Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,075,455

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông (30)

Xuân Cang

  • Thứ ba, 00:27 Ngày 31/03/2009
  • Hào 1 âm

    Lót (một vật gì) bằng cây cỏ mao trắng, không lỗi. NHL giảng: Hào này âm nhu, địa vị rất thấp, muốn làm việc lớn (vì ở thời Đại quá), mà không nổi, cứ cẩn thận, kính cẩn thì không lỗi. Khổng Tử đã giảng về hào này: Nếu đặt nó xuống đất, cũng đã được rồi, mà còn dùng cỏ mao trắng lót cho nó, có sợ gì đổ bể nữa đâu. Kính cẩn rất mực là như thế. Toán Hà Lạc giải: Kính cẩn, thận trọng để khỏi lầm lỗi.

    MHC: Cao khiết thanh liêm, được tin dùng, hưởng phúc lâu bền.

    MKHC: Tính tham hư (tham cái hão huyền?), ẩn nơi rừng núi, đủ dùng không tham, nên không thất thố gì.

    Vận Năm- Giới Quan: Cẩn thận giữ gìn, nên lộc vị bền. Giới Sĩ: Cẩn mật. Siêng đức nghiệp. Người thường: Kiệm ước đủ dùng. Phòng có tang.

    Người xưa có thơ rằng:

    Trước nhỏ sau mới phát

    Đầu đuôi yếu hiển nhiên

    Giọng ca Tây Bắc nổi lên

    Suối reo cây cỏ Bắc liền xanh tươi

    Hào 2 dương

    Như cây dương khô đâm rễ mới. Người già cưới được vợ trẻ. Không gì không lợi. NHL giảng: Hào này dương cương mà ở ngôi vị âm, vậy là cương mà có chút nhu, lại đắc trung. Nó thân cận với hào 1 âm, thế là cương nhu tương tế, bớt cứng đi, như cây dương khô mà đâm rễ mới, rồi cành lá sẽ tươi tốt. Có thể ví với một người già cưới được vợ trẻ. Theo PBC, Lời Tượng nói về hào này có một chữ Quá, là do hào 2 quá cương, làm thân với 1 âm còn non, như chồng già mà vợ quá trẻ, tương thân với nhau một cách quá vậy. Quá ở đây nghĩa là khác thường.

    Toán Hà Lạc giải: Dương được âm giúp.

    MHC: Cứu nguy dẹp loạn, lập công lớn.

    MKHC: Trước tân khổ, muộn tuổi mới vinh thăng. Hoặc vợ muộn, con muộn.

    Vận Năm- Giới Quan: Nếu nghỉ việc, được phục chức. Giới Sĩ: Chờ lâu được vời đến. Người thường: Hoặc lấy vợ đẻ con. Hoặc có con nuôi. Hoặc giới thiệu đồ đệ.

    Người xưa có thơ rằng:

    Cành tươi sáng, hoa lừng hương

    Bàn đào ba trái, phi thường một coi

    Hào 3 dương

    Cái cột cong xuống, xấu. NHL giảng: Hào 3 dương ở vị dương, thế là quá cương, định làm công việc lớn quá (vì ở thời Đại Quá), quá cương thì cong xuống, gẫy, việc sẽ hỏng. Chúng ta để ý: Lời Thoán nói về nghĩa toàn quẻ, cũng nói cột cong xuống mà vẫn khen là tốt. Còn lời hào này chỉ nói riêng ý nghĩa hào 3, chê là xấu, vì hào này quá cương, mặc dù ứng với hào 6 trên, âm nhu, cũng không chịu để hào đó giúp mình. PBC phụ chú: Theo thông lệ trong Dịch, 3 với 6 ứng với nhau, 3 cương, 6 nhu, đáng nhẽ giúp nhau, cớ sao 3 dương lại bỏ nghĩa tương ứng với 6 âm, mà không nói đến? Đó chính là sự biến hóa trong Kinh Dịch, ở thời Đại Quá, xu thế đã quá rồi, bây giờ thể dương ở vị dương, là 3 quá cương rồi. Người đã quá thật là quá, thì ai giúp được, và nó cũng có chịu nghe ai đâu, nên kết quả chỉ là cong xuống, xấu. Truyện của Trình Di có câu rằng: Học Dịch cần thứ nhất là biết thời thế. Thế có nặng nhẹ, Thời có thay đổi. Toán Hà Lạc giải: Quá cương, chẳng có ích gì cho việc cả.

    MHC: Hăng hái, lập công giúp đời, nhưng thường bạo mạnh quá, thành thương tổn, có khi nguy hiểm nữa.

    MKHC: Hung bạo quá, nên gặp họa hại.

    Vận Năm- Giới Quan và Giới Sĩ: Phòng thiệt hại, phòng nguy. Người thường: Phòng đổ vỡ, đau mắt, đau chân.

    Người xưa có thơ rằng:

    Có đàn bà, việc chẳng sao

    Tránh nguy, kệ khóc, đừng vào Dậu phương

    (Có đàn bà: Hào 3 dương ứng với hào 6 âm, trong lời hào thì nói thời Đại Quá 3 cứng cỏi quá có âm ứng mà vẫn như cái cột cong xuống, nhưng trong lời thơ vẫn nói: Có đàn bà, việc chẳng sao. Đây cũng vẫn là lẽ biến hóa trong Kinh Dịch. Dậu phương: Địa chi Dậu ở phương Tây. Dậu phương là phương Tây).

    Hào 4 dương

    Cây cột lớn khỏe, nên tốt. Nhưng nếu có ý khác (đam mê chẳng hạn) thì sẽ hối tiếc. NHL giảng: Cũng là hào dương nhưng ở vị âm (4), vừa cương vừa nhu, như cái cột lớn, vững, đỡ nổi nhà, ý nói làm được việc lớn, không lo thất bại. Tuy nhiên, nó lại ứng hợp với hào 1 âm, tiểu nhân, ở dưới, như vậy e nó quá nhu chăng, cho nên Lời hào khuyên: Chớ quyến luyến quá với 1, có ý nghĩ khác, mà đáng xấu đấy. PBC phụ chú: Hào 4 dương như cái cột vững, vốn là hoàn hảo, nhưng hiềm vì ứng xuống với 1, nên có lời răn rằng: Hễ có ý khác, xấu thẹn. Là vì 1 âm là tiểu nhân, hễ ở thời Đại Quá, làm việc Đại Quá, mà dính tiểu nhân vào, thì việc phải hỏng. Đó là thâm ý của thánh nhân.

    Toán Hà Lạc giải: Cương nhu đủ cả, nên gánh được trọng trách, nhưng nếu thiên về phía mềm yếu thì sẽ hỏng.

    MHC: Là giường cột của đất nước, công huân lớn.

    MKHC: Cũng có danh vọng, được việc lớn cho gia đình. Phúc lộc dày, bền.

    Vận Năm- Giới quan: Thường đứng đầu, giữ trọng trách. Giới Sĩ: Tiến thủ, thành danh. Người thường: Hay kiến thiết, tu tạo. Hay cố chấp, có khi rơi vào bọn gian nịnh, để rồi hổ thẹn.

    Người xưa có thơ rằng:

    Lòng khi muốn chậm muốn mau

    Gặp rồng đổi cảnh, trăng lầu sáng soi

    (Gặp rồng: trong quẻ Đại Quá có tiềm ẩn quẻ hỗ Thuần Càn, tượng rồng bay).

    Hào 5 dương

    Cây dương khô ra hoa, bà già có chồng trai tráng, không chê, cũng không khen. NHL giảng: Hào 5, dương, cương, trung chính, ở ngôi chí tôn, đáng lẽ làm được việc rất lớn, nhưng ở thời Đại Quá thì quá cương. Quá cương mà ở gần hào trên cùng, âm ở vị âm, là một người quá nhu, không giúp nhau được việc gì, cũng như cây dương đã khô mà ra hoa cuối mùa, sắp tiều tụy đến nơi rồi. Không khác gì bà già mà có chồng trai tráng, chẳng mong gì sinh đẻ nữa. Hào này khác với hào 2 ở chỗ hào 2 vừa cương vừa nhu, nên tốt, ví với cây dương khô đâm rễ mới. Hào 5 thì quá cương, xấu, ví với cây dương khô, không đâm rễ mà ra hoa, nhựa sắp kiệt rồi. PBC phụ chú: Tên quẻ là Đại Quá mà Lời hào lại ghét những người quá, mới biết rằng: Dịch Lý quý cái sự đắc trung (có cương có nhu), vả lại công việc Đại Quá chẳng phải ai cũng làm được cả.

    Toán Hà Lạc giải: Cương nhu không đủ tài để giúp đời.

    MHC: Cương quá, gặp kẻ không ra người, không đủ tài lập công, chỉ đủ cơm áo, chẳng vinh, chẳng nhục.

    MKHC: Hoặc vợ già, con keo kiệt, tuổi thọ mỏng, tài xoàng.

    Vận Năm- Giới Quan: Không bền. Giới Sĩ: Khó tiến. Người thường: Khó kinh doanh, đương vui hóa buồn, đương đẹp hóa xấu, trước nghịch cảnh, sau mới thuận.

    Người xưa có thơ rằng:

    Một việc hai nghĩa

    Một người hai lòng

    Cây khô hoa mới

    Nên chờ qua đông

    Hào 6 âm

    Lội qua chỗ nước sâu, nước ngập đầu, xấu. Nhưng không có lỗi. NHL giảng: Bản chất âm nhu, tài hèn, lại ở vào cuối thời Đại Quá, muốn làm việc lớn thì tất nguy thân, như người lội chỗ nước sâu lút đầu. Nhưng làm công việc nguy hiểm đó để cứu đời, cho nên không gọi là có lỗi được. Hào này trỏ hạng người hy sinh thân mình để làm điều nhân, đáng phục chứ không chê được.

    Toán Hà Lạc giải: Tử nạn vì nước.

    MHC: Vì việc nước, lâm đại nạn, lưu danh sử sách.

    MKHC: Chí lớn, mưu nhỏ, gặp họa, khó còn.

    Vận Năm- Giới Quan: Thân nguy. Giới Sĩ: Đỗ khôi khoa. Người thường: Bị tai nạn đến đầu, đến trán.

    Người xưa có thơ rằng:

    Buồn sông lo núi cả hai

    Muốn yên thôi chớ dông dài lang thang

    29- THUẦN KHẢM

    0 1 0 0 1 0

    (Pratique du danger)

    Khảm là Hãm, Hiểm, Gian nan, Trở ngại. Tượng quẻ là hai làn Nước (cuồn cuộn) đang tiến tới.

    Hai lớp Khảm (hiểm), có đức tin, chỉ trong tâm là hanh thông, tiến đi (hành động) thì được trọng mà có công.

    NHL giảng: Quẻ này còn gọi là Tập Khảm, là hai lần Khảm, có nghĩa là hai lần hiểm. Nhìn hình quẻ Khảm ta thấy một hào dương bị hãm vào giữa hai hào âm, cho nên Khảm có nghĩa là hãm, hiểm. Hai hào dương như thế là hai lần hãm, hiểm. (PBC lưu ý: Các quẻ Thuần khác chỉ có một tên là Thuần, như Thuần Ly, Thuần Tốn..., riêng quẻ Thuần Khảm còn gọi là Tập Khảm, là để nhấn hai lần Khảm, hiểm). Ta lại thấy ở giữa đặc, nét liền, ngoài rỗng, nét đứt, trái với quẻ Ly ở giữa rỗng, trên dưới đặc, như cái miệng lò, chỗ rỗng để chứa không khí và than củi, cho nên Ly là Lửa. Trái lại quẻ Khảm giữa thì đặc nên chỗ nào trũng thì nước chảy vào. Cho nên Khảm là Nước. Nguy hiểm không gì bằng nước sâu, nên bảo Nước là hiểm.

    PBC giảng: Người xử vào thời hiểm chồng chất là hoàn cảnh rất nguy, nhưng xem tượng quẻ mà tìm ra cách xử hiểm thì vẫn không sợ gì hiểm. Vì tượng Khảm một hào dương ở giữa, dương là Thực, là thành tín, là chí thành. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm mà tâm vẫn hanh thông, lòng chí thành đến đâu tác động mạnh đến đó, nên hành động được trọng, tai nạn qua khỏi, mà còn có công nữa. Người đời Tống có câu thơ: Ngày thường giữ trung tín / Nay sóng gió sợ gì. Người Nhật có câu: Những chốn lòng thành thấu tới / Đá vàng cũng phải nứt. Chính là dùng đạo tín thành cho cái tâm sáng, mà bước qua thời hiểm vậy. PBC phụ chú: Trong Thoán truyện, khi tán (bình luận) các quẻ chỉ tán bằng một chữ Thời, mà quẻ Khảm lại thêm vào chữ Dụng (tác dụng). Bởi vì hiểm có thời, lại có dụng. Tỷ như trong nước có họa loạn, trong nhà có tai biến, là vào thời hiểm. Nhưng việc binh, việc hình, việc dạy dân để ngăn ngừa họa loạn, việc chuẩn bị tiền, gạo thuốc thang... để phòng tai nạn thảy đều là Dụng Hiểm. Tóm lại, Hiểm thuộc về thời, là cảnh ngộ không bình thường; Hiểm thuộc về Dụng là công việc thường làm. Thời hiểm chắc không bao giờ không, Dụng hiểm chắc lúc nào cũng phải có. Nên lời Thoán truyện nói rằng: Hiểm có thời, có dụng, lớn vậy thay.

    Lời Tượng: Nước (cuồn cuộn) đang tiến tới là quẻ Tập Khảm. Người quân tử coi tượng nước chảy mà thường (thường xuyên, liên tục) giữ đức hạnh bền bỉ hàng ngày, tập rèn việc giáo dục, dạy dỗ cho dân quen dần. PBC phụ chú: Chữ Tập trên chữ Khảm, có nghĩa rất hay. Tập có hai nghĩa. Một là tập rèn, ôn đi tập lại không ngừng, không quên. Người quân tử dùng nghĩa này mà thường (trau dồi) đức hạnh. Một nghĩa là tập quán, là ngày ngày đêm đêm rót sâu, đúc chín, khiến cho tai quen, mắt luyện, mà thành ra tập quán (thói quen). Người quân tử dùng nghĩa này mà vận dụng vào việc giáo dục. Vậy chỉ một chữ Thường mà bao nuốt hết nghĩa tu thân, chỉ một chữ Tập mà bao nuốt hết nghĩa dạy dân. Nước từ một dòng suối mà chảy hoài thời có ngày thành sông biển, người ta từ một việc tốt mà làm hoài thời có ngày thành hiền. Nghĩa lý chữ Thường, chữ Tập của thánh hiền sâu xa thế.

    Toán Hà Lạc giải: Khảm là hãm, Hiểm, Gian nan, Trở ngại. Người ta còn gọi quẻ này là Tập Khảm để nhấn mạnh ý nghĩa nguy hiểm trùng trùng. Người quẻ Tập Khảm thường gặp những hoàn cảnh nguy nan, nhưng xem tượng quẻ mà xử thời hiểm thì không sợ gì. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm mà tâm vẫn hanh thông, lòng chí thành đến đâu tác động mạnh đến đó, lời nói, việc làm lấy tín nghĩa làm trọng, tai nạn qua khỏi, mà còn có công nữa. Người quẻ Tập Khảm gặp thời hiểm, còn biết linh hoạt, khôn ngoan tìm mọi cách tránh hiểm. Như mùa lụt bão tránh ra khơi xa, giúp dân sơ tán khi bão tràn vào, phòng hỏa, phòng đói kém, mất mùa. Lại hàng ngày rèn tập cho dân quen dần cái hiểm, chữ Tập Khảm có nghĩa rèn tập, tạo thành tập quán. Châm ngôn người quẻ Khảm là 4 chữ: Nạp Ước Tự Dũ (Nạp lời giao ước qua cửa sổ). Trong thời hiểm, phải biết linh hoạt biến thông, khi cần thì nạp giao ước làm tin không qua cửa chính mà vẫn được việc. Người quẻ Tập Khảm thường thích phù suy hơn phù thịnh. Là người có tài trí, vị tha, can đảm, dấn thân, nhưng phải cẩn trọng khi nhập cuộc. Biết mình có quẻ Tập Khảm thì cần giữ tâm trí cho ngay thẳng, chờ qua lúc gian nguy. Nếu có thể di chuyển nơi chốn thì tốt (Mấy câu này trích của Thiên cơ Dật sĩ, một nhà Dịch học Việt Nam ở nước ngoài). Người quẻ Tập Khảm biết lấy ưu thế quẻ Khảm để vượt hiểm thì trở thành anh hùng. Nếu để cho cái hiểm hãm kìm kẹp, thì chìm đắm trong trong thác lũ cuộc đời là cái chắc. Quẻ Hỗ của quẻ Thuần Khảm là quẻ Sơn Lôi Di. Di là Nuôi. Người quẻ Thuần Khảm cũng là người vượt gian khó để thực hành chữ Nuôi, với bản thân là khả năng kiếm sống, với dân là khả năng nuôi dân, với gia đình là nuôi con cái, người thân. Nuôi vật chất, nuôi tinh thần. Nguyệt lệnh thuộc tháng 10. Tuổi Mậu: Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất, Tý được quẻ này lại sinh tháng 10 là cách Công danh, Phú Quý. Tuổi Hợi mà được quẻ Khảm là cách quý hiển Huyền Vũ Đương Quyền (Chim huyền hạc giữ quyền).

    Người xưa có thơ rằng:

    Hiểm nghèo KHẢM muốn thông

    Giữ nước phải tương dung

    Sẻ quạ đương bày trận

    Cùng trời chiếc nhạn tung

     

    Hào 1 âm

    Quen hiểm, vào sâu chỗ hiểm, xấu. PBC giảng: Hào âm nhu, lại ở dưới cùng quẻ Thuần Khảm, như người sa xuống vực hiểm, càng cựa quậy càng sụp xuống sâu. Nên lời hào có chữ tập khảm (quen hiểm). Chữ tập ở đây có khác với chữ tập ở quẻ. Chữ tập ở quẻ là hai lần, ở đây là quen.

    Toán Hà Lạc giải: Không biết cách trừ hiểm nên không ra khỏi chỗ hiểm.

    MHC: Biết thời cơ, giữ đạo, tuy đến chỗ hiểm mà không vào.

    MKHC: Tài xoàng, trí mọn, không gặp thời, không đúng chỗ, lối bùn lầy lội, không cách vượt lên.

    Vận năm- Giới Quan và Giới Sĩ: Phòng khiển trách, truất giáng. Người thường: Phòng đắm đuối. Chỉ có tăng ni ẩn dật là yên ổn.

    Người xưa có thơ rằng:

    Hiểm như đáy biển mò châu

    Muốn nâng cây mọc đợi đầu gió xuân

    Hào 2 dương

    Ở chỗ hiểm lại có hiểm, chỉ mong làm được việc nhỏ thôi. NHL giảng: Hào này dương cương, đắc trung, có tài trí, nhưng ở giữa thời trùng hiểm, trên dưới bị hai hào âm nhu bao vây, chưa thoát được, nên chỉ mong làm được việc nhỏ thôi.

    Xem hào 4 của quẻ Lôi Địa Dự, cũng dương ở vị âm, cũng bị hai hào âm bao vây, còn kém hào 2 quẻ Khảm vì không đắc trung, vậy mà lời hào 4 quẻ Dự (xem quẻ số 16) là thành công lớn (đại hữu đắc), còn hào 2 quẻ Khảm chỉ mong được việc nhỏ (cầu tiểu đắc) thôi, chỉ vì hai thời khác nhau, thời quẻ Dự là thời vui vẻ, hanh thông, thời quẻ Khảm là thời gian nan nguy hiểm. PBC phụ chú: Thế mới biết chữ Thời ghê gớm thiệt. Quẻ Dự, hào 4 là ở thời vui vẻ, thuận thời, thuận thế mà làm nên anh hùng. Quẻ Khảm, hào 2 ở thời hiểm, trái thời trái thế, may chỉ làm nên một bậc quân tử, hai bên dương cương in như nhau, mà thành tựu thì lớn nhỏ khác nhau. PBC lại bình luận thêm rằng: Trước nay, anh hùng tuy có đủ sức chống với thời thế, nhưng thời thế cũng có sức làm khốn được anh hùng. Có tài cương, trung như hào 2 dương, mà bị trên dưới hai âm vây bọc, muốn làm được sự nghiệp lớn có dễ dàng đâu, nên phải tích ngày lũy tháng, từ một phân một tấc gây lên, miễn cho được một tí cỏn con, năm chồng tháng chất, tựa như nước chảy một giọt lúc đầu, nên nói rằng: mong được việc nhỏ. Được việc nhỏ thôi, nhưng mà tích lũy nghìn muôn cái nhỏ, thì thành một cái gì rất lớn, chính là một phương pháp rất hay cho người quân tử ở thời Khảm.

    Toán Hà Lạc giải: Đang lúc gian nan, tìm cách thoát hiểm.

    MHC: Lúc biến cố, tuy chưa thành việc lớn, nhưng có công cứu được cái nguy đổ sụp.

    MKHC: Chỉ làm được việc quy mô nhỏ.

    Vận năm- Giới Quan: Trải chức vụ nhỏ. Giới Sĩ: Thi bằng nhỏ. Người thường: Kinh doanh nhỏ. Mệnh nữ: Làm vợ nhỏ, người giúp việc. Vận xấu: Phòng bệnh tim, bụng, huyết khí.

    Người xưa có thơ rằng:

    Hiểm nan, cầu nhỏ an bình

    Muốn to Lục Tốn, Ngô Đình thẹn chưa?

    Hào 3 âm

    Tới lui đều bị hiểm, trước mặt sau lưng đều bị hiểm, hãm, chỉ càng sụp vào chỗ sâu hơn thôi, chớ dùng (ý nói người ở vào hoàn cảnh hào 3 này không được việc gì đâu). NHL giảng: Hào này âm nhu, bất trung bất chính, ở trên cùng quẻ nội Khảm, tiến lên thì gặp quẻ ngoại Khảm, sau lưng là Khảm, toàn là hiểm cả, cho nên chỉ sụp vào chỗ sâu hơn mà thôi.

    Toán Hà Lạc giải: Qua lại đều hiểm, không thoát được hiểm.

    MHC: Không đến nỗi chìm đắm, cũng bảo vệ được sự sống còn, thân và nhà không đến nỗi suy vi.

    MKHC- Tài nhược, chí đoản, nghèo khó mãi.

    Vận năm: Giới Quan: Nên lui bước. Giới Sĩ: Đợi thời. Người thường: Gian nan, thêm kiện tụng nữa.

    Người xưa có thơ rằng:

    Thuyền phòng nước, bộ phòng xe

    Thật là hiểm trở, nên dè dặt luôn

    Hào 4 âm

    Dâng một chén rượu, một bát thức ăn, một vò nhỏ, (ý nói không cần nhiều, cốt lòng thành) đưa lời giao ước qua cửa sổ, cuối cùng không lỗi. NHL giảng: Lời hào này gọn quá, khó hiểu. Nghĩa hào là không cần nhiều, chỉ cần lòng chí thành là đủ. Lời ước hẹn làm tin đáng nhẽ phải nộp qua cửa lớn, cho đàng hoàng, nhưng lại đưa qua cửa sổ, như vậy là không chính đại, quang minh, nhưng gặp thời hiểm, phải quyền biến, miễn là giữ được lòng chí thành.

    Hào 4 này như một vị quan chức cấp cao, nhưng âm nhu, bất tài, không cứu đời ra khỏi cảnh hiểm được, cũng may mà đắc chính, chí thành, cứ giữ đức chí thành đó mà ứng xử với bậc nguyên thủ, khai phát được chốn bế tắc cho bề trên, giúp đỡ cho thiên hạ trong cuộc gian nguy, có nghĩa là biết thời, thế, biết tòng quyền thì rốt cuộc không có lỗi. PBC giải thích câu “đưa lời giao ước qua cửa sổ” như sau: Đương giữa thời hiểm, lòng người còn bế tắc, nếu mình cứ ngay thẳng nhè vào giữa chốn bế tắc của người mà công kích hoài, tất nhiên lời nói khó vào, mà việc cũng hỏng. Chi bằng chịu khó mất công, rình chờ đến khi xuất hiện điểm sáng của người, mà thừa cơ mở đường, tượng như nạp giao ước làm tin, mà không nạp ở cửa chính, lại đưa qua cửa sổ vào. Tuy làm thế không đường hoàng, nhưng cốt cho lời mình lọt vào tai người nghe, thì dầu có uốn đường, tắt lối chút đỉnh cũng không ngại gì. Đó chỉ là thủ đoạn ứng xử về thời Khảm hiểm, thánh nhân vạn bất đắc dĩ mà phải ủy khúc chu toàn như thế.

    Toán Hà Lạc giải: Lấy điều thiện, lòng thành, làm cho nguyên thủ cảm được, nhờ vậy mà thành công.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông. Xuân Cang. NXB Văn học sắp phát hành.

     

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,075,455

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/