Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,074,990

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Khám phá một tia sáng Văn hóa Phương Đông (2)

Xuân Cang

  • Thứ hai, 18:18 Ngày 26/01/2009
  • Phần Một: Tám chữ Hà Lạc và Quỹ đạo đời người

     

    Đề toán ra cho bài toán Hà Lạc gồm có tám chữ Can Chi tính theo Lịch Can Chi phản ánh Năm, Tháng, Ngày, Giờ sinh của một con người.

    Khái quát về Lịch Can Chi. Tên gọi chính xác là Lịch Âm Dương theo hệ đếm Thiên Can Địa Chi, gọi tắt là Lịch Can Chi. Trước hết nói về lịch Âm thuần tuý. Lịch này lấy sự vận động của Mặt trăng làm cốt lõi để tính tháng và năm. Một tuần trăng có 29,530588 ngày, người ta chọn tháng có số nguyên ngày để tính cho xấp xỉ tuần trăng, tháng thiếu có 29 ngày, tháng đủ có 30 ngày. Lịch âm coi năm có 12 tháng, tháng lẻ là tháng đủ (30 ngày), tháng chẵn là tháng thiếu (29 ngày), nhưng trong phép tính cụ thể, hai loại tháng này có xê dịch. Lịch âm (thuần tuý) tính theo mặt trăng có nhược điểm là không phản ánh đúng thời tiết nên người ta khắc phục nhược điểm này bằng cách pha thêm yếu tố lịch dương (tính theo hệ mặt trời, rất đúng với vận động thời tiết), cụ thể là cho thêm một tháng Nhuận vào một khoảng nhất định để xấp xỉ được với năm thời tiết. Như vậy một năm nhuận có 13 tháng. Và Lịch có thêm tháng Nhuận này gọi là Lịch Âm Dương. Lịch này được đếm theo hệ Thiên Can Địa Chi, gọi tắt là Lịch Can Chi. Người xưa sáng tạo ra cách đếm này để gọi tên các năm, tháng, ngày, giờ, trong đó có phối thuộc sự vận động của mặt trăng với các khái niệm âm, dương, ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Lịch này chia thời gian ra từng Nguyên, cứ ba nguyên họp lại thành một chu kỳ gọi là Tam nguyên, gồm Thượng nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên. Mỗi Nguyên có 60 năm khởi từ năm Giáp Tý kết thúc ở năm Quý Hợi. Mỗi năm có 12 tháng khởi từ tháng 1 (Giêng) là tháng Dần, kết thúc ở tháng 12 (Chạp) là tháng Sửu. Mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày tùy theo tháng thiếu và tháng đủ. Mỗi ngày có 12 giờ khởi đầu từ giờ Tý kết thúc ở giờ Hợi. Tên gọi của năm, tháng, ngày, giờ gồm hai yếu tố Can và Chi phối hợp với nhau. Do chỉ có 10 can phối hợp với 12 chi nên có 60 tên gọi dành cho các năm, tháng, ngày, giờ. Tên Năm do Nguyên quyết định. Tên Tháng do Năm quyết định. Riêng tên ngày không do Năm và Tháng quyết định, cứ luân chuyển theo chu kỳ 60 ngày từ Giáp Tý đến Quý Hợi. Tên Giờ do Ngày quyết định.

    Theo nhà lịch học Lê Thành Lân, chu kỳ 60 của Lịch Can Chi và các ước số của nó như 30, 12, 10, 6, 5 và 2 dường như có liên quan nhiều đến cấu trúc và các chu kỳ sinh học của con người. Con số 2: 2 tay, 2 chân, 2 mắt, 2 mũi, 2 tai… và điều cơ bản nó là cơ số của học thuyết âm dương. Con số 5: ngũ tạng, ngũ quan, cơ số của học thuyết ngũ hành. Con số 6: lục phủ. Con số 10: 10 ngón chân, 10 ngón tay, 2x5 = 10. Con số 12: 12 đường chính kinh, 12 đường kinh biệt, 12 đường kinh cân, 2x6 = 12. Việc chia ngày thành 12 giờ của phương Đông, chia năm thành 12 tháng cũng góp phần làm nên chu kỳ 60. Ta lại thấy một điều thú vị là trong việc đếm thời gian của phương Tây có chu kỳ 60: một giờ có 60 phút, 1 phút có 60 giây. Liệu các con số đó có liên quan lịch sử nào với chu kỳ 60 của hệ đếm Can Chi không?

    Nói về trẻ sơ sinh, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác viết:

    “Trẻ con sinh ra sau 60 ngày thì con người thành mà hay cười, nhận biết người quen lạ, nhất thiết kiêng người bồng bế và kiêng cho thấy vật khác thường…;

    180 ngày thì xương đì (xương cùng) thành, thì mẹ nên tập cho con học ngồi;

    240 ngày xương bàn tay thành thì mẹ nên dạy cho con tập bò;

    300 ngày xương bánh chè thành, mẹ nên dìu con mà dạy cho con tập đứng chững;

    360 ngày xương đầu gối thành, mẹ nên dìu con mà dạy cho nó tập đi”.

    Rõ ràng theo kinh nghiệm của người xưa, sự phát triển của cơ thể nói chung và của hệ thống xương của trẻ em gắn chặt với chu kỳ 60 ngày.

    Do có chu kỳ vận chuyển liên tục, cố định là 60, nên Lịch Can Chi được coi là ổn định… nên chẳng những nó được sử dụng trong khoa học, trong thần học mà còn được sử dụng trong quản lý nhà nước, trong sử học. Các nhà viết sử xưa mỗi khi ghi các sự kiện lịch sử quan trọng, hay các hiện tượng thiên văn (như động đất, nhật thực, nguyệt thực, sao chổi…) đều dùng Lịch Can Chi này. Phải chăng vì những lẽ trên, người xưa dùng Lịch Can Chi phối hợp với Lịch Tiết khí làm cơ sở cho thuật toán Hà Lạc?

    Can là tên gọi tắt của Thiên Can, một khái niệm chỉ tọa độ không gian của con người và sự vật. Có Mười Can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mười can đó lại chia ra thành Năm Can Dương và Năm Can Âm. Năm Can Dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm. Năm Can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.

    Âm Dương là một khái niệm vừa có tính triết học vừa cụ thể. Đó là một cặp từ diễn tả khái quát hai sự vật đối lập nhau, đi song song với nhau và chuyển hóa sang nhau. Ví dụ Trời Đất, Trời là Dương, Đất là Âm. Đại thể tất cả những gì thuộc về sự động, mạnh, cứng, nóng, dài, rộng, đực, cao, lớn, quân tử... tương ứng với Trời là Dương; tất cả những gì thuộc về sự tĩnh, yếu, mềm, lạnh, ngắn, hẹp, cái, thấp, bé, tiểu nhân... tương ứng với Đất là Âm. Âm Dương đối lập nhau, nhưng luôn luôn đi song song với nhau, nhờ đó mà ta dễ phân biệt cái gì là Âm, cái gì là Dương. Chúng còn có đặc điểm là chuyển hóa sang nhau, và có sẵn trong nhau; trong Dương có Âm và trong Âm có Dương.

    Mười Can được xếp thứ tự, cứ một Can Dương đến một Can Âm, như trên: Giáp đến Ất, Bính đến Đinh, Mậu đến Kỷ, Canh đến Tân, Nhâm đến Quý.

    Mười Can đó lại tương ứng với Năm Hành (ngũ hành) là Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy (Gỗ cây, Lửa, Đất, Kim loại, Nước). Năm Hành là khái niệm chỉ 5 loại vật chất cơ bản cấu tạo nên thế giới tự nhiên, vận động và tác dụng vào nhau mà làm nên sự vật. Năm hành có quan hệ tương sinh, tương khắc với nhau. Tương sinh: Mộc sinh Hỏa (Gỗ cây sinh ra Lửa), Hỏa sinh Thổ (Lửa sinh ra Đất), Thổ sinh Kim (Đất sinh ra Kim loại), Kim sinh Thủy (Kim loại sinh ra nước), Thủy sinh Mộc (Nước sinh ra gỗ cây). Tương khắc: Mộc khắc Thổ (Gỗ cây khắc Đất), Thổ khắc Thủy (Đất khắc Nước), Thủy khắc Hỏa (Nước khắc Lửa), Hỏa khắc Kim (Lửa khắc Kim loại), Kim khắc Mộc (Kim loại khắc Gỗ). (Hình 1 - Phụ lục: Năm hành, tương sinh, tương khắc). Ngoài ra còn có quan hệ phản sinh, phản khắc, không thuộc phạm vi trình bày ở đây, nhưng cũng xin lấy ví dụ. Như Gỗ cây sinh Lửa là do gỗ đốt cháy lên hóa Lửa, nhưng Lửa mạnh quá thiêu đốt hết rừng cây, không còn Gỗ nữa, gọi là phản sinh. Như Nước khắc Lửa, nhưng Nước yếu quá Lửa mạnh quá thì Lửa làm khô kiệt Nước, gọi là phản khắc. Mười Can tương ứng với Năm Hành như sau: Giáp, Ất thuộc Mộc, Giáp là Dương Mộc, Ất là Âm Mộc; Bính, Đinh thuộc Hỏa, Bính là Dương Hỏa, Đinh là Âm hỏa; Mậu, Kỷ thuộc Thổ, Mậu là Dương Thổ, Kỷ là Âm Thổ; Canh, Tân thuộc Kim, Canh là Dương Kim, Tân là âm Kim; Nhâm, Quý thuộc Thủy, Nhâm là Dương Thủy, Quý là Âm Thủy.

    Mười Can phối hợp với Bốn mùa và Phương Vị (Phương hướng và Vị trí) như sau: Giáp, Ất thuộc mùa Xuân và phương Đông; Bính, Đinh thuộc mùa Hạ và phương Nam; Mậu, Kỷ cũng thuộc mùa Hạ nhưng nó hàm chứa các tố chất bao gồm vạn vật nên phương vị ở trung tâm; Canh, Tân thuộc mùa Thu và phương Tây; Nhâm, Quý thuộc mùa Đông và phương Bắc.

    Mười Can phối với thân thể người như sau: Giáp là Đầu; Ất là Vai; Bính là Trán; Đinh là Răng, Lưỡi; Mậu, Kỷ là Mũi, Mặt; Canh là Gân, Bắp; Tân là Ngực; Nhâm là Bắp chân; Quý là Bàn chân. Phối với Tạng Phủ: Giáp là Mật; Ất là Gan; Bính là Ruột non; Đinh là Tim; Mậu là Dạ dày; Kỷ là Lá lách; Canh là Ruột già; Tân là Phổi; Nhâm là Bàng quang; Quý là Thận. 10 Can có mã số cho từng Can (sẽ trình bày sau), số Lẻ là Phủ; số Chẵn là Tạng.

    Chi là tên gọi tắt của Địa Chi, một khái niệm chỉ tọa độ thời gian của con người và sự vật. Có Mười hai Chi là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

    Mười hai Chi phối với Âm Dương và Năm hành như sau:

    Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là Chi Dương.

    Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi là Chi Âm.

    Dần, Mão thuộc Mộc. Dần là Dương Mộc, Mão là Âm Mộc.

    Tị, Ngọ thuộc Hỏa. Tị là Âm Hỏa, Ngọ là Dương Hỏa.

    Thân, Dậu thuộc Kim. Thân là Dương Kim, Dậu là Âm Kim.

    Tý, Hợi thuộc Thủy. Tý là Dương Thủy, Hợi là Âm Thủy.

    Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc Thổ. Thìn, Tuất là Dương Thổ; Sửu, Mùi là Âm Thổ.

    Mười hai Chi phối với Phương vị và Bốn mùa như sau:

    Dần, Mão (Mộc) thuộc phương Đông.

    Tị, Ngọ (Hỏa) thuộc phương Nam.

    Thân, Dậu (Kim) thuộc phương Tây.

    Hợi, Tý (Thủy) thuộc phương Bắc.

    Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (Thổ) thuộc về bốn mùa. Trong đó:

    Dần, Mão (Mộc, phương Đông), Thìn thuộc về mùa Xuân.

    Tị, Ngọ (Hỏa, phương Nam), Mùi thuộc về mùa Hạ.

    Thân, Dậu (Kim, phương Tây), Tuất thuộc về mùa Thu.

    Hợi, Tý (Thủy, phương Bắc), Sửu thuộc về mùa Đông.

    Mười hai Chi phối với Tháng (Âm lịch):

    Tháng Giêng là tháng Dần; tháng Hai: Mão; Tháng Ba: Thìn; Tháng Tư: Tị; Tháng Năm: Ngọ; Tháng Sáu: Mùi; Tháng Bẩy: Thân; Tháng Tám: Dậu; Tháng Chín: Tuất; Tháng Mười: Hợi; Tháng Mười một: Tý; Tháng Mười hai: Sửu.

    Căn cứ sắp xếp trên, ta sẽ thấy Tháng Giêng, Hai là Mộc; Tháng Tư, Năm: Hỏa; Tháng Bẩy, Tám: Kim; Tháng Mười, Mười một: Thủy; Các tháng Ba, Sáu, Chín, Mười hai: Thổ.

    Mười hai Chi phối với Giờ:

    Giờ Tý: từ 23 giờ đến 01 giờ (đồng hồ); Sửu: 01-03 giờ; Dần: 03-05 giờ; Mão: 05-07 giờ; Thìn: 07-09 giờ; Tị: 09-11 giờ; Ngọ 11-13 giờ; Mùi: 13-15 giờ; Thân: 15-17 giờ; Dậu: 17-19 giờ; Tuất: 19-21 giờ; Hợi: 21-23 giờ.

    Căn cứ sắp xếp trên ta thấy Giờ Tý là từ 23 giờ ngày hôm trước đến 01 giờ ngày hôm sau của Dương lịch. Khoảng thời gian giờ Tý đó là giờ đầu tiên của ngày âm lịch. Như vậy ngày âm lịch bắt đầu từ 23 giờ ngày hôm trước của dương lịch đến 23 giờ ngày dương lịch tương ứng. Sự chỉ dẫn này là rất cần thiết đối với người sinh ở những giao điểm của thời gian, ví dụ người sinh từ 23 đến 24 giờ đêm phải được tính ngày sinh thuộc về ngày mới của âm lịch.

    Căn cứ vào tên gọi của Chi Giờ mà xác định giờ Dương hoặc giờ Âm, ví dụ giờ Dần là giờ Dương, giờ Mão là Giờ Âm. Nhưng Toán Hà Lạc còn quan tâm đến hai loại giờ: Giờ có khí Dương và Giờ có khí Âm. Các giờ Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị là Giờ có khí Dương (gọi tắt là Giờ khí Dương). Các giờ Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là Giờ có khí âm (gọi tắt là Giờ khí Âm). Người làm toán Hà Lạc cần phân biệt Giờ Âm với Giờ khí Âm; Giờ Dương với Giờ khí Dương.

    Mười hai Chi phối với thân thể người. Phối với Cơ thể: Tý là Tai; Sửu là Bụng; Dần là Tay; Mão là Ngón tay; Thìn là Vai, Ngực; Tị là Mặt, Yết hầu, Răng; Ngọ là Mắt; Mùi là Sống lưng; Thân là Kinh Lạc; Dậu là Tinh huyết; Tuất là Mệnh môn, Bàn chân, Đùi; Hợi là Đầu.

    Phối với Tạng Phủ: Dần là Mật; Mão là Gan; Tị là Tim; Ngọ là Ruột non; Thìn, Tuất là Dạ dày; Sửu, Mùi là Lá lách; Thân là Ruột già; Dậu là Phổi; Hợi là Thận, Tâm bào; Tý là Bàng quang, Tam tiêu. (Tâm bào và Tam tiêu là hai đường kinh bổ sung cho 12 đường Kinh chính trong cơ thể người. Tuy là bổ sung nhưng hết sức quan trọng, Kinh Tâm bào được coi là cha của các đường kinh Dương, có chức năng bảo vệ Kinh Tâm; Tam tiêu được coi là mẹ của các đường kinh Âm có chức năng dẫn Mệnh môn hỏa đến các vùng Thượng, Trung, Hạ tiêu).

    Trên đây là những thuộc tính của Địa Chi mà thuật toán Hà Lạc thường ứng dụng. Chúng tôi xin bỏ qua những thuộc tính khác tuy cũng rất quan trọng.

    Xác định Can Chi Năm, Tháng, Ngày, Giờ sinh cho mỗi người.

    Thiên Can chủ về những gì có nguồn gốc từ Trời, chủ về động, lộ rõ ra bên ngoài, lộ rõ trong hành vi.

    Địa Chi chủ về những gì có nguồn gốc từ Đất, chủ về tính tàng ẩn ở phía dưới, chờ được sử dụng.

    Thiên Can chủ về một, Địa Chi chủ về nhiều; Thiên Can có tính đơn thuần, Địa Chi có tính phức tạp. Lành dữ của Thiên Can thì rõ ràng, dễ thấy, còn lành dữ của Địa Chi ẩn tàng khó thấy.

    Mỗi thời điểm đều được ấn định bằng một toạ độ Can và Chi phối hợp, với ý nghĩa là một tọa độ không gian – thời gian. Trong sự phối hợp đó thì Địa Chi là gốc của Thiên Can, còn Thiên Can là ngọn của Địa Chi. Trong toán Hà Lạc, Can Chi năm sinh còn được dùng để xác định Mệnh có liên quan đến Hành, dùng để phối hợp với quẻ trong dự đoán tính cách và vận hạn.

    Xác định Can Chi Năm sinh. Trong toán Hà Lạc, việc xác định Can Chi năm sinh liên quan đến Tiết lệnh Đầu Xuân (Lập Xuân). Ngày Đầu Xuân được coi như mệnh lệnh của Thời tiết chuyển sang năm mới. Sinh sau Đầu Xuân thì năm sinh thuộc năm mới, dù ngày đó còn trong niên lịch năm cũ. Hoặc đã sinh sang niên lịch năm mới rồi nhưng chưa đến tiết Đầu Xuân thì vẫn phải coi như sinh trong năm cũ. Sinh đúng ngày Đầu Xuân thì phải xem tiết lệnh bắt đầu giờ nào trong ngày đó để xác định năm sinh. Có thể tìm Giờ giao tiết lệnh này trong sách Lịch và Niên biểu Lịch sử Hai mươi thế kỷ của Lê Thành Lân (NXB Thống Kê - Hà Nội - 2000).

    Sau đây là một ví dụ: Một người sinh vào ngày 06-2-1956 tức 25 tháng 12 năm Ất Mùi. Xem Lịch và Niên biểu... (sđd) thì thấy ngày Đầu Xuân rơi vào ngày 24-12- Ất Mùi vậy người đó sinh sau Đầu Xuân, phải tính người đó sinh vào năm Bính Thân. Tất nhiên tháng sinh của người đó cũng phải tính vào Tháng Giêng năm Bính Thân. Như vậy trong sổ sách khai sinh vẫn đề đúng ngày 06-2-1956 (25-12-Ất Mùi), nhưng trong toán Hà Lạc thì phải ghi là ngày Quý Mão, tháng Canh Dần (tức tháng Giêng), năm Bính Thân (năm sau của năm Ất Mùi). (Trong các sách dạy Toán dự đoán học có phổ biến cách tìm Can Chi năm sinh bằng bàn tay hoặc biểu đồ. Ngày nay trong sách Lịch và Niên biểu…và các sách Lịch khác đã tính sẵn cho chúng ta đầy đủ, bạn chỉ việc tra trong sách đó. Chúng tôi xin miễn việc ghi chép lại phương pháp... thủ công đó).

    Xác định Can Chi Tháng sinh.

    Can Chi Tháng sinh (âm lịch) của một người căn cứ vào Tiết lệnh Tháng và Bảng Tính tháng (âm lịch) theo năm. Tháng sinh trong toán Hà Lạc có liên quan trước hết đến Tiết Lệnh, có nghĩa là Lệnh của Thời Tiết. Mỗi tháng có một tiết lệnh, quyết định tháng đó là tháng mấy. Ví dụ ngày Đầu Thu là tiết lệnh của tháng Bẩy, người nào sinh sau tiết lệnh Đầu Thu (gồm có Giờ và Ngày) thì được tính tháng sinh là tháng Bẩy, ngày giờ sinh chưa đến tiết Đầu Thu thì ngày đó phải được coi thuộc vào tháng Sáu.

    Sau đây là Bảng tiết lệnh 12 tháng cho biết tiết lệnh nào quyết định tháng sinh của một người thuộc tháng mấy.

    Bảng tiết lệnh 12 tháng

    Tháng

    Chi tháng

    Tiết lệnh

    Tháng

    Chi tháng

    Tiết lệnh

    Giêng

    Dần

    Đầu xuân

    Bảy

    Thân

    Đầu thu

    Hai

    Mão

    Sâu nở

    Tám

    Dậu

    Nắng nhạt

    Ba

    Thìn

    Trong sáng

    Chín

    Tuất

    Mát mẻ

    Tị

    Đầu hè

    Mười

    Hợi

    Đầu đông

    Năm

    Ngọ

    Tua rua*

    Mười một

    Khô úa

    Sáu

    Mùi

    Nắng oi

    Mười hai

    Sửu

    Chớm rét

    Bảng 1

    *Tua rua: chòm sao nhỏ gồm nhiều sao liền nhau, xuất hiện vào tháng 5 âm lịch.

    Quy trình xác định Can Chi Tháng sinh như sau:

    Trước hết xem ngày sinh (âm lịch) người đó rơi vào sau ngày Tiết lệnh nào. Từ đó xác định được Chi của tháng sinh.

    Căn cứ Bảng Tính Tháng theo Năm tìm ra Can Chi của tháng đó. (Bảng 2 – Phụ lục). Sau đây là một ví dụ: một người sinh vào ngày 5-8 năm Nhâm Thân. Tiết lệnh tháng Tám là Nắng nhạt rơi vào ngày 8-8. Vậy phải tính người đó sinh vào tháng 7 tức tháng Thân. Xem Bảng Tính tháng theo Năm thì biết Can Chi tháng sinh là Mậu Thân.

    Trường hợp ngày sinh trùng với ngày chuyển tiết lệnh thì phải xem giờ chuyển tiết lệnh để quyết định tháng sinh. Sinh sau giờ chuyển tiết lệnh thì Can Chi ngày sinh vẫn là Can Chi ngày đó, nhưng Can Chi tháng sinh thuộc tháng mà tiết lệnh đó quyết định. Nếu tháng đó là tháng Giêng thì Can Chi năm sinh cũng thay đổi theo.

    Riêng đối với các bạn sử dụng các cuốn Lịch dịch nguyên văn từ Hoa văn, do giờ Trung Quốc sớm hơn một giờ so với giờ Việt Nam, nên tất cả các Giờ chuyển tiết lệnh trong các sách nói trên đều phải tính lùi lại một giờ cho phù hợp với Giờ nước ta. Ví dụ: Giờ chuyển tiết lệnh Trong sáng (tiết lệnh tháng Ba) năm Đinh Dậu (1957) trong sách Trung Quốc là 10 giờ 19 phút ngày 06 tháng Ba - Đinh Dậu, thì ở Việt Nam giờ chuyển tiết lệnh đó là 9 giờ 19 phút.

    Ghi chú về tên tiết khí. Từ trước đến nay, người Việt ta vẫn gọi tên tiết khí theo cách gọi của Lịch Trung Quốc, ví dụ Lập xuân, Xuân phân, Lập hạ, Hạ chí v. v… Trong đó có nhiều tên tiết khí không phù hợp với cách gọi tên của người Việt đã hình thành trong văn minh nông nghiệp Việt Nam và cả trong khí hậu Việt Nam. Ví dụ: ở ta làm gì có tuyết mà gọi là Tiểu tuyết và Đại tuyết. Nhà lịch học Lê Thành Lân trong tác phẩm Lịch và Niên biểu…(sđd) đã đề xuất cách gọi tên tiết khí phù hợp với cách gọi tên của người Việt, chúng tôi thấy hợp lý và đồng thuận làm theo. Nay xin thống kê như sau để bạn đọc tiện liên hệ:

    Bảng Viết tắt và Tên gọi các Tiết khí

    (gồm ngày Trung khí (khí giữa), Tiết khí (khí đầu mở ra một tiết mới của Tháng trong Năm. Ngày tiết khí này Hà Lạc gọi là Tiết lệnh vì nó xác định tháng trong năm).

    TT

     Trung khí

    TT

     Tiết khí

     

    Tắt

    Việt Nam

    Trung Quốc

     

    Tắt

    Việt Nam

    Trung Quốc

    1

    Gx

    Giữa xuân

    Xuân phân

    2

    Ts

    Trong sáng

    Thanh minh

    3

    Mr

    Mưa rào

    Cốc vũ

    4

    Đh

    Đầu hè

    Lập hạ

    5

    Dv

    Duối vàng

    Tiểu mãn

    6

    Tr

    Tua rua

    Mang chủng

    7

    Gh

    Giữa hè

    Hạ chí

    8

    No

    Nắng oi

    Tiểu thử

    9

    Nn

    Nóng nực

    Đại thử

    10

    Đt

    Đầu thu

    Lập thu

    11

    Mn

    Mưa ngâu

    Xử thử

    12

    Nnh

    Nắng nhạt

    Bạch lộ

    13

    Gt

    Giữa thu

    Thu phân

    14

    Mm

    Mát mẻ

    Hàn lộ

    15

    Ss

    Sương sa

    Sương giáng

    16

    Đđ

    Đầu đông

    Lập đông

    17

    Hh

    Hanh heo

    Tiểu tuyết

    18

    Ku

    Khô úa

    Đại tuyết

    19

    Giữa đông

    Đông chí

    20

    Cr

    Chớm rét

    Tiểu hàn

    21

    Gr

    Giá rét

    Đại hàn

    22

    Đx

    Đầu xuân

    Lập xuân

    23

    Âư

    Ẩm ướt

    Vũ thủy

    24

    Sn

    Sâu nở

    Kinh trập

    Bảng 3

    Ghi chú về Lịch tiết khí: Theo Lê Thành Lân, lịch tiết khí tính theo chuyển động biểu kiến của mặt trời cho từng năm, cho từng địa phương (từng nước) cho nên hoàn toàn phù hợp với năm thời tiết một cách chính xác. Một số người thấy trong các cuốn lịch cổ có ghi các ngày khí này, cứ tưởng rằng đó là lịch Âm, thật ra đó là các yếu tố của Lịch Mặt Trời bổ sung vào các lịch âm dương. Dùng lịch tiết khí này mà điều khiển mùa màng nông nghiệp là tốt nhất. Lịch này cũng dùng trong việc tính tháng sinh cho con người trong các thuật toán dự đoán học như Tứ trụ, Tử Bình, Hà Lạc… đạt tới độ chính xác đáng tin cậy. Vì là lịch mặt trời nên tính lịch tiết khí theo ngày giờ dương lịch hiện nay là chuẩn xác. Chúng tôi trong sách này sử dụng Lịch tiết khí theo tác phẩm Lịch và Niên biểu… của Lê Thành Lân (sđd) phần Phục lục I, có ghi các ngày tiết khí và giờ chuyển tiết (giao tiết) của 100 năm (1911-2010). Mong các bạn lưu ý.

    Xác định Can Chi ngày sinh.

    Trong cuốn Lịch và Niên biểu…(sđd) ở mỗi ô Ngày Tháng đều có hàng chữ số gốc. Bạn chỉ cần thực hành một phép tính nhỏ theo hướng dẫn, tìm ra Mã số Can Chi ngày, tra Bảng Vòng Giáp Tý (Mã số Can Chi) sẽ tìm thấy Can Chi Ngày sinh tương ứng.

    Trường hợp trong tay bạn không có cuốn lịch nói trên, bạn có thể dùng các cuốn lịch khác. Trong thực tế, tôi rất ít khi gặp sự khác biệt khi cần xác định can chi ngày sinh. Sở dĩ luôn nhắc đến cuốn lịch trên là để cho nhất quán trong khi soạn sách này.

    Chú ý 1: Can Chi ngày sinh không phụ thuộc vào Năm và Tháng sinh, chỉ phụ thuộc vào Vòng Giáp Tý, cứ 60 ngày thì hết một vòng. Do vậy các trường hợp căn cứ vào Tiết lệnh mà thay đổi Can Chi Năm sinh, Tháng sinh so với Niên lịch, không ảnh hưởng gì đến Can Chi Ngày sinh.

    Chú ý 2: Can Chi Ngày sinh phụ thuộc vào Can Chi giờ sinh trong trường hợp sau đây. Nếu Chủ thể sinh vào giờ từ 23 giờ đến 01 giờ thì giờ đó được tính là Giờ Tý, là giờ bắt đầu của một ngày âm lịch ở nước ta. Vì vậy chủ thể sinh từ 23 giờ đến 24 giờ, tuy ngày dương lịch còn là ngày hôm trước nhưng ngày âm lịch đã chuyển sang ngày mới rồi, Can Chi ngày sinh của chủ thể cần được tính theo ngày mới đó.

    Chú ý 3: Trường hợp ngày sinh trùng với ngày chuyển tiết lệnh, thì phải xem Giờ chuyển tiết lệnh. Nhưng việc xem giờ chuyển tiết lệnh chỉ ảnh hưởng đến việc xác định tính tháng sinh, không vì thế mà thay đổi ngày sinh.

    Xác định Can Chi giờ sinh.

    Can Chi Giờ sinh phụ thuộc vào Can Ngày sinh.

    Quy trình:

    Căn cứ vào giờ sinh (theo đồng hồ) đối chiếu với bảng phối Địa Chi và Giờ (Tiết 3 chương này) tìm ra Chi giờ sinh.

    Căn cứ Bảng Tính Giờ theo Ngày (Phụ lục: Bảng 4) tìm ra Can Chi Giờ sinh.

    Chú ý: Đối với người sinh các năm từ 1946 đến 1975 trên địa bàn từ Quảng Trị đến Cà Mau (Miền Nam trước ngày giải phóng) do các chính quyền địa phương thay đổi Lịch nhiều lần, thì phải đối chiếu với Bảng tham khảo khi tính Giờ sinh ở nước ta (Phụ lục: Bảng 4b).

    Bạn hãy làm đúng những chỉ dẫn trên sẽ tìm được đủ Tám chữ Can Chi cần cho bạn. Làm mươi lần là thành thạo. Nhưng phải nhớ rằng không có chuyện “sai một ly đi một dặm” đâu. Sai một ly là đi đứt luôn cả bài toán đấy.

    II. Cấu trúc một quẻ Dịch

    Bây giờ chúng ta làm quen với một quẻ Dịch.

    Khái niệm Quẻ là dịch từ chữ Hán Quái. Ví dụ: Bát Quái là Tám quẻ.

    Dịch là biến đổi, chuyển dịch. Kinh Dịch là Học thuyết về sự biến đổi, chuyển dịch của Vũ trụ và Cuộc sống.

    Kinh Dịch biểu hiện bằng một Cấu trúc Âm Dương, bao gồm sự liên kết của hai khái niệm Âm và Dương. Sự liên kết ấy tượng trưng cho sự phát triển của vũ trụ và nhân sinh.

    Thoạt tiên chưa có sự liên kết chỉ mới có hai khái niệm Dương và Âm riêng biệt gọi là Lưỡng Nghi. Dương biểu hiện bằng một vạch liền ---------. Âm biểu hiện bằng một vạch đứt ---- ----. Tiếp theo có sự liên kết chồng lên theo bốn kiểu gọi là Tứ Tượng và đặt cho 4 cái tên, tượng trưng cho bốn hiện tượng lớn của vũ trụ: Mặt trời, mặt trăng, định tinh, hành tinh (Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần).

     

    Thái Dương Thiếu DươngThái Âm Thiếu Âm

    Dưới đây là những cấu trúc Quẻ ứng dụng trong Toán Hà Lạc.

    1-Tám Quẻ Đơn.

     

    Tiếp tục biểu hiện sự phát triển, người ta lấy bốn vạch dương chồng lên bốn tượng rồi lại lấy bốn vạch âm chồng lên bốn tượng sẽ có Tám quẻ và đặt cho 8 cái tên:

    Càn Chấn CấnKhảm Ly Tốn Khôn Đoài Mỗi quẻ có 3 vạch Âm, Dương gọi là Hào. Các hào trong một quẻ bao giờ cũng xuất hiện từ dưới lên, nên khi gọi tên cũng như khi đếm, bao giờ cũng từ dưới lên, hào dưới cùng là Hào 1, tiếp đến Hào 2, Hào 3. Quẻ 3 hào còn gọi là quẻ Đơn để phân biệt với quẻ Kép gồm 6 hào sẽ trình bày sau.

    Mỗi quẻ có Tượng quẻ và Nghĩa quẻ. Ví dụ quẻ Càn: Quẻ Càn, còn gọi là Kiền, tượng là Thiên (Trời); tính chất quẻ (còn gọi là Đức quẻ) là cứng, mạnh; nghĩa quẻ là Sáng, Lớn, Giỏi, Thực; bao hàm các thông tin về Người là đàn ông, cha, chồng, chủ, đầu; về Vật là mặt trời, nước đá, ngựa, vàng; về màu sắc là đỏ, trắng; về vị là cay, nhạt... (Phạm vi thông tin còn rộng, ở đây chỉ ghi cái cơ bản). Quẻ Càn tương ứng với Hành Kim trong ngũ hành. Phương vị quẻ Càn (đối với Toán Hà Lạc) là Tây Bắc.

    Bảng 5 (Phụ lục) trình bày Tám quẻ đơn, các Tượng quẻ và các thông tin cơ bản của mỗi quẻ.

    Người xưa đã nghĩ ra nhiều cách để giúp mọi người nhận dạng các quẻ cho nhanh. Ngày nay bạn có thể tự nghĩ ra cách ghi nhớ riêng của mình.

    2-Sáu mươi tư quẻ kép. Nếu chỉ có Tám quẻ với 24 hào thì không thể biểu hiện được nhiều sự vật và hiện tượng. Người xưa đã tiếp tục sắp xếp bằng cách lần lượt chồng một quẻ lên 8 quẻ tạo thành 8 quẻ mới (gồm một quẻ chồng lên chính nó gọi là quẻ Thuần, sau đó tiếp tục chồng lên 7 quẻ còn lại). Lần lượt làm như thế với 8 quẻ sẽ thành 64 quẻ, gọi là 64 trùng quái (trùng là chồng, 64 trùng quái là 64 quẻ chồng, ở đây xin gọi là quẻ Kép). Mỗi quẻ mới có 6 hào, tổng cộng 64 quẻ có 384 hào đủ để biểu hiện rất nhiều sự vật ở các cấp độ khác nhau vô cùng phong phú.

    Có nhiều cách sắp xếp hệ thống 64 quẻ mang những dấu ấn triết học, xã hội học, sinh học, dự đoán học khác nhau. Ở đây chúng tôi giới thiệu cách sắp xếp quẻ theo hệ 64 quẻ của Chu Văn Vương đồng thời là hệ thống Quẻ Hà Lạc giải đoán (Bảng 9 – Phụ lục)

    3-Cấu trúc quẻ Dịch kép sáu hào.

    Mỗi quẻ kép sáu hào gồm hai quẻ đơn ba hào, quẻ đơn ở dưới gọi là quẻ Nội (Nội quái), quẻ đơn ở trên gọi là quẻ Ngoại (Ngoại quái). Ví dụ quẻ Thiên Sơn Độn gồm quẻ Cấn là Núi (Sơn), ở dưới, là quẻ Nội; quẻ Càn là Trời (Thiên), ở trên, là quẻ Ngoại. Khi gọi tên quẻ Đơn, người ta dùng từ chính thức đặt tên cho quẻ, ví dụ Càn, Ly, Cấn, Tốn, Khôn, Khảm, Đoài, Chấn. Khi gọi tên quẻ Kép, người ta thay những tên quẻ đơn bằng tượng của nó, Càn gọi là Thiên (trời), Ly gọi là Hỏa (Lửa), Cấn là Sơn (Núi), Tốn là Phong (Gió), Khôn là Địa (Đất), Khảm là Thủy (Nước), Đoài (trong nhiều sách ghi âm là Đoái) là Trạch (Đầm, Chằm), Chấn là Lôi (Sấm).

    Quẻ Độn

    Các hào Quẻ Nội thường được đánh số trước từ 1 đến 3, dưới lên, rồi mới đến quẻ Ngoại, từ 4 đến 6. Nhưng khi đọc tên một quẻ kép thì đọc tên quẻ Ngoại trước rồi đến tên quẻ Nội, rồi đến từ nói lên nghĩa quẻ. Cũng vì vậy, quẻ Ngoại còn được gọi là quẻ Thượng (quẻ ở trên), quẻ Nội là quẻ Hạ (quẻ ở dưới). Ví dụ Thiên Sơn Độn, Thiên là tên quẻ Ngoại, ở trên, đọc trước; Sơn là tên quẻ Nội, ở dưới, đọc sau; Độn là Nghĩa quẻ. Người ta thường dùng từ biểu hiện nghĩa quẻ để gọi tắt tên

    quẻ. Từ này có khi là từ đơn, có khi là từ kép. Ví dụ: Thiên Sơn Độn gọi tắt là Độn. Sơn Thiên Đại Súc gọi tắt là Đại Súc.

    Riêng đối với quẻ kép mà quẻ Nội, quẻ Ngoại đều là hai quẻ đơn giống nhau thì người ta thay bằng từ Thuần ghép với tên chính thức của mỗi quẻ đơn. Có cả thảy tám quẻ như thế: Thuần Càn, Thuần Ly, Thuần Cấn, Thuần Tốn, Thuần Khôn, Thuần Khảm, Thuần Đoài, Thuần Chấn (có sách thêm chữ Bát, ví dụ Bát thuần Càn).

    Quan hệ giữa hai quẻ Nội và Ngoại thường được hiểu như sau. Nếu một quẻ Kép là tiêu biểu cho một sự vật, hiện tượng, một biến động hoặc một thời kỳ phát triển nào đó, thì quẻ Nội là tiêu biểu cho bước diễn tiến ban đầu theo trật tự thời gian, thuộc thời kỳ khởi xướng, phôi thai, sinh trưởng, phát động... Quẻ Ngoại tiêu biểu cho bước kết thúc hoặc thịnh hoặc suy, diễn tiến ở giai đoạn sau của sự vật và là tiếp theo những trình tự của quẻ Nội. Vì vậy mà quẻ Nội có Hào 1 còn gọi là Hào Sơ thường là biểu hiện của bước đầu, quẻ Ngoại có Hào Thượng biểu hiện giai đoạn cuối của sự vật. Quan hệ giữa quẻ Nội và quẻ Ngoại biểu hiện đầy đủ và rất sinh động trong mối tương quan của các hào mà ta xét sau đây.

    4-Cấu trúc các hào trong quẻ kép

    Mỗi quẻ kép gồm sáu hào, đánh số từ dưới lên, gọi là Hào 1, Hào 2, Hào 3, Hào 4, hào 5, Hào 6. Nếu các hào đó là Âm hoặc Dương thì thêm một chữ Âm hoặc Dương, ví dụ Hào 1 âm, Hào 2 dương. (Tuy nhiên cần ghi nhận trong các sách Dịch, Hào 1 còn gọi là Hào Sơ, Âm gọi là Lục, Dương gọi là Cửu, ta sẽ thấy những cách gọi tương ứng như sau:

    Hào 1 âm là Sơ Lục, Hào 1 dương là Sơ Cửu

    Hào 2 âm là Lục Nhị, Hào 2 dương là Cửu Nhị

    Hào 3 âm là Lục Tam, Hào 3 dương là Cửu Tam

    Hào 4 âm là Lục Tứ, Hào 4 dương là Cửu Tứ

    Hào 5 âm là Lục Ngũ, Hào 5 dương là Cửu Ngũ

    Hào 6 âm là Thượng Lục, Hào 6 dương là Thượng Cửu

    Cửu, Lục không có nghĩa là 9, 6, mà nghĩa là Dương, Âm. Để bạn đọc đỡ rắc rối khi gặp những trường hợp như trên, trong sách này chúng tôi không sử dụng những khái niệm Cửu, Lục, chỉ sử dụng khái niệm Sơ, Thượng, âm, dương).

    Về vai trò, ý nghĩa và quan hệ giữa các hào, tôi thấy những dẫn giải trong sách của Nguyễn Hiến Lê là sáng tỏ và dễ hiểu hơn cả, xin dẫn ra đây, có đôi lời bàn thêm ở một vài chỗ.

    Trước hết chúng ta phải phân biệt bản thể, tính cách của hào và vị trí của hào. Hào chỉ có hai loại: Dương và Âm, đó là bản thể của Hào.

    Tính cách của Dương là: Đàn ông, cương cường, thiện, đại, chính, thành thực, quân tử, phú quý. Tính cách của Âm là: đàn bà, nhu thuận, ác (trái với thiện), tà ngụy, tiểu nhân, bần tiện. Người xưa cho rằng phàm là bản thể Dương thì tốt đẹp cả, Âm thì xấu xa. Ngày nay chúng ta thấy cái điều “phàm là” đó chưa hoàn toàn đúng. Đàn bà và Nhu thuận, đâu có xấu? Tính cương cường thuộc bản thể Dương, đâu có phải tốt trong mọi trường hợp. Phân biệt hai bản thể chỉ là một cách để nhận ra những cặp đối lập nhau mà thôi, còn phải xét vị trí của hào nữa mới định được hào đó là tốt hay xấu.

    Về vị trí hào cần xem xét mấy yếu tố: Hào ở vị trí Trung hay Chính; Thời của Hào; quan hệ ứng hợp của Hào.

    Vị trí Trung - Chính của Hào. Thế nào là Trung? Quẻ Nội có 3 hào: 1 là Sơ, 2 là Trung, 3 là Mạt. (Sơ là khởi đầu, Trung là ở giữa; mạt là bước cuối). Quẻ Ngoại cũng có 3 hào: 4 là Sơ, 5 là Trung, 6 là Mạt. Vậy Trung là những hào ở giữa mỗi quẻ Nội hoặc Ngoại, tức hào 2 và 5, dù bản thể hào là dương hay âm thì cũng vậy.

    Thế nào là Chính? Trong 6 hào, những hào số lẻ 1, 3, 5 có vị trí dương; những hào số chẵn 2, 4, 6 có vị trí âm. Một hào bản thể là dương (nghĩa là một vạch liền) ở vào vị trí dương thì là Chính; nếu ở vào một vị trí âm là Bất Chính (không Chính). Cũng như vậy, một hào bản thể âm (nghĩa là một vạch đứt) ở vào một vị trí âm là Chính, ở vào vị trí dương là Bất chính.

    Ví dụ quẻ Thuần Càn: Sáu hào đều là dương cả (về bản thể).

    Hào 1 dương: Không trung, có chính (vì ở vị trí dương).

    Hào 2 dương: Trung, không chính (vì ở giữa và vị trí âm).

    Hào 3 dương: Không trung, có chính (vì ở vị trí dương).

    Hào 4 dương: Không trung, không chính (vì ở vị trí âm).

    Hào 5 dương: Có trung, có chính (vì ở giữa và vị trí dương).

    Hào 6 dương: Không trung, không chính (vì ở vị trí âm).

    Ta lại nhận thấy: Hai hào 2 và 5 đều là Trung cả, nhưng hào 2 chỉ có Trung, không có Chính; chỉ có hào 5 có cả Trung lẫn Chính. Bốn hào còn lại thì hào 1 và 3 được Chính mà không được Trung (đắc trung), hào 4 và 6 không được chính cũng không được trung. Do vậy hào 5 là hào tốt nhất của quẻ Càn, có cả trung lẫn chính, nó ở ngôi vua, ngôi chí tôn. Hào 2 xếp hạng tốt thứ hai, vì có trung không có chính. Trung quan trọng hơn chính, vì có trung thì sẽ có chính. Hào 1 và 3 tốt hạng thứ ba vì có chính mà không có trung. Hào 4 và 6 xấu vì không có cả trung lẫn chính.

    Ta hãy so sánh quẻ Thuần Càn và quẻ Thủy Hỏa Ký Tế sau đây:

     Quẻ Thuần Càn

     Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế

    -------- 6 không trung, không chính

    --------­­­­­­­­ 5 trung, chính

    -------- 4 không trung, không chính

    -------- 3 chính, không trung

    -------- 2 trung, không chính

    -------- 1 chính, không trung

    --- --- 6 chính, không trung

    ------- 5 trung, chính

    --- --- 4 chính, không trung

    ------- 3 chính, không trung

    --- --- 2 trung, chính

    ------- 1 chính, không trung

     

    (còn tiếp)

    Nguồn: Khám phá một tia sáng Văn hóa Phương Đông. Xuân Cang. NXB Văn học sắp phát hành.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,074,990

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/