Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,091,833

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Dương Linh

  • Thứ sáu, 16:28 Ngày 07/09/2012
  • Huỳnh Tấn đứng trên tàu chiến đang dùng ống nhòm quan sát phía bờ biển chỗ cửa sông. Bỗng hắn thấy từ trong bãi một chiếc xuồng chở một người vừa tách ra chèo thẳng về hướng chiếc tàu mà hắn đang đứng. Qua ống nhòm hắn nhìn thấy người ngồi là Nguyễn Trung Trực tay trói bằng dây rau muống biển cho có lệ, còn người chèo là chú bé Tâm. Hắn phấn khởi ra mặt, nói với tên thiếu tá Rivière cũng vừa bước tới bên cạnh. – “Ông thiếu tá xem đi. Người ngồi là Nguyễn Trung Trực đó. Tôi đã nói với ông, hắn là người biết trọng danh dự mà!” – Tấn đưa ống nhòm cho tên thiếu tá, mà mặt hắn đầy vẻ vui mừng.

                Trên chiếc xuồng, chú bé Tâm vừa chèo vừa nói với Trực: – “Anh Hai à, có lẽ em sẽ ở lại đảo với anh Hai Nhường, Tư Hội chớ em không trở về Tân An đâu”. – “Sao em không về Tân An?”. – “Em không muốn nhìn mặt bọn Phú-lang-sa – Tâm nói – Em ở lại đảo mà ở tuốt trong rừng thì có bao giờ gặp chúng. Dầu sao ở ngoài đảo này mình cũng tự do hơn ở đất liền... Mà như anh nói trước sau gì bọn Tây dương cũng bị dân mình đánh đuổi khỏi nước Nam. Em ở trong rừng đảo này là chờ đợi thời cơ đó, em không chịu thua chúng đâu!”. Chiếc xuồng lướt trên mặt biển lúc này rất lặng êm. Trực phóng tầm mắt nhìn ra khơi xa thấy đàn hải âu bay lượn trên mặt biển. Chàng ngồi yên một lúc rồi nói với Tâm: – “Đời anh coi như hết rồi. Tương lai nước Nam trông chờ vào lớp trẻ như em. Đời mình không đuổi được giặc, thì lớp con cháu sẽ làm được điều đó. Em chọn con đường ở lại đảo là rất đúng. Anh tin ở em. Thôi, sắp đến tàu rồi. Em về cho anh nhắn lời chào với anh em mình, và nói với họ, anh sẽ không phụ lòng tin của họ đâu. Nhớ nghe Tâm!”. Chiếc xuồng đã cặp vào mạn tàu. Một chiếc đòn dài thả xuống cho Trực lên. Trên tàu đã thấy Huỳnh Tấn tươi cười chờ đón. Tâm bước lại ôm Trực, nước mắt đầm đìa: – “Anh Hai!”.

                Bây giờ trong phòng riêng trên tàu, giặc dành để cho Trực nghỉ. Huỳnh Tấn ngồi đối diện với Trực bên chiếc bàn nhỏ. Một tên lính bưng vô một khay rượu và bánh mứt, đặt lên bàn rồi ra ngoài. Tấn rót hai ly rượu đầy mời Trực: – “Xin mời anh cạn ly mừng ngày chúng ta gặp lại nhau sau sáu bảy năm trời không gặp”. – “Cám ơn anh – Trực nói – Từ lâu tôi không uống rượu, tôi chỉ uống nước mưa thôi”. – “Cũng được, không sao – Tấn cười nói – Anh thay đổi nhiều quá – Lính đâu? Mang nước lạnh ra đây!”. Người lính mang vào chai nước đặt lên bàn, rồi lui ra. Tấn nói tiếp: – “Từ lâu người Phú-lang-sa rất ngưỡng mộ anh. Nếu anh về chịu hợp tác với họ, anh sẽ có quyền cao chức trọng hơn tôi nhiều. Bất tài như tôi mà họ còn phong cho chức lãnh binh huống chi là anh... Anh nghĩ sao?”. – “Nhưng chúng ta đã có hai con đường khác nhau. Cám ơn anh đã giữ lời hứa thả hết dân, không trả thù những anh em theo tôi. Tôi chỉ còn mẹ già, mong các anh sẽ thả bà, đừng bắt bà phải làm những việc mà bà không muốn” – Trực nói. – “Được, được. Tôi sẽ làm theo lời yêu cầu của anh. Bác Hai sẽ gặp anh khi chúng ta về đến Rạch Giá. Còn việc hợp tác với người Phú-lang-sa, anh tính thế nào?” – Tấn nói. – “Tôi ra nộp mình cho anh, không phải để kiếm chức tước lợi danh mà để cứu dân, cứu những anh em theo tôi. Nay mục đích đó đã đạt rồi, nếu anh thương tôi vì tình xưa nghĩa cũ, anh hãy nói với người Phú-lang-sa giết tôi càng sớm càng tốt” – Trực nói giọng kiên quyết. – “Đâu có chuyện đó anh Hai – Tấn nói – Người Phú- lang-sa không thành kiến với quá khứ. Anh có hạ đến năm bảy cái đồn như đồn Sơn Đá vừa rồi, mà nếu anh chịu hợp tác với họ, họ cũng sẵn sàng bỏ qua không kết tội anh. Trong con mắt họ, anh là một tướng tài chưa thua họ trận nào ở cái đất Nam Kỳ lục tỉnh nầy. Thôi, anh cần nghỉ ngơi cho khoẻ rồi ta sẽ nói chuyện sau. Tôi đi đây”. Tấn đứng dậy ra ngoài. Chiếc tàu chở Trực vẫn lướt sóng chạy về hướng Rạch Giá.

                Trong khám giam bà Hai. Bà còn nằm ngủ trên chiếc chiếu ở góc phòng giam thì nghe có tiếng mở khoá cửa. Người lính mang vô mâm cơm với thức ăn đầy đủ vui vẻ nói: – “Bà Hai, mời bà dậy dùng cơm”. – “Tui không đói. Cám ơn chú” – Bà Hai uể oải nói. Đối với người lính gác này, bà Hai không ghét như những tên khác từng canh giữ bà ở đây. – “Bà Hai cố gắng ăn cơm đi cho có sức khoẻ. Mấy hôm nay con thấy bà Hai ốm hơn trước nhiều đó – Anh lính trẻ cười nói tiếp – Bà Hai ăn đi, con sẽ báo cho bà một tin vui lớn”. – “Thì chú nói đi”.– “Không, bà có ăn thì con mới nói” – Anh lính trẻ nói – “Thôi được, tui ăn cho chú vui lòng”. Bà đến ngồi bên mâm cơm bắt đầu ăn ngon lành. Độ lưng chén cơm, bà dừng lại nhìn anh lính với ánh mắt thân thiện. – “Bây giờ tin gì vui chú nói đi”. – “Dạ, nhưng bà Hai bình tĩnh nghe con nói nha – Anh lính trẻ cười lém lỉnh – Bà Hai sắp gặp lại người con anh hùng của mình rồi đó”. Bà Hai sững sờ: – “Chú nói sao? Tui sắp gặp con trai tui? Chú có nói giỡn không đó?”. – “Dạ con nói thiệt đó bà. Hồi sáng này con nghe ông đội xếp nói với mấy người lính trước cửa. Ông Trực đã ra nộp mình đầu hàng ông Lãnh binh Tấn ở Phú Quốc. Chiếc tàu binh chở ông Tấn với ông Trực sắp về tới Rạch Giá rồi. Chắc chắn họ sẽ thả bà Hai để mẹ con gặp nhau đó”. – “Trời! – Bà Hai rụng rời để rơi chén cơm xuống nền gạch vỡ toang, kêu lên một tiếng đau khổ – Trực ơi! Sao con làm vậy hả Trực? Con làm vậy là con giết mẹ rồi Trực ơi!”. Bà ôm ngực ho rũ rượi một hồi rồi ộc ra một đống máu tươi. Bà ngã lịm xuống nền gạch trong khi anh lính hốt hoảng kêu lớn: – “Bà Hai! Bà Hai!”. Bà Hai vẫn nằm bất động trên vũng máu. Anh lính trẻ quỳ xuống đỡ bà kêu đau đớn: – “Bà Hai! Bà Hai! Bà làm sao vậy?”. Nhưng không có tiếng trả lời. Người mẹ anh hùng ấy đã ra đi vĩnh viễn với mối hận cho rằng đứa con mà bà hết dạ yêu thương, đã trở thành kẻ phản bội Tổ quốc.

                Trong khám lớn Sài Gòn. Trực bị biệt giam một gian riêng. Cổ đeo gông, chân bị xiềng. Ánh sáng hiếm hoi chiếu qua chấn song sắt soi rõ khuôn mặt rắn rỏi cương nghị của Trực. Chàng ngồi tựa lưng vào tường đá lạnh. Theo lệnh của Ohier, Trực được đưa từ Rạch Giá về Sài Gòn giam ở ngục thất để chờ thẩm vấn, sau khi đã từ chối mọi lời dụ chàng về hợp tác với quân đội Pháp của Lãnh binh Tấn. Tiếng giày đinh của tên lính canh gác nện đều đều trong dãy hành lang nhà tù như nhắc nhở những người bị giam đừng quên thân phận họ đang ở trong bốn bức tường đá lạnh. Tên lính dừng bước trước phòng giam Trực, ghé mắt nhìn coi chừng chàng thức hay ngủ... Rồi tiếng giày đinh lại nện đều đều xa dần….

                Trong dinh Soái phủ Sài Gòn, cuộc nói chuyện giữa Ohier và viên đại tá tham mưu trưởng. – “Thưa đô đốc, tướng Trực đã được giải về Sài Gòn theo lệnh ngài, hiện bị giam ở khám lớn. Ta sẽ xử trí ông ta thế nào, thưa đô đốc?”. – “Công việc thuyết phục hắn cộng tác với ta kết quả ra sao?” – Ohier hỏi. – “Ngoài Lãnh binh Tấn, đã có một số hương chức gặp gỡ ông ta, nhưng chưa có kết quả, thưa ngài” – Viên đại tá nói – “Đó là một viên tướng có tài, nếu ta thuyết phục được mà dùng thì sẽ có ảnh hưởng lớn đối với dân chúng, và những nhóm phiến loạn khác cũng mất tinh thần. Còn nếu không được thì phải giết lập tức, rất tiếc không có cách nào khác. Ông đã cho thẩm vấn chưa?”. – “Định sáng mai giao cho Piquet trực tiếp hỏi cung, thưa ngài”. – “Tốt. Cứ thế mà làm. Loại được tướng Trực, ta có thể yên tâm tổ chức cai trị ở đất Nam Kỳ này rồi”. Ohier cười có vẻ đắc chí. Niềm vui của hắn cũng lây sang viên đại tá cùng cất tiếng cười theo.

    Đêm gần sáng. Trong ngục thất Sài Gòn. Tiếng của Trực ngâm bài thơ “Cảm hoài” của Đặng Dung sang sảng vang lên trong phòng giam lạnh lẽo:

    “Thế sự du du nại lão hà

    Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

    Thời lai đồ điếu thành công dị

    Sự khứ anh hùng ẩm hận đa

    Trí chủ hữu hoài phù địa trục

    Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà

    Quốc cừu vị báo đầu tiên bạch

    Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma!”

                Giọng ngâm thơ của Trực trong phòng giam nghe sao tha thiết có sức truyền cảm sâu sắc khiến cho tên lính gác bên ngoài đứng yên lắng nghe với vẻ mặt xúc động thương cảm. “Quốc cừu vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma!”. Trực ngâm lại hai câu thơ này của Đặng Dung với một nỗi niềm chia sẻ với người xưa tâm trạng u uất của trang dũng sĩ trước cảnh nước mất nhà tan mà đành bất lực ngậm ngùi... Trời sáng dần. Tiếng giày đinh lại nện đều trong hành lang nhà ngục. Một viên đội cùng hai tên lính đến truớc phòng giam Trực. Tiếng mở cánh cửa sắt rít lên. Viên đội cùng hai tên lính bước vào. Viên đội giơ tay chào: – “Mời ông Thành thủ úy lên văn phòng”. Hai tên lính đến tháo gông và xiềng chân đỡ Trực đứng dậy với thái độ nể trọng người mà chúng đã nghe tiếng từ lâu. Và bây giờ trong phòng làm việc của giám ngục nhà tù Sài Gòn. Trực ngồi đối diện với Piquet và viên thông ngôn Chôm – người đã thoát chết nhờ Trực can thiệp cứu mạng lúc bị nghĩa quân bắt, sắp sửa bị hành quyết sau khi thành Sơn Đá bị hạ. Trong phòng còn có vài sĩ quan Pháp ngồi phía trái Piquet, theo dõi cuộc thẩm vấn. Thái độ Trực tỏ ra bình tĩnh tự tin khiến Piquet cũng phải thầm phục khí phách của người thủ lãnh nghĩa quân nổi tiếng đã sa cơ.

                Piquet chợt nhớ lại buổi gặp viên đại tá tham mưu trưởng giao nhiệm vụ thẩm vấn Trực: – “Ta sắp giao cho ông một công việc rất quan trọng – viên đại tá nói – Đó là thẩm vấn tướng Nguyễn Trung Trực, kẻ đã đốt tàu Espérance và hạ đồn Rạch Giá. Từ lời khai của ông ta, biên bản ghi phải được chỉnh lý sửa đổi có lợi cho quân đội Pháp, hạ thấp uy tín của viên tướng bướng bỉnh bất trị, vốn có ảnh hưởng với dân chúng Nam Kỳ”. – “Nhưng đây là sự thật lịch sử đâu có thể làm trái được, thưa đại tá” – Piquet dè dặt nói. – “Ông còn ngây thơ lắm – viên đại tá cười lớn – “Chân lý thuộc về kẻ mạnh” – César từng nói như vậy, ông nhớ chứ? Ông đừng để cho hôm nay và mai sau, nước Pháp bị làm nhục bởi một viên tướng phiến loạn Việt Nam, khi đọc biên bản cuộc thẩm vấn này. Đó cũng là chỉ thị của cấp trên mà ông phải chấp hành vô điều kiện. Ông nhớ chưa?”. – “Tôi nhớ, thưa đại tá” – Piquet nói. Viên tham mưu trưởng bắt tay Piquet với nụ cười: – “Chúc ông thành công!”.

                Hình ảnh cuộc gặp viên đại tá tham mưu trưởng với những lời dặn dò như một chỉ thị, khiến Piquet cảm thấy có chút lúng túng khi hỏi Trực bắt đầu cuộc phỏng vấn có Chôm phiên dịch.

    Piquet       : – Nguyên cớ nào thúc đẩy ông tấn công Rạch Giá?

    Trực          : – Tôi được triều đình bổ nhậm chức Thành thủ úy Hà Tiên. Khi tôi dẫn quân trên đường tới Hà Tiên thì quân Lang sa đã chiếm lấy nơi nầy rồi. Tôi buộc phải rút quân về Hòn Chông cố thủ và chờ đợi thời cơ. Sự tàn ác của quân Phú-lang-sa đối với dân chúng Rạch Giá là nguyên cớ chủ yếu cho việc tấn công của tôi.

    Piquet       : – Triều đình Huế có phái vị quan nào vào Nam ra lịnh cho ông tấn công Rạch Giá không?

    Trực          : – Tôi đã từ chức Thành thủ úy của triều đình để phản đối việc cắt đất giao thành cho quân Phú-lang-sa. Tôi chỉ huy tấn công Rạch Giá với tư cách một người yêu nước, chớ không có lịnh triều đình.

    Piquet       : – Ai quyết định tấn công Rạch Giá?

    Trực          : – Dân chúng Rạch Giá. Chính họ bị quân Lang-sa đàn áp dã man, cướp của giết người khi chiếm đóng. Lòng thôi thúc trả thù cho họ khiến tôi quyết định tấn công.

    Piquet       : – Ông có thứ vũ khí gì?

    Trực          : – Tôi chỉ có gươm, giáo, mã tấu.

    Piquet       : – Ông có biết các sĩ quan Pháp được mách bảo trước không?

    Trực          : – Có một ông huyện đã báo. Nhưng các sĩ quan Phú-lang-sa không tin. Họ vẫn ngủ yên và không tổ chức phòng thủ đặc biệt nào. Lúc bị tấn công là khoảng 4 giờ sáng và đêm tối dày đặc vì mưa khiến họ càng mất cảnh giác.

    Piquet       : – Có lính Phú-lang-sa nào canh đồn không?

    Trực          : – Có hai lính với hai súng. Họ bị hạ sát trước tiên.

    Piquet       : – Viên thanh tra và trưởng đồn bị giết thế nào?

    Trực          : – Tôi không thể cho biết một chi tiết rõ ràng về việc đó. Lịnh là phải giết hết người Phú-lang-sa, và chỉ đến sáng tôi mới biết được số người bị giết. Hai viên sĩ quan Phú-lang-sa đã chết từ lâu, họ ngã gục ngay từ lúc đầu tấn công.

    Piquet       : – Những lính Phú-lang-sa khi lấy lại bình tĩnh, có họp lại tự vệ không?

    Trực          : – Có. Khoảng 10 người tự vệ trong một giờ. Nhưng chúng tôi vây bức quá, họ không kịp nạp đạn.

    Piquet       : – Làng có được báo tin về cuộc tấn công này không? Họ có trợ lực cho ông như bọn lính mã tà?

    Trực          : – Chỉ có một số dân làng biết. Còn lực lượng mã tà chỉ đến giờ chót khi tấn công họ mới biết. Họ không yểm trợ cho ông thanh tra, nếu họ ủng hộ ông ta thì tôi khó chiếm được đồn.

    Piquet       : – Có mấy người lính Lang-sa thoát khỏi đồn?

    Trực          : – Năm, nhưng bị bắt lại trong buổi sáng. Hai người muốn kháng cự đã bị hạ sát. Còn ba người kia bị giam tại nhà làng cùng với những viên chức, những người thông ngôn trong Toà bố và những người Thiên Chúa giáo theo Phú-lang-sa.

    Piquet       : – Tại sao ông ra lịnh giết họ?

    Trực          : – Không phải tôi. Và không bao giờ tôi muốn làm vậy. Khi tôi hay tin quân Phú-lang-sa tới tái chiếm đồn, tôi ra cảng chỉ huy chống lại, tôi để ông Lâm Quang Ky, phó chỉ huy, con một cai tổng Rạch Giá thay tôi. Trong lúc vắng tôi và không có lịnh tôi, ông Ky với quyền chỉ huy của mình, đã hạ sát những người mà ông ta cho là phạm tội ác. Vậy là có ba người Phú-lang-sa và số người khác bị giết. Khi tôi trở lại Rạch Giá thì cuộc hành quyết gần kết thúc, sắp đến lượt anh thông ngôn Chôm. Tôi ra lịnh phóng thích Chôm và rút đi Hòn Chông.

                Trực quay sang thông ngôn Chôm ngồi gần đó hỏi: – “Có phải chính tôi đã cứu mạng anh khỏi bị giết không?”. Chôm gật đầu nói: – “Thưa, đúng vậy”. – “Anh hãy dùng ảnh hưởng của địa vị anh có mặt hôm nay ở đây, xin cho tôi được chết ngay”. – “Thưa ông, tôi không thể làm việc đó được với người đã cứu mạng tôi, ân nhân của tôi”.

    Piquet       : – Tại sao ông cho giết nhân viên sở thâu thuế nha phiến?

    Trực          : – Hắn đã ra tay trước giết ba, bốn người Việt Nam. Tôi không thể tha thứ cho tội ác đó.

    Piquet       : – Vì sao mang cấp bực cao mà ông lại nghe theo lời xúi giục của những người có hành tung xấu như quản Cầu, xã Lý và hai người phụ nữ bà Điều, bà Đỏ?

    Trực          : – Đó là những người yêu nước chớ không phải có hành tung xấu như ông nói.

    Piquet       : – Ông ở đâu khi rời Rạch Giá?

    Trực          : – Phú Quốc.

    Piquet       : – Ông có đi đâu nữa không?

    Trực          : – Tôi vẫn ở Phú Quốc cho tới ngày bị bắt.

    Piquet       : – Ông có ép buộc chánh quyền Phú Quốc trao tiền thuế cho ông không?

    Trực          : – Không. Họ tự nguyện đến giao nộp để ủng hộ nghĩa quân.

    Piquet       : – Những người theo ông ra đảo hiện giờ ở đâu?

    Trực          : – Tôi không rõ. Có thể họ vẫn còn trong núi hoặc đã trở về đất liền.

    Piquet       : – Có người Tàu nào bị bắt cùng với ông không?

    Trực          : – Tôi không rõ. Có thể người đó thuộc phe quản Thứ, xã Ngãi vì họ khởi nghĩa trước khi tôi ra đảo.

    Piquet       : – Hồi năm 1861, người ta gọi ông là gì?

    Trực          : – Quản Lịch. Chính tôi cho nổ chiếc tàu ở vàm Nhựt Tảo. Sau đó, tôi ra Huế nhận chức quản cơ. Vài năm sau tôi được bổ nhậm chức Thành thủ úy Hà Tiên như ông đã biết.

    Piquet       : – Ông còn muốn nói thêm điều gì không?

    Trực          : – Tôi là một người yêu nước, đã chống lại cuộc xâm lược của Lang-sa từ trận đánh ở Chí Hoà –Sài Gòn cho đến khi ra đảo Phú Quốc. Tôi nói rõ rằng tự tôi đến nộp mình cho Lãnh binh Tấn, vì khi ra đảo, hắn đã bắt dân dồn tập trung một chỗ hành hạ họ dã man. Quân Lang-sa lại hèn hạ bắt giam mẹ tôi, gây sức ép với tôi. Hắn lại viết thơ kêu gọi, nếu tôi đầu hàng thì sẽ thả hết dân, thả mẹ tôi và sẽ không thả thù những nghĩa quân đã theo tôi. Tôi chịu nộp mình cho Tấn chính vì những điều kiện đó. Nếu tôi tiếp tục chiến đấu, Tấn sẽ không bắt được tôi dễ dàng như vậy. Tôi quá hiểu về con người của Tấn, kể cả bản lãnh quân sự của hắn, không có gì so sánh với tôi được.

                            Dân Nam chúng tôi không thiếu những người yêu nước, tiếc rằng triều đình Huế đã không hiểu được điều đó. Ngày nay, số phận tôi đã an bài, tôi đã không thành công trong việc cứu nguy nước tôi, tôi chỉ xin một điều là người ta kết liễu đời tôi càng sớm càng tốt.

    Piquet       : – Nhưng nếu người Lang-sa không thành kiến về quá khứ của ông, ông có hợp tác với họ không?

    Trực          : – Tôi đã trả lời câu hỏi này nhiều lần là không!

    Piquet       : – Cuộc nói chuyện chúng ta đến đây kết thúc. Tôi sẽ chuyển nguyện vọng của ông lên cấp trên giải quyết.

                Piquet nói mấy câu cuối cùng rồi đứng dậy cúi đầu chào Trực với sự khâm phục thành thật – vốn rất hiếm – trong hàng ngũ quân Pháp lúc bấy giờ.

                Trong dinh Soái phủ Sài Gòn. Ohier đọc hết biên bản cuộc hỏi cung Trực, cau mặt nói với viên đại tá tham mưu trưởng: – “Như thế này là chưa được. Phải chỉnh lý ngôn từ lại để người khác đọc thấy tên Trực như một kẻ đầu hàng trước sức mạnh quân đội Pháp. Rõ chưa?”. – “Xin tuân lệnh, thưa đô đốc”. Viên tham mưu trưởng nói tiếp: – “Ta sẽ xử lý ra sao khi tên Trực khăng khăng không chịu hợp tác với chúng ta?”. – “Không thể tha thứ cho kẻ một lúc hạ sát 30 người Pháp, trong đó có 5 sĩ quan trong một trận đánh đồn. Hắn sẽ phải bị hành quyết ngay nơi hắn đã hạ sát người Pháp ở Rạch Giá”. Ohier bực dọc phẩy tay ra hiệu cuộc nói chuyện kết thúc. Viên tham mưu trưởng nghiêm chào rồi lui ra.

                Ở Tà Niên – Rạch Giá, một người thơ lại làm việc ngoài tỉnh, đã chạy đi báo từ đầu làng cuối xóm tin giặc Pháp đưa ông Trực về giam ở Rạch Giá, chờ ngày hành quyết. Dân trong xóm đón nhận tin dữ ấy đã tụ họp ở sân đình. Ai nấy đều buồn rầu thương tiếc cho người anh hùng gặp phải hồi vận rủi. Bỗng từ đám đông một bà mẹ đứng ra nói. Đó là bà từng dẫn phụ nữ Tà Niên đem bánh trái ra úy lạo nghĩa quân ở bãi tập trước khi tấn công đồn Rạch Giá, và bà từng khen tướng Trực: “Như vầy mới xứng đáng là một vị tướng”. – “Bà con Tà Niên ta không bao giờ quên ông Trực – bà mẹ nói trong nước mắt – người đã trả thù cho dân chúng Rạch Giá bị lũ giặc Tây dương giết hại. Nay ông Trực thọ nạn tử hình, bà con mình phải tỏ lòng biết ơn sao đây?”. Nhiều tiếng nói trong đám đông vang lên: – “Phải lập bàn thờ thờ ổng với các nghĩa quân bỏ mình vì nước”. – “Phải làm lễ cầu siêu cho ổng”. – “Phải đó. Mời sư về cầu siêu cho ổng với các chiến sĩ trận vong”. Tiếng bà con vừa dứt, bà mẹ nói: – “Tui muốn bà con mình dệt chiếu trải trên đường ra pháp trường để ông Trực đi trên đó, ổng nhớ bà con Tà Niên mình. Bà con thấy có được không?”. Nhiều tiếng hô hưởng ứng: – “Phải đó. Phải đó. Ta trải chiếu như trải lòng dân Tà Niên quý mến người anh hùng vị quốc vong thân. Thôi ta về lo dệt chiếu đi, kẻo không kịp”. Bà con bàn tán một lúc rồi ai về nhà nấy. Tiếng dệt chiếu lách cách vang lên khắp xóm Tà Niên ngay từ hôm đó...

                Nhà cụ Huỳnh Mẫn Đạt ở ngoại ô thị xã Rạch Giá. Sáng nay, cụ tiếp ông Thuyên ở thảo bạc trước nhà. – “Cụ đã hay tin gì về ông Trực chưa?” – Ông Thuyên nét mặt buồn rầu nói. – “Tôi cũng có nghe mà không biết có đúng vậy không” – Cụ Đạt nói rồi thở dài. – “Cụ nghe thế nào?” – Ông Thuyên hỏi. – “Bọn Tây dương đã kết án tử hình ổng ở Sài Gòn rồi đưa về Rạch Giá để hành quyết. Nếu tin đó đúng, thì là một thiệt thòi lớn cho nước Nam. Đó là người anh hùng vì dân vì nước, mà hai chiến công ổng lập nên ở Nhựt Tảo và Kiên Giang sẽ mãi mãi sáng ngời trong sử sách”. – “Sáng qua một bệnh nhân đến lấy thuốc cũng báo tôi tin đúng như cụ nói, vì ông ta có đứa con làm lính canh ngục báo cho biết. Dân Rạch Giá nhiều người đã khóc khi hay tin này...”. Cụ Đạt trầm ngâm một lúc rồi nói: – “Đời người ai ai cũng có một lần chết. Đó là quy luật của tạo hóa. Người thường chết là hết. Nhưng với người anh hùng cái chết sẽ hóa thành bất tử. Họ sẽ sống mãi với non sông, sống mãi trong lòng dân tộc. Ông Trực chính là một con người như vậy”. – “Tôi cũng có may mắn được gặp ông Trực nhiều lần trước khi đánh thành Sơn Đá. Đó là những kỷ niệm không bao giờ quên về một con người trung hiếu vẹn cả đôi đường”. – Ông Thuyên thở dài. Cả hai ông ngồi trầm ngâm buồn bã sau khi nhắc đến Nguyễn Trung Trực ở gian thảo bạc của nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt trước ngày ông Trực thọ án chém ở sân chợ Rạch Giá...

                Trong nhà giam ở Rạch Giá. Trực cổ đeo gông, chân bị xiềng như ở khám lớn Sài Gòn. Chàng ung dung đón nhận cái chết với thái độ hết sức bình tĩnh. Có tiếng giày đinh và sau đó cánh cửa sắt nhà giam mở. Một viên sĩ quan Pháp cùng người phiên dịch là Chôm và hai người lính khác bước vào. Họ chào Trực với thái độ kính trọng thật sự. Viên sĩ quan nói, Chôm dịch: – “Hôm nay bản án sẽ được thi hành. Trong giờ phút này ông được ưu tiên bày tỏ nguyện vọng của mình và sẽ được chấp nhận vô điều kiện”. – “Tôi mong được mấy điều: Một là, các ông cho dân chúng đến pháp trường để tôi được nói lời chào họ, những người tôi yêu quý nhứt. Hai là, tôi được mặc quốc phục Việt Nam khăn đóng áo dài màu đen, đó là thứ người dân Nam chỉ dùng mặc trong những ngày lễ hội lớn của dân tộc. Chỉ có vậy thôi” – Trực nói. Viên sĩ quan trả lời ngay: – “Nguyện vọng của ông sẽ được đáp ứng đầy đủ vào sáng mai. Xin chào ông”. Viên sĩ quan giơ tay chào rồi tất cả quay ra. Riêng Chôm dừng lại hỏi: – “Ông muốn nhắn gởi gì thêm không?”. Trực lắc đầu: – “Cám ơn anh. Tôi không có gì để nói nữa”. Cánh cửa nhà giam khép lại nặng nề.

                 Trong gian nhà lá lụp xụp ở ngoại ô thị xã Rạch Giá. Một người đàn ông khoảng ngoài hai mươi tuổi – người Miên say rượu nằm trên chiếc chõng tre chân tay buông thõng, chỉ mặc cái quần xà lỏn và chiếc áo bà ba rách, ngủ ngon lành. Một viên cai với tên lính đi vào: – “Bòn Tưa! Bòn Tưa! Trưa rồi còn ngủ hả?”. Người Miên tên Tưa đó chỉ “à, à” một tiếng rồi trở mình ngủ tiếp khiến viên cai bực dọc nói với người lính: – “Cái thằng sâu rượu này kêu nó không nghe. Mày kéo giò coi nó có dậy không?”. Anh lính bước tới nhéo mạnh vào bắp đùi khiến Tưa đau quá, mở mắt chửi thề: – “Dớ, đ.m thằng nào nhéo đau quá bây!”. Chợt nhìn rõ thấy hai người lính, Tưa bật dậy xin lỗi rối rít: – “Dớ, đang ngủ không biết thằng nào nhéo đau chửi bậy, không dè hai thầy. Cho tui xin lỗi nghe!”. – “Lỗi phải gì – viên cai nói – Nè bòn Tưa, có chuyện cho bòn làm rồi đó!”. – “Chuyện gì thầy cai?” – Tưa hỏi. – “Bòn thì có chuyện gì khác đâu, ngoài cái việc chém đầu tử tù” – Viên cai nói. – “Dớ, chém ai vậy thầy cai?” – Bòn Tưa lúc này đã tỉnh rượu hẳn, hỏi. – “Chém đầu ông Nguyễn Trung Trực” – viên cai nói. – “Dớ, thôi thôi.... Cho con lạy các thầy, tha cho con cái chuyện này đi. Con không dám chém ổng đâu” – Tưa từ chối đây đẩy. – “Bòn không dám chém thì ai chém?” – viên cai có vẻ bực dọc hỏi. – “Dớ, thì có mấy ông lính của thầy cai đó!” – Tưa nói. – “Không có thằng nào chịu hết nên tao mới tìm đến mầy – viên cai thấy nóng mặt với sự từ chối của tên đao phủ nát rượu nghèo xơ xác này, nên “mày tao” luôn, không gọi “bòn” lịch sự nữa. Viên cai nói tiếp – “Bây giờ mày có chịu làm không. Nếu không thì đi tù. Tùy mày chọn. À, lần này mày chém quan lớn sẽ thưởng khá hơn lần trước đó. Sao, nói đi. Bọn tao không có thì giờ”. – “Dớ, thầy cai nói không chém thì ở tù, tui sợ ở tù lắm” – Tưa nhăn nhó nói. – “Vậy mày chịu rồi phải không? Sáng mai làm rồi đó, nghe chưa? Tiền thưởng ứng trước đây”. Viên cai móc lấy quan tiền đưa cho Tưa rồi đi ra, mặc cho Tưa ngồi thừ ra trên chiếc chõng tre ọp ẹp...

                Sáng hôm sau. Mặt trời chưa lên đến ngọn cây. Đông đảo dân chúng Rạch Giá đã kéo đến sân rộng trước chợ Rạch Giá, nơi có cây đa to sẽ là pháp trường. Từ trước cửa nhà giam, không biết tự bao giờ đồng bào Tà Niên đã trải chiếu bông dài theo đường đi ra đến pháp trường. Hầu hết bọn lính Pháp lẫn mã tà được huy động canh gác các nẻo đường vào chợ Rạch Giá và bao quanh sân chợ để đề phòng bất trắc.

    Trực áo dài khăn đóng đen cổ đeo gông, tay bị xích, ung dung đi giữa hai tên lính súng lăm lăm trong tay. Chàng hoàn toàn bất ngờ khi thấy chiếu bông được trải dài từ nhà giam đến sân chợ. Đây nhất định là chiếu của bà con ở Tà Niên tiễn đưa chàng lần cuối đi vào cõi vĩnh hằng. Chàng đưa mắt nhìn đồng bào đứng chật hai bên đường, và bất chợt chàng thấy ông Thuyên đứng bên cạnh cụ Đạt, cả hai cùng mặc áo dài khăn đóng trắng. Mà không riêng hai ông, hầu hết đồng bào đều mặc lễ phục và nhiều vành khăn trắng trên đầu. Điều đó làm cho chàng hết sức xúc động. Nhân dân Rạch Giá đã để tang chàng bất chấp mũi súng của kẻ thù cứ vài thước đã có một tên đứng gác, súng lăm lăm trong tay. Đôi mắt chàng bỗng có chút sững sờ khi nhìn thấy cô Đỏ đứng núp sau bà má Năm ở Hòn Chông và gần bên đó là chú bé Tâm đứng cạnh Hai Nhường, lúc này râu tóc để dài như một lão nông… rồi đến vợ chồng cai Tèo – Thắm, vợ chồng Sáu Nhỏ – Út Hết… Họ nhìn chàng với ánh mắt kính trọng và thương tiếc… Chàng biết họ bất chấp hiểm nguy, đến đây để tiễn đưa chàng lần cuối. Chàng khẽ mỉm cười khi thấy họ. Nụ cười đó như một lời nhắn nhủ họ rằng chàng đã làm tròn bổn phận với dân, với nước không có điều gì ân hận lúc sắp từ giã cuộc đời. Gánh nặng giải phóng giang sơn khỏi ách nô lệ giờ đã thuộc về họ và lớp con cháu mai sau… Chàng vẫn bước đi, những bước đi thong dong như một cuộc dạo chơi lần chót của người vừa hoàn thành nhiệm vụ, ung dung, bình tĩnh của người chiến thắng, trong khi lũ giặc với súng ống trong tay, nhưng vẻ mặt đầy vẻ căng thẳng như sắp sửa lao vào trận đánh... Chàng đã đến bên bục đất đắp cao hơn mặt đất một chút, nơi đó địch đã đóng một cái cọc gỗ dành cho tử tội. Hai hàng lính Pháp đứng vây quanh, súng gắn lê sáng quắc và không hiểu sao, chúng đều mặc quân phục mới như đi duyệt binh dự lễ. Một viên sĩ quan đến trước mặt Trực giơ tay chào rồi hỏi: – “Ông có yêu cầu gì lần cuối cùng này không?”. – “Tôi muốn uống trái dừa tươi, trước khi có đôi lời với đồng bào tôi”. Tên sĩ quan gật đầu: – “Đồng ý!”. Rồi hắn nói tiếp: – “Hãy tháo gông và xích cho ông ta!”. Hai tên lính bước tới tháo gông, xích cho Trực. Một tên lính bưng trái dừa xiêm vừa vạt xong dùng hai tay kính cẩn đưa cho Trực. Chàng đỡ lấy uống một hơi rồi nói “Cám ơn!” trước khi trả lại cho tên lính.

                Sau đó, Trực bước hẳn lên bục đất nhìn nhân dân Rạch Giá đứng chung quanh nói lớn:

                “Kính thưa bà con,

           “Cách đây mấy trăm năm, cụ Ức Trai Nguyễn Trãi thời hậu Lê có nói: “Vận nước có lúc thịnh lúc suy, nhưng hào kiệt thời nào cũng có”.

            “Nước Nam ta đang hồi vận bĩ nên lâm vào cảnh nước mất nhà tan. Bao nhiêu anh hùng nghĩa sĩ đã đứng lên chiến đấu để cứu nước cứu nhà, nhưng có lẽ do mệnh trời đã định, nên khiến cho mọi cuộc chiến đấu đều thất bại, họ đành ngậm hờn nơi chín suối. Nhưng càn khôn bĩ rồi lại thái, nhựt nguyệt mờ rồi lại tỏ. Nước Nam ta nhứt định sẽ có ngày lớp lớp cháu con đứng lên đánh đuổi kẻ thù, giành lại non sông đất nước. Đó là một điều tôi tin chắc như vậy. Bởi vì người dân Nam ta mang dòng máu Lạc Hồng, không bao giờ cúi đầu khuất phục trước kẻ thù, đời cha chưa đánh được thì đời con, đời cháu sẽ tiếp tục đánh đến khi nào đuổi được giặc mới thôi. Tôi có thể nói rằng “chừng nào cỏ nước Nam này hết mọc thì mới hết người Nam chống người Tây!”.

           “Kính thưa bà con,

    “Tôi xin đọc bài thơ bày tỏ tâm sự của tôi gởi lại bà con, những người đã cưu mang đùm bọc giúp đỡ tôi và anh em nghĩa quân trong những lúc khó khăn gian khổ, tôi mang nặng ơn này về nơi chín suối”.

     Ngừng một lúc, Trực lấy giọng ngâm sang sảng:

    Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên

    Yêu gian đảm khí hữu long tuyền

    Anh hùng nhược ngộ vô dung địa

    Bảo hận thâm cừu bất đái thiên!

                Ngâm thơ xong, chàng giơ hai tay lên trời nói lời cuối cùng: – “Một lần nữa xin cám ơn đồng bào đã đến tiễn biệt tôi. Xin vĩnh biệt!”. Chàng nói xong quay lại nói với bòn Tưa: – “Nào, tới lúc mày hành động rồi đó!”. Tưa vội sụp xuống lạy Trực: – “Con xin ông tha tội cho con, vì nghèo quá, nên con phải làm cái chuyện thất đức nầy...”. – “Mày có tội gì mà xin tao tha, mày chỉ thi hành lịnh của bọn Tây– Trực nhìn bọn lính Pháp đứng gần đó nói tiếp: – Chính bọn đó mới có tội – rồi chàng mỉm cười – Còn mày phải chém một nhát cho thật tốt, nếu không tao vặn họng mày à! Nghe chưa?”. Trực vừa nói vừa chỉ vào bọn quan lính Pháp đứng vây quanh với đôi mắt rực sáng căm thù khiến bọn quan lính hết sức run sợ quay mặt đi chỗ khác.

    Tên đao phủ lạy xong ba lạy mới lóp ngóp lượm cây gươm mà nước mắt chảy ròng ròng, Trực quỳ xuống, lấy tay vén tóc sau gáy lên cho gọn rồi thét lớn ra lệnh: – “Chém đi!”. Tiếng thét làm tên đao phủ giật nẩy người, vội cầm lấy thanh gươm nhắm mắt dồn hết sức chém xuống một nhát thật mạnh. Đầu Trực rớt ra. Ôi kỳ lạ thay, hai tay chàng nhanh như chớp, đã giữ chặt lấy đầu đặt lại trên cổ rồi mới từ từ gục ngã… Tên đao phủ sợ quá rú lên một tiếng khủng khiếp, quăng gươm, ù té chạy ra khỏi pháp trường. Ở phía dân chúng có tiếng gào khóc nức nở. Có mấy cụ già quá xúc động ngã ra bất tỉnh. Hai Nhường lặng lẽ lấy con dao găm nhọn sắc, đâm mạnh vào ngực rồi gục xuống khiến chú bé Tâm hốt hoảng đỡ dậy, nhưng Hai Nhường chỉ thều thào mấy lời cuối cùng: – “Em ở lại, anh theo anh Hai đây...” rồi gục hẳn trong vòng tay bé Tâm...

                Hôm đó là ngày 25-10-1868 (nhằm 28 tháng 8 âm lịch) kết thúc cuộc đời oanh liệt của người anh hùng dân chài khi Người vừa tròn 30 tuổi (1838 – 1868) để lại mai sau tấm gương trung – hiếu – tiết – nghĩa, sống mãi muôn đời!

    Ngày 30-9-2010

    Dương Linh

    Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.

    www.trieuxuan.info

    Mục lục: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 26

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,091,834

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/