Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,811,017

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Những bài báo

Lượn quanh làng báo

Nguyễn Hòa

  • Thứ ba, 16:44 Ngày 26/07/2011
  •             Phổ cập tin học, qua những sắc thái khác thường!

                - Sáng nay đã vào mạng chưa?

    - Dậy muộn, ăn còn không kịp, có chuyện gì?

    - Bếchkhăm vừa bị gẫy chân.

    - Thế thì Em U toi rồi, may mà tao không đặt cửa!

                Trên đây là mẩu đối thoại giữa hai bạn trẻ, tôi tình cờ nghe được nhân một buổi sáng cùng mấy anh bạn cà phê cà pháo trước khi đi làm. Mẩu đối thoại tuy ngắn ngủi nhưng cho thấy sự cập nhập với tin tức quốc tế đã đạt đến mức mà chỉ đến thời đại khoa học và công nghệ phát triển con người mới có được. Tôi quay sang anh bạn vốn khoái internet, hỏi:

                - Ông vẫn “lang thang trên mạng” đấy chứ? Mặt rạng rỡ, anh trả lời:

                - Món ăn tinh thần, bỏ sao được. Nhà ông chưa nối mạng phải không, lạc hậu thế, ít nhất cũng phải có cái meo chứ!

                Tôi cười trừ. Hôm sau lẳng lặng mua sắm thiết bị, mời thợ đến nhà, quyết tâm gắn mình với thế giới. Anh thợ kỹ thuật điện tử khoác chiếc túi to kềnh tới, tháo tháo lắp lắp, buông vài lời chê bai anh thợ sửa chữa lần trước, rồi đưa ra lời khuyên chân thành: anh đặt hòm thư Yahoo miễn phí cho đỡ tốn tiền, bùi tai tôi “ôkê” luôn. Lúc ra anh ra về, thấy trên sàn nhà chỏng chơ hai chiếc ốc vít, tôi đùa: chú lắp đặt cho anh vài lần có khi anh kiếm được cả bộ ốc vít! Trưa hôm đó, cơm nước xong xuôi, tinh thần hồ hởi, bố con trịnh trọng ngồi trước máy, gửi đi cái Email đầu tiên, chính thức phát tín hiệu gia nhập hệ thống thông tin toàn cầu. Chưa đâu vào đâu, đã thấy thông báo mạng Yahoo đang nghẽn mạch, té ra miễn phí đâu phải là thứ dễ xơi. Lại gọi thợ, lại tháo tháo lắp lắp, lại phỉ phui cho cái mồm mình, thợ phải đến nhà vài lần thật!           

    Từ ngày các hiện tượng có liên quan tới cái chữ mốt có điều kiện phát triển, sinh hoạt xã hội của chúng ta có phần sinh động hơn xưa. Đi ra đường là gặp mắt xanh mắt đỏ tóc vàng tóc nâu, đến công sở là gặp váy dài váy ngắn, vào quán giải khát là thấy Mỹ Tâm - Đan Trường đang nhún nhảy hát hò, leo lên xe khách “chất lượng cao” là gặp Phương Thanh - Thanh Thảo đang vắt vẻo chơi đu, hay chạy quanh bờ biển. Nhiều vị về nhà, tưởng được yên tĩnh, nào ngờ cánh con trẻ cũng đang mê mải xập xình với Thếch Dát, Êminem... Mốt có mặt trong nhiều ngõ ngách của cuộc sống, từ khẩu ngữ hàng ngày tới kiểu lối màu sắc xe máy, kiểu dáng ngôi nhà. Thậm chí những vấn đề nghiêm túc đôi khi cũng không tránh khỏi sự “xâm nhập” của mốt. Ngày còn nhỏ, sơ tán về một vùng quê, lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với hai từ “sân chơi”. Đây là hai từ được mấy bác ở trại chăn nuôi của hợp tác xã sử dụng để chỉ khoảnh đất nhỏ trước mỗi ngăn chuồng, có tường xây bao quanh, dành cho “hậu duệ chú Trư” dạo chơi phơi nắng sau khi tắm mát ăn no. Bẵng đi mấy chục năm, hai từ “sân chơi” tái xuất giang hồ, tả xung hữu đột trong khá nhiều lĩnh vực. Các sinh hoạt, các hoạt động giải trí được gọi là “sân chơi” đã đành, ngay cả trường đại học - nơi chữ “chơi” không có ý nghĩa nhiều lắm, mà có người gọi là “sân chơi dành cho thế hệ trẻ” thì xem ra người ta lại khuyến khích con em chúng ta chơi nhiều hơn học!

                Nhìn từ góc độ thị hiếu thẩm mỹ, mốt là loại hiện tượng thường xuyên thay đổi bởi liên quan tới sở thích, tới những điều kiện lớp tuổi, nghề nghiệp, môi trường sống... của một nhóm người nhất định nào đó. Tuy nhiên đối với những mốt đã đạt tới tầm mức quốc gia, có lẽ cũng cần xem xét thấu đáo, ví như cái chuyện lâu nay chúng ta cổ súy cho phong trào phổ cập tin học chẳng hạn. Để đi tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta cần tiếp cận và sử dụng các công cụ, phương tiện của công nghệ tin học. Nhưng tiếp cận và sử dụng thành tựu của công nghệ tin học luôn có quan hệ chặt chẽ với tính hữu dụng, tính hiệu quả. Có lẽ do dân trí còn kém phát triển, do quan niệm còn sơ khai, đơn giản..., nên xung quanh sự nghiệp phổ cập tin học, hiện tại không chỉ có những bất cập mà nảy sinh cả những tình huống khôi hài, vừa gây tốn kém, vừa làm tăng thêm tính hình thức của các hoạt động xã hội - nghề nghiệp.

    Hơn ba mươi năm trước, vào thời nghe đâu cả miền Bắc chỉ có vài ba cái, không phải người nào cũng có may mắn được đến Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước trên phố Trần Hưng Đạo để rón rén bước theo hàng dọc, thành kính liếc nhìn khối máy nặng dăm tấn, nhấp nháy ánh đèn, có khả năng làm hàng triệu phép tính trong một giây. Liếc mà kinh ngạc, liếc mà thán phục. Rồi hôm nay, trong khi đa số công dân nước Việt chưa có may mắn được “liếc” cỗ máy hôm nào thì khối người đã kịp bê về nhà một cỗ máy nhỏ nhắn, xinh đẹp, nặng vài kilôgam nhưng lại có những khả năng vượt xa “cụ tổ” của nó ngày trước. Ai dám bảo cơ quan tôi không theo kịp nhân loại, ai dám bảo cơ quan anh không tiếp cận với công nghệ tin học khi cơ quan chúng ta đều có một căn phòng “bọc” nhôm kính sáng choang, máy điều hòa nhiệt độ “hai cục” chạy êm ru, thảm “sịn” trải từ trong ra ngoài và một dẫy các cô gái thơm nức, váy ngắn váy dài, đang chăm chú trước màn hình nhoang nhoáng đỏ đỏ xanh xanh. Ai dám bảo con tôi ngô nghê, ai dám bảo con anh thua bạn kém bè khi trong nhà chúng ta cùng sừng sững một cỗ máy vi tính và con cái chúng ta cứ rảnh rang là lại cắm cúi gõ gõ, đập đập dò dẫm tìm đường vào kho tàng tri thức của loài người?

                Tương tự như mốt học ngoại ngữ, mốt học tin học cũng đang diễn ra những tình huống kỳ cục. Bạn nộp hồ sơ xin việc ư, có bằng ngoại ngữ có chứng chỉ tin học không, không có thì về nhà học đã! Vì người ta chỉ quan tâm tới cái chứng chỉ, không lưu tâm tới năng lực tương ứng, nên đối với nhiều người, việc kiếm một cái bằng tin học theo lối “cửa sau” là không khó lắm. Nhìn hàng dãy các cửa hàng cung cấp thiết bị và vật tư tin học, nhìn hàng dãy biển hiệu các công ty và trung tâm đào tạo tin học được khai triển từ phố huyện tới thủ đô ai mà không thấy xốn xang trước tinh thần hiếu học của dân ta. Một lần có anh chàng hàng xóm sang nhà tôi nhờ máy vi tính để soạn thảo văn bản, sốt ruột vì thi thoảng anh chàng lại réo lên “Chú ơi xuống dòng thì làm thế nào!”, “Chú ơi không biết tại sao nó lại thế này!”, tôi hỏi:

    - Chú thấy cháu học tin học rồi cơ mà? Chàng ta đáp:

    - Cần chứng chỉ thì cháu đi học, chứ ở đấy người ta chỉ dạy “sờ máy” thôi! Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, chàng ta giải thích:

    - Mỗi buổi hai tiếng, mỗi máy hai người, chưa kịp làm quen thì hết buổi, chúng cháu gọi đấy là “sờ máy”!

    Sau mấy năm phong trào đào tạo tin học phát triển rộng rãi, hiệu quả nhãn tiền, trực tiếp là đã giúp chị văn thư loại bỏ chiếc đả tự cơ - máy đánh chữ, chấm dứt thời kỳ gò lưng ngồi gõ chí chát, và hỗ trợ đắc lực giúp bác tài vụ tính toán bảng lương đồng thời đưa vào kho đồ cổ chiếc máy tính có nguồn gốc Tiệp Khắc vốn vẫn phải xoành xoạch quay maniven! Phát hiện ra “tính ưu việt” của công nghệ tin học, các cơ quan đoàn thể thi nhau sắm sanh các loại máy móc văn phòng. Hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng được chi ra chỉ để làm mỗi công việc nhẹ nhàng là tống khứ cái máy chữ, cái máy tính cổ lỗ vào kho đồ cũ, bởi bán thanh lý liệu mấy người mua. Công việc không liên quan tới tính toán - không sao cả, công việc không phải lập trình - chớ quan tâm, công việc không phải thiết kế - mặc kệ, công việc không cần lưu trữ - miễn bàn ngang..., tóm lại là phải có máy vi tính. Sắm máy vi tính rồi, lại phải tuyển dụng người có nghề hoặc đầu tư nâng cao trình độ nghiệp vụ cho mấy chị mấy cô vốn đã gắn bó với táp 1 táp 2, giấy nến giấy than nữa chứ. Đào tạo xong, chứng chỉ đã trình, người đã tuyển dụng, tức thì phải phát huy cho hết công suất của của máy vi tính, máy photocopy. Thế là vấn nạn quan liêu giấy tờ có thời cơ liên tục phát triển. Các ban ngành đoàn thể, các cơ quan hành chính tha hồ sản xuất thông báo và chỉ thị, thông tư và hướng dẫn, công văn và tài liệu... Điều này góp phần lý giải tại sao bàn làm việc và catáp của cán bộ lớn nhỏ lúc nào cũng đầy ăm ắp các loại giấy tờ trắng phau không gấp mép. Từ góc độ này mà xét, xem ra công nghệ tin học quả là đắc dụng!

    Có một nghịch lý là trong khi các nhà khoa học, các bạn trẻ say mê tin học đang cố gắng học hỏi và sáng tạo để thực hiện ước mơ cho ra đời một “thung lũng Silicôn”, một công nghệ sản xuất phần mềm ở Việt Nam; trong khi các cơ quan hữu trách cố gắng tận dụng mọi khả năng của công nghệ tin học để góp phần nhanh chóng hiện đại hóa, công nghiệp hóa, thì trong nhiều hoạt động xã hội, chúng ta đang tiêu quá nhiều tiền của vào một công việc hoàn toàn có thể tiết kiệm, không tốn kém, đó là việc sử dụng cho đúng việc, cho đúng chỗ các chức năng của cỗ máy vi tính. Vấn đề không chỉ là mốt, nó còn là dân trí, là sự chuẩn bị nghiêm túc, là thái độ khoa học hướng tới xây dựng một xã hội phát triển. Đáng tiếc, câu chuyện không dừng lại ở phạm vi xã hội. Khi tin học gia nhập vào đời sống gia đình nó lập tức thể hiện tính chất hai mặt, tích cực và tiêu cực, trong những biến thái ngàn năm nay chúng ta chưa từng gặp. Có thể nói, trong truyền thống của mình, chưa bao giờ đa số những người làm cha làm mẹ ở Việt Nam phải đối mặt với tình huống cần đáp ứng một loại nhu cầu của con cái mà bản thân lại không hiểu, không hiểu là đồng nghĩa với tình trạng không có khả năng quản lý, không có khả năng điều chỉnh hoạt động thỏa mãn nhu cầu của con cái! Bên cạnh một số ít các vị chủ gia đình có kiến thức tin học, phần lớn các vị còn lại sắm vi tính, nối mạng internet chủ yếu từ một cảm quan hiện thực, do vậy con cái sử dụng ra sao là ngoài tầm kiểm soát. Có một cái gì đó khó định danh khi ông bố sắm cho cô con gái 10 tuổi một dàn vi tính “sịn” chỉ để cháu sử dụng vào một việc duy nhất là chơi trò chơi điện tử! Có một cái gì đó đáng lo ngại khi mấy chú choai choai rủ nhau học nhóm bằng cách đóng cửa phòng riêng, “học bài” từ những trang Web mang nội dung đồi trụy! Và không biết đáng mừng hay đáng lo khi không ít trẻ em quên ăn quên học, dành thời gian “tán gẫu trên mạng” hoặc vùi đầu vào những trò chơi luôn gắn liền với những tiếng “uỳnh uỳnh...chíu chíu...pằng pằng...”... Thế mới hay, không ngẫu nhiên có người lại đưa ra tiêu chí cách nhau 5 tuổi là cách nhau một thế hệ, vì người ta lấy tri thức để đo đếm. Phải chăng ngoài sự quan tâm, các bậc cha mẹ cũng cần phải bổ sung tri thức của chính mình để có thể theo kịp và giúp đỡ con cái định hướng việc học tập và thoả mãn nhu cầu của chúng? 

    Thật ra, chạy theo mốt là trạng thái tâm lý bình thường trong sinh hoạt của một xã hội, điều đáng nói là cách quan niệm về mốt như thế nào, triển khai sở thích về mốt ra sao. Đã đến lúc cần có một quan niệm khoa học nghiêm túc từ mỗi gia đình tới toàn quốc gia trong khi sử dụng chiếc máy vi tính. Nếu không một ngày nào đó, chúng ta sẽ chỉ có thể tự hào về một xã hội có tỷ lệ cao số máy vi tính tính theo đầu người mà không thể tự hào về một nền công nghệ tin học chủ yếu dùng chơi trò chơi điện tử và soạn thảo văn bản!

     

    Theo “Mốt”!

    Vài chục năm trước, nhìn những dãy nhà hộp đứng san sát như bãi chứa container, tôi liên tưởng tới câu tục ngữ ở bầu thì tròn ở ống thì dài và nghĩ, nếu nghĩa đen của câu tục ngữ trở thành hiện thực thì ngày nào đó người Việt mình sẽ có hình thể phát triển theo khối lập phương. ít năm sau, chắc do nóng quá hoặc không có giải pháp hữu hiệu trong việc chống thấm (?), người ta lại đua nhau úp lên mái nhà những cái chóp nhọn hoắt, hoặc tròn tròn hoặc vuông vuông, lại nghĩ cứ đà này có ngày phố xá xứ ta sẽ từa tựa như phố xá vùng Vịnh Pecxich. Vài năm nay, mốt đã thay đổi, người ta trở về với mái chảy truyền thống nhưng đã qua một lần “phủ định” là lợp tôn Ausnam hoặc đổ bê tông gắn ngói. Hóa ra cái “mái chảy” có tuổi đời ngàn năm của tổ tiên cũng có lý đấy chứ. Trường hợp này cũng tương tự như ngày trước có bác thực hiện công trình khoa học là cải tiến chiếc đàn tứ. Bác lắp thêm bốn dây nữa để có tám dây và thay dây tơ bằng dây sắt. Xong xuôi, bác vác đàn ra trình tấu, tiếng đàn tứ cải tiến nghe y hệt tiếng đàn măngđôlin. Cử tọa ngồi nghe bình luận: lại mốt cải tiến đây, cải tiến đàn tứ thành đàn măngđôlin thì cải tiến làm gì, rách việc! Mà rách việc thật, vừa tốn công của vừa mất thời gian, ít lâu sau công trình khoa học “cải tiến đàn tứ” đã nhanh chóng mất hút trong sinh hoạt âm nhạc. Cứ ngỡ cuộc đời chỉ có mốt đầu tóc, mốt áo quần, mốt sơn móng tay móng chân, mốt nhà cửa..., mấy ai nghĩ lại có cả mốt nghiên cứu khoa học! Dễ nhận thấy trong vài chục năm qua, khi nghiên cứu kinh tế - chính trị - văn hóa thì nhiều vị chạy theo Léon Vandermersch ngó vào “thế giới Hán hóa ngày nay”, chưa đâu vào đâu lại đã thấy lại tí tởn chạy theo Alvin Toffler để ngắm nghía sự “thăng trầm quyền lực”; rồi trong nghiên cứu văn học thì hết tán dương M. Bakhtin lại tung hô Milan Kundera! Tôi đoan chắc trong các vị này, người hiểu thực chất vấn đề thì ít, người nói cho có vẻ uyên thâm, trưng diện như một món “đồ trang sức trí tuệ” thì nhiều!

    Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, trả lời câu hỏi: đâu là động lực cho sự cất cánh của những “con rồng” châu á?, trong cuốn sách Thế giới Hán hóa ngày nay Léon Vandermersch đưa ra giả thuyết về vai trò của các giá trị châu á, cụ thể theo ông là văn hóa Khổng giáo. Cùng thời gian này, lại có tác giả cho rằng nước Nhật phát triển được như ngày nay là nhờ vai trò của văn hóa Phật giáo. Quãng chục năm sau, đi tìm nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính, ở phương Tây lại có người đổ hết tội tình lên các giá trị châu á... Điều này cho thấy thực chất vấn đề vẫn còn để ngỏ, người ta có thể đưa ra những kết luận khác nhau, mỗi kết luận đều mang ý nghĩa tham khảo, không thể là chân lý cuối cùng, chưa nói còn phải nhìn nhận trong tương quan với hệ thống quan điểm, với góc độ tiếp cận của mỗi (những) nhà nghiên cứu. Nhưng các vị yêu thích mốt trong khoa học không lấy đó làm điều, họ lũ lượt leo lên con tầu do Léon Vandermersch cầm lái để hành trình về phương Đông. Họ phê phán tư duy phân tích và tinh thần duy lý, họ cổ vũ tư duy tổng hợp của phương Đông cổ đại và các giá trị duy tình. Có vị hơi bị quá đà, hăng hái đưa ra tuyên bố: người Việt sử dụng chữ quốc ngữ là “một tai họa”! Tựu trung theo các vị thì phương Đông mới là cái rốn của vũ trụ, là nơi mà phương Tây phải học tập mới có thể nên người. Ăn theo mốt tìm về phương Đông, các nhà xuất bản, các nhà biên khảo, các nhà biên soạn thi nhau tung ra thị trường những tác phẩm có chung tên gọi cổ học phương Đông. Nào Lão Tử, Khổng Tử, nào Mạnh Tử, Chu Hy, nào Thích Ca, Long Thọ..., các cụ tái xuất trên các quầy sách như muốn nhắc nhở con cháu chớ loay hoay tìm tòi đâu xa, hãy tìm từ những gì chúng ta đây “ngộ” ra từ hàng ngàn năm trước. Thiển nghĩ, nghiên cứu và khẳng định các giá trị dân tộc, nghiên cứu và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trước hết phải là một sự tự ý thức, là một nhu cầu tự thân chứ không phải nói theo người khác. Vả lại, phương Tây hay phương Đông cũng đều có những mạnh yếu riêng. Và nghiên cứu văn hóa không phải để khẳng định sự hơn kém mà là đi tìm sự khác nhau, tìm ra chỗ mạnh chỗ yếu nhằm bổ sung cho nhau, đặc biệt không phải nghiên cứu để tự an ủi như một biến thái của “phép thắng lợi tinh thần”. Đua theo mốt trong sinh hoạt xã hội nếu không được trang bị một năng lực thẩm mỹ sẽ sinh ra những trò lố lăng, đua theo mốt trong khoa học nếu thiếu tri thức sẽ sinh ra những sản phẩm kỳ quặc. Tạm điểm qua sự “thông thái dỏm” của dăm ba vị. Một vị bàn về việc chọn hiền tài đã trình bày theo lối tân cổ giao duyên như thế này: “Thi Đình là thi tại triều được tiến hành ngay sau khi thi Hội với mục đích xếp hạng các tiến sĩ. Trong số này người nào đạt điểm tối đa là 10 thì được ban Huy chương và phong tước Trạng nguyên, người nào đạt điểm 9 thì được phong Bảng nhãn, người nào đạt điểm 8 thì được phong Thám hoa”(!) Xét đến cùng, chạy theo mốt trong khoa học, thực chất là thay thế thái độ cực đoan này bằng thái độ cực đoan khác, chính xác hơn, là thể hiện điều chúng ta thường gọi là phương pháp xem xét siêu hình, là cung cách biến tri thức thành một thứ mỹ phẩm dành cho trí tuệ!

    Món ăn dẫu ngon, xơi nhiều cũng chán. Tới năm 1991, cuốn sách Thăng trầm quyền lực của Alvin Toffler được dịch và xuất bản. Ngay sau đó ở Việt Nam, số tác giả bàn về văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh tin học bỗng nhiên tăng vọt. Thăng trầm quyền lực được quảng bá trong giới nghiên cứu, vài bác đọc xong, nhíu mày đăm chiêu như một vị hiền triết, dõi cái nhìn của “tương lai học” hướng về ngày mai để quả quyết những điều mới chỉ là dự báo. Song, chắc vì tương lai vốn còn xa xăm, bàn về một thứ ít người có khả năng hình dung mãi thì cũng nhàm, nên mấy cuốn sách tiếp theo của Alvin Toffler như Làn sóng thứ ba, Cú sốc tương lai không được hưởng ứng rầm rộ như trước. Mốt Alvin Toffler nhanh chóng bị bỏ qua và được thay thế bằng mốt Samuel Hutington với Sự đụng đầu của các nền văn minh, bằng mốt Fritjof Capra với Đạo của vật lý...!

    Giống như khi bài hát Ôi cuộc sống! của người Xiêm La với điệp khúc noy noy noy được du nhập rồi một số ban nhạc, ca sĩ xứ ta cũng ngoáy mông nhún nhảy “noi” theo, loại trừ những vấn đề khoa học thu hút sự chú ý của những nhà nghiên cứu nghiêm túc, khi mốt xâm nhập vào đời sống khoa học nó thường đưa tới sự xuất hiện của hàng loạt những công trình có đề tài, lý thuyết, phương pháp nghiên cứu..., thậm chí đối tượng nghiên cứu cũng mang dáng vẻ hao hao. ở cơ sở đào tạo nọ, một nghiên cứu sinh bảo vệ thành công đề tài về “năng lực trí tuệ”, ngay sau đó người ta thấy nối tiếp nhau ra đời các luận án mang nhan đề đại loại như “Tăng cường năng lực trí tuệ của X...”, “Nâng cao năng lực trí tuệ của Y...”. Nghiên cứu văn học cũng không tránh khỏi tình trạng này, ví dụ khi Thi pháp học được giới thiệu, khẳng định và đạt một số thành quả trong nghiên cứu, ngay lập tức hàng loạt những luận án tiến sĩ được triển khai, mở bất kỳ luận án nào thuộc mốt này cũng sẽ thấy nếu không bàn về “không gian nghệ thuật”, “thời gian nghệ thuật” thì cũng bàn về “điểm nhìn tác giả”, “điểm nhìn nhân vật”...!

    Sự du nhập Thi pháp học vào hoạt động nghiên cứu văn học ở Việt Nam là cần thiết và khả thủ, nó đáp ứng nhu cầu bổ sung các lý thuyết, vấn đề là người sử dụng có thông thạo đến mức làm chủ được Thi pháp học hay không. ứng dụng thành tựu của M.Bakhtin, của M.Kundera là việc làm đáng chân trọng, nhưng tuyệt đối hóa đến mức biến thao tác ứng dụng lý thuyết của các ông thành mốt M.Bakhtin, mốt M.Kundera lại là việc cần cân nhắc (xin nói thêm, căn cứ vào những gì đã đọc tôi lờ mờ nhận thấy dường như về mặt lý thuyết giữa hai ông có một mối quan hệ nào đó, ít nhất cũng ở sự khởi xướng một lý thuyết và sự vận dụng lý thuyết ấy?). Từ phương diện này, tôi thật sự nghi ngờ tính phát hiện, tính hiệu quả của một số luận án sử dụng Thi pháp học, bằng chứng là hầu như chúng “không một tiếng vang”. Rồi lại thấy không rõ vì sao mấy năm nay các luận án tập trung nghiên cứu văn học giai đoạn 1930 - 1945 lại chiếm tỷ lệ cao đến thế (vì cần thiết? vì nhiều tư liệu? vì khả năng của thầy hướng dẫn? vì năng lực của nghiên cứu sinh? vì...?). Trong số đó, những luận án có giá trị, có thể xuất bản để giới thiệu với bạn đọc, thật sự chỉ đếm trên đầu ngón tay và đặc biệt, chúng chủ yếu gồm luận án của các tác giả mà giới nghiên cứu văn học đã biết tới tên tuổi trước khi làm nghiên cứu sinh. Số còn lại (xin lỗi nếu quá lời!) có lẽ phần lớn chỉ mang ý nghĩa đối với vị tiến sĩ “khổ chủ”, và giúp cho thư mục của Thư viện Quốc gia, của cơ sở đào tạo dày thêm mà thôi! Được cái là phần nhiều các vị tiến sĩ này cũng kín tiếng, ít đăng đàn diễn thuyết, hoặc lập ngôn này nọ, chứ vài vị tiến sĩ thuộc thế hệ đi trước thì kiêu hãnh và tự tin hơn! Như một vị quả quyết: câu thơ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông (Truyện Kiều) phải sửa lại Hoa đào năm ngoái còn cười gió xuân, bởi hoa đào nở vào mùa xuân nên không thể cười với gió đông! Phải chăng đây là một trong những nguyên nhân đẩy tới nghịch lý: đất nước nhiều giáo sư tiến sĩ song vẫn thiếu các nhà khoa học đích thực, thiếu các chuyên gia đầu ngành?

    Nói “khoa học chạy đua theo mốt” cũng cần kể tới loại mốt khoái sử dụng các thuật ngữ, các khái niệm xã hội đang quan tâm, được nhiều vị xem là phong cách thời thượng, như với khái niệm “kinh tế tri thức” chẳng hạn. Có thể nói, lâu nay hầu như không có tờ báo, tờ tạp chí nào lại không đề cập tới “kinh tế tri thức”. Do công việc có liên quan mà bàn về “kinh tế tri thức” còn ra một nhẽ, nhưng có những vị tôi chưa thấy nghiên cứu bao giờ cũng tỏ ra say sưa tuyên truyền cho “kinh tế tri thức”. Tôi từng may mắn được nghe một diễn giả hùng hồn phát biểu hơn nửa tiếng đồng hồ về vấn đề ông gọi là “kinh tế trí thức”(!). Ông thao thao bất tuyệt: “kinh tế trí thức” là thế này “kinh tế trí thức” là thế kia, chúng ta phải làm cho “kinh tế trí thức” trở thành thế này “kinh tế trí thức” trở thành thế kia. Người ngồi cạnh rỉ tai hỏi nhỏ: “kinh tế trí thức” là cái gì hả anh, tôi trả lời như một phỏng đoán: chắc là “kinh tế tri thức”! Lại nghĩ, đến cái khái niệm mà còn nhầm lẫn thì có thể tin tưởng vị “diễn giả” kia đã nắm bắt thấu đáo vấn đề mình say sưa trình bày hay không? Rồi tự răn mình nên thông cảm, bác đang nói theo mốt!

    Mốt nào rồi cũng qua đi, mãi mãi còn lại là con người với khát vọng làm đẹp mình, làm đẹp xã hội. Tuy nhiên, khi khoa học chạy đua theo mốt thì câu chuyện không hoàn toàn như vậy. Liệu có phải là hồ đồ nếu xem chạy đua theo mốt trong khoa học là biểu hiện của những tư duy lười nhác? Về phần mình, tôi luôn có thái độ hoài nghi đối các công trình khoa học, các bài tiểu luận, các sự lập ngôn... thiếu vắng tinh thần khám phá, không đưa tới những nội dung hữu dụng và mới mẻ, như cụ cố Hồng của Vũ Trọng Phụng ngày xưa thường nói “khổ lắm, biết rồi nói mãi”. Hoạt động khoa học là hoạt động là khám phá và sáng tạo, là trả lời những câu hỏi cấp thiết do thực tiễn đặt ra, là đề xuất và giải quyết một ý tưởng mang ý nghĩa tích cực đối với xã hội - con người... Chỉ với những điều sơ giản này cũng đủ để khẳng định mốt không có chỗ trong khoa học. Mong sao ai đó đã, đang và sắp làm khoa học hãy đi lên từ đôi chân của chính mình, đừng biến tri thức thành những hộp Pond’s, những chai Chanel thơm nức!

     

                Sách và chuyện làm sách!

                Lâu nay, do “sách trường” rộng cửa và các “đầu nậu” hăng hái xông vào nên các cửa hàng có treo biển hiệu “cho thuê truyện” (thậm chí: cho thuê chuyện!) cũng hối hả ra đời. Vào bất kỳ một hàng cho thuê truyện nào cũng sẽ thấy hàng dãy gáy sách thẳng tắp, bóng lên vì băng keo và được đóng cẩn thận bằng dây thép hai ly. Trong khi những cuốn sách tình ái sướt mướt, tay ba tay tư kiểu Lửa thù vì em, Tình trả cho em, Lời cuối cho em, Tình không hối tiếc... hiện diện như phơi bày niềm kiêu hãnh vì được tồn tại tự do; thì lại có một loại khác thiên về bạo lực với những cú “pắc... hự!” của các thám tử dở tây dở ta, tung hoành từ bên này tới bên kia đại dương được mô phỏng, chắp vá cẩu thả. Bìa của những cuốn sách này bao giờ cũng là một bức ảnh ghép các chàng nàng, nếu không mang dáng vẻ đăm chiêu sầu thảm, mắt nhìn xa xăm thì cũng là những người hùng túm tóc đuôi gà buộc khăn đỏ, tay áo sắn cao, lăm lăm súng lục và xa xa là hậu cảnh máu đổ đầu rơi, ôtô lộn ngược!

                Dù trong cửa hàng sách quốc doanh hay tư nhân, có quầy sách chuyên ngành hay cửa hàng có sách vở sắp xếp lộn xộn, thì vẫn thấy nổi lên một số loại sách có tính chất thời thượng. Đáng kể nhất là đủ loại từ điển, từ cỡ bỏ túi chữ nhỏ li ti đến cỡ đồ sộ người yếu sức khoẻ có lẽ phải vác lên vai. “Ăn theo” từ điển có vô số cuốn sách dày mỏng khác nhau để hướng dẫn học tiếng nước ngoài, từ ngữ pháp thực hành đến sách chỉ bảo dịch thuật với 30 ngày có thể dịch trơn tru! Bên cạnh tầng tầng lớp lớp sách tin học lại có sách truyền bá mẹo làm giàu, phương pháp thành công trong sự nghiệp được giới thiệu như là cẩm nang cho những ai đang nuôi khát vọng đổi đời. Thống trị trong các cửa hàng sách còn phải kể tới loại sách được khái quát dưới cái tên “cổ học phương Đông” của Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Thích Ca.... Trong hoàn cảnh số người am hiểu Hán học và triết học phương Đông đang ngày càng hiếm hoi như cánh én trong tiết thu tàn thì sự ra đời của loại sách này quả là cố gắng phi thường của các nhà xuất bản. Cách đây dăm năm, loại sách được coi là bestsrller của J.H.Chase, J.Collins, S.Sheldon... vốn ít người biết tới thì nay lại đóng vai trò đại diện cho văn học phương Tây hiện đại và đang trực tiếp góp phần đẩy Chuông nguyện hồn ai, Đi tìm thời gian đã mất... vào quầy hạ giá. Trong số này, phải nhắc tới M.Crichton, sau Công viên kỷ Jura không được đón nhận vồ vập như người ta tưởng, thì ngay lập tức có hai nhà xuất bản cùng dịch và cùng in một cuốn tiểu thuyết của ông, một cuốn giữ nguyên tên gọi Mặt trời mọc, một cuốn đổi tên cho có vẻ mafia là Bạch tuộc Phù Tang!

                Thị trường sách phong phú và bề bộn là có căn nguyên sâu xa của nó, và bắt đầu có lẽ là từ những người làm sách. Chẳng thế mà lâu nay, để truy nguyên xem ai đã mang đứa con tinh thần của mình ra quăng quật trên “sách trường” mà chẳng buồn xin phép hoặc cảm tạ ông thân sinh của nó lấy một câu, nhiều bạn bè văn chương hỏi tôi: “Ông có biết ai làm Tuyển tập truyện ngắn A (hoặc Tuyển tập truyện ngắn B)?”. Lần tôi trả lời có, lần thì lắc đầu, bởi trí nhớ dẫu siêu phàm đến đâu tôi cũng không thể nhớ hết những loại tuyển tập đang dàn hàng ngang trên các quầy sách trong Nam ngoài Bắc bấy nay. Tài tình là ở chỗ, đọc một tập được người ta quảng cáo là truyện ngắn hay lại thấy hay thì ít “thiếu hay” thì nhiều, đọc một tập được người ta quảng cáo là truyện ngắn trẻ lại thấy có mặt vài bác đã nhặt nhạnh được hơn năm chục “chiếc lá vàng rơi” và đủ tư cách là người thay mặt gia đình ký giấy khai sinh của nhiều cây bút cùng in trong tập! Rồi từ tuyển tập của các tác giả trẻ đến tuyển tập các tác giả nữ trẻ, từ tuyển tập các tác phẩm đầu tay đến tuyển tập các truyện ngắn “ngắn”, từ thơ tình chọn lọc đến thơ tình sinh viên, từ truyện cười An Nam đến truyện cười thế giới v.v và v.v..., tất cả cùng phơi phới đứng trên giá sách và làm nên bức tranh sinh động nhưng khôi hài của thời buổi sách báo cũng trở thành hàng hóa.

                Kinh tế thị trường lên ngôi, các “đầu nậu” sách ra đời, đối với nhiều người trong số họ hai chữ “bản quyền” dường như là một quy ước của người ngoài hành tinh. Mặc cho tác giả rền rĩ kêu ca, những người tuyển chọn vẫn vượt mọi khó khăn để tra tấn máy photocopy đặng làm nên những cuốn sách do họ “chủ trì” nhưng thường quên mất vai trò “chủ chi”! Hệ quả là các nhà văn nhà thơ ngơ ngác nhìn nhau và thi thoảng mới có vị quăng mẻ lưới hú họa cầu âu, may rủi thế nào lại vớ được ông “đầu nậu”, ông chẳng kịp ca bài “chàng buông vạt áo em ra” đành dứt lòng mở hầu bao chi một hai triệu, miệng không ngớt thảm hại hóa công việc làm ăn: “Sách vở độ này ế ẩm quá, em đang định vài hôm nữa thu hồi chút vốn mời bác đến chơi, anh em mình tính toán với nhau, em quên bác sao được! Mà bác cứ hay đi đâu ấy, em gọi điện mãi không gặp”. Nhà văn thốt lời cảm ơn, yên trí giắt lưng, tí tởn ra về, bụng bảo dạ: “May mà túm được lão, nếu không thì...!”.

                Lại nhớ đầu năm 2000, ở NXB Văn hóa người ta cho ra mắt cuốn Văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại do hai ông LHH và HĐN tuyển chọn. Thấy ở bìa một người ta giới thiệu cuốn sách là “nghiên cứu của các giáo sư chuyên gia về văn hóa” tôi liền xem mục lục, phát hiện mình có hai bài tôi sung sướng lịm người, chẳng gì cũng được xếp vào hàng “giáo sư chuyên gia về văn hóa”. Nhưng đọc xong lại buồn, khối vị vô danh tiểu tốt như tôi cũng được gọi là “giáo sư chuyên gia về văn hóa”. Rồi ông HĐN đưa tới một cuốn và nói khó về chuyện nhuận bút. Tôi đồng ý, song nói thêm: đây là cuốn của Nguyễn Hòa, còn cuốn của Ngọc Oanh thì sao? Ông N ngớ người khi biết Ngọc Oanh là bút danh của tôi, ông nói sẽ bàn với ông LHH. Hai ông bàn thế nào mà mấy năm nay vẫn chưa thấy trả lời! Nhưng theo thời gian, tôi vẫn chưa thể dứt khỏi quan hệ cá nhân với cuốn sách này chỉ vì tôi với người tuyển chọn có “quý danh” giống nhau. GS TS Huỳnh Khái Vinh, PGS Phan Ngọc, học giả Nguyễn Chí Tình... tưởng tôi làm sách đã đề nghị cho một cuốn làm kỷ niệm, còn nhuận bút bỏ qua. Tôi giải thích rành rọt với các ông, còn trong lòng thì hỉ hả: “Bác Nguyễn Chí Tình có 46 trang in không được chia cho một cuốn, mình có 16 trang lại được một cuốn là lỡi rồi”, và tôi thầm cảm ơn lòng ưu ái của hai ông LHH và HĐN!

    Nếu ai hỏi tôi bộ phận xã hội nào đang sống trong thời công nghiệp hoá mà vẫn tuyệt đối trung thành với những quan niệm của thời nông nghiệp xa xưa, không do dự tôi sẽ trả lời: một bộ phận các ông bà “đầu nậu” hoặc đang hành nghề tuyển chọn, biên soạn sách vở! Vì lẽ rất đơn giản là họ đang phát huy hết sức hữu hiệu năng lực làm việc của máy photocopy, máy quét, máy in... nhưng họ vẫn nguyện một lòng sống chết với quan niệm coi tác phẩm văn học là sản phẩm văn hóa dân gian (folklore) và nhà văn chỉ là những anh Mít, anh Xoài, khá lắm cũng chỉ đạt tầm cỡ Ba Giai - Tú Xuất, để họ có thể khai thác theo ý muốn. Năm 1998, nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhóm tuyển chọn gồm Lê Thành Nghị, Lê Ngọc Tú, Ngô Vĩnh Bình phối hợp với ông L.H.H xuất bản tại NXB Văn học bộ sách Văn nghệ Quân đội - Truyện ngắn hay và đoạt giải (1957 - 1997) gồm ba tập. Bản thảo bộ sách hoàn thành cuối năm 1997, Lời giới thiệu do Lê Thành Nghị viết vào ngày 15.11.1997. Thời gian chưa đủ để ông L.H.H giải quyết một vài “tồn đọng” của cuốn sách thì tháng 2.2000, một “nhóm biên soạn” phiếm chỉ nào đó đã tuyển chọn, in ấn và phát hành tại NXB Hải Phòng cuốn Văn nghệ Quân đội - Truyện ngắn hay và đoạt giải (1957 - 1999). “Nhóm biên soạn” này hầu như không mất một chút công sức tuyển chọn, thậm chí họ vô tư đến độ sử dụng luôn Lời giới thiệu trong bộ sách của Lê Thành Nghị, Lê Ngọc Tú, Ngô Vĩnh Bình, việc duy nhất khiến họ vất vả là chuyển ngày viết Lời giới thiệu từ 15.11.1997 sang ngày 22.12.1999! Chuyện không dừng lại ở đó, tháng 5.2002, một nhóm tuyển chọn khác tiếp tục in ấn và phát hành tại NXB Văn học cuốn Truyện ngắn hay và đoạt giải - Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1957 - 2002). Tương tự như cuốn sách do NXB Hải Phòng phát hành, cuốn sách thực chất vẫn là sử dụng nguồn tư liệu của bộ sách gồm ba tập trước đây, riêng Lời giới thiệu, ngoài việc mông má hai chi tiết cho thích hợp với thời gian, số lượng, còn lại không thay đổi dù chỉ một dấu phảy! Bực mình ở chỗ, vài tác giả ngỡ tôi làm sách, bèn e dè hỏi về bản quyền, nhuận bút, sách biếu của họ, riêng một bác nổi tiếng theo trường phái “ngôn ngữ tự do” thì gọi điện thoại trách cứ tôi bằng những lời lẽ không tiện dẫn ra ở đây. Bực mình tôi kiểm tra và được biết cuốn sách ra đời trên cơ sở liên kết giữa NXB Văn học với ông LHH và ông là người chịu trách nhiệm về “tác quyền, nhuận bút”. Tò mò, tôi hỏi một trong ba người đứng tên tuyển chọn thì nhận được câu trả lời: Tôi không tham gia tuyển chọn, ông ấy tự ý đưa tên tôi vào, sách in ở miền Nam, gửi ra đây tôi mới biết mình có đứng tên!

    Thẩm định hai cuốn sách cùng được giới thiệu là “truyện ngắn hay và đoạt giải” của Văn nghệ Quân đội do “nhóm biên soạn” của NXB Hải Phòng và do ông LHH liên kết xuất bản, tôi có thể khẳng định những người làm hai cuốn sách này có rất ít hiểu biết về các truyện ngắn hay và đoạt giải của Văn nghệ Quân đội trong 45 năm qua. Công việc “tuyển chọn” của họ là nhặt hú họa từ bộ sách Văn nghệ Quân đội - Truyện ngắn hay và đoạt giải (1957- 1997). Không biết tác phẩm nào, tác giả nào từng đoạt giải trong các cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, họ “tuyển chọn” theo lối “bỏ bom” được chăng hay chớ, vì vậy mới có chuyện khôi hài là cả hai cuốn đều không in đủ các truyện ngắn đoạt giải Nhất. Thậm chí cuốn do ông LHH liên kết có thời gian rất cập nhật (1957 - 2002) nhưng lại thiếu toàn bộ các truyện ngắn được trao giải tại cuộc thi Viết cho giao thừa thế kỷ tổ chức trong hai năm 1998 - 1999! Hiện tượng này cũng không khác biệt với cuốn Văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại đã nhắc tới ở trên - nó mở đầu một cách kỳ quặc bằng bài viết của PGS PTS Trần Ngọc Thêm được đánh số 27.1.1(!).

    Bảo rằng toàn bộ các vị “đầu nậu”, các vị tuyển chọn, biên soạn đều mang một đoạn gien “chỉ khoái chủ trì, không khoái chủ chi” cũng hơi bị quá lời, bởi đây đó vẫn có vị làm ăn đàng hoàng, tuân thủ phương châm cùng nhà văn “dựa vào nhau mà sống”. Trong kinh tế thị trường và trong chừng mực nhất định, sự có mặt của họ góp phần điều chỉnh quan hệ cung - cầu của hoạt động sáng tạo - phổ biến các tác phẩm văn học, bởi không phải khi nào và nhà văn nào cũng có khả năng đem tác phẩm của mình đến với công chúng. Do vậy, giữa người làm sách và các nhà văn có quan hệ chặt chẽ về lợi ích. Tuy nhiên ngoài yêu cầu chữ “tín” cần được bảo trọng như một giá trị đạo đức doanh nhân, xuất bản và phát hành sách còn có những yêu cầu riêng vì đây là hoạt động đem các giá trị tinh thần đến với công chúng. Chối bỏ hoặc xem thường các yêu cầu đó, thì xét đến cùng, việc xuất bản và phát hành sách của các “đầu nậu”, các tuyển chọn viên, biên soạn viên chỉ còn là hành vi trục lợi trên tài sản của người khác mà thôi!

     

                Lượn quanh làng báo !

                Lúc rảnh rỗi, đọc những hồi ức về nghề làm báo ở đất Hà Thành xưa kia cũng thấy hay hay. Từ đầu thế kỷ XX, “văn hóa báo chí” được du nhập vào đời sống xã hội, bên những cái hay nó còn gây nên cả những tình huống bi hài, nên không ngẫu nhiên cụ Nguyễn Công Hoan viết cái truyện ngắn Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báo. Vài năm gần đây, ở xứ ta phong trào làm báo có khuynh hướng gia tăng. Năm bảy trăm tờ tạp chí, nhật báo, tuần báo..., tha hồ đất cho các “báo sĩ” tung hoành. Nhằm lúc công chúng đang đói thông tin, người ta đổ xô đi làm báo. Không ít người cố gắng lọt vào các trường báo chí đặng kiếm một cái nghề vừa sang, vừa nhàn, vừa có thu nhập đều đều lại vừa được trọng vọng. Dường như cái thời “nhà văn, nhà giáo, nhà báo nhà nghèo” đã qua, xã hội quen dần với hình ảnh anh phóng viên khoác chiếc áo kiểu “ông cò Nguyễn Văn Lộc” túi khóa lằng nhằng, chiếc máy ảnh đen sì lủng liểng trước ngực và điện thoại di động giắt hông. Trong các hội nghị, có anh dí máy ảnh vào mặt diễn giả, chổng phần dưới thắt lưng về phía cử tọa, hoặc phì phèo thuốc lá hiên ngang đi lại như ở chỗ không người. Thảo nào mới rồi trên chương trình Thời sự của VTV1 có một vị phóng viên nước ngoài trả lời phỏng vấn rằng anh đến dự một cuộc họp ở nước ta không bị gò bó vì được thoải mái đi lại ghi hình.

                Do công việc, đôi lần tôi được phân công hướng dẫn thực tập cho một số sinh viên báo chí. Họ cùng thế hệ với các phóng viên theo tôi là rất có khả năng như anh em Đỗ Doãn Hoàng - Đỗ Doãn Phương, như Đỗ Bích Thúy, Điệp Anh Đào... Nhưng quả thật số người như vậy không nhiều. Bước đầu, tôi nhận thấy ở nơi được đào tạo tốt hơn về nghề làm báo thì một số sinh viên lại có xu hướng cẩu thả, còn ở nơi trang bị lý thuyết nhiều hơn thì một số sinh viên lại có xu hướng nói hay hơn làm! Một lần, nhân một chiến sĩ cách mạng cao tuổi ở miền Nam ra thăm Hà Nội, tôi cử một sinh viên thực tập tới phỏng vấn. Mấy ngày sau, sinh viên nộp một bài viết khá sạch sẽ và cũng khá nhiều lỗi ngữ pháp, chính tả. Tôi vừa đọc vừa tủm tỉm cười. Đến đoạn đối thoại: “- Phóng viên: So với năm 1961, lần này ra Hà Nội bác thấy thủ đô có thay đổi nhiều không?” - Bác X: Hà Nội bây giờ to và đẹp hơn nhiều. Hồi 1961 ra đường tôi chỉ gặp toàn xe nhà binh Pháp”, thì tôi thật sự kinh ngạc. Liền nói với bạn sinh viên: năm 1961 ở Hà Nội làm gì còn xe nhà binh Pháp để mà chạy đầy đường, và nhận được câu trả lời :“Cháu thấy bác ấy bảo thế”! Tôi chỉ còn biết lắc đầu chán nản, rồi bảo: “Bác ấy cao tuổi, có thể nhớ không chính xác, khi viết mình phải sửa cho người ta, cháu không quan tâm đến lịch sử à?!”. Lại nhớ mấy năm trước, một ông bạn (nay đang biên tập của một tờ báo) đưa tôi một bài nhờ góp ý. Đọc đến câu: “Chúng ta là lòi giống Vua Hùng” thì tôi phá lên cười, và hỏi ông bạn: “Tôi hỏi thật ông, thời Vua Hùng người Việt mình đóng khố hay mặc quần?”. Ông bạn ra chiều đăm chiêu rồi quả quyết “Hồi đó phải đóng khố chứ lấy đâu ra quần!”. Tôi nhất trí hoàn toàn và khẳng định “Đúng, đóng khố nên mới lòi giống như thế này chứ!”.

                Rồi tôi tiếp tục gặp họ trong những cuộc họp báo - vốn thường được tổ chức rình rang ở nhiều nơi bấy nay. Nhìn họ, trong tôi bỗng nảy nòi ra khát vọng cải lão hoàn đồng để được xúng xính quần xanh áo đỏ, được gài cái kính đen lên trước trán trông như một người bốn mắt, được thi thoảng rút điện thoại di động ra ngắm nghía săm soi, được cười nói vui vẻ trẻ trung không phân biệt quán cà phê hay phòng họp. Tại cuộc họp báo do cơ quan Y tổ chức, nhìn cô phóng viên ngồi đối diện tôi không hiểu cô đang ngồi trên bãi biển hay giữa phòng khánh tiết vì cô mặc chiếc áo may ô màu vàng mỏng mảnh và cặp kính đen gài lên mái tóc. Sau mấy nghi thức mở đầu, ngoài ba vị chủ tọa, phòng họp bắt đầu rì rầm, cô này ngoảnh sang cô kia, anh này thì thào với chị nọ. Tỉ mẩn, tôi đếm trong tổng số 25 phóng viên tham dự thì có tới 21 vị nói chuyện riêng, trong đó 12 vị nói chuyện riêng thường xuyên từ đầu chí cuối. Nhưng vui nhất là thi thoảng phòng họp bỗng trở thành nơi một dàn giao hưởng đang diễn tấu với những âm thanh đối chọi của các bản nhạc phát ra từ máy điện thoại di động. Những lúc như thế, vị này xô ghế đứng dậy ý tứ bước ra ngoài nhưng lại thì thầm bằng một thứ âm thanh to hơn cả ông chủ tọa đang phát biểu; vị kia thản nhiên ghé mồm vào điện thoại gắt gỏng mấy câu rồi tắt máy lắc đầu ra cái vẻ phức tạp quá; còn vị khác lại cúi đầu xuống phía dưới và mép bàn bỗng thù lù xuất hiện một cặp phao câu! Đến khi thành viên ban tổ chức đi một vòng phát tài liệu và “phong bì” xong thì phòng họp bắt đầu có không khí “chợ chiều” với sự thưa thớt dần của các phóng viên. Một vị rón rén đến gần chủ tọa thì thào gì đó rồi tiến nhanh ra cửa, một vị lẳng lặng “chuồn”, một vị nhấp nhổm ngó trước nhìn sau rồi “phắn”!. Khổ chủ ghé tai nhau, hẳn là bàn bạc để kết thúc sớm cho khỏe. Cuối cuộc họp, chỉ còn hơn chục chủ khách hồ hởi bắt tay nhau ra về. Nhìn vẻ tự tin và long trọng được một số phóng viên “diễn” trước cử tọa, tôi ngỡ sau mỗi lần như vậy, họ sẽ đóng góp cho bản báo những bài vở có chất trí tuệ sâu sắc và ít ra chữ nghĩa cũng đủ một bài báo to bằng cái chiếu cá nhân, nhưng thường thì dựa vào tài liệu được cơ sở cung cấp họ sản xuất ra một mẩu tin, to thì khoảng một phần tư tờ giấy khổ A4, nhỏ thì bằng diện tích cái vỏ bao thuốc lá Vinataba. Điển hình cho tình trạng này là lần tôi thấy tại một cuộc họp báo, anh phóng viên của một tờ báo lớn bằng chất giọng vừa vênh vang vừa kẻ cả đã hợm hĩnh tuyên bố với chủ nhà: “Vấn đề này của các anh được đăng trên báo tôi bằng cái bao diêm là may lắm rồi!”. Và tôi tự hỏi không biết nên vui hay nên buồn vì có những đồng nghiệp như vậy?

                Vào quãng giữa những năm 90 của thế kỷ trước, báo chí trong Nam ngoài Bắc từng đăng nhiều bài vở của một vị tiến sĩ ngành khoa học tự nhiên. Ông này tả xung hữu đột trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Thấy ông viết đủ loại chủ đề, từ Khổng Tử tới Marilyn Monroe, từ cấu tạo địa chất thành Thăng Long tới xem bói bằng... chén trà Tàu, v.v..và v.v... tôi hơi tò mò, vì một người tài năng như thế mà bấy nay lại mai danh ẩn tích. Rồi tới hôm tôi đang xuất trình giấy mời vào dự một cuộc họp, ông đến bên nhờ tôi vào báo với ban tổ chức “Tiến sĩ X để quên giấy mời ở nhà, đề nghị cho người ra đón”. Tưởng thật, tôi phăm phăm vào gặp người bạn trong ban tổ chức, nghe xong, anh bảo: “Ai mời cái lão ấy mà bảo quên giấy mời, lão bịp ông đấy”. Từ đó tôi để ý tìm hiểu “thân thế và sự nghiệp ông”. Té ra ông vào làng báo theo con đường tắt nên không biết sợ. Ông đeo tạp dề ngồi trước bàn viết và biến cái “tháp ngà” của ông thành sân sau của cửa hàng bán lẩu thập cẩm. Từ cái công xưởng nặng mùi hành tỏi ấy, ông sào ông xáo, ông luộc ông ninh, ông bôi ông rán... những thông tin ông nhặt nhạnh được trên báo này sách nọ. Thậm chí ông còn ghi đại dưới một bài viết ông thuổng của người ta đã in trên tờ báo khác rằng “Bài gửi về từ Pa ri”, rằng “Bài lấy từ internet”! Tòa soạn tin ông, tin cái học vị tiến sĩ của ông nên không xem lại. Bài vở “của” ông được đăng tơi tới, ông càng “thuổng” hăng say hơn, có thể nói ông đang giữ kỷ lục về một bài viết bàn về sự “thần bí” của con số 9 đã được in trên 12 tờ báo khác nhau. Đến khi báo chí vạch rõ chân tướng, ông mới chịu tạm thời đóng cửa cái xưởng chế biến của mình. Nói là tạm thời vì năm ngoái ông gửi đến cho tôi bài viết về Alexandre De Rhodes, thấy tác giả là ông tôi đã e ngại, nhưng cố đọc, đọc xong tôi biết chắc đây là bài của một người nghiên cứu rất kỹ về Alexandre De Rhodes. Vài hôm sau ông gọi điện hỏi thăm tình hình, tôi trả lời: chưa có điều kiện kiểm tra nhưng tôi không tin đây là bài của bác, ông cố phân bua: “Anh yên tâm, bài này tôi không ăn cắp đâu!”. Đến nước đó thì tôi chỉ còn biết xin lỗi và gác máy!

                Trong khi có những tác giả vì cẩn thận nên trót gửi một bài tới hai tờ báo khác nhau, tới lúc thấy một trong hai tờ báo đăng bài liền vội vàng đến xin lỗi tờ còn lại, thì đối với vài ba “tác giả” khác, chuyện “thuổng” trên báo cũ gửi dăm bảy nơi đã trở thành thói quen, mới có giai thoại vui rằng nếu đốt hết đống báo cũ tích trữ trong nhà thì chắc chắn ông Y sẽ bỏ nghề viết báo sung vào đội quân cửu vạn. Mấy chục năm, bao nhiêu sách báo được xuất bản, có là tài thánh mới nhớ hết người ta đã từng viết gì, đã từng in gì. Đó là kẽ hở để các vị khoái “hâm lại” thông tin len lỏi vào bịp các ban biên tập và bịp luôn cả bạn đọc. Bởi người ta có thể cả gan ký tên mình vào bài thơ của người khác để gửi dự thi thì tuồng như chuyện “thuổng” vài ba bài báo cũng là chuyện thường tình. Vào dịp năm hết tết đến, các báo cần nhiều bài cho số Tết thì câu chuyện còn vui hơn nhiều. Nghe nói có một số “báo sĩ” chuẩn bị bài cho báo tết từ hè! Ví dụ, người ta nhẩm tính năm nay là năm Ngọ, năm tới là năm Mùi, vậy phải tập chung vào đề tài Dê. Thế là tất cả những gì có liên quan tới Dê đều phải được khai thác triệt để, từ đàn ông tuổi Dê đến đàn bà tuổi Dê, từ tái Dê đến lẩu Dê, từ nầm Dê đến “máu Dê”... Có vị còn tính ngược về hàng chục năm trước tìm tòi những bài về Dê để “mông má” lại sao cho có hơi hướng cập nhật. Khôi hài nhất là chuyện có vị trịnh trọng đem một bài thơ tới tòa soạn báo Z kèm theo lời khẳng định chắc như đinh đóng cột: bài này tôi vừa viết cho năm Dê, yêu báo ông lắm tôi mới gửi đăng. Tới khi báo Tết in rồi, biên tập viên trang văn nghệ mới ngã ngửa vì có bạn đọc phát hiện bài này đã đăng cách nay 24 năm, bằng thời gian hai Giáp!

                Gạt sang một bên những “nhà báo” nhân danh tinh thần chống tiêu cực nhưng lại “tiếp tay cho tiêu cực”, những nhà báo chuyên sản xuất báo Tết lâu nay xem ra cũng đang có một đối thủ ngang ngửa là những nhà báo chuyên sản xuất các bản tụng ca đầy ắp những mỹ từ được sử dụng để tán dương, lăngxê. Báo chí hiện thời có khả năng tạo ra một thần tượng cho lớp trẻ, hoặc trở thành diễn đàn để người ta đưa ra những lời lộng ngôn. Đọc lời người ta bốc thơm một giọng ca trẻ: “cả trong cuộc sống thường nhật lẫn dưới ánh đèn sân khấu, bao giờ cũng hết mình với mọi người, với nghệ thuật. Cô có giọng hát say đắm, mãnh liệt như muốn mang cả trái tim tràn trề xúc động ra mà hát”, tôi thấy buồn cười! Xem ra, báo chí chỉ là nơi người ta tuyên bố khơi khơi vậy thôi, chứ đúng sai ra sao chắc người ta cũng không bận tâm!?

                Đầu năm 2002 vừa rồi, trong quan hệ với một anh bạn tôi bỗng dưng lại trở nên rất “cùn”. Chẳng là ở một giải thưởng văn học, bạn tôi có tác phẩm nghe đâu được vào đến vòng chung khảo nhưng không đoạt giải. Vậy nhưng khi giải thưởng công bố, đọc trên một tờ báo thấy trong danh sách có tên tác phẩm của anh, tôi kiên quyết yêu cầu anh khao một chầu bia, anh kiên quyết không khao vì tờ báo đó nhầm tên. Vài hôm sau, một tờ báo khác cũng công bố giải thưởng này, tên anh vẫn có trong danh sách, thậm chí tác phẩm của anh còn được giới thiệu, phân tích khá kỹ. Tôi càng làm già: nhầm tên thì có thể thông cảm, nhưng có cả phân tích thế này thì không thể nhầm được! Nói cho vui thế thôi, chắc là để có thông tin “nóng sốt” nên hai tờ báo kể trên không kiểm tra lại, bạn tôi vốn cẩn trọng, nhận được lời chúc mừng anh liền chối đây đẩy, chứ chưa đến mức vội vàng hoắng lên chiêu đãi tùm lum thì sau đó nào biết trách ai, chẳng nhẽ lại đi trách báo chí!

    NH.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,811,017

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/