Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,041,114

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Nguyên Ngọc - Đất và Nước

Xuân Cang

  • Thứ ba, 03:52 Ngày 28/10/2008
  • Tôi và Nguyên Ngọc có chút kỷ niệm về Toán Hà Lạc. Ngày ấy biết tôi bắt đầu nghiên cứu về Hà Lạc, ông cho tôi biết ngày giờ sinh và bảo tôi làm cho một bài toán. Khi cấu trúc Hà Lạc của ông hiện lên, tôi ngắm nhìn, liên tưởng đến hành trình văn học của ông và bỗng giật mình: Hầu như toàn bộ sáng tác của ông phản ánh hết sức đầy đủ, rõ ràng, cái mệnh vận trời đất đã cho ông. Ta hãy coi: quẻ tiên thiên, tiền vận của ông là Địa Phong Thăng, nguyên đường hào 3, quẻ hậu thiên, hậu vận của ông là Thủy Địa Tỷ. Tượng thiên nhiên thẩm thấu vào khí chất con người ông là Đất, Cây (gió), Nước. Thế thì tác phẩm của ông mang những cái tên: Đất nước đứng lên, Rẻo cao, Rừng xà nu, Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng, Đất Quảng... Thậm chí khi ông đi thực tế một vùng công nghiệp, ông cũng viết: Mạch nước ngầm. Hình như ông không đi đâu ra khỏi Đất và Nước. Những nhận biết đầu tiên ấy, ý tưởng ấy cứ xoáy vào trong tôi để sau đó tôi làm cuốn sách này. Cấu trúc Hà Lạc ứng nghiệm với tất cả mọi người trên trái đất, nhưng đặc biệt ứng nghiệm với giới nhà văn (có thể rộng ra, với văn nghệ sĩ) là vì sao? Là vì nhà văn không bao giờ giấu được mình. Khí chất, mệnh vận, tính cách văn chương của anh nó cứ phơi bày ra trên trang giấy, không dưới hình thức này thì dưới hình thức khác. Văn chương của một người chính là một bản sao hành trình số phận của anh ta.

    Nhà văn Nguyên Ngọc sinh vào giờ Mão ngày 05 tháng 9 năm 1932 tức 05 tháng 08 năm Nhâm Thân. Năm ấy tiết Nắng nhạt, lệnh thời tiết của tháng Tám là vào ngày 08 -9-1932, ông sinh trước tiết lệnh tháng Tám, nên toán Hà Lạc không tính ông sinh vào tháng Tám mà vào tháng Bẩy.

    Cấu trúc Hà Lạc của ông gồm bốn quẻ: Địa Phong Thăng, hào chủ mệnh là hào 3, quẻ hỗ là Lôi Trạch Quy Muội; Thủy Địa Tỷ, hào chủ mệnh là hào 6, quẻ hỗ là Sơn Địa Bác. Ông không có ưu tiên năng lượng của trời đất, không có nguyên khí của trời, nhưng rất giàu nguyên khí của đất. Địa nguyên khí của ông là quẻ Khôn. Trong cấu trúc Hà Lạc của ông có tới 3 quẻ Khôn. Ông có mệnh hợp cách. Địa là Đất. Phong là Gió ở đây hiểu là Cây. Thăng là Lên, là tiến lên, là phát triển. Hào 3 chủ mệnh bảo rằng: người này rồi sẽ tiến lên dễ dàng như (người xưa) vào cái ấp không người. Cuộc nam chinh dễ như phá ngói chẻ trúc. Nam chinh ở đây, Nguyễn Hiến Lê giảng không nên hiểu là tiến về phía Nam mà nên hiểu là tiến về phía trước mặt, nhưng riêng với Nguyên Ngọc thì hiện thực lại là có chuyện tiến về phía Nam. Lời hào còn nói rằng ở vào thời vận này, lớn (ý nói thời vận lớn) thì giữ đường lối, nhỏ thì (ít ra cũng) ăn lộc ấp, quận. Tượng quẻ trên là đất, dưới là cây, đó là cái tượng của một cái mầm cây len lỏi, len lách đi lên, vượt qua các tầng sỏi đá, nhiều trở ngại nhưng không gì ngăn cản được, hướng lên phía trên, phía có ánh nắng mặt trời. Như vậy người quẻ Địa Phong Thăng là người rất nhạy cảm với sự phát triển, tiến lên, là ngưới có chí khí vươn tới, không sợ trở ngại. Nếu là người có gốc vững về phúc nhà, về văn hóa, về đức, thì sẽ là người có sứ mạng tiến lên để thực hành đường lối (người xưa gọi là hành đạo). Còn với người thường được quẻ Thăng chí ít cũng ăn lộc ở vùng nhỏ địa phương. Người quẻ Thăng nhạy cảm với cái mới, như cái mầm cây nhạy cảm với hơi ấm và ánh nắng phía trên, ủng hộ cái mới hết lòng. Người quẻ Thăng rất giàu mơ mộng và tưởng tượng, rất giàu niềm tin, trong đó có cả niềm tin tâm linh. Nhưng cái tin tâm linh của người quẻ Thăng là tin ở trong lòng, với sự chí thành, lễ nhỏ và đơn sơ mà cảm được tới bề trên. Như cái mầm cây linh cảm thấy hơi ấm và ánh nắng phía trên mà vươn lên, với lòng chí thành, còn lễ lạt thì có gì đâu. Cho nên người quẻ Thăng thường được người phía trên thông cảm và ủng hộ, dù có người trên không bằng lòng đấy, nhưng không làm hại được người quẻ Thăng. Quẻ hỗ là Lôi Trạch Quy Muội cho biết rằng người quẻ Thăng cũng có những lầm lỗi, thường là do sơ sài, qua loa, đại khái, xong thì thôi, kiểu lầm lỗi của những người anh chị khi lo việc gả chồng cho em gái (Quy Muội là gả em gái), ít khi được chu đáo như cha mẹ. Cũng có khi đó là một thứ lầm lỗi đáng yêu như lời hào 5 quẻ Thăng lấy việc vua Đế ất gả em gái làm ví dụ. Vị vua này vì quá coi trọng về đức mà sơ xuất để cho cái tay áo của công chúa không đẹp bằng của nàng hầu, để người ta cười cho.

     Nguyên Ngọc đã sống và làm lụng đúng như những gì trời đất đã ban cho mình. Ông ra đời vào đúng thời của hào 3 quẻ Thăng: Lên, dễ dàng như vào ấp không người. Cái ấp không người đây là một gia đình có nền nếp, quý trọng sự học. Vừa đúng tuổi học là được đi học. Thông minh, học đâu biết đấy. Năm 1945, bị đứt đoạn mất một năm, tiếp tục học cho đến khi đỗ Tú Tài. Lời hào 4 quẻ Thăng cho biết ở tuổi mười lăm đã có lòng chí thành, nhu thuận, có chí lớn, sẽ được lợi khi hòa mình vào với núi rừng, cây cối. Quả nhiên, sang chặng đường hào 5 đẹp nhất thời Thăng thì Nguyên Ngọc vào bộ đội, lăn lộn với núi rừng Tây nguyên, vùng Ban Mê Thuột, gặp ngay các quý nhân, sớm vào nghề làm báo quân đội. Về sau Nguyên Ngọc kể chuyện đời, cho rằng cái thời làm báo chẳng khác nào cái phúc nhà: Nó tạo cho người viết những đức tính quý báu: xông xáo, nhạy cảm với thời sự và xã hội, sắc sảo khi tiếp cận hiện thực, đi nhiều, nghe nhiều, thấy nhiều, biết nhiều. (Nhà số 4 Lý Nam Đế. NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr. 121). Còn cái lợi khi hòa mình với núi rừng được ông tổng kết như sau: Riêng tôi, có lẽ chiến trường khu 5 đã để lại cho tôi hai điều thật quý: một âm hưởng đậm đà của Tây nguyên, nơi tôi được tham gia chiến đấu gần suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, và những ấn tượng trong sáng của một đời sống văn hóa tinh thần giản dị mà lành mạnh của một xã hội thật kỳ lạ, một hòn đảo Nghiêu Thuấn giữa chiến tranh bốn bề... (Sách đd, tr. 122). Quẻ Thăng có sáu hào thì năm hào tốt, chỉ có một hào xấu, là hào 6 trên cùng. Hào đó nói rằng thời vận lên đã tới đỉnh, còn tham vọng lên nữa thì sẽ gặp họa, như cây đã hút hết nhựa đất, gốc không vững nữa, sẽ đổ. Nhưng đối với con người thì có hai cách sử lý: một là kẻ tiểu nhân không thức thời còn ham tiến lên về địa vị, danh lợi, thì tất không tránh khỏi đổ vỡ; hai là quân tử chỉ còn ham tiến lên về đức, tiếp tục tu rèn về đức với ham muốn khôn nguôi, thì lại rất hanh thông, biến xấu thành tốt, biến họa thành phúc. Như những cây cổ thụ biết dừng lại, trau dồi gốc cho vững trước bão táp phong ba, mà tươi xanh mãi. Nguyên Ngọc đã xử sự chính cái chặng đường 6 năm hào 6 quẻ Thăng ấy như thế nào. Năm Quý Tị (1953) quẻ Sơn Phong Cổ hào 6: là năm chàng nhà báo trẻ tuổi đã bộc lộ phẩm chất văn chương, giữ chí cao thượng, không màng danh lợi, không xu phụ bề trên, thanh cao khác người, ẩn mình đợi thời (Lời hào 6 quẻ Cổ, đối với mệnh hợp cách). Năm Giáp Ngọ (1954) quẻ Sơn Thiên Đại Súc, hào 1: Năm nay có người phía trên không cố ý mà ngăn cản mình, có nguy, biết dừng lại thì lợi. Biết thời cơ mà liệu đường tiến lui, giữ mình, gặp may, được hưởng phúc lớn. Đây là hai năm hết sức quan trọng trong đời nhà văn trẻ tương lai. Do công việc làm báo và do có vốn tiếng Pháp bằng Tú tài, không ngừng được dùi mài ngay trong các cuộc hành quân chiến đấu và ở chiến khu, ông tiếp súc với văn chương Pháp và ham thích ngay cái cấu trúc tiểu thuyết của nó. Ông cũng phải đấu tranh với cái ý muốn của cấp trên muốn thu hút ông theo hẳn nghề làm báo (hào 4 âm quẻ Đại Súc không cố ý mà hóa ra ngăn cản). Có nghĩa là phải giữ chí hướng (văn chương), không màng danh lợi, biết thanh cao khác người, biết ẩn mình, đợi thời, biết thời cơ mà liệu đường tiến lui. Cuối cùng thì cái may đã tới. Năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Nguyên Ngọc tập kết ra Bắc trong chuyến tàu cuối cùng, đặt chân lên đất Thanh Hóa vào ngày 19-5-1955. Năm Ất Mùi ấy (1955) là năm thuộc quẻ Sơn Hỏa Bí hào 2: lời hào bảo rằng đây là năm phát triển về văn chương, như lửa chiếu sáng trang sức cho núi rực rỡ lên, văn đẹp, sáng sủa. Người xưa ví như lấy bộ râu trang sức cho cái cằm, phải có cái cằm đẹp thì râu mới đẹp. Lời hào 2 còn bảo rằng trang sức cho người để thúc đẩy ổn định việc làm. Có nghĩa là phải dựa vào người mà đi đến thành công. Văn chương, học vấn sáng sủa, giúp nước. Văn chương được người yểm trợ. Nguyên Ngọc kể: Mấy tháng sau, một hôm tôi nhận được điện của Tổng cục chính trị gọi đúng tên tôi về Hà Nội để viết cái gì đó... Ra đến Hà Nội, tôi mới rõ: Đại hội thi đua toàn quốc vừa được triệu tập, một số anh hùng quân đội mới được tuyên dương, TCCT chủ trương cần viết về thành tích của các anh hùng đó. Tôi được TCCT gọi đúng tên là vì anh Dương Minh Đẩu, trong kháng chiến là Phó ban Tuyên huấn bộ Tư lệnh khu 5, là cấp trên của tôi lúc tôi làm báo Quân Đội nhân dân liên khu 5, đã giới thiệu tôi với Tổng cục: Cậu ấy có vẻ viết được. (Anh Đẩu về Tổng cục trước tôi mấy tháng)... Anh em đã về đông đủ, tôi là người cuối cùng. Thú thật tôi có hơi hoảng, toàn những người có tên tuổi, tôi ở chiến trường rất xa mà cũng đã từng được nghe: Hồ Phương đã có Thư nhà, Nguyễn Khải đã có truyện được giải thưởng Hội Văn Nghệ trung ương, Nguyễn Khắc Thứ vừa in xong bộ tiểu thuyết dày hai tập Đất chuyển, Phùng Quán lúc đó cũng vừa có Vượt Côn Đảo đang gây xôn xao... Gần như chỉ có mỗi tôi tay trắng và vô danh....Mỗi người chúng tôi phải chọn viết về một người anh hùng thuộc đơn vị mình mới được tuyên dương. Nguyễn Khải viết Mạc Thị Bưởi, Hồ Phương viết Phùng Văn Khầu, Mạc Phi viết Lý Văn Thím, Phùng Quán viết Lâm Úy, v.v... Tôi thì xin nhận Núp (Sđd, tr. 123-125). Theo cách nói Hào 2 quẻ Bí: Núp chính là cái cằm đẹp để nhà văn trang sức lên đó bộ râu văn chương. Toán Hà Lạc giải về hào 2: Trang sức cho người (Người đây là ai, nếu không phải là Núp?) để thúc đẩy, ổn định việc làm (có nghĩa cụ thể đối với chàng lính trẻ Nguyên Ngọc là để thúc đẩy việc hình thành một sự nghiệp văn chương). Toán Hà Lạc lại giải đối với mệnh hợp cách: Văn chương, học vấn sáng sủa, giúp nước. Đối với giới Sĩ trong vận năm: Văn chương được người yểm trợ. Vậy là hành lang số phận đã đưa Nguyên Ngọc đến với Núp (xin bạn đọc nhớ cho rằng trước đó Nguyên Ngọc chiến đấu ở Tây Nguyên nhưng chưa hề gặp Núp). Phải viết tiểu thuyết. Nguyên Ngọc tự bảo mình như thế. Về sau nhìn lại tôi thấy những tác phẩm có thành công lần ấy là những sáng tác trong đó người viết đã đem được vào đấy cái phần thể nghiệm, từng trải của riêng mình, bóng dáng, âm hưởng cuộc đời riêng, giọng điệu tâm hồn riêng của mình rất nhiều, mặc dù là viết người có thật, chuyện có thật. (Sđd tr.128) Cả điều này nữa, nghe như đồng vọng lời cổ nhân đã từng nhắc trong quẻ Bí: Chất phác nhiều hơn văn thì thành quê mùa... Về sau Nguyên Ngọc thú nhận rằng, ông đã đưa cái cấu trúc tiểu thuyết Pháp vào Đất nước đứng lên. Người đọc thấy cuốn sách kể chuyện về một người anh hùng Tây nguyên mà chẳng quê mùa tí nào.

     Tiểu thuyết Đất nước đứng lên đã ra đời như thế. Văn chương được người yểm trợ. Ngay sau đó nó đứng vào hàng giải nhất văn chương. Đó là cuốn tiểu thuyết của định mệnh. Nguyên Ngọc đã từng băn khoăn: Nghĩ lại, sao mọi sự lại cứ đâu vào đó, hay, đẹp thế nhỉ?...Mọi việc cứ ngỡ như là ngẫu nhiên. Tôi có cái may mắn là một trong những người được cuộc sống nhân hậu và thông minh “đưa đẩy” theo con đường đó, qua một loạt “ngẫu nhiên” cứ đến tuần tự... (Sđd tr.122). Không ngẫu nhiên chút nào. Cái mầm cây Nguyên Ngọc sinh giữa thời Thăng, hào 3 dương, vốn đã mang nguyên khí của Đất, lại nhuần thấm một đời sống văn hóa đẹp của vùng đất Tây nguyên, len lách qua những tầng đá sỏi đi lên và khi gặp Núp, len lách một ánh sáng ấm áp soi xuống, cái mầm cây cựa quậy, vươn mình... Bản thân Núp cũng là một cái cây trong lòng đất Tây nguyên. Liêu không hiểu gì cả, đứng nhìn theo, thấy cái tóc của Núp gió thổi bay bay, rồi mất vào trong lá cây màu xanh. Liêu tháo cái chum ra, nhúng xuống nước cho dẻo sợi giang, quấn tròn lại, giấu thật kỹ vào đáy gùi, rồi leo lên đường, đi ra rẫy. Đi ngang qua rẫy của anh Núp, Liêu dừng lại ngó vô. Lúa của Núp chín rồi, bà mẹ anh đang suốt, cái lưng cong xuống. Cái rẫy của anh Núp to quá, to nhất làng Kông Hoa. Bề dài nhiều sải tay lắm, đếm lộn nhiều lần, đếm không hết. Bề ngang cũng nhiểu sải tay lắm, đếm cũng không hết. (Đất nước đứng lên. NXB Kim Đồng-Hà Nội-1998 Tr. 15).

     Nguyên Ngọc ngắm nghía Cấu trúc Hà Lạc của mình, bảo tôi: Ông giải thích cho mình cái chặng đường 6 năm hào 1 quẻ Thăng này xem sao. Đây cũng là những năm đầy những biến động của đời mình.

     Hào 1 quẻ Thăng của Nguyên Ngọc thật ra phản ánh một chặng đường (1959-1964) tốt đẹp. Lời quẻ nói rằng: Có lòng tin, nhu thuận, khiêm nhường, cung kính, được người dắt dẫn, giúp sức, được lời (ở đây là sự hướng dẫn) nguyên thủ, được tiến cử, thành giường cột quốc gia. Nhưng Kinh Dịch không bao giờ phản ánh sự tốt đẹp đơn thuần, tuyệt đối. Các quẻ tách ra hàng năm cho thấy chủ thể luôn đứng trước những thử thách. Tôi chỉ đưa ra hai năm tiêu biểu trên chặng đường đó. Năm 1960, hành lang của ông là quẻ Địa Hỏa Minh Di, chủ mệnh là hào 2. Minh là Sáng, Di là Đau, là tổn thương. Tượng quẻ là Lửa ở trong Đất. Lửa trong đất nên ánh sáng không thoát ra được, ánh sáng bị tổn thương, sáng đấy mà đau đấy. Hào 2 bảo rằng năm này, ánh sáng bị tổn hại, ông sẽ gặp nạn như người bị đau ở đùi trái, nhưng cũng sẽ mau khỏi, sẽ lại như con ngựa mạnh mẽ tiến lên. Sẽ là năm có uy có quyền, có vai trò chinh phạt cho dân yên, nước vững. Là năm kẻ sĩ chiếm công đầu. Nhưng Lời quẻ cũng như lời hào đều nhấn mạnh: Muốn khỏi hình phạt kẻ tàn bạo thì phải xem có thuận lòng trời không. Lòng trời ở đây là chính nghĩa, là đạo lý, nôm na là lẽ phải. Muốn cho lẽ phải thắng thì người quân tử được quẻ này phải biết che cái sáng của mình đi, nếu được quyền chỉ huy mọi người thì phải biết làm cho người ta không sợ cái sáng của mình. Như ông Cơ Tử đời xưa (thời nhà Chu bên Tàu) là người hiền tài, bị vua nghi ngờ ra lệnh đuổi ra khỏi kinh đô. Cơ Tử đã che cái sáng của mình, giả điên và giả làm người đi ở, để được yên thân, nhờ thế thoát nạn, sau có thời cơ lại mạnh mẽ tiến lên và trở thành một nhân vật của thời đại. Vậy năm Canh Tý (1960), năm Minh Di của nhà văn đã diễn ra thế nào? Năm 1959, Nguyên Ngọc đi thực tế về vùng công nghiệp, lên khu gang thép Thái Nguyên rồi sang khu công nghiệp Việt Trì. Nhiều bạn đọc yêu quý ông đã vui mừng đón tiếp và giúp đỡ ông đi vào đời sống. Nguyên Ngọc viết truyện vừa Mạch nước ngầm (MNN) công bố vào năm 1960 (in chung cùng Ngõ ngang xóm thợ của Võ Huy Tâm. Mạch nước ngầm, NXB Văn Học, Hà Nội, 1960). MNN vừa ra đời lập tức được bạn đọc hoan nghênh, nhưng chẳng bao lâu xuất hiện một luồng ý kiến công khai phê phán truyện, cùng với những tiếng xì xào rằng tác giả chưa nắm vững đường lối văn học, chưa nắm được hiện thực, rằng hiện thực cuộc tiến quân vào khoa học kỹ thuật của những con người mới không như cái nhìn bi quan của tác giả MNN (chẳng hạn tác giả đã dùng từ dốt nát để miêu tả một nhân vật chính diện). Rằng tâm trạng các chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc không đến nỗi u ẩn như trong tác phẩm: “Chúng ta vẫn chưa đủ sức dò cho hết những mạch nước ngầm trong lòng đất, và trong lòng người” (Sđd. tr 32). Rằng đó là nhận xét đánh giá từ trên xuống. Thời ấy, nhận xét thế là nghiêm trọng lắm rồi đấy. Vậy là Minh Di, sáng và tổn thương. Tác giả đã lặng im, né mình tránh cơn sóng lớn. Ông tiếp tục đi, “lần này tôi lang thang suốt cả năm trời vùng Cao Bằng, Bắc Cạn, Hà Giang...”. Riêng ở Hà Giang đúng vào lúc có động, một nhóm phỉ đang làm rối an ninh. Nhà văn đã dừng lại và vào cuộc chiến đấu như những ngày ở Tây Nguyên. Có lúc cũng nắm quyền chỉ huy một binh đội, học cưỡi ngựa của người H’Mông, nói tiếng H’Mông. Không ai biết ông là nhà văn, vậy là ông đã giấu cái sáng của mình, làm cho người ta không sợ cái sáng của mình, cho đến khi ông ra khỏi cuộc chiến đấu và về Hà Nội với bút ký nổi tiếng Mùa hoa thuốc phiện cuốí cùng, in đầy một trang báo Nhân Dân khổ lớn.

     Năm Nhâm Dần (1962), Nguyên Ngọc được quẻ Thuần Chấn, hào 4. Thuần Chấn là hai lần sấm, sấm dồn, gây chấn động. Sấm động thì vạn vật nảy sinh, cho nên hanh thông. Lời quẻ bảo rằng người quân tử được quẻ này thì phải biết lo sợ, xét và luôn sửa mình, được như thế thì tránh được tai họa, mà sau sẽ vui vẻ, sấm động vang trăm dặm mà trong lòng vẫn vững. Tuy nhiên chủ mệnh năm này là hào 4 thì xấu lắm: như Sấm chìm xuống bùn, một hào dương là bản thân, bị kẹt giữa bốn hào âm, lo sợ mà không thoát được, đành chìm đắm thôi. Muốn khỏi chìm đắm, năm nay phải tiết chế dục vọng, tiết chế những ham muốn, chịu đựng rất nhiều, tuy sự nghiệp chưa khởi sắc nhưng cũng duy trì được tư thế. (Mệnh không hợp cách thì coi như vùi thân vào cát bụi, bùn lầy, để mất thể thống, ăn uống kham khổ, đạm bạc). Quả nhiên năm nay nhà văn tình nguyện đi Nam. Nguyên Ngọc kể: Cho đến khi có tin những cuộc nổi dậy, rồi cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam bắt đầu, thì chúng tôi (NN và nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn) háo hức, chạy xuôi chạy ngược, chỗ này chỗ kia, nài nỉ được lên đường về Nam. Đến đầu năm 1962 thì tôi được gọi. Lúc này bộ tư lệnh Quân khu 5 đã được thành lập. Anh Nguyễn Đôn, Tư lệnh quân khu, điện ra Hà Nội, xin đúng tên tôi vào. Nguyễn Ngọc Tấn cứ lồng lên. Anh chạy khắp các cửa, kêu kiện “sự bất công” này. Cuối cùng anh cũng được quyết định trở về Nam bộ. Chúng tôi lên Sư đoàn 338 ở Xuân Mai để tập luyện và bồi dưỡng một tháng. Trong “một tháng” đó, hai nhà văn phải tập đi bộ, leo núi, mang vác nặng, phải tước bỏ hành trang, tính đến từng cái khuy áo một, phải tập mang từ một viên gạch đến mười viên gạch... Có nghĩa là phải biết lo, phải rèn luyện rất nhiều, chịu đựng nhiều, tiết chế nhiều để thích ứng với hoàn cảnh gian khổ, khắc nghiệt mới. Rồi lên đường. Đối với tôi, có một sự trùng hợp rất lạ, tôi rời miền Bắc trở vào Nam đúng ngày 19-5-1962, tức là tôi ở miền Bắc đúng trọn 7 năm, không sai một ngày... Tôi về cơ quan Bộ Tư lệnh khu 5 bấy giờ đóng ở vùng Nước Non, huyện Trà Mi, tây Quảng Nam, gặp anh Nguyễn Đôn, tư lệnh quân khu. Anh bảo: Trước hết, cậu nhận một cây rựa và đi phát rẫy đã. Vấn đề bây giờ là tồn tại. Tôi nghĩ: nghe cứ như là Hăm-lét ấy nhỉ. To be or not to be (Tồn tại hay không tồn tại). Nhưng mà đúng như thế thật, trước phải tồn tại đã, nghĩa là đừng chết đói và đừng để bị địch tiêu diệt, rồi mới dần dần gây dựng lên tất cả, gần như là từ tay trắng (Sđd. tr. 132-135) Đúng là năm Thuần Chấn, hào 4: một hào dương bị bốn hào âm ép trên, ép dưới. Nhờ biết lo lắng, luôn răn mình nên cuối cùng thoát hiểm, đi đến đích. (Nhân Quả là quẻ Quải: Cương quyết).

    Chặng đường 1965-1973, hào 2 dương quẻ Thăng: Có lòng chí thành, thành thực với trên, tài đức lớn, trên mến dưới kính, sự nghiệp hiển hách. Nên danh. Lòng chí thành đó chính là cách sống ở chiến trường mà Nguyên Ngọc cùng Nguyễn Ngọc Tấn đã tâm sự với nhau đêm chia tay ở rừng Tây Thừa Thiên, một người vào Nam bộ, một người xuống khu 5: Chúng tôi hẹn nhau sẽ đi đến cùng trong cuộc chiến đấu này, cho đến ngày thắng lợi, không bỏ dở giữa chừng, và nếu một trong hai đứa hy sinh, thì ngày hòa bình, đứa kia phải đi tìm gia đình cho bạn... Tôi nhớ hồi đó ở chiến trường, anh em văn học khu 5 thường trao đổi với nhau: Chúng tôi không đồng tình, không thích lắm nói đi thực tế. Tổ chức một chuyến đi thực tế, đến xem người ta làm, người ta đánh nhau, mình thì chăm chắm giở sổ tay hí hoáy ghi chép, rồi về ngồi viết. Chúng tôi muốn và thực sự làm kiểu khác: thật sự vào cuộc với mọi người, nhất thiết không làm người đi xem, làm người đứng ngoài. Có lúc thật sự đi làm cán bộ phát động quần chúng phá kìm nổi dậy, có lúc đi làm bí thư chi bộ ở xã, cán bộ quân sự hay chính trị ở đại đội, tiểu đoàn, cũng có anh nhận cầm quân đánh nhau thật sự...Cái mình sẽ viết ra là cái mình sống, viết bằng sống (và chết) của chính mình, chứ không phải là cái nghe lỏm được của cuộc đời, cuộc chiến đấu. (Sđd. tr. 135)

     Đó cũng là những năm tài đức lớn, sự nghiệp hiển hách của nhà văn. Ông viết tùy bút Đường chúng ta đi, truyện ngắn Rừng xà nu, tiểu thuyết Đất Quảng. Năm 1967 được bầu làm Chủ tịch Hội Văn Nghệ giải phóng Trung Trung bộ. Năm 1971 tiểu thuyết Đất nước đứng lên được Giải thưởng Hoa Sen của Tổ chức Nhà văn Á Phi.

     Từ năm 1974 Nguyên Ngọc bước vào vận hội mới Thủy Địa Tỷ. Thủy là Nước. Địa là Đất. Tỷ là gần gũi, sánh vai. Thánh nhân khuyên người được quẻ này cần coi trọng việc kết bạn, thân với người dưới, gây dựng các đầu mối, đừng để mất cơ hội làm thân, gần gũi. Chủ thể sinh tháng 7 được quẻ này rất tốt, lại có Địa nguyên khí hỗ trợ. Nền chung cả hậu vận là tiếp nối thời Thăng, hưởng thành quả những năm phát triển rực rỡ, nhưng bắt đầu sang thời Tỷ với chủ mệnh là hào 6 thì xấu. Tượng hào và lời hào cho biết: Tuy được thời thân hữu, gần gũi, sánh vai với mọi người, nhưng mất đầu mối để làm thân, không làm sao cảm hóa được thiên hạ, dù văn tài võ giỏi cũng mất thời cơ, chẳng kịp nữa. May nhờ có Địa nguyên khí và nhờ quẻ Tỷ hợp với mùa sinh tháng 7, nhờ hơn 40 năm rèn luyện nhân cách người quân tử, nên có thể là chủ thể đã ý thức được những tín hiệu xấu, tăng cường gây đầu mối để luôn có dân bên mình, biến xấu thành tốt, tạo nên nhiều cơ hội phát triển, dấn thân, duy trì được vai trò, vị trí xã hội. Có điều là phải chú ý có quẻ Bác kề bên (xem Cấu trúc Hà Lạc), luôn nhắc nhở phải đề phòng bọn tiểu nhân làm hại, nhớ rằng đang ở thời âm thịnh dương suy, khi có thành quả đừng hưởng hết, phải biết gây mầm cho thời cơ về sau, thì cuộc sống mới bình an, làm người quân tử “ở ngôi nhà lớn, đi xe dân chở” (lời hào 6 quẻ Bác).

     Đây là những năm Nguyên Ngọc được cử làm bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, đại biểu Quốc hội, tổng biên tập báo Văn Nghệ, ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 4, trưởng ban sáng tác của Hội, tổng thư ký Hội Văn hóa vì Môi trường, tham gia giảng dạy trường Đại học viết văn Nguyễn Du. (Quả nhiên những năm này trong các cương vị bí thư Đảng đoàn, tổng biên tập báo Văn nghệ, ông đều có thành công vang dội, nhưng đều có hiện tượng “mất đầu mối”, không được người trên ủng hộ, mất thời cơ, không còn dịp để “cảm hóa thiên hạ” nữa). Khí chất thiên nhiên tạo nên ảnh hưởng trong đời sống tinh thần của Nguyên Ngọc những năm này là Đất, Nước, Núi. Đây là những năm ông làm các kịch bản phim Đất nước đứng lên, Đường mòn trên biển đông, tham gia nghiên cứu khoa học về Con người đất Quảng (do ủy ban nhân dân Quảng Nam chủ trì).

    ***

    Khí chất Đất, Nước, Núi và Gió và Cây nhuần thấm trong cảm xúc văn chương của Nguyên Ngọc sâu đậm và mạnh mẽ đến mức chỉ đọc tên các tác phẩm của ông đã biết cái tượng quẻ trong cấu trúc Hà Lạc của ông là những gì, những trích dẫn ở trên đã cho thấy điều đó. Không chỉ có thế, ông còn có những trang văn rất hay tả những hiện tượng thiên nhiên kể trên và nhất là cái âm vang, cái ánh ỏi, hòa sắc của nó trong đời sống xã hội, con người.

    Đồng chí giao thông huyện chính là cháu gọi Cắm bằng chú. Cắm biết nó từ khi nó lọt lòng mẹ, nó còn bằng cái nắm tay thế này, nó đỏ như một hòn máu. À, thế mà nó lớn nhanh hơn một cái cây bên suối đấy. Không biết cái gì nuôi nó nhớn nhanh thế. Đi ra ngoài nương, đi về trong nhà, đã thấy nó nhớn bằng con lợn ba tháng rồi. Tra lúa, lúa có sữa, nó đã nhớn bằng con hoẵng con. Lúa chín thì nó biết ngồi. Gặt lúa thì nó biết đứng. Lại đốt rẫy thì nó biết đi. Từ đó, Cắm cứ tính tuổi nó bằng mùa mưa. Một mùa mưa, hai mùa mưa, ba mùa mưa. Thằng bé lúc đầu còn như một con bê, sau nó thành một con chó lài, sau dần dần thì nó đã trở thành một con cọp, một con cọp thật đấy. Rừng núi nào nó cũng không chừa. Bụng nó sáng như thắp đèn trong ấy. Cái gì nó cũng biết, chỉ cái sợ là nó chưa biết. Cứ mỗi mùa mưa, Cắm lại quệt cho nó một cái quệt than đen sì lên cây cột nhà. Năm cái quệt, sáu cái quệt, bảy cái quệt. Cắm tính tuổi cho nó, nhưng lại quên tính tuổi cho mình. Khi cây cột nhà của thằng bé được bảy cái quệt than, thì quanh mồm Cắm đã lún phún đầy râu là râu. (Rẻo cao. Truyện ngắn. NXB Văn học. Hà Nội 1992. Tr. 107).

    Những đêm mưa to gió lớn, đốt lửa ngồi trong nhà rông, bok Sung thường kể cho con cháu nghe những câu chuyện về núi, rừng, trời, đất, sông, nước. Tất cả những thứ đó, bok Sung kể, không phải là vô tri vô giác đâu. Khi bình thường, nó hiền lành. Núi rừng thì có mật ong, có cây gỗ làm nhà, sông suối thì đem nước cho người uống, đem cá cho người ăn, và nước khi chảy mệt dừng lại nghỉ chân ở các bến có cây to thì trong lắm, chỉ ngồi trên hòn đá, nhúng hai chân xuống cũng đủ mát lạnh cả người. Gió thì như anh chàng suốt lúa ăn no rồi cầm ná đi săn trong núi, khi thì chạy mau, khi thì đi rón rén, rình mò từng gốc cây, nói thì thầm, sợ con thú rừng nghe, nó chạy mất. Đá thì lười biếng, quanh năm nằm ì một chỗ, không muốn đi đâu... Nhưng cũng có khi trời đất tức giận, không biết giận cái gì. Nước to lên, chảy ào ào dưới suối, có khi chạy tuốt lên rẫy, lôi cả cây, cả lúa, cả người ném xuống sông Ba. Gió gầm như con cọp chạy ầm ầm, gặp cái gì cũng xô ngã, bẻ gãy cây to bốn, năm người ôm, xô cả nhà, cả người ta. Nhưng khủng khiếp nhất là đá giận. Đá giận thì đá chạy!

     Khi nhỏ, bảy tám tuổi, Núp thấy đá chạy một lần rồi. Thật là ghê gớm. Suốt đêm đó, gió và nước nổi giận trước. Tảng sáng hôm sau, hơi đỡ một chút. Gió mệt chạy chậm. Mưa nhỏ dần. Tự nhiên trên đỉnh núi Chư Lây tảng đá to nhất nổi giận. Trước tiên nó xô mấy miếng đất dưới chân nó ra. Nó chuyển mình, rồi bất thình lình nó lật ngược và vụt chạy xuống núi. Nó chạy mau không thể cái gì chạy theo kịp. Nó bẻ gãy hết cây nào cản đường nó. Gặp con thú, nó đấm một cái, con thú chết bẹp ngay. Đến giữa đường, gặp đá bạn, đá con, nó thúc mỗi đứa một cái, tất cả đá ùa chạy theo nó. Thôi thì, cả núi rừng rung lên ào ào, đất thành khói đỏ bay mù mịt. Đồng bào sợ quá, rú lên, chạy vô trốn trong nhà. Các ông già làng nhiều kinh nghiệm, kêu lên:

    - Đá chạy! Đá chạy! ố, ố, trốn trong nhà không được đâu! Chạy ra suối hết, mau lên. (Đất nước đứng lên. Sđd Tr. 114-116)

     Sau này làm kịch bản phim Đất nước đứng lên (ĐNĐL), Nguyên Ngọc muốn tái tạo một tiểu thuyết ĐNĐL bằng một cái nhìn mới, sau 40 năm tiểu thuyết ra đời như một cuốn sách của định mệnh. Bộ phim đã dựng lại trước mắt chúng ta cái đẹp chất phác một làng Kông Hoa của Tây Nguyên, một Núp, một Hơ Liêu của Ba Na, trong một nền văn hóa với những quan niệm bền vững về vũ trụ, về con người và cuộc sống. Người ta thấy các tác giả muốn cắt nghĩa sức sống Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam là bắt nguồn từ văn hoá Việt Nam được Đảng và Bác Hồ đánh thức dậy. Những lễ hội và nghi thức, phong tục gắn với đời sống con người được miêu tả trong tiếng nhạc trầm hùng, nhịp điệu buông thả như tiếng suối, tiếng gió, của rừng, của núi. Trước mắt người xem hiện lên một Tây nguyên mộc mạc và hùng tráng, tài hoa trong nghệ thuật tận dụng thiên nhiên và mô tả thiên nhiên. Nguyên Ngọc và các tác giả phim đã dày công để giới thiệu với người xem một ngôi đàn suối, phải nói rằng đó là cả một ngôi đàn, với những dụng cụ âm thanh là gỗ, đá, nước; sóng nhạc đung đưa thiết tha theo nhịp điệu suối chảy vào lòng cối, nhấn từng phím đàn. Tôi nghe Nguyên Ngọc kể chuyện rằng các tác giả phim phải lặn lội hàng trăm kilômét vào những vùng sâu mới tìm lại được những người còn lại hiếm hoi của Tây nguyên có tài năng xây dựng lại ngôi đàn kỳ vĩ. Cái tượng Đất và Nước thuộc quẻ Thủy Địa Tỷ biểu hiện rất rõ ở hình tượng ngôi đàn suối ấy.

     Bộ phim được xây dựng hết sức công phu này tiếc thay lại vướng vào một sai sót đã tiềm ẩn trong mệnh của tác giả kịch bản. Quẻ hỗ Lôi Trạch Quy muội của Nguyên Ngọc bảo rằng ông sẽ có nhiều sai lầm kiểu “quy muội” (gả chồng cho em gái): thường hay qua loa, đại khái, thiên lệch theo ý thích của mình, lại có khi như vua Đế ất gả em gái cho một người thường dân, quá coi trọng đạo đức đến mức để cho cái “tay áo của nàng hầu lại đẹp hơn của công chúa”. Quẻ Quy Muội chủ yếu trong thời Thăng, còn phát huy tác dụng sang cả thời Tỷ của ông. Ở đây đúng là Nguyên Ngọc có một cái sai đáng yêu theo kiểu “Đế ất quy muội” như thế: ông đã cùng đạo diễn quá đam mê vào việc dựng lại những lễ hội và phong tục Tây nguyên, khiến những trường đoạn ấy lấn át cả tính cách và hành động nhân vật Núp, đôi khi làm cho phim mang dáng dấp một bộ phim tài liệu hơn là phim truyện.

     Quẻ Lôi Trạch Quy Muội cũng chi phối Nguyên Ngọc trong quá trình làm Tổng biên tập báo Văn Nghệ.

     Đó là những năm 1986-1988 thuộc Đại vận 6 năm 1986 - 1991, hào 2 quẻ Thủy Địa Tỷ. Lời hào rất đẹp: Từ trong mà gần gũi với ngoài, giữ chính bền thì tốt. Tài cao đức lớn, được nguyên thủ xứng đáng, quý hiển, phúc trạch lớn, ngôn hành đều thực tâm, tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng năm 1986, năm ông được phân công làm Tổng biên tập báo Văn Nghệ thì được quẻ rất xấu: quẻ Thuần Khảm, người xưa còn gọi là Tập Khảm, chủ mệnh là hào 2. Tượng quẻ là hai lần Nước, có nghĩa hai lần hiểm, một tập hợp hiểm nạn, thuộc loại quẻ xấu nhất trong Kinh Dịch.

    Hào 2 quẻ Tập Khảm bảo rằng: Năm nay ông gặp nhiều hiểm, hãm, gian nan, trở ngại. Hai lần hiểm. Phải có trí lực, mưu dụng thì mới vượt hiểm được. Ở chỗ hiểm lại đang gặp hiểm, nên chỉ làm được việc nhỏ thôi. Nhưng sẽ có công cứu được cái nguy đổ sụp. Theo các chuyên gia Hà Lạc, người quân tử gặp quẻ Tập Khảm, xem tượng quẻ, thấy có một hào dương ở giữa hai hào âm, biết mình gặp hiểm nạn, nhưng nhờ có lòng thành thực, nhất quán, sáng suốt, cảm được lòng người thì vẫn có thể thoát hiểm, đạt tới hanh thông. Muốn vậy phải vận động, di chuyển, như nước chảy, thì mới thông thoát. Người vào thời Tập Khảm thường thích phù suy hơn phù thịnh. Họ thường có dịp tỏ ra tài đức, vị tha, can đảm, nhân nghĩa, cứu giúp kẻ yếu, biết lo đại sự khi khó khăn, biết dấn thân; tất nhiên, dấn thân thì phải trả giá. Phan Bội Châu nhấn mạnh thời kỳ quẻ Tập Khảm, không tránh được hiểm nạn, nhưng là người quân tử thì phải biết dụng hiểm (linh hoạt dùng mưu để thoát hiểm), ví dụ, cũng phải biết lựa lúc đối phương sáng suốt nhất, đưa niềm tin, giao ước, qua cửa sổ. Qua cửa sổ (không đồng nghĩa với đi cửa sau), tuy không đàng hoàng lắm, nhưng được lòng người, nhờ vậy mà thoát hiểm. Cái năm Nguyên Ngọc làm báo Văn Nghệ đúng là như vậy. Đó là năm sông cái chiếc thuyền nan của Tản Đà ngày trước. Tờ báo vượt lên trong cuộc đổi mới của đất nước. Nhưng tổng biên tập của nó thì gặp đầy hiểm nạn. Với tinh thần quẻ Thăng chuyển thành quẻ Tỷ, ông là người hết sức nhạy cảm với cái mới, tờ báo do ông phụ trách đã mạnh bạo đề xuất hàng loạt quan điểm đổi mới trong sáng tác văn học, giới thiệu hàng loạt tác giả mới như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương... được bạn đọc rất hoan nghênh. Nhưng cũng ở đây ông đã quá đà khi cho tung ra cả những mệnh đề như “văn chương phải đạo”, “lời ai điếu cho văn chương minh họa” trái với những quan điểm chính thống đang thời thịnh. Hoặc khi giới thiệu những tài năng mới, ông cũng cho giới thiệu cả những tác phẩm của những tài năng ấy, mà người đọc hiểu là xúc phạm những anh hùng dân tộc, hoặc phủ nhận những thành tích văn học một thời. Tất cả những cái đó hoàn toàn có thể điều chỉnh được nếu như chủ thể biết được trong cấu trúc mệnh của mình có cái anh Quy Muội. Bạn bè thường dùng chữ cực đoan để chỉ ra tính cách của Nguyên Ngọc trong các hoạt động xã hội và văn học, chính cái cực đoan đó là một đặc điểm “quy muội” của ông. Tiếc thay, chúng ta biết đến điều này quá muộn. Cuối cùng ông cũng chỉ làm được những việc nhỏ thôi, chưa đúng như tham vọng lớn. Sang năm 1987, quẻ Thủy Phong Tỉnh hào 3. Tỉnh là Giếng. Năm này vận mệnh ông giống như cái giếng nước trong mà không được uống, trong lòng đau buồn... Tài không được dùng, tuy vẫn đầy hứa hẹn. (Lời hào 3). Ông phải đối mặt với nhiều luồng ý kiến khác nhau hoan nghênh hoặc phê phán tờ báo. Nhiều sáng kiến mà chưa thực hiện được trên trang báo. Năm 1988 quẻ Trạch Phong Đại Quá, hào 4. Năm này có những việc quá lớn, phi thường, phải có gan, có chí mới làm nổi. Thấy việc phải, không ai làm, một mình cũng làm, dù có hiểm nguy. Thấy việc trái lẽ, cả thiên hạ theo, một mình không theo, dù bị chê trách. Cương nhu có đủ, gánh việc lớn, làm giường cột của đất nước, nhưng nếu thiên vị, quá nghiêng về phía mềm yếu thì việc sẽ hỏng. Như cây mọc trong rừng bị ngập nước, dễ bị đổ. Tuy vậy, phúc lộc đều có. Đây chính là năm ông vừa phải đối ứng căng thẳng với nhiều ý kiến phê bình báo, vừa phải chuẩn bị lễ kỷ niệm 40 năm báo Văn Nghệ. Cũng là năm ông phải chia tay với báo Văn Nghệ với nhiệm vụ mới: tham gia chuẩn bị Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam khóa 4. Những năm Nguyên Ngọc làm báo Văn Nghệ quả là những năm Tập Khảm, Tỉnh và Đại quá. Phải đợi sang năm 1989 ông mới thực sự thoát ra với quẻ Lôi Phong Hằng hào 5. Lời hào bảo rằng: Năm nay lấy đức nhu thuận mà giữ được vị trí, vai trò người lớn, tri thức cao, biến thông linh hoạt, nghị lực vững vàng, lại được vợ hiền giúp sức, nên vẫn được lâu bền. Tuy vậy lòng vẫn không yên, tiến liều thì dễ bị nhục. Đây là năm Đại hội nhà văn bầu ông vào ban Chấp hành Hội, với phiếu cao.

    Không phải ngẫu nhiên mà những năm sau này Nguyên Ngọc viết nhiều về biển. Quẻ Thủy Địa Tỷ với tượng Đất và Nước đã tác động mạnh mẽ vào cảm xúc văn chương của ông. Ông làm kịch bản phim Có một đường mòn trên biển Đông. Ông còn tham gia nghiên cứu khoa học về con người Đất Quảng và làm kịch bản phim tài liệu lịch sử về Vịnh Hạ Long. Kịch bản phim Có một đường mòn... có dung lượng một cuốn tiểu thuyết lớn về những con người bình dị làm nên những sự tích anh hùng khai thông một con đường huyền thoại trên biển chở hàng vạn tấn vũ khí từ miền Bắc tiếp tế cho chiến trường miền Nam, những năm chống Mỹ cứu nước. Những con người mà chính Nguyên Ngọc thú nhận là không bao giờ có thể giải thích được hết. Bởi chính sự giản dị của họ. Đó là nhân dân, cụ thể, âm thầm, vô danh. Như mặt đất, như biển. Không bao giờ có thể hiểu hết, nói hết về họ. (Kịch bản phim đã dẫn. Tr. 30, bản đánh máy).

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Nguyên Ngọc

    Sinh 05-9-1932 lúc trước 7 giờ sáng (5 - 8 - Nhâm Thân, giờ Mão). Dương Nam. Mệnh Kim (bao kiếm). Trung nguyên. Nắng nhạt: 8 – 9 – 1932. Giữa thu: 23-9. Sinh giờ khí dương. Do sinh trước tiết lệnh Nắng nhạt nên Hà Lạc tính tháng sinh là tháng 7. Can Chi: Năm Nhâm Thân, Tháng Mậu Thân, Ngày Kỷ Tị, Giờ Đinh Mão. Mã số Can Chi: 6, 4-9; 1, 4-9; 9, 2-7; 7, 3-8.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

     Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    0

    0

    0

    1*

    1

    0

    53-58

    47-52

    41-46

    32-40

    65-73

    59-64

    0

    0

    1

    0

    1

    1

    0*

    1

    0

    0

    0

    0

    74-79

    04-12

    98-03

    92-97

    86-91

    80-85

    1

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    0

    1

    0

    0

    1

     Địa Phong

     Thăng

     

    Lôi Trạch

    Quy Muội

     Thủy Địa

     Tỷ

     

    Sơn Địa

     Bác

    Hỏa Lôi Phệ Hạp

     

    Hoá công: Không. Thiên nguyên khí: Không. Địa Nguyên khí: Khôn ở Tiên, Hậu thiên, Hỗ hậu thiên. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức trung bình cao. Hỗ Nhân Quả: Đổi dấu hào 2, 3, 5.

     

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và Chân dung nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

     

     

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,041,115

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/