Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,076,828

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Khám phá một tia sáng Văn hóa phương Đông (29)

Xuân Cang

  • Chủ nhật, 13:27 Ngày 29/03/2009
  • Hào 6 dương

    Đường trời sao mà hanh thông thế. PBC giảng: Hào này có nghĩa của toàn quẻ, ngăn cản từ hào 1 lên đến đây là cùng rồi, cản đã cùng rồi, tức nhiên phải rộng mở, mở thật rộng, thì rất hanh thông, nên Lời hào nói rằng đường trời sao thông suốt. Giữa chốn hư không bát ngát, mây bay chim lượn, cực kỳ tự do, phía trước không ai ngăn đón, phía sau không ai xô đẩy, tư bề thông suốt, khiến cảm thán, mừng mà kêu lên: sao mà hanh thông đến vậy. PBC phụ chú: Toàn 6 hào quẻ Đại Súc chiếu ứng với nhau: Ba hào Cấn trên là có thế lực, ngăn cản được người, ba hào Càn dưới là thế lực non mà bị ngăn cản. Hai cặp hào 1 và 4, 2 và 5 ở vào thời còn ngăn cản. Đến cặp hào 3 và 6 thì hợp chí cùng tiến, gặp thời, gặp dịp, nên Ngựa đuổi nhau ở hào 3, Đường trời hanh thông ở hào 6, cặp đôi ngựa đua mà dong ruổi đường trời. ý nghĩa thú vị chiếu ứng nhau như thế.

    Toán Hà Lạc giải: Tích chứa càng nhiều thì lúc thi thố ra càng rộng lớn.

    MHC: Công lớn, danh cao, mở hội hòa bình, đương thời trọng vọng.

    MKHC: Chí lớn, mưu cao thì vạ lại to.

    Vận Năm- Giới Quan và Giới Sĩ: Thăng tiến. Người thường: Hanh thông, được lợi.

    Người xưa có thơ rằng:

    Vui mừng cảnh vật phong quang

    Trước sau ngày tháng miên trường êm trôi

    27- SƠN LÔI DI

    1 0 0 0 0 1

    (Entretenir)

    Di là Nuôi. Tượng quẻ: Dưới Núi có Sấm

    Nuôi, hễ đúng chính đạo thì tốt, cứ xem cách nuôi người và tự nuôi mình thì biết tốt hay xấu.

    NHL giảng: Lời Thoán suy rộng ra thì thấy: Trời Đất khéo nuôi vạn vật mà vạn vật sinh sôi nẩy nở, thánh nhân coi đó mà dùng người hiền giúp mình nuôi dân chúng. Cái đạo Nuôi lớn như vậy đó. Lời Tượng đưa thêm một ý nữa: Theo tượng quẻ thì dưới Núi có tiếng Sấm, khí dương bắt đầu phát, mà vạn vật trong núi được phát triển, như vậy là trời đất nuôi vạn vật. Người quân tử coi đó mà tự nuôi mình, biết rằng phải cẩn thận về lời nói mà nuôi cái đức, tiết độ về ăn uống để nuôi thân thể. PBC giảng: Chữ Di có hai nghĩa: một nghĩa thuộc về động từ là Nuôi (dưỡng, dưỡng tâm, dưỡng đức, dưỡng sinh... là nghĩa ấy cả); một nghĩa thuộc về danh từ là cái cằm miệng người. Coi tượng quẻ thì thấy dưới Chấn, trên Cấn, có một nét dương phía dưới đỡ được hết, một nét dương phía trên trùm lên hết, ở giữa ngậm 4 hào âm, ngoài đặc mà chính giữa trống không, trên thì ngăn cản (Cấn), dưới thì động (Chấn), in như miệng, mép người. Vì miệng người dùng để ăn uống nuôi người, nên Di lại có nghĩa là nuôi. Có nuôi tinh thần (đạo đức, trí thức, chí khí...), có nuôi thân xác (vật chất, cơ thể, hình thức ngoài...), bất luận người nào, cũng có hai phần nuôi như trên. Cũng là Nuôi cả nhưng cũng có nuôi theo đường lối chính và nuôi theo đường lối bất chính. Tỷ như nuôi linh hồn mà theo lối mê tín, huyền hoặc, ấy là bất chính. Nuôi xác thịt mà theo cách nô lệ ty tiện, hủy hoại lương tâm, ấy là bất chính. PBC phụ chú: Quân tử, tiểu nhân khác nhau một chỗ ấy: một đằng thì ăn cho sướng miệng (khẩu phúc) là phần nhẹ, đạo nghĩa là phần nặng; một đằng thì ăn cho sướng miệng quá chừng trọng, đạo nghĩa quá chừng khinh. Lối Nuôi vốn chỉ chừng ấy, mà kết quả khác nhau một vực một trời. Lời Tượng: Dưới Núi có Sấm là quẻ Di. Người quân tử coi quẻ này mà cẩn thận việc nói năng, tiết độ việc ăn uống. PBC phụ chú: Chỉ một chữ Di là Nuôi mà thiên địa thánh nhân cũng bao bọc trong ấy. Trời đất nuôi vạn vật. Thánh nhân nuôi người hiền để người hiền đến với vạn dân. Quân tử xem Tượng quẻ Di nghĩ ra cách nuôi thân gồm trong hai chữ Thận và Tiết (Cẩn thận việc nói năng, tiết độ việc ẩm thực). Tục ngữ Tàu có câu: Tai vạ từ trong miệng phun ra, tật bệnh ở ngoài miệng nuốt vào. Nhưng mà chữ Tiết chữ Thận ý nghĩa rất sâu xa. Bảo là Thận, có phải là bảo người ta câm miệng không nói đâu? Nói mà hợp đạo lý, hợp lòng người, thì mới nói, nói mà như bài sớ xin chém bẩy người tôi nịnh của thày Chu Văn An, đó là Thận rất mực. Bảo rằng Tiết, có phải là bảo người ta kén ăn lựa uống đâu? Vì ăn mà hoại danh tiết, họa nước nhà thời không thèm ăn. Như ông Di, Tề không ăn lúa của nhà Chu, đó là Tiết rất mực.

    Toán Hà Lạc giải: Di là Nuôi. Người được quẻ này là người có vận mệnh kiếm sống nuôi mình, nuôi người (với các bậc nguyên thủ là nuôi dân), nuôi vật chất, nuôi tinh thần. Người được quẻ này chăm lo học cách kiếm sống, cách nuôi người cho phải đạo. Người Việt ta có hai chữ “làm ăn” để tả người quẻ Di. Đạo Nuôi rất lớn, nhưng theo được đạo này rất khó. Trên đường đời người quẻ Di thường dễ phạm lỗi lầm về cách kiếm sống, cách nuôi mình nuôi người, khi thì ham hố kiếm sống mà quên cả tư cách mình, khi thì nuôi mình, nuôi người không phải bằng tài đức của mình, dùng những lối làm ăn bất chính để tăng thu nhập, khi thì cầu cạnh người để làm ăn. Người quẻ Di tốt số dễ trở thành các thương nhân, chủ trang trại (nuôi vật chất), nhà văn, nhà giáo (nuôi tinh thần), chuyên gia, nhân viên trong các ngành chăn nuôi, chế biến thực phẩm, nhà hàng, quán ăn; xấu số thì làm lao công kiếm ăn là chính. Châm ngôn người quẻ Di là hai chữ Thận Tiết (cẩn thận việc nói năng, tiết độ việc ăn uống). Quẻ Hỗ của quẻ Di là Thuần Khôn. Trong đạo Nuôi có tiềm ẩn sự bao bọc, mang chở, tính nhu thuận của đạo Thuần Khôn. Nguyệt lệnh thuộc tháng 8. Tuổi Canh: Tý, Dần, Thìn; Bính: Tí, Dần,Tuất được quẻ này lại sinh từ tháng 2 đến tháng 8 là cách Công danh, Phú quý.

    Người xưa có thơ rằng:

    Hương đan quế, áng công danh

    Người đi muôn dặm, cảnh tình vẫn thơm

     

    Hào 1 dương

    Bỏ mất con rùa thiêng của ngươi, cứ ngó ta xệ cả mép xuống, xấu. NHL giảng: Chúng ta hãy để ý: Quẻ Nội là Chấn, có nghĩa là động nên cả ba hào đều diễn cái ý đi cầu cạnh người. Hào 1 này dương cương, khôn lanh, nhưng ứng với hào 4 âm, có thế lực ở trên, hăm hở theo âm đến nỗi bỏ cả "con rùa thiêng" (linh quy, một giống chỉ nuốt linh khí mà sống) ý nói bỏ cái phần linh thiêng, linh hồn, thèm thuồng cầu ăn ở người khác, hào 4, để nuôi xác thịt, mà quên phần tinh thần, như vậy rất xấu. Nói sệ mép xuống, là nói lời khinh miệt. Đây là lời của hào 4 nói với hào 1, giọng khinh khi, nên gọi hào 1 là ngươi. Thánh nhân giận cho hào 1 mà đặt lời hào thế. PBC phụ chú: Tục ngữ ta có câu Miếng ăn là miếng nhục cũng là nghĩa xấu ở hào này.

    Toán Hà Lạc giải: Làm ăn mà bỏ tư cách của mình, đáng khinh bỉ.

    MHC: Nhờ người để thành lập nơi khác, nhưng được ít, mất nhiều. (Của người phúc ta)

    MKHC: Bất nghĩa. Tham ô. Có hại.

    Vận Năm- Giới Quan: Nhục vì tham nhũng. Giới sĩ: Hoang dâm, bị chê cười. Học trò được lương ăn. Người thường: Ngược ngạo. Tranh của. Có hại. Đại để, cứ giữ chính đạo thì tốt.

    Người xưa có thơ rằng:

    Bỏ Đông sang lập nghiệp Tây

    Bên sông tiếng khóc thảm thay một nàng

    (Quẻ Chấn phương Đông, hào 1 dương làm ăn trái đạo ví như chàng trai bỏ phương chính của mình đi làm ăn nơi khác, trái ngược hẳn, như tây với đông. Nàng đây là hào 4 âm chính ứng với 1 dương. Câu thơ này nói một khía cạnh tai hại khác: mất người thân yêu)

    Hào 2 âm

    Đảo lộn cách nuôi mình, trái với lẽ thường, cầu sự nuôi dưỡng ở gò cao, tiến lên thì xấu. NHL giảng: Hào này âm nhu, không tự sức nuôi mình được, nên phải cầu ăn với hai hào dương 1 và 6. Nhưng hào 1 ở dưới mình, như vậy là người trên ăn xin người dưới, đảo lộn, trái lẽ thường. Còn như cầu hào 6 dương ở trên cùng, ví như cái gò cao, thì hào này không ứng với 2, 2 sẽ bị từ chối, bị khinh mà mắc nhục. Nên để ý: theo thường lệ, hào 2 này đắc trung, chính, xem ra có vẻ tốt, mà ở đây lại xấu. Vì nghĩa quẻ là Nuôi dưỡng, mà hào này lại không đủ sức tự nuôi dưỡng. PBC phụ chú: Đó là cái lẽ tùy thời của Dịch. Thời quẻ Di, quý trọng nhất là Nuôi người hoặc là tự nuôi mình. Hào 2 âm nhu không tài nuôi người, lại không đủ sức tự nuôi, ở vào thời đại Di tất nhiên phải xấu.

    Toán Hà Lạc giải: Cầu người nuôi không phải chỗ.

    MHC: Giữ điều chính mà kiên nhẫn nuôi thân dưỡng tính.

    MKHC: Thay đổi bất định, là kẻ dưới mà coi thường người trên, hoặc bị hoạn nạn ức chế.

    Vận Năm- Giới Quan và Giới Sĩ: Phòng truất giáng, khiển trách, bị nhục. Người thường: Tiến thoái, điều tiếng không lường trước được. Số xấu có thể bệnh nặng đến nguy.

    Người xưa có thơ rằng:

    Đốt đuốc chạy khắp Tây Đông

    Chiếc thuyền đã mục, mênh mông nước tràn

    (Thuyền đò sông nước là nơi làm ăn chính của mình, lại bỏ lên bờ đốt đuốc đi tìm việc, để thuyền mục giữa nơi sóng cả).

    Hào 3 âm

    Cách nuôi trái hẳn với đạo chính, xấu. Mười năm (có nghĩa là tới cùng) cũng không tốt được, không làm nên gì. NHL giảng: Hào này âm nhu, bất trung, bất chính, lại hay động (vì ở trên cùng quẻ Chấn), không chịu ngồi yên, thấy đâu có ăn là đến, rất xấu. Về hai chữ Mười Năm, giống hào cuối cùng quẻ Phục, xem hào 6 quẻ Phục.

    Toán Hà Lạc giải: Cách nuôi trái đạo.

    MHC: Sửa lỗi, bỏ những thèm khát, thì có thể làm được việc quy mô nhỏ.

    MKHC: Trái nghĩa, mất tin cậy, thân và nhà bị phá tổn.

    Vận Năm- Giới Quan và Giới Sĩ: Mất tiếng vì làm liều, thất bại. Người thường: Hoang đãng. Hỏng việc. Khổ sở.

    Người xưa có thơ rằng:

    Lý đã hỏng, việc nên thôi

    Trong mây ác lặn tơi bời công lao

    Hào 4 âm

    Đảo lộn cách nuôi mà tốt. Mắt hổ nhìn đăm đăm, ham muốn khôn nguôi, không có lỗi. NHL giảng: Hào này âm nhu đắc chính, ở vào địa vị cao, được hào 5 chí tôn tương đắc với mình (cùng là âm cả), lại có thêm hào 1 dương tương ứng, như vậy là người trên biết trọng nghĩa, biết hạ mình cầu người dưới (hào 1) nuôi mình, tuy là trái lẽ thường đấy, nhưng vì là người tốt (đắc chính), cầu 1 giúp mình để sau giúp đỡ dân chúng, cho nên không lỗi. Nhưng phải nhất quán, hết lòng, không ngừng (như mắt hổ nhìn đăm đăm. Học Năng dịch là chằm chằm) ham muốn không nguôi, cứ tiếp tục cầu hào 1 ứng giúp thì mới có kết quả, không lỗi. Khái niệm Nuôi ở hào này là Nuôi về tinh thần chứ không phải về thể xác. PBC phụ chú: Hào 2 cầu nuôi trái nghĩa, hào 4 cũng cầu nuôi trái nghĩa, thảy là kẻ trên cầu người dưới nuôi, mà cát hung lại khác nhau là cớ sao? Bởi vì 2 vốn cầu là cầu nuôi về phần cái miệng ăn, 4 vốn cầu là cầu nuôi về phần đức nghĩa. 2 vốn cầu như cách Ngu công cầu ngọc với Ngu thúc. 4 vốn cầu như vua Thành Thang cầu tài đức với ông Y Doãn, thảy là kẻ trên cầu với người dưới mà cát hung khác nhau vậy. Đó là chân lý của Dịch học.

    Toán Hà Lạc giải: Dùng người hiền để nuôi dân.

    MHC: Tài lớn, dựng nền hòa bình, cải cách, đuổi tà, lập chính.

    MKHC: Điên đảo, ham muốn dồn dập. Tổn tài phá gia. Hoặc bị hổ đuổi: Sống vất vả.

    Vận Năm- Giới Quan: Được trên mến. Giới Sĩ: Tiến thủ, nên danh. Người thường: Được quý nhân giúp đỡ. Toại nguyện. Số xấu: Phòng bị đuổi (hoặc nhà cửa v.v...). Luôn luôn bị điều nọ tiếng kia.

    Người xưa có thơ rằng:

    Đề phòng một việc đảo điên

    Ra tâm cầu vọng, tự nhiên dễ dàng

    Hào 5 âm

    Trái lẽ thường, bền chí giữ đạo chính thì tốt. Không thể vượt sông lớn được. NHL giảng: Hào này như một vị nguyên thủ, có trách nhiệm nuôi người, nhưng vì âm nhu kém tài, nên phải nhờ người (tức hào trên cùng) nuôi mình (giúp đỡ mình); tuy là trái lẽ thường, nhưng cứ bền chí, giữ đạo chính thì tốt (vì nhờ người khác giúp đỡ để mình làm trọn nhiệm vụ nuôi dân). Tuy nhiên, vì tài kém (âm nhu), làm việc lớn gian hiểm, không nổi, nên Lời hào khuyên: Không thể qua sông lớn được.

    Toán Hà Lạc giải: Làm nguyên thủ mà phải cậy người khác nuôi dân giúp mình.

    MHC: Hưởng phú quý sẵn có, hoặc nhờ tổ nghiệp.

    MKHC: Bình sinh tân khổ, được người giúp đỡ.

    Vận Năm- Giới Quan: Nhờ người mà thành công, mới giữ nổi địa vị. Giới Sĩ: Được đề cử, làm nhỏ. Người thường: Có chỗ nhờ. Đạt được chí. Phòng sông nước.

    Người xưa có thơ rằng:

    Lui về thì được an thân

    Dưới trên đùm bọc bảo trân sáng ngời

    Hào 6 dương

    Thiên hạ nhờ mình mà được nuôi, trách nhiệm lớn vậy. Thường lo nguy sợ hãi thì tốt. Qua sông lớn được. NHL giảng: Hào này dương cương mà ở trên cùng, như bậc làm thày cho vị nguyên thủ, vị nguyên thủ nhờ mình mà nuôi được thiên hạ, thì cũng như chính mình nuôi thiên hạ. Trách nhiệm lớn vậy nên mình phải thường lo lắng, sợ hãi, rất thận trọng thì mới được tốt lành. Mà thiên hạ thì được phúc lớn. Hào này dương cương, có tài, không như hào 5, cho nên hào 5 không qua sông lớn được, hào này thì qua sông lớn, ý nói làm được những việc gian nan hiểm trở. PBC phụ chú: Sáu hào quẻ Di, ba hào dưới là nhờ người nuôi cho mình, ba hào trên là có trách nhiệm phải nuôi người. Vì thế ba hào trên thảy (đều) được cát. Hào 5 âm sở dĩ được cát là vì nuôi người hiền để đến với nhân dân. Hào 5 nhờ hào 6 trên mà được cát, nên đến hào trên cùng, thánh nhân tán cho rằng có phúc lớn. Xưa nay, tâm sự thánh hiền, lấy họa phúc thiên hạ làm họa phúc của mình. Tiên nho (ở đây là Phạm Văn Chính) có câu: Kẻ sĩ, lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui thiên hạ. Lo trước là đúng với chữ lo nguy ở Lời hào 5, vui sau là đúng với chữ có phúc lớn trong Lời tượng hào 6 (đại hữu khánh dã). Chúng ta học Dịch nên tấm lòng mở cho rộng, tầm mắt phóng cho xa, chớ nên bo bo cầu nuôi cái miệng, như ba hào dưới quẻ Di, dầu thánh nhân không nói hung, chúng ta cũng nên lấy làm xấu hổ.

    Toán Hà Lạc giải: Có quyền có vị, làm việc lớn của đất nước.

    MHC: Vị tôn đức trọng, chăm lo việc nước, công danh để đời, phúc trạch bền lâu.

    MKHC: Cũng là người hưởng phúc thọ, được người đời ngưỡng vọng.

    Vận Năm- Giới Quan: Quyền cao, chức trọng. Giới Sĩ: Đỗ cao. Người thường: Kinh doanh được lợi.

    Người xưa có thơ rằng:

    Giữ gìn tiết khí chửa thành công

    Thì ngộ một phen, hóa bậc hùng

    Biển lặng thuyền to, câu thả xuống

    Kình ngao lên cả, thỏa tâm đồng.

    28- TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ

    0 1 1 1 1 0

    (Passage de ce qui est grand)

    Đại quá là Lớn quá, Rất lớn, phi thường. Tượng quẻ Đầm ở trên, Cây ở dưới, nước ngập cây, cây mọc lớn quá không vững.

    Phần dương nhiều quá, phần âm ít quá, như cái cột yếu, cong xuống, chống không nổi. Tiến đi thì lợi, được hanh thông.

    NHL giảng: Nhìn hình quẻ, bốn hào dương ở giữa, hai hào âm hai đầu, như cây cột, khúc giữa lớn quá, ngọn và chân nhỏ quá, chống không nổi, phải cong đi. Tuy vậy, hai hào dương 2 và 5 đều đắc trung, thế là cương mà vẫn trung. Lại thêm quẻ Tốn ở dưới có nghĩa là thuận, quẻ Đoài ở trên có nghĩa là hòa, vui; thế là hòa thuận vui vẻ.

    Cho nên bảo là tiến đi (hành động) thì hanh thông.

    PBC chỉ rõ thêm: Chữ Đại Quá đối lập với chữ Bất Cập (chưa tới). Đại Quá là công việc quá chừng lớn. Sách Sử Ký có câu: Tất có người phi thường mới làm nên việc phi thường. Mà những việc phi thường tất phải chờ đến người phi thường. Bởi vì những việc phi thường, quyết không phải những hạng người thường làm nổi. Đó chính là nghĩa chữ Đại Quá. PBC phụ chú: Quẻ Đại Quá ở sau quẻ Di là rất hay. Xưa nay, thánh hiền hào kiệt, trước khi chưa làm việc Đại Quá, tất phải tiềm tàng ẩn súc, trải biết bao thời giờ súc dưỡng (tích lũy, nuôi). Súc dưỡng có đầy đủ, phát triển mới lớn lao. Tuyệt chưa thấy ai không súc dưỡng mà làm nên đại quá (phi thường). Ông Y Doãn đi cày ở Hữu Sằn, hơn nửa đời người ngâm thơ đọc sách, vui (nghiền ngẫm) đạo Nghiêu Thuấn, rồi sau (mới) giúp vua Thang đánh Kiệt an dân. Ông Đa Phú Nhi (Camillo Beuso di Cavour) cũng cày ruộng đọc sách, âm thầm nghiên cứu lẽ xưa nay hơn 10 năm, vậy sau làm nên sự nghiệp thống nhất nước Ý Đại Lợi (Italia). Một phụ chú khác của PBC: Nói về Thời Đại Quá, Lời Thoán có câu: To lớn rồi vậy, thời Đại Quá. Tức như trải qua đời quân chủ mà đổi ra làm dân chủ như cuộc Đại cách mạng Pháp. Ở giữa nước Bà la môn giáo mà lập nên Phật giáo như đức Thích Ca. Ở giữa nước quốc gia chủ nghĩa mà lập nên Chính phủ Xã hội như ông Liệt Ninh (Lê-nin). Thảy là công việc đại quá, mà cũng chỉ một bậc người tài đại quá mới làm nên. Nhưng tất cũng phải đúng thời tiết, nếu có tài đại quá, mà chưa gặp thời đại quá, tất nhiên cũng không làm xong. Chỉ có gặp Thời Đại Quá, thì người có Tài Đại Quá, mới làm nên những Việc Đại Quá. Lời Tượng: Nước Đầm làm chết Cây là quẻ Đại Quá. Người quân tử coi quẻ này mà một mình đứng riêng độc lập với thiên hạ cũng không sợ gì, dù phải trốn đời cũng không phiền muộn (Độc lập bất cụ, độn thế vô muộn). PBC phụ chú: Vẫn chung một hạng quân tử mà thủ đoạn có khác nhau. Việc gì đáng làm, dầu cả thiên hạ không ai làm, mà mình cứ làm, xông vào nguy hiểm mà chẳng kinh, mắc lấy dèm chê mà chẳng quản. Đó là cách "độc lập" mà "bất cụ". Việc gì không đáng làm, dầu toàn thiên hạ thảy làm, mà mình không chịu làm, mình đã trái mắt thế gian, âu là bỏ tục trốn đời, mà tinh thần được tự do tự tại. Đó là cách "độn thế" mà "vô muộn". Mạnh Tử có nói rằng: "Uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng di". Chính là đúng với Lời tượng này.

    Toán Hà Lạc giải: Đại Quá là Lớn quá, Rất lớn, phi thường, cũng là Họa, Hư hao, Gian nan. Cây mọc trong đầm mà lớn quá thì dễ đổ. Người quẻ Đại Quá có thể là người được nuôi dưỡng, tích lũy tài đức để có khả năng phi thường làm những việc phi thường. Nhưng không phải có mệnh Đại Quá là làm được như thế, phải có hoàn cảnh xã hội, được bồi dưỡng tài đức, tạo nên cái tài Đại Quá, lại phải gặp thời Đại Quá. Người quẻ Đại Quá có thể thành cái cột vững chắc trong đời, nhưng luôn đứng trước cái họa như cây lớn mọc trong đầm, gốc không vững bị đổ. Người quẻ Đại Quá làm cây lớn trong đầm thì mới lo đổ, chứ làm cây nhỏ như hoa sen thì bền vững. Châm ngôn của người quẻ Đại Quá là “Độc lập bất cụ, Độn thế vô muộn” (Việc đáng làm, một mình làm, không sợ; việc trái mắt người đời, phải ẩn mình, không phiền muộn). Quẻ Hỗ của quẻ Đại Quá là Thuần Càn. Người quẻ Đại Quá là người tiềm ẩn khả năng của con rồng bay lên cao, nhưng cũng phải tùy thời, có lúc phải như rồng ẩn trong hang, có lúc lên mặt ruộng, có lúc ở lưng chừng dễ bay lên cũng dễ xuống vực, có lúc lên cao quá coi chừng sa sẩy. Nguyệt lệnh thuộc tháng 2. Tuổi Tân: Sửu, Hợi, Dậu; Đinh: Hợi, Dậu, Mùi được quẻ này lại sinh tháng 2 là cách Công danh, Phú quý.

    Người xưa có thơ rằng:

    Tâm thừa lực thiếu ngán không

    Gió xuân, chống gậy, khuây lòng câu ca

    (còn tiếp)

    Nguồn: Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông. Xuân Cang. NXB Văn học sắp phát hành.

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,076,828

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/