Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập42,812,510

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Những bài báo

Nhà văn thời tin học

Nguyễn Hòa

  • Thứ tư, 22:57 Ngày 06/07/2011
  • Rằng hay thì thật là hay…!

    Mới đây, một cuộc Hội thảo về chế độ chính sách đối với các Giáo sư (GS), Phó giáo sư (PGS) vừa được tổ chức tại Hà Nội. Theo các ý kiến tại Hội thảo thì đây là một vấn đề rất bức xúc, có vị cho rằng “nếu không cải thiện chế độ chính sách cho đội ngũ này thì 5 năm nữa “tinh hoa” của giáo dục đại học nước nhà cũng chẳng còn và lớp trẻ nhìn thấy thì “hãi” và không còn hoài bão làm GS nữa”(1) và “Chính vì vậy, một số người giỏi đã đi nghiên cứu thuê, làm thuê cho nước ngoài, thậm chí phát sinh tiêu cực như thầy thì viết thuê luận án, thí sinh đi thi thì thậm thụt mua thầy, mua giám khảo”. Thiết nghĩ hôm nay không có ai lại nghĩ đến việc “bàn lùi” trong chính sách đãi ngộ đối với những người lao động trí óc, vì chúng ta đang sống trong thời đại mà tri thức đã và đang thực sự trở thành, đã và đang thực sự chứng tỏ là một bộ phận quan trọng trong lực lượng sản xuất của xã hội. Nhưng qua cung cách một số vị phát biểu tại Hội thảo lại thấy người ta mới chỉ chú ý hô to “hãy quan tâm đến tôi” mà chưa mấy ai chú ý chứng minh “tôi là ai?”, tôi có thật sự là “tinh hoa của giáo dục đại học nước nhà” hay không? Bởi có một điều hiển nhiên là vấn đề phải được đặt trên cơ sở nguyên tắc “hưởng theo lao động” chứ không thể bị chi phối bởi logich mang màu sắc “công thần tầm gửi” rằng: chúng tôi là “tinh hoa” vậy phải quan tâm tới chúng tôi. Mặt khác, “tinh hoa” hay không, “tinh hoa” đến mức độ nào là do hiệu quả công việc, do sự thừa nhận của xã hội… chứ đâu phải cứ tự huyễn hoặc là “tinh hoa” thì xã hội phải mặc nhiên thừa nhận là “tinh hoa”!

    Không hiểu suy tính thế nào mà tại Hội thảo, một vị GS lại phàn nàn rằng “mỗi giờ lên lớp… chỉ được trả vài chục nghìn” và còn so sánh “tiền lương tột đỉnh của GS Việt Nam (2.059.000 đồng - NH)… chỉ tương đương với lương thuê bảo vệ của một công ty nước ngoài tại Hà Nội” nhỉ? Vẫn biết mọi so sánh đều khập khiễng, song nếu so sánh chỉ dựa trên những con số, không tính đến các điều kiện ràng buộc thì sự khập khiễng sẽ biến thành sự khôi hài. Nói cách khác, chỉ nhìn vào mức lương cao ở công ty nước ngoài mà bỏ qua những chế tài nghiêm ngặt sẽ đưa đến một kết luận tư biện. Làm việc ở công ty nước ngoài, người ta có những đòi hỏi rất cao về thái độ lao động, về chất lượng công việc, chất lượng sản phẩm… Người ta không trả lương cao cho một bảo vệ chỉ để anh ta ngồi chơi xơi nước và ngoài việc mỗi tháng phải làm đủ số ngày đã ký trong hợp đồng để được lĩnh một khoản lương, mỗi giờ làm việc của anh bảo vệ đâu có kiếm thêm được vài chục nghìn để tăng thu nhập. Điều này hoàn toàn khác biệt so với một số vị GS, PGS khả kính dù giảng dạy hay không giảng dạy, nghiên cứu hay không nghiên cứu, có công trình công bố hay không có công trình công bố… vẫn cứ nhận lương đều đều. Khôi hài hơn khi thấy tại Hội thảo có vị lại đề xuất một tính toán thật chi ly và giản dị: “đưa mức lương bình quân hàng tháng của GS chuyên làm giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học lên 7 triệu đồng, tương đương với 500 USD… với khoảng 2.000 GS hiện nay, Nhà nước phải chi 12 triệu USD hàng năm vẫn là quá rẻ”(!). Đó là chưa kể tới các ý kiến đại loại như “GS gì mà khổ quá, đi họp bằng xe ôm, hoặc con cho tiền đi taxi”, hoặc các đề xuất: nên có chế độ cung cấp ôtô con hoặc chế độ đi máy bay cho các GS, PGS khi đi công tác, hàng năm nhà nước cần cho mỗi GS một khoản kinh phí nhất định khoảng 50 triệu đồng để tổ chức đào tạo và nghiên cứu, cần cấp một khoản kinh phí hàng tháng để mua tạp chí và báo chí chuyên ngành… Và không biết có phải là “bất bình thường” khi có vị đề cập tới cả chế độ ma chay, an táng khi GS qua đời và lấy tên GS đặt cho phố xá (!)? Khiếp quá, toàn là những ưu đãi cỡ VIP cả, cứ làm như phải có các điều kiện này thì công việc nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học của nước nhà mới có cơ phát triển vậy. Thiển nghĩ, hình như một số ý kiến tại Hội thảo đã quên mất rằng thời bao cấp đã bị bỏ qua hơn chục năm rồi và có lẽ do lâu ngày nên các vị cũng không còn nhớ cái bằng TS (một trong những tiêu chuẩn xét chức danh GS và PGS) các vị có được trước hết là từ kinh phí của nhân dân, của nhà nước bỏ ra!? Lại nghĩ ngược về hơn nửa thế kỷ trước, GS Trần Đại Nghĩa tận dụng mấy cái ống nước lại chế ra được súng Bazoka, GS Đặng Văn Ngữ cặm cụi trên chiến khu Việt Bắc gian khổ mà sản xuất được Peniciline… Rồi nữa là GS Trần Đức Thảo, PGS Từ Chi, GS Trần Đình Hượu, GS Nguyễn Hồng Phong, PGS Nguyễn Văn Nghĩa… Các ông đã có những kết quả nghiên cứu, giảng dạy thật sự hữu dụng và đáng vì nể, nhưng không thấy sinh thời các ông quan tâm tới chế độ cung cấp ôtô con, tới việc sau khi qua đời có ai lấy tên mình đặt cho một đường phố nào đó hay không. Các GS kể trên là những người thực học và có thực tài, các ông được giới khoa học chuyên ngành, được xã hội thừa nhận cả về tài năng, đức độ lẫn nhiệt huyết nghề nghiệp. Kế tục các ông, trong hàng ngũ các GS, PGS hôm nay có nhiều người thật sự là “tinh hoa” cần phải kính trọng, tuy nhiên cần lưu ý rằng, họ thường là những con người khiêm nhường, không đòi hỏi, không khoa trương, không có khoái cảm phát hành cardvisit một cách tràn lan. Còn lại, liệu có phải vị GS và PGS nào cũng thật sự là “tinh hoa của giáo dục đại học nước nhà”? Để trả lời, xin không bàn về những hiện tượng “thú vị” khác, chỉ xin phác hoạ một số biểu hiện.

    Gần đây, mở đầu chương I của cuốn Cơ sở triết học của văn hoá nghệ thuật Việt Nam do một vị GS TS chủ biên, người ta viết: “Văn hoá cũng như nghệ thuật là một lĩnh vực rộng lớn, chúng bao gồm toàn bộ các quan hệ của con người, do con người tạo ra và trở thành sản phẩm thúc đẩy các hoạt động của con người”(2). Chỉ một nhận định này thôi cũng đã bộc lộ sự hời hợt và tùy tiện mà lẽ ra một GS TS không thể mắc phải, ít nhất cũng ở các nội dung: Một là, nhìn văn hoá theo nghĩa rộng hay theo nghĩa hẹp thì bao giờ nghệ thuật cũng vẫn được xem là một bộ phận cấu thành của văn hoá, viết như vị GS TS này là đồng nhất văn hoá (cái toàn thể) với nghệ thuật (cái bộ phận); mặt khác, nếu văn hoá và nghệ thuật đều “rộng lớn”, đều “bao gồm”, đều “tạo ra”, đều “trở thành sản phẩm thúc đẩy các hoạt động của con người” y hệt như nhau thì không cần phải sử dụng tới hai khái niệm “văn hoá” và “nghệ thuật” cho rối rắm, phải chăng đây là sản phẩm của lối nghiên cứu “biến những điều đơn giản thành những điều phức tạp”? Hai là, người ta đã đưa ra một nhận định không chính xác về văn hoá và nghệ thuật, bởi không thể coi “chúng bao gồm toàn bộ các quan hệ của con người”. Trong thực tế và cả trong khoa học, cái được coi là “bao gồm toàn bộ các quan hệ của con người” là xã hội (xin nhấn mạnh - NH) chứ không phải là văn hoá hay nghệ thuật! Dẫn nhập vào công trình đã lơ mơ như vậy thì việc sử dụng tùm lum, không giới thuyết các khái niệm “văn hoá nghệ thuật”, “văn hoá và nghệ thuật”, “văn hoá văn nghệ”… trong cuốn sách là không tránh khỏi. Ngạc nhiên hơn, trong Lời giới thiệu của cuốn sách, một vị PGS TS khác lại hy vọng cuốn sách là tài liệu tham khảo “bổ ích” thì kinh thật!

    Lại nhớ thời sách vở tài liệu còn khan hiếm một PGS TS vớ được cuốn sách của nước ngoài liền nhanh chóng tận dụng để giảng dạy, đăng báo làm công chúng lác cả mắt về sự uyên thâm, khi cuốn sách được người khác dịch và xuất bản thì ông mất luôn “cần câu cơm” và hơn mười năm nay “tinh hoa” không thấy phát tiết, vì ông lặn một hơi không thấy sủi tăm. Rồi một PGS TS giảng dạy hẳn 7 bộ môn để người học chơi chữ gọi là “PGS thất học”, một PGS TS vừa hướng dẫn nghiên cứu sinh triết học vừa hành nghề thầy bói, một vị PGS TS trong buổi kiểm tra ngoại ngữ đọc vanh vách một bài người khác soạn giúp đến khi giám khảo hỏi lại ông không biết trả lời như thế nào đành thoái thác với lý do “tai nghễnh ngãng”… Nghĩa là đã và đang tồn tại những hiện tượng mà kẻ viết bài này khi nghe giảng, khi đọc, khi tiếp xúc đã không tin rằng đó là sản phẩm hay hành vi của một GS, một PGS. Nếu họ thật sự là “tinh hoa của giáo dục đại học nước nhà” thì phải chăng “giáo dục đại học nước nhà” đang có vấn đề cần xem xét lại?

    Xã hội đã phát triển, những điều kiện vật chất cho nghiên cứu và giảng dạy cũng cần phải phát triển theo - đó là một tất yếu khách quan, nhưng dẫu thế nào thì tính mục đích, tính hiệu quả, tinh thần lao động nghiêm túc… trong nghiên cứu và giảng dạy cũng không vì thế mà thay đổi. Vậy nên, trước khi đưa ra những kiến nghị về sự quan tâm của xã hội thì mỗi con người, mỗi nghề nghiệp cần xem xét một cách khách quan, nghiêm khắc về chính mình và nghề nghiệp của mình. Không phản đối sự đãi ngộ thoả đáng đối với những người lao động trí óc, nhưng thiết nghĩ sự đãi ngộ phải có quy định chế tài, phải được đặt trong quan hệ với tính hiệu quả, với thái độ lao động, với điều kiện kinh tế - xã hội chung... để chế độ chính sách đối với các GS, PGS luôn được đặt trong những ràng buộc về chất lượng chuyên môn và phẩm cách. Trước hết muốn làm được điều đó, kẻ viết bài này xin mạo muội đề xuất một ý tưởng: Thử triển khai một biện pháp “sốc” bằng cách nghiêm cẩn kiểm tra trình độ ngoại ngữ (một trong các tiêu chuẩn xét chức danh GS và PGS) của toàn bộ các GS, PGS. Và tôi tin sẽ xảy ra không ít chuyện bi hài đủ để chứng minh “rằng hay thì thật là hay…”!

    -----------------------

    1. Những đoạn trích trong bài được sử dụng theo: Lương tột đỉnh của một giáo sư chỉ bằng lương thuê một bảo vệ (báo Thanh niên - số 118, ra ngày 28.4.2003) và Giáo sư “ngồi chiếu dưới” trưởng phòng, ca sĩ, bảo vệ (Vietnamnet - Giáo dục - Vấn đề, 7h24 ngày 28.4.2003).

    2. Cơ sở triết học của văn hoá nghệ thuật Việt Nam, Viện Văn hoá và NXB Văn hoá - Thông tin, H.2002, tr.9.

     

    350 USD và 500 USD…!

    Đọc các bài báo về Hội thảo, tôi nhận ra các ý kiến “tố khổ” tiếp tục được trình bày, đại loại: lương GS, PGS ở Việt Nam quá thấp, không bằng các nước trong khu vực; GS, PGS không có phòng làm việc riêng, thiếu phương tiện thông tin, sách báo, máy tính, ít được đi nước ngoài tham quan; phải đi làm bằng xe máy, xe ôm, xe đạp, xe buýt… Tóm lại là xem chừng cuộc sống của GS, PGS ở Việt Nam khá bần hàn, nên phải có thang lương riêng, như với GS thì 500 USD/tháng, với PGS thì 350 USD/tháng (tức là khoảng 5,6 triệu đồng đến 8 triệu đồng/tháng - tương đương với niềm khao khát của ít nhất cũng là vài chục triệu người Việt Nam hiện tại). Điều này làm tôi liên tưởng tới hàng dãy các ngôi nhà ba bốn tầng, trát sơn quét vôi sáng loáng trong khu tập thể của một số trường đại học, viện nghiên cứu và thấy thương cảm thay cho mấy nghìn con người từng được chương trình Thời sự của Đài THVN tối 15.7.2005 khẳng định là: “nguồn tài nguyên vô tận của đất nước”! Cũng tại Hội thảo, lại có những vấn đề khiến người ta không thể không băn khoăn. Nếu ngày nọ GS Hoàng Tụy nói: “khi một GS, PGS tỏ ra không xứng đáng… thì cũng nên bãi nhiệm. Có điều là nếu thực hiện đúng biện pháp này thì phải thu hồi cả chức danh của những vị không xứng đáng, như thế có thể đến 1/3 số GS, PGS của ta bị thu hồi chức danh”, thì lần này. GS Đỗ Trần Cát nhận xét: “Phải công nhận nhiều GS, PGS họ làm việc không nghiêm chỉnh”(1). Và theo kết quả một cuộc điều tra công bố thì có quãng 30% GS, PGS không dùng vi tính, gần một nửa không sử dụng internet. Với các GS, PGS tuổi tác đã cao khó tiếp cận với công nghệ thông tin đã ra một nhẽ, nhưng với các vị còn trẻ thì biết nói sao đây. Hơn nữa, liệu tuổi tác có phải là yếu tố quyết định khi chính mắt tôi từng thấy một PGS tuổi đã 80 mà vẫn ngồi “gõ” vi tính nhoay nhoáy!?

    Chúng ta đang sống trong một thời đại mà tri thức đã và đang thực sự được khẳng định là bộ phận quan trọng trong lực lượng sản xuất của xã hội. Nhưng khi bàn tới sự đãi ngộ trí thức, lại thấy một số vị quá quan tâm tới quyền lợi, ít chú ý chứng minh họ có thật sự là những con chim đầu đàn của một ngành khoa học nào đó hay chưa. Thời bao cấp đã qua từ lâu rồi, hiển nhiên vấn đề phải được đặt trên cơ sở của nguyên tắc “hưởng theo lao động” chứ không thể bị chi phối bởi logich: GS, PGS là “lực lượng tiêu biểu đồng thời là đội ngũ chủ chốt, quan trọng trong đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao của đất nước”(1) thì phải được Nhà nước quan tâm. Mặt khác, “tiêu biểu” hay không, “tiêu biểu” đến mức độ nào là do hiệu quả công việc, do sự thừa nhận của đồng nghiệp, của xã hội…, đâu phải cứ tự huyễn hoặc là “tiêu biểu” thì Nhà nước mặc nhiên phải đãi ngộ!

    Do công việc chuyên môn, và một phần cũng do tò mò, tôi đã đọc kha khá công trình nghiên cứu cùng tiểu luận khoa học thuộc các ngành Văn hóa học, Văn học, Dân tộc học…, trong đó có công trình, tiểu luận của một vài vị GS, PGS chủ yếu là “đạo văn”, chủ yếu là “mông má”, “thâm canh”, có những công trình theo tôi là hoàn toàn không có giá trị. Trong một số trường hợp, đọc xong tôi tự hỏi nếu trình độ, năng lực chỉ đến mức đó thì có nên nhận một chức danh. Chẳng thế mà gần đây tại hội nghị tổng kết của trường Đại học X tổ chức tại Cửa Lò, đánh giá các yếu kém của công tác nghiên cứu, người ta đã phải đưa ra một nhận xét khá tế nhị và lịch lãm rằng có: “Tình trạng tái xuất công trình trong các đề tài khoa học”! Nên thấy các bậc đàn anh trong nghề đã “xào xáo” một cách tài hoa, một ông cũng nhanh nhảu học theo. Năm trước ông nhận công trình nghiên cứu “Truyện ngắn Việt Nam từ năm 1975 đến nay”, tác phẩm khảo sát gần nhất là năm 2004. Hoàn thành công trình, lĩnh 20 triệu đồng, mới đây ông tiếp tục đăng kí đề tài có tên gọi “Truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến 2005” quãng 60 triệu đồng. Rồi khi giảng bài mới ghê, ai đời một GS TS giảng về Kitô giáo lại đưa ra tín điều “tam vị nhất thê” và giải thích: “tam vị” gồm Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, Thánh thần, “nhất thê” nghĩa là một vợ; “tam vị nhất thê” nghĩa là ba ông lấy chung một vợ! Nhớ hơn chục năm trước, tôi đã kiên quyết rút phần biên soạn của mình trong một giáo trình Đạo đức học chỉ bởi vị PGS TS chủ biên kiên quyết định nghĩa: “Đạo đức học (hay Đạo đức học Quân sự) là khoa học…”, tức là ông đánh đồng Đạo đức học nói chung với Đạo đức học Quân sự nói riêng. Rồi cũng do công việc, tôi từng phê bình, chỉ ra các hạn chế cốt tử trong công trình nghiên cứu của một số vị GS, PGS. Rất tiếc là các vị giữ thái độ im lặng, chưa thấy vị nào lên tiếng bảo vệ “đứa con tinh thần” của họ, làm cho tôi phải nghi ngờ cả chính mình: Phải chăng tôi đã phê bình “sai”!

    Theo tôi, nếu các sản phẩm nghiên cứu của các GS, PGS thật sự hữu ích đối với sự phát triển thì 350 USD/tháng, 500 USD/tháng hoặc hơn thế nữa cũng không có gì phải bàn, đất nước tuy nghèo nhưng có lẽ không ai “sót ruột” khi phải chi phí cho nghiên cứu khoa học. Trí tuệ đích thực là vô giá, một phát minh khoa học được áp dụng hiệu quả trong thực tế thì không thể quy ra tiền. Song sự đãi ngộ cần thiết phải đi cùng với các biện pháp chế tài, thậm chí tước bỏ chức danh nếu nó “hữu danh vô thực”. Muốn vậy Nhà nước thử tiến hành thẩm định các văn bằng chứng chỉ, các công trình nghiên cứu trong hồ sơ phong chức danh xem sao, nếu đó là một công việc quá lớn thì tạm thời thẩm định về ngoại ngữ chẳng hạn. Tôi tin nếu việc này được tiến hành nghiêm túc, giám sát chặt chẽ, có sự chứng kiến của báo chí… sẽ có không ít GS, PGS tự giác trả lại chức danh. Vấn đề là các cơ quan hữu quan có đủ can đảm và bản lĩnh để tiến hành hay khô

     

    Nhà văn thời tin học

    Mới đây đọc báo, tôi thật sự kính nể khi thấy ở bên Trung Hoa người ta bán đấu giá một bức thư viết tay của Quánh Mạt Nhược, mỏng mảnh ngót chục trang nhưng giá quãng 1 vạn tệ. Nghĩ đi thì thế, nghĩ lại thì cũng phải thôi. Hơn ba mươi năm trước, vào thời cả miền Bắc mới có một hai chiếc máy tính điện tử, không phải người nào cũng có may mắn được đến ngôi nhà trên phố Trần Hưng Đạo - Hà Nội, để rón rén bước theo hàng dọc, thành kính liếc nhìn khối máy nặng năm bảy tấn, nhấp nháy ánh đèn, có khả năng làm hàng triệu phép tính trong một giây. Liếc mà kinh ngạc, liếc mà thán phục... Rồi hôm nay, trong khi đa số công dân nước Việt chưa có may mắn được “liếc” cỗ máy hôm nào thì khối người đã kịp bê về nhà một cái hộp nhỏ nhắn, xinh đẹp, nặng vài kilôgam nhưng lại có những khả năng vượt xa “cụ tổ” của nó ngày trước. Từ đó, khi gia đình có một chiếc máy vi tính e thẹn đứng ở góc nhà, hay nằm gọn lỏn trong chiếc cặp khoác vai thì nhu cầu cầm bút hí húi trước bàn viết của nhiều nhà văn cũng dần dần trở nên diệu vợi. Sau mấy nghìn năm, dường như quá trình hoàn thiện công cụ viết lách của các nhà văn đã hoàn thành. Từ bút lông đên "bút ta", bút máy, bút bi rồi tới bàn phím máy vi tính là cả một chặng đường dài, nhưng nó đến quá nhanh, đến mức nhiều người vẫn chưa bỏ được thói quen khi kết thúc mỗi bức mail bằng mấy chữ "Xin dừng bút ở đây!" mà quên rằng lẽ ra phải viết: "Xin dừng bàn phím ở đây!".

    Viết văn trên máy vi tính, làm thơ trên máy vi tính. Viết xong chỉ việc gửi tác phẩm tới tòa soạn, tới nhà xuất bản qua đường email rồi rung đùi ngồi nhà chờ tác phẩm in ra và người ta báo đến lấy nhuận bút. Vậy là công nghệ tin học đã cung cấp cho các nhà văn các phương tiện cực kỳ hữu hiệu trong việc viết văn. Đấy là chưa nói bác nào đã lập tài khoản cá nhân thì quy trình hoàn toàn khép kín, nhuận bút được gửi thẳng đến ngân hàng, chỉ việc rút tiền rủ nhau đi... uống bia. Vì thế hiện tại nhiều nhà văn nhà thơ chỉ còn sử dụng đến cây bút vào dịp... ký nhuận bút và lĩnh lương! Mọi thứ đã có "máy" làm thay. Sướng thật. Cứ đà này, với nhà văn nhà thơ nổi tiếng, có khi người ta chỉ đấu giá được mỗi cái chữ ký.

    Thật ra, với nhiều nhà văn nhà thơ xứ ta, máy vi tính mới chỉ làm được có một việc là thay thế chiếc "đả tự cơ" tuổi thọ cỡ vài thập niên, bộ chữ mòn vẹt, gõ - quay loạch xoạch. Bác nào trình độ nhỉnh hơn tý chút thì "meo" qua "meo" lại với các tòa soạn và bạn bè, còn ai tò mò thì thi thoảng lại vào mấy website xem tin tức. Và có lẽ bởi là nhà văn nhà thơ nên cách đặt tên cho email của nhiều bác xem ra rất "trữ tình". Hiện tại tôi đã lưu giữ được khá nhiều email của các nhà văn nhà thơ có tên rất đặc biệt, tỷ như: matbiec.. (mắt biếc?), nuidoi... (núi đôi?), nganvang... (không biết là ngàn vàng, ngân vang hay... ngan vàng?), photovidai... (phô tô vĩ đại?), scarlert... (hình như là tên nhân vật chính trong Cuốn theo chiều gió)... Tuy nhiên theo tôi, email của bác X là có tên "kinh hoàng" nhất: chuongga... (chuồng gà?)! Lại nữa, chỉ có mấy công việc xung quanh chiếc máy vi tính mà nhiều khi cũng buồn cười. Tôi có hai ông bạn là HS và TT đều là dân văn chương, hai ông này được tôi đặt tên là "bác sổ xanh" và "bác sổ nâu". Chẳng là đến nhà hai bác, tôi thấy có sự trùng hợp kỳ lạ, mỗi khi khởi động máy vi tính, thì bác TH giở một cuốn sổ xanh, bác ĐT lấy một cuốn sổ nâu kê lên đầu gối, miệng lẩm nhẩm, tay tiến hành các thao tác theo hướng dẫn đã được ghi chép cẩn thận trong sổ. Một lần thấy quá mất thời gian, tôi nhanh nhảu thò tay: "Anh để em!", liền bị "bác sổ xanh" gạt phắt. Lần khác, "bác sổ nâu" mail đến cho tôi một bài viết, bác gửi đến ba lần mà tôi vẫn chưa nhận được, đến lần thứ tư thì bác gọi điện thoại nói kháy: "Máy của anh "cực xịn", máy của chú hỏng thì có!". Tức mình, tôi phóng đến nhà bác. Lại thấy bác TT kê cuốn sổ nâu lên đầu gối, lại thấy bác dò dẫm từng bước theo hướng dẫn. Loay hoay mãi mà mở email của mình, tôi vẫn không nhận được bài. Mạn phép bác xin cho ngồi vào kiểm tra, lát sau đứng dậy, tôi đề xuất ý kiến:

    - Anh đi mua lấy lít dầu Tường An! "Bác sổ nâu" hỏi:

    - Để làm gì? Tôi trả lời:

    - Để rán virus. Máy của bác đang bị "sốt virus"!

    Riêng nhà văn DS thì tôi có một kỷ niệm khá vui. Chẳng là có lần tạp chí nơi tôi làm việc chuẩn bị đăng một bài của bác, là chỗ anh em nên tôi muốn bác đọc lại sau khi đã biên tập và bác cũng muốn thế. Vậy mà năm lần bảy lượt gọi điện xin email, chỉ thấy bác chuyện trò rôm rả nhưng tuyệt nhiên không đả động gì đến email, lại nghĩ chắc là bác không cần. Tôi gọi một lần cuối cùng, nếu không thì thôi. Giao đãi mấy câu, tôi hỏi email, bác bảo:

    - Chú nói chuyện với chị nhé!

    Đang thắc mắc không hiểu tại sao lại "nói chuyện với chị nhé" thì đầu bên kia, bác gái đã cầm điện thoại và đọc cho tôi ghi email, hóa ra bác trai phải nhờ bác gái! Tuy thế vẫn còn oai chán, chứ không như nhiều bác từ ngày gia đình có máy vi tính thì toàn nhờ con. Con đi vắng, con bận học là chịu, đành thở dài mà cầm bút viết vậy. Làm biên tập lâu ngày, tôi rút ra một kết luận lý thú là không ít nhà văn nhà thơ đang trở thành "nạn nhân" của các cửa hàng có treo biển "photocopy, in vi tính", bởi cứ nhìn những trang bản thảo chữ to đùng, dòng thưa thớt là biết ngay mấy cô cửa hàng đã in tăng trang để "móc" thêm vài đồng của các bác.   

                Đối lập với nhà văn DS kể trên, nhà thơ TN có lẽ phải được xếp hạng bậc thầy về sử dụng vi tính trong giới văn chương. Mấy năm nay bác ra liền hai tập thi - họa đều là sản phẩm khá đẹp và hay. Máy ảnh kỹ thuật số, máy vi tính xách tay lúc nào cũng mang kè kè, bác TN có thể hành nghề thành thạo mọi lúc mọi nơi. Khi rồi rãi, TN có cái thú chơi "tao nhã" là ngồi "mông má" các bức ảnh bác đã chụp. Ai được xem mớ bức ảnh này thì chỉ có bò ra mà cười, còn vị nào chưa quen với tranh biếm họa chân dung có khi cãi nhau như chơi. Chẳng là bác TN phát huy trí tưởng tượng để "mông má" thế nào mà có bức ảnh đầu là chân dung của nhà văn A đang cười toe toét nhưng phía dưới lại mặc bikini. Có tấm thì môi nhà thơ B lại kéo dài mấy chục xăngtimet nối với mũi nhà thơ C... Riêng tôi, TN lại tặng cho một chân dung có mũi và môi vẹo vọ hết sức kinh dị. Nhận tấm ảnh qua email, tôi dấu biến, không dám cho vợ con xem. Mình vốn đã chẳng đẹp trai, người ta lấy mình đã là chiếu cố lắm rồi, bây giờ mà trình tấm hình đó ra thì có khi không dám về nhà!

    Có một điều đặc biệt là để theo kịp với sự phát triển công nghệ tin học, nhà văn nhà thơ nào muốn thay cây bút bằng bàn phím thì hầu như đều phải trả "học phí" từ vài chục đến hàng trăm trang bản thảo. Chẳng thế mà nhà thơ ĐK có lần gặp tôi, mặt nhăn nhó chỉ vì "lỡ tay" xóa mất mấy trăm trang, khẩn thiết kêu gọi trên báo chí, mấy cao thủ đến dò tìm hộ mà cũng phải bó tay. Tôi cũng vậy, ngày nọ, quyết định viết một cuốn sách đã ấp ủ vài năm, và đã viết được mấy chục trang. Nhưng sơ ý lại đặt tên một cái file không gây chú ý lắm, một hôm rỗi việc, ngứa tay dọn dẹp tài liệu trong máy vi tính, vô tình xóa luôn, đến khi phát hiện ra thì không còn cơ cứu vãn. Đang vò đầu bứt tai thì nhà phê bình NP gọi điện đến hỏi có cách nào tìm lại bài đã bị mất trong máy vi tính không, em vừa bị mất mấy chục trang bản thảo luận án. Dở khóc dở cười, tôi chỉ trả lời được mỗi một câu:

    - Anh cũng đang là nạn nhân như chú đây! 

                Để tránh sơ xuất có thể xảy ra, tôi nghĩ ra một mẹo và truyền bá cho bạn bè. Đó là lập một email lưu trữ tài liệu, viết xong cái gì là gửi luôn vào đấy, nhờ người ta giữ hộ. Lúc nào cần chỉ việc download về, bảo đảm ngồi ở đâu cũng "câu" ra được bài vở, miễn là kiếm được máy vi tính nào có kết nối internet. Mấy ông bạn được tôi truyền bá kinh nghiệm hỉ hả ra mặt. Thủ đoạn có vẻ "du kích" nhưng hữu ích ra trò.

     

    Nguyễn Hòa.

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập42,812,510

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/