - Không, điện thoại nội thành. Rất gấp.

    - Xin lỗi các đồng chí nhé. Yêu cầu các đồng chí chờ cho một phút.

    - Alếchxanđrơ Đmitriêvích đấy à? Chào chú, cháu là Đina đây. Ôlếch nói đúng, có dao thật. Cháu và anh Đviagin đã tìm ra nhân chứng. Họ đã nhìn thấy con dao đó. Chú đến nhanh lên nhé. – Giọng cô gái gọi điện thoại run run, đứt quãng.

    - Cháu đang ở đâu đấy? – Đại tá Đôrôkhốp vừa hỏi vừa cân nhắc xem phải hành động như thế nào – Trong khu nhà gần chỗ xảy ra vụ án à? Khu “A” nhà số 58. Thế từ đâu cháu gọi đến đây. Điện thoại tự động à? Chờ chú nhé chú sẽ đến ngay – Quay về phía đồng chí trực ban, đại tá hỏi – Có xe không?

    - Báo cáo đại tá, có.

    - Đina, cháu nghe chú nói chứ? Cháu đợi chú ở sân nhé, chú đến ngay bây giờ... Đồng chí trung úy, đồng chí đến nói với đại úy Kixêlép là tôi phải đi đây một lúc, mong mọi người thứ lỗi. À mà có lẽ cũng đã đến lúc cần phải giải lao rồi, nhưng đồng chí cứ nói với họ là tiếp tục thảo luận đi.

    Đina nóng ruột đứng ngồi không yên. Cô cứ đi đi lại lại. Nhìn thấy chiếc xe “Vônga” công an, cô chạy ra đón. – Alếchxanđrơ Đmitriêvích! Ngay hôm đầu tiên cháu và anh Đviagin đã nghĩ là bác ấy nói dối nên đã quyết định sẽ nói chuyện với bác trai. Lần thứ hai bọn cháu đến bác gái đã không cho bác trai nói được câu nào. Hôm sau nữa, cháu cùng với anh Đviagin ngồi trong nhà vòm canh. Chờ cho bác gái ra khỏi nhà, chúng cháu liền lên gặp bác trai hỏi chuyện. Bác Êgo Mikhailôvích đã kể hết mọi chuyện. Nhanh lên chú?

    Đại tá Đôrôkhốp không hiểu gì nhưng cũng vội vàng đi theo cô gái. Người mở cửa cho hai người là Đviagin. Rõ ràng là anh chàng có vẻ thông thạo ngôi nhà mới.

    - Chào đồng chí đại tá! – Anh ta đón đại tá bằng một nụ cười tươi rói – Đồng chí vào đây, bác Êgo Mikhailôvích đang ngồi viết đơn gửi đồng chí.

    Chủ nhà là một người đàn ông có tuổi đang ngồi sau chiếc bàn kê giữa một căn phòng lớn. Ông ta có vẻ lo lắng, rụt rè, mặt cúi gầm. Nhìn thấy đại tá, ông ngoan ngoãn đứng lên, còn Đina và Đviagin thì tranh nhau nói cho đại tá biết rằng hai vợ chồng ông Êgo Mikhailôvích là người đầu tiên đến bên Xlavin và có nhìn thấy con dao.

    - Đúng, tôi có nhìn thấy một con dao ở đấy. Nó to, sáng loáng, với một cái cán màu trắng. Sau đó có một người đàn ông trẻ đi đến, nhặt con dao đó lên, hươ hươ trước mặt tôi rồi bỏ vào túi. Anh ta nói với tôi và Ôlétxa, vợ tôi là phải câm miệng không được nói với ai. Anh ta bỏ đi, còn chúng tôi thì lặng im. Nhưng rồi hai cô cậu này – ông chỉ Đina và Đviagin- đã giải thích cho tôi biết thế nào là sự thật và tôi cảm thấy xấu hổ cho mình và cả cho vợ. Tôi nghĩ là tôi không có quyền được im lặng. Có thể bây giờ người ta sẽ lên án tôi, thế mới đáng đời cái lão già ngu ngốc, nhưng tôi sẽ nói hết mọi chuyện. Hôm ấy, lúc hai vợ chồng tôi đang đi dạo thì một thanh niên cao, to đeo kính chạy đến nói rằng có người bị nạn và yêu cầu chúng tôi đến trông chừng. Chúng tôi đến và nhìn thấy anh thợ cắt tóc Xlavin đang nằm sóng soài dưới cổng. Anh ta nằm nghiêng, bất động. Cách anh ta một quãng, về phía tay phải, một con dao cán trắng nằm lăn lóc. Bà vợ tôi cúi xuống bên Xlavin, thế rồi không biết từ đâu một người đàn ông trẻ xuất hiện, người này đưa tay sờ mạch anh thợ cắt tóc, nói rằng hết thở rồi, sau đó hắn nhặt con dao lên. Tôi để ý và nhận thấy tay người này có vết xăm. Trên mỗi ngón tay có xăm một chữ và tôi đọc thấy “Bôria”. Anh ta cầm con dao đi đến chỗ chúng tôi. Tôi nhận thấy anh ta hơi say. Anh ta múa may con dao trước mặt hai vợ chồng tôi sau đó nói chúng tôi đừng sợ, đó là anh ta đùa, nhưng nếu chúng tôi khai ra là có nhìn thấy con dao ấy thì anh ta sẽ trừng trị, ngay cả khi chúng tôi về bên kia thế giới. Lúc công an mời chúng tôi vào đồn, bà vợ tôi nói: “Anh Êgo này, sao chúng ta lại phải vội về bên kia thế giới nhỉ? Chi bằng chúng ta đừng nói cho ai biết chuyện con dao và người đàn ông kia. Còn nếu như công an thấy cần thì cứ để họ tự đi tìm lấy, việc gì đến mình”. Và thế là chúng tôi đã im lặng.

    Đôrôkhốp mời Êgo lên xe rồi cùng với Đviagin phóng về ban hình sự thành phố. Đina ở lại chờ bà vợ Êgo. Cô còn có nhiệm vụ phải nói lại với bà vợ Êgo là công an gọi bà lên gặp gấp. Thực ra, cô không muốn ở lại chút nào nhưng đại tá đã làm cho cô yên lòng nói rằng để làm thủ tục cũng phải mất ít nhất một, hai tiếng vì vậy mà thế nào cô cũng kịp đến trước khi Ôlếch được thả.

    Tại phòng làm việc ở ban hình sự thành phố trong lúc người ta thẩm vấn Êgo Mikhailôvích thì đại úy Kixêlép hì hụi đào tìm trong đống hồ sơ lưu trữ, tìm kiếm con người có vết xăm chữ “Bôria” trên tay, còn đại tá thì tập trung những người được mời họp lại. Anh xin lỗi là đã buộc lòng phải tạm thời ngừng xem xét các sự vụ khác, hứa sẽ gặp lại sau. Mọi người biết rằng lúc này đại tá không còn thời gian để nghĩ đến họ, chỉ có thiếu tá Vaxili là không kìm nổi, gạn hỏi:

    - Hay là đồng chí hỏi về những chiếc kẹo “Khôlôđóc” cho chúng tôi nghe với?

    Đại tá im lặng, gọi điện thoại ra lệnh cho trực ban dẫn Ôlếch lên gặp anh và xin lỗi mọi người một lần nữa.

    - Đồng chí thiếu tá, đừng trách nhé. Tôi sẽ nói, thế nào tôi cũng sẽ nói cho các đồng chí biết nhưng bây giờ thì không còn thời gian. Đồng chí cũng thừa biết là một khi ở ban hình sự ngửi thấy mùi khét là cần phải lập tức hành động thế mà lúc này, không phải chỉ có mùi khét mà là mùi cháy.

    Thiếu tá đứng dậy, đi ra cửa, nhưng đại tá đã gọi lại:

    - Thiếu tá Vaxili! Tí nữa thì tôi quên mất. Ở quận của đồng chí, đối diện với ga xe lửa có cửa hàng ăn nào không nhỉ?

    - Có – Thiếu tá ngơ ngác, trả lời. – Có một cửa hàng mới xây cách đây hai tháng, rất đẹp.

    - Thế thì thế này nhé. Đây, đồng chí cầm lấy mẩu giấy này – đại tá nói và mở cặp tài liệu tìm mẩu giấy mà anh đã phát hiện được trong túi áo blu của Xlavin- đến gặp đại úy Kixêlép, anh ấy sẽ nói mọi chuyện cho mà nghe. Còn bây giờ, đồng chí phải đến ngay cái cửa hàng ăn mới đẹp ấy hỏi xem hôm thứ bảy trước khi xảy ra vụ mất trộm có ai đi xe “Mốtxcơvích” đến đấy không.

    Ôlếch được giải đến. Đại tá gật đầu đáp lại lời chào tạm biệt của thiếu tá rồi ra hiệu cho Ôlếch ngồi xuống. Trước khi ngồi xuống, Ôlếch đặt lên bàn một quyển vở.

    Còn lại một mình Ôlếch, đại tá đến bên vỗ vai anh, nói:- Ôlếch, xong rồi. Mọi việc đã rõ ràng. Những đau khổ của cậu đã kết thúc. Cô người yêu của cậu quả là người giỏi giang – chính cô ấy đã tìm ra những người đã nhìn thấy con dao.

    Phải ngồi lại chờ bà vợ Êgo Mikhailôvích về, Đina bực bội đứng ngồi không yên. Cô muốn chạy đến một nơi nào đó, nói chuyện với một người nào đó. Cô cứ sợ Ôlếch được thả mà không có ai đón phải lủi thủi đi về một mình. Cô hình dung ra cảnh bố mẹ Ôlếch vui mừng đón con và lo lắng không biết cô ở đâu. Người ta nói vì xúc động quá có thể ngất như chơi.

    “Mình phải gọi điện chuẩn bị tinh thần cho bố mẹ anh ấy mới được”. Nghĩ vậy, Đina lao xuống cầu thang, chạy đến trạm điện thoại tự động ở góc nhà.

    Từ trạm điện thoại bước ra, cô yên tâm thủng thẳng trở lại “vị trí quan sát”. Đến cạnh ngõ, cô dừng lại và tỏ vẻ hồi hộp. Cô có cảm tưởng có chờ nữa cũng vô ích vì trong khi cô chạy đi gọi điện thoại biết đâu Êgo đã trở về và có thể bây giờ đang ngồi trong nhà thế mà cô lại còn đứng đây cho hoài công. Cô chạy đâm bổ vào ngõ rồi cứ thế nhảy hai bậc thang, lao lên căn hộ, bấm chuông rối rít. Không ai mở cửa cho cô cả. Cô đứng một lúc ở cầu thang rồi quyết định bấm chuông nhà đối diện. Một người đàn ông cao, to vạm vỡ ra mở cửa. Anh ta mặc một chiếc áo sơmi màu xám không cài cúc, chiếc quần Jean xanh, đi chân không. Nhìn thấy Đina, anh ta vội vàng giấu một cái gì đó ra sau lưng rồi hỏi với vẻ khá lỗ mãng:

    - Cần gì?

    - Anh đã về rồi đấy à? Thế còn Ôlếttrôca đâu? – Vì quá bất ngờ. Đina bối rối và rõ ràng là đã nói những điều không cần nói.

    Kriutrôcốp lúng búng trong miệng, rằng đó không phải việc của cô, rồi đóng sập cửa lại vì tưởng Đina là một trong những người bạn của cô vợ đã bỏ nhà theo trai. Đina không giận dỗi, bấm chuông tiếp. Không đợi đến lúc cửa mở, cô hét to:

    - Anh Xtêphan mở cửa ra. Em là người mà cách đây một tuần anh Ôlếch bảo đến gặp anh đây mà. Em đã đến tìm anh mấy lần nhưng anh đi vắng.

    Kriutrôcốp mở cửa, bực bội hỏi:

    - Sao Ôlếch không đến mà lại nhờ cô?

    - Anh ấy không thể đến được – Đina đưa tay lên ngực nói – Bởi vì anh ấy đang ngồi trong trại giam.

    - Ôlếch? Trong trại giam? Chuyện vớ vẩn! Sao, cô định chọc tôi đấy à? – Kriutrôcốp nói giọng bực bội, hai tay buông thõng. Mảnh vải lau nhà ướt sũng trong bàn tay phải của anh, nước chảy ròng ròng. Ném mảnh giẻ vào một xó, Kriutrôcốp nói – Cô vào trong này nói mọi chuyện cho tôi nghe xem nào. Cô đừng để ý cái này làm gì – Anh nói và đưa chân đá mảnh giẻ lau nhà vào xó – Cần phải lau chùi nhà cửa. Mời cô vào nhà bếp, ở đấy tôi đã lau chùi sạch sẽ.

    Kriutrôcốp rút một điếu thuốc, ném bao thuốc lên bàn, châm lửa rít liền mấy hơi, nhìn Đina với vẻ chỉ trích và rõ ràng là khó chịu lắm.

    - Chuyện gì đã xảy ra với Ôlếch, cô có thể nói cho ra hồn được chứ?

    Đina bắt đầu kể:

    - Ngày mồng bảy tháng tám vừa rồi, khi Ôlếch từ nhà anh đi ra thì bị Xlavin vung dao định giết...

    - Khoan, khoan! Kriutrôcốp ngắt lời cô gái – Xlavin nào?

    - Anh thợ cắt tóc ấy.

    - Xécgây ấy à? Lạ thật!

    - Để tự vệ, Ôlếch đã dùng một miếng võ, đánh bật con dao quật ngã Xlavin. Khi ngã, Xlavin đập đầu xuống đường nhựa chết thẳng cẳng. Ôlếch bị bắt giam vì con dao biến mất và vì thế mà không ai tin Xlavin định dùng dao đâm Ôlếch.

    - Thế mà tôi có biết gì đâu. Chuyện đó xảy ra ở đâu?

    - Dưới cổng chào phía bên kia khu vườn.

    Kriutrôcốp đứng phắt dậy, châm điều thuốc khác.

    - Con dao thế nào?

    - Anh Ôlếch nói đó là một con dao lớn, có cán trắng, trên cán có nét chạm.

    - Thế thì nó biến đâu, con dao ấy?

    - Điều đó cho đến nay vẫn chưa ai biết. Nhưng hôm nay, ông bạn láng giềng của anh nói với bọn em là hai vợ chồng ông có nhìn thấy con dao nhưng nó đã bị một gã đàn ông lấy đi. Hắn còn dọa là nếu hai ông bà ấy nói ra thì hắn sẽ dùng con dao ấy giết họ. Gã đàn ông ấy có vết xăm một chữ “Bôria” trên tay.

    - Bác Êgo Mikhailôvích đã nhìn nhầm – Kriutrôcốp lẩm bẩm, vùng chạy vào phòng, không thèm xỏ tất vội vội vàng vàng khoác sandal rồi nói vẻ thô lỗ: Cô đến công an trước đi. Tôi sẽ đến sau và sẽ mang con dao ấy đến. Tôi biết con dao đó và biết nó hiện đang ở đâu.

    Đại tá Đôrôkhốp nhìn đồng hồ, đã bốn rưỡi sáng. Bắt đầu một ngày mới. Anh có cảm tưởng chỉ có ở cơ quan hình sự mới có những cuộc hội họp vào giờ này song anh không thể bảo mọi người ai về nhà nấy mà không nói cho họ biết anh đã đi đến những kết luận của mình như thế nào và tại sao anh lại đi đến những kết luận ấy.

    - Thôi được, tôi sẽ lật những con bài của tôi lên cho các đồng chí xem vậy. Bắt đầu từ cái chết của Xlavin. Khi tôi được nghe nói Lavrốp là người như thế nào tôi đã lập tức tin anh ta. Tôi tin không phải vì anh ta dễ thương. Mà tin vì một lẽ rất đơn giản là sự thật thà của anh ta đã được xác nhận một cách khách quan. Lập tức xuất hiện câu hỏi, tại sao Xlavin một con người hoàn toàn tỉnh táo lại đột nhiên định giết Lavrốp. Không thể tự nhiên mà Xlavin đi rình rập, theo dõi và chờ cơ hội thuận tiện để vung dao đâm Lavrốp. Hiếm, có thể nói là rất hiếm có những vụ giết người không có động cơ.

    Và thế là tôi bắt đầu đi tìm cái động cơ. Ngoài ra tôi nghĩ rằng nếu việc giết hại Lavrốp có chuẩn bị trước thì chắc hẳn phải có một kẻ nào đó có liên quan trong việc này giám sát kẻ trực tiếp thực hiện – Xlavin. Để kiểm tra giả thuyết này tôi đã tìm tòi và nhặt được mấy mẩu giấy kẹo. Lúc đầu tôi nghĩ, có thể đó là những mẩu giấy kẹo do Xlavin vứt ra. Nhưng qua tìm hiểu, tôi xác minh được rằng Xlavin là người không thích ăn kẹo. Đến đây thì cái giả thuyết cho rằng kẻ giám sát Xlavin đã lấy con dấu đi là hoàn toàn logic. Không có con dao, bức tranh toàn cảnh của sự vụ sẽ lập tức đổi khác. Nhưng chỉ có một tên tội phạm khôn ngoan, từng trải và bình tĩnh mới có thể hành động như thế. Thế rồi tôi nhớ đến phương pháp suy diễn và quy nạp, từ một trường hợp cá biệt vụ ám hại Lavrốp suy diễn rộng ra. Lập tức tôi nghĩ ngay tới các vụ trộm. Trong tất cả các vụ trộm ấy kẻ gian đã sử dụng tới những phương pháp khoét trần nhà. Có thể cho rằng đó là những thủ phạm khác nhau. Song có một điều làm tôi băn khoăn đó là trong cả ba vụ kẻ gian đã không hề để lại một tí dấu vết gì. Không có dấu giày dép, không có dấu vân tay. Lúc đầu tôi cho đó là lạ nhưng rồi tôi nghĩ cái đó hoàn toàn có quy luật. Nếu các đồng chí muốn biết, cái đó là đặc điểm đặc trưng cho những tên tội phạm già dặn kinh nghiệm, cái điều này nghe có vẻ ngược đời nhưng chính các phương pháp khác nhau đó chỉ là cái để ngụy trang mà thôi. Tiếp đó, kết luận tự đến: thủ phạm là người ở đây, trong thành phố này. Chúng đã lấy trộm một cửa hàng ở quận này sau mới mò sang các quận lân cận. Bởi lẽ cứ lấy mãi một chỗ sẽ bị lộ. Hơn nữa ở đây lại nhiều người biết Xlavin.

    Lúc tôi tìm thấy mẩu giấy trong túi áo blu của hắn, mẩu giấy mà trong đó nói về cái cửa hàng ăn uống đối diện với ga xe lửa, và Xlavin đã nhận trước khi xảy ra vụ trộm ở cửa hàng, tôi gần như dám chắc rằng Xlavin có tham gia vụ này. Trong khi làm quen với Bócđanốp, cái đã đập vào mắt tôi trước tiên là những vết xăm. Đặc biệt là vết xăm có hình mỏ neo. Nó quều quào và có màu mực khác nhau. Tôi đã phải bỏ khá nhiều thời gian để nghĩ xem cái vết hình mỏ neo ấy đã được xăm lại từ hình gì. Mãi sau tôi mới nghĩ ra thì ra đó là hình một ngọn giáo có con rắn quấn quanh. Nhưng cái chính nhất đã làm cho Bócđanốp bại lộ là cái thói quen cũ của hắn. Mỗi lần đọc biên bản và ký xong hắn lại cẩn thận đọc lại một lần nữa rồi cầm bút gạch chéo những chỗ giấy còn để trống. Đó là một sơ suất hoàn toàn không thể dung nạp được. Có một thời bọn tội phạm vẫn có kiểu làm như vậy: sợ người ta ghi thêm thắt vào biên bản nên chúng thường gạch ngang không chừa một hàng trống. Nói chung dù vô cùng khôn khéo hắn vẫn bị cái tính thận trọng quá đáng của hắn làm bại lộ. Mà cái đã bắt hắn phải thận trọng như thế lại chính là sự sợ hãi, một sự sợ hãi bình thường khi mà mới nhìn thấy bóng mèo lại ngỡ gấu. Bề ngoài, Bócđanốp tỏ ra bình tĩnh. Nhưng chỉ là bề ngoài. Tôi liền điện về Mátxcơva. Bức điện trả lời các đồng chí đã biết. Tuy vậy, ngay cả trước khi nhận được bức điện, khi nghe thiếu tá Vitali nói về những mẩu giấy kẹo tìm thấy trong chiếc “Môtxcơvích” tôi nghĩ, thế là mọi việc đã rõ như ban ngày. Bây giờ tôi nói về vụ Lavrốp. Chính sự sợ hãi đã thúc đẩy bọn tội phạm đi đến quyết định giết Ôlếch. Tôi sẽ giải thích tại sao. Một ý nghĩ đã không để cho họ yên là những con đường của Lavrốp, của Xlavin và của Bócđanốp đã cắt nhau ở đâu. Tôi đã yêu cầu Ôlếch nhớ lại tất cả những gì đã xảy ra trong những ngày trước khi có vụ án mạng xảy ra, anh ta đã ở đâu, đã gặp ai, đã nói gì v.v... Ôlếch đã viết đầy một quyển vở dày và các đồng chí nghĩ sao? Thế mà cậu ấy không nhớ là mình đã nhìn thấy Bócđanốp bên cạnh chiếc “Môtxcơvích” của hắn khi hắn đang cùng với Xlavin cất giấu những thứ của lấy được. Những gì có liên quan đến tình bạn của Ôlếch và Kriutrôcốp thì nó đã có từ lâu, từ hồi hai cậu ấy còn là niên thiếu. Thì ra, Ôlếch đã đau khổ dằn vặt rất nhiều khi Xtêphan gây sự đánh nhau rồi phải ngồi tù. Ôlếch tự thấy mình có lỗi vì đã không ngăn ngừa bạn kịp thời để nên sự cớ ấy. Một ngày sau khi vụ trộm xảy ra, Bócđanốp nhìn thấy Ôlếch đi cùng Kriutrôcốp và nghĩ rằng thế là hết.

    Thuyết phục Xlavin thủ tiêu Ôlếch đối với Bócđanốp không có gì khó khăn cả bởi lẽ chính Xlavin đã lái xe đâm thẳng vào người chiến sĩ công an và làm anh bị thường mà đó chẳng phải một cái gì khác hơn là mộy tội cố tình ám hại. Vụ trộm cuối cùng bọn chúng đã dùng chiếc xe lấy cắp được, sau đó mới chuyển hàng hóa sang xe mình. Những cái khác các đồng chí đã biết. Đấy, có lẽ chỉ có thế... Tuy vậy tôi vẫn muốn nói thêm điều này nữa. Khi Bócđanốp sai Xlavin đi thanh toan Lavrốp, hắn đã quyết định đi giám sát tận mắt. Vì vậy trong bụi nhài mới có giấy kẹo “Khôlôđóc”. Nếu các đồng chí cho phép tôi xin được khuyên các đồng chí một điều: dù có bận bịu gì đi nữa thỉnh thoảng các đồng chí cũng nên gặp nhau trao đổi các công việc của mình và cũng nên quan tâm đến sự nghiệp giáo dục thanh thiếu niên nhiều hơn nữa. Phải nói điều này sao cho hay nhỉ.- Đôrôkhốp im lặng, cố tìm những từ ngữ cho thật bóng bẩy nhưng có lẽ vì không tìm được những từ ngữ gì hay hơn nên anh đành kết thúc:

    - Cần phải đi sâu vào tâm tư, tình cảm của lớp trẻ, nhưng phải tình cảm và thân ái.

    ***

    Mọi người về nghỉ, chỉ còn đại úy Kixêlép và đại tá trong phòng.

    Đại tá đăm chiêu nhìn cửa sổ, sau đó quay lại hỏi đại úy:

    - Anh có tìm đâu ra con dấu bây giờ không nhỉ?

    - Có ngay. Nó ở phòng trực ban.

    - Nếu vậy thì thế này nhé, anh đi đóng dấu cho tôi cái công lệnh và mua cho tôi một cái vé máy bay chuyến sáng nay, lúc này vẫn còn kịp chán. Tôi sẽ cho người nhà của tôi một cú bất ngờ: họ nghĩ là ít nhất tôi cũng phải đi mười ngày mà hơn nữa tôi đã thấy nhớ con gái.

    Đại úy đi một lúc rồi quay lại ngay.

    - Tôi đã cho Kôzơlenkô ra sân bay, cậu ấy sẽ mang vé máy bay đến khách sạn cho anh. Còn dấu thì đây, anh đưa công lệnh đây cho tôi.

    Lúc chia tay, tại tá cảm thấy Kixêlép không còn phân vân như hôm đầu tiên mới gặp anh, nó đã biến đâu mất không còn dấu vết.

    Cùng với Kixêlép, Kôzơlenkô bước vào phòng ở của đại tá trong khách sạn. Trên tay thiếu úy là một cái giỏ đan lớn. Anh đặt giỏ xuống sàn rồi rút cái vé máy bay từ trong túi ra.

    - Alếchxanđrơ Đmitriêvích, đã mua được vé, chuyến đầu tiên, bốn mươi phút nữa anh đã có mặt trong không trung.

    Đại tá cầm vé bỏ vào túi, trả tiền, định xách vali lên nhưng đại úy đã cầm trước.

    - Để tôi và thiếu úy tiễn anh ra sân bay.

    Kôzơlenkô mỉm cười, đẩy cái giỏ cho đại tá.

    - Tặng anh ít đào làm quà.

    - Các cậu bày vẽ quá! – Đại tá bối rối – Ở Mátxcơva chúng tôi hoa quả đâu có thiếu, góc nào cũng có bán.

    - Nhưng đây là những quả đào đặc biệt – Kôzơlenkô không chịu – Đây là những quả đào do chính tay đại úy làm ra.

    Đại tá mở tờ báo đậy trên giỏ ra và nhìn thấy những quả đào chín mọng to tướng phơn phớt một màu hồng. Đại úy Kixêlép đứng tréo chân, năn nỉ:

    -          Alếchxanđrơ Đmitriêvích, anh cầm lấy đưa về làm quà cho cháu gái. Tôi cũng là người may mắn được phân một căn hộ tầng một mà, những căn hộ mà thay vì ban công là một mảnh vườn nhỏ dưới vòm cửa sổ. Giống đào này tôi đã lấy ở Krưm về, trồng xuống, thế mà đã thu hoạch được ba mùa rồi đấy.

     

    (Còn tiếp)

    Nguồn: Đằng sau một vụ án mạng. Anh Côi dịch. Tủ sách Trinh thám, Tình báo, Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp xuất bản.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập45,795,830

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/