Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,075,012

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Truyện ngắn

Ông tướng trẻ

Xuân Cang

  • Thứ tư, 23:51 Ngày 26/08/2009
  • 1- Câu chuyện động trời này nếu tóm tắt chỉ cần hai câu. Ở một ngôi chùa gần bờ sông, có một pho tượng bụt quý thiên thủ thiên nhỡn (nghìn mắt nghìn tay), bỗng một đêm kia bị kẻ trộm rinh mất. Cả làng cả huyện báo động nháo nhào  đi tìm, đúng một tuần sau thì tìm thấy pho tượng trong một công-te-nơ sắp mang xuống tàu ở cảng Hải  Phòng. Vâng chỉ có thế. Và không ai biết  gì hơn. Chỉ biết bảo nhau rằng: Bụt rất là thiêng. Và mọi chuyện cho qua.

    Nhưng tôi, người kể chuyện này thì không thể cho qua, vì chính tôi là ngòi nổ, chính tôi bấm cái công tắc cuối cùng để xe công an chạy như bay xuống cảng, trước khi chiếc công-te-nơ ra khỏi cửa Sáu Kho.

    Nhưng cũng chính là tôi, hiện đang đứng trước hàng nghìn câu hỏi. Câu chuyện này bắt đầu từ đâu, và kết thúc ở đâu? Sự thật thì còn nguyên đấy. Nhưng tôi có cảm giác sau cái ngòi nổ do tôi bấm, sự thật tan ra thành nghìn mảnh. Tôi chỉ còn biết từng mảnh.

     

    2- Ngôi chùa rất to đẹp, dựng sát bờ đê, bao quanh chùa là một làng lớn, màu xanh ngập tràn, lô nhô những ngôi nhà cao tầng nhiều kiểu khác nhau. Tôi ở làng bên cách một cây số. Tôi có một đám bạn trong làng ấy nên hay sang đấy chơi. Trong khách thập phương có các nhà nghiên cứu tiếng tăm, về ngắm tượng, bảo rằng cả nước ta chỉ có hai pho tượng bụt như  thế này. Một là tượng chùa Bút Tháp, hai là tượng chùa làng này. Cái linh diệu của hai bức tượng này là nghệ nhân xưa đã tạo ra tượng Bụt có đủ nghìn tay mọc tua tủa ra tầng tầng lớp lớp, từ vai cho đến hết thân mình. Còn nghìn con mắt thì bố trí ra sao nhỉ? Cứ mỗi lòng bàn tay có một con mắt. Bọn trẻ chúng tôi bảo nhau mặc quần áo tử tế vào thắp hương rồi ngắm tượng, lòng mộ phục các thày thợ xưa không để đâu cho hết. Tôi con nhà thợ mộc từ thời ông nội. Cha không cho theo đại học, mà gửi ông thày mộc có bàn thờ tổ nghề ở huyện bên, đẽo tượng, chạm tủ. Càng biết đục chạm tỉa tót mộng mẹo trong nghề tôi càng say ngắm tượng chùa làng bên, và không khỏi có lúc lân la nịnh nọt sư ông, xin phép trèo lên phía sau tượng coi các mộng gỗ lắp tay Bụt thế nào. Sư ông bảo không được động vào, đến ngay các ông họa sĩ trường Đại học mỹ thuật cũng phải cúng vái mãi, xin âm dương năm lần mới được đến gần, sờ tay vào tượng mà đo đo chép chép. Tuy gọi tượng nghìn mắt nghìn tay nhưng các nhà nghiên cứu bảo rằng đó là cái tên mô phỏng. Thật ra tượng chỉ có 42 tay chính và 610 tay phụ, cao 132 xăng ti mét, kể cả bệ cao 231 xăng ti mét. Tượng có nhiều nếp áo phủ xuống tòa sen. Tòa sen do một đầu rồng và hai cánh tay nhô lên đỡ.

    Vậy  mà sáng hôm ấy, sư ông lên thắp hương gõ mõ tụng kinh thì trong động chỉ còn trơ trọi cái bệ trống không. Sư ông lập tức sai chú tiểu lên gác chuông gõ chuông báo động. Mươi phút sau cả làng như động đất, người kéo ra chật đường chật lối, đen đặc một bờ đê. Công an rắc bột, chụp ảnh, rẽ cây vạch cỏ, soi rọi từng dấu vết bọn gian để lại, chỉ đi đến kết luận là bọn này cực giỏi. Chúng biết tháo từng khớp tay, từng mối nối, xếp nghìn cánh tay vào hòm. Dấu hòm vẫn còn dưới chân bụi đinh lăng. Thân tượng được quấn bằng nhung đen, buộc bằng dây ni-lông  màu đỏ. Dưới chân bàn thờ còn thấy những vảy sơn bong ra. Chúng bao tay bằng ni-lông nên không để lại một dấu vân tay nào trên cánh cửa. Chúng khiêng vác hòm và thân tượng qua bờ rào hướng tây và leo qua đê, băng qua bãi chuối, bãi ngô, bãi dâu, một mạch ra bờ sông có thuyền neo đợi ở đó. Dấu giày còn đầy trên các nẻo đường chúng băng qua, mũi giày hướng ra bờ sông, có cả dấu hằn sâu trong cát vì khiêng vác nặng. Riêng ở  bến đợi còn thấy cả dấu cọc neo thuyền. Đến đây thì mất tăm.

    Một mất mười ngờ. Công an giở sổ đen gọi những phần tử  nghi vấn lên truy hỏi. Tôi không có trong sổ đen nhưng cũng bị gọi lên, chính bởi sư ông mách tôi đã tò mò xin phép quan sát các mộng mẹo đằng sau bức tượng. Sư ông không biết  tên tôi, chỉ nhớ cao dong dỏng, rẽ ngôi giữa, mắt lóng lánh, khi vui khi buồn, nghe bảo là con giai ông bí thư, chủ tịch gì ấy. Nhưng cả làng không có thằng con giai nào rẽ ngôi giữa. Chỉ có những thằng con giai xã bên là rẽ ngôi giữa, hình như có một thằng là con ông chủ tịch. Thế là họ truy ra tôi, và gọi lên đuổi muỗi mất hai đêm trong cái phòng giam bé tí tẹo chật những người là người.  Các ông bà hai bên nội ngoại phải khốn khổ chứng minh dòng họ tôi là trung chính, tính tình tôi là ngay thật, còn phải vàng hương xôi gà  đem ra bờ sông cúng giải oan cho tôi, sau mới thoát. Sau nhờ cái lý lịch đoàn viên thanh niên, lại nhờ có cha tôi là chủ tịch xã, đích thân lên huyện xin cho về, không những xóa nghi ngờ còn được công an huyện  cấp cho một xuồng máy, cùng các xuồng khác đi lùng sục dấu vết kẻ gian hai bên bờ sông.

     

    3- Xuồng tôi được giao ghé vào một làng bên bờ phố Hiến. Xuồng có ba người, hai trai một gái. Anh chàng lái xuồng là bạn tôi, tay giỏi máy vi tính, cỡ làm “hác-cơ” (xâm nhập máy tính qua mạng) được, lại chính là con trai xã Chùa (xã có ngôi chùa, chúng tôi vẫn gọi thế), lại mau mồm mau miệng. Cô gái người làng tôi thì xinh xẻo. Xuồng chạy một lúc tôi thấy hai đứa còn mải luyến láy tình tang, đâu có thiết gì việc lân la dò tìm manh mối. Nghe những lời giăng gió biết là hai đứa đã “tí táu tí mẻ” với nhau từ bao giờ. Vậy mà nhiều lần ngồi nhâm nhi cà phê, bia bọt, tôi cấm thấy anh bạn “hác-cơ” hé răng nửa lời.  Trong bụng tôi vui vui,  nguyên là trai gái hai làng chúng tôi được  những người bề trên dặn dò những câu truyền kiếp là chơi với nhau nhưng không bao giờ được lấy nhau. Vì ngày xửa ngày xưa, ông thành hoàng làng tôi là “bại tướng” của ông thành hoàng làng chùa. Bị ông thành hoàng làng chùa đánh thua te tua, vết chém ngang lưng, chạy về đến địa phận làng tôi thì gục xuống chết, sau hiển thánh làm thành hoàng làng. Trải hàng nghìn năm hai làng gần nhau mà không nhà nào làm thông gia của nhau. Trai gái yêu nhau bỏ làng đi chỗ khác mà lấy nhau, đều nghe đồn là cuối cùng cũng bỏ nhau.

    Chúng tôi lên một quán bến đò, có ông lão ngồi bán hàng nước. Ông bảo mấy đêm nay không có con đò dọc nào ghé bến. Ông bảo chúng tôi:

    -Trong đời ông mới thấy có một lần người ta phá chùa bỏ tượng trôi sông. Sau rồi tất cả những đứa dúng tay vào việc ấy, chẳng đứa nào nên người. Đứa thì bỏ quê đi biệt tích, có tin lên núi cao bị hổ vồ. Đứa thì nghiện ngập, thân tàn ma dại. Lại có đứa làm giàu nứt đố đổ vách mà chẳng được ăn, lăn ra phải gió liệt nửa thân người, ỉa đái cũng không được. Cho nên các cháu chả phải đi tìm, những đứa ăn trộm của chùa rồi sẽ chết rấp xó xỉnh nào đấy thôi. Mà ông bảo, chuyện tày đình thế, dò la cứ dò, sao lại hé môi nói ra. Ông biết thì không sao, chúng nó mà biết các cháu mò đến đúng tổ con tò vò thì cứ là chết toi với chúng nó. Đừng dại thế. Có mồm thì cắp có nắp thì đậy. Ông bảo có nghe không?

    Chúng tôi sợ hãi, dạ vâng cứ rối rít cả lên. Thằng bạn lái xuồng vội bấm lưng tôi bảo thôi chào cụ. Tôi gọi nó ra một chỗ nháy mắt bảo: “Cho hai đứa về trước, tao ở lại chơi với cụ hàng nước. Sẽ đi xe ôm về sau” . Ngầm ý bảo thôi thả cho hai chúng mày tự do với nhau. Ngày xưa các cụ “cài đặt” thì bây giờ chúng ta “tháo gỡ”. Thằng bạn mừng rơn, rủ cô gái tí tửng leo lên xuồng nổ máy ra về.

    Tôi quay lại quán hàng, uống xong bát nước chè xanh,  nói với cụ:

    -Cháu hỏi khí không phải, lúc nãy nghe cụ nói làng đây là làng Ngãi  có phải không ạ?

    -Phải đấy, tên chữ là làng Nghĩa Phú.

    -Nếu vậy cháu có thằng bạn thân ở đây, nó cứ bảo cháu về chơi mà chả có lúc nào về được. Cụ có biết anh nào trạc tuổi cháu tên là Cải không ạ?

    -Ở đây nhiều Cải lắm, Cải ngồng, Cải cà cuống, Cải hói… Anh hỏi Cải nào?

    -Cháu hỏi Cải lái xe ạ.

    -À cái anh có xe tải riêng phải không? Cải này thì giàu có. Nhà nó ở ngay đầu làng, cứ đi theo đường này, chả phải hỏi thăm, thấy có mỗi cái nhà hai tầng, nhà nó đấy. Sáng đi qua, ông còn thấy có cái xe ở đấy. Khéo hôm nay nó ở nhà.

    Chả là Cải vẫn chở xe gỗ cho ông thày mộc của tôi, cũng là ông chủ xưởng mộc huyện bên. Mỗi chuyến xe về, ông thường bảo tôi đứng ra biên chép số gỗ, loại gỗ, tính tiền thuê xe và thù tiếp anh lái. Vì thế tôi và Cải thân nhau. Cải nói tên làng, hẹn đường đi lối lại, bảo tôi thể nào cũng đến nhà chơi, tiện thể xem cơ ngơi, và thể nào cũng phải ra quán thịt chó chợ làng chén một bữa “cầy tơ bẩy món” cứ gọi là quên chết.

     

    4- Tôi chào ông cụ đi về phía đầu làng. Hai anh bạn gặp nhau cứ như trong mơ. Thăm hỏi vợ con nhà Cải xong, câu chuyện chưa cạn chén nước trà, Cải đã rủ tôi ra quán thịt chó. Anh ta bảo:

    -Tớ mới trúng quả. Hôm nay phải khao cậu một trận ra trò. Ra ngoài kia tớ kể cho cậu nghe.

    Đầu đuôi là thế đấy. Trong chén rượu ngà say, Cải kể rằng một đêm kia, khi hàng vừa trả xong, sắp sửa vù về với vợ, thì bỗng có người đập cửa xe. Một người đàn ông mà chính Cải cũng không nhận rõ mặt, thuê anh ta chở một lô hàng, chả có gì đặc biệt chỉ là mấy thứ đồ gốm thôi, cho một gia đình sắp sửa xuất ngoại. Chỉ có đều là phải gượng nhẹ một chút. Ngay đêm nay.  Tất cả độ trăm cây số. Đồng ý thì chuẩn bị xăng, xe, giấy tờ cho đàng hoàng. Anh ta trao tay năm tờ đỏ, còn bảo xong việc sẽ “boa” thêm, ngồi tót lên xe, và bảo: Mình chả lạ gì cậu đâu, gặp nhau mãi ở Lạng Sơn. Mình biết là anh ta nhầm, nhưng không sao. Lấy xăng, nhân thể bảo mình dọn dẹp cái thùng xe, xong, anh ta ngồi kèm một bên, bảo mình đi tuốt lên một vùng núi, đón người này người khác. Xe vòng vo sang một bờ đê, leo lên leo xuống, mấy lần ghé vào một thị trấn nào lạ hoắc, chờ đợi, gọi máy di động, gắt gỏng, bảo là họ lại không đi nữa, hoặc là họ đợi mãi không thấy, sốt ruột đã đi xe khác rồi. Cuối cùng chẳng đón được ai, xe lại leo lên một bờ đê.  Mình chưa đi trên vùng đê này nhưng thứ gió quen lắm. Mát rười rượi. Như gió sông nhà.  Đến một quãng, anh ta bảo mình từ từ dừng lại, rồi ngoái đầu ra bảo mấy người đứng lố nhố: Lên hàng đi. Anh ta ngáp dài  bảo: Buồn ngủ quá. Lại nắm tay mình bảo: Cậu cũng ngủ đi một lát. Họ làm gì kệ họ. Nói vậy cũng chẳng lâu la gì, lục cục một lát xong. Anh bạn đường bảo: Cậu khỏi xuống, để mình coi cho. Xong nhảy xuống kiểm soát việc giằng buộc sau xe. Lên ngồi cạnh mình, anh ta bảo: Đi thôi, nhớ là hàng gốm, nhẹ nhàng. Còn ngoái ra vui vẻ chào cánh cửu vạn. Thú thực mình thấy lo lo, có chuyện gì đấy không bình thường. Nhưng chưa biết phản ứng thế nào. Rồi mình được lệnh xuyên qua một làng, xuyên qua một làng nữa, ra đường Năm, tiến về hướng Hải Phòng. Chỉ đến khi có một xe cảnh sát giao thông đỗ bên đường bắt xe mình dừng lại kiểm soát giấy tờ, nhảy lên soi đèn pin coi thùng xe, lúc ấy đã gần sáng, coi cả bằng lái, giấy phép đâu ra đấy, cho đi, mình mới thực yên tâm.

    Tôi nghe anh bạn kể đến đoạn xe đi trên bờ đê, thấy thứ gió quen, như gió sông nhà, thì giật mình thon thót. Gai hết cả người lên. Căng hết cả người lên nghe. Nhưng nhớ lời ông già quán nước, tôi giữ vẻ mặt thản nhiên, im thin thít. Miếng chả chó trong miệng cứ bã ra.

    Ngay trưa hôm ấy, tôi khéo léo và cương quyết rời nhà Cải, ra đường lớn, nhảy xe ôm, phóng một mạch về làng.

     

    5- Buổi chiều. Tôi có một ít thời gian lựa chọn cho hành động tiếp theo của mình. Vào phòng tắm xối nước lạnh bơm từ giếng lên cho tỉnh táo cái đã. Đóng cửa. Tắt điện thoại di động, bọn trẻ chúng tôi vẫn gọi là “con dế”,  tháo luôn máy cố định. Nằm thượt trên giuờng, mở to mắt nhìn lên trần màu sơn vàng trắng. Lần đầu tiên, tuổi trẻ của tôi có cảm giác như mình đang chỉ huy một trận đánh. Tay mó máy như đang bấm nút trong một cuộc chơi “ghêm” trên máy tính, điều khiển quân mình vượt qua những chướng ngại vật. Nhưng đây không còn  là trận giả tưởng nữa. Thiêng liêng và nghiêm trọng vô cùng. Tôi thử làm thám tử Séc-lốc Hôm bày các hiện tượng lên mặt bàn tưởng tượng, sắp xếp, đối chiếu, so sánh, đặt ra các câu hỏi, lật trái các tình huống, suy diễn và lắp ghép chúng lại với nhau.

    Tôi hình dung ra vụ trộm “ngoạn mục và hoành tráng”. Bọn trộm gồm những đại ca trong nghề, biết lần lượt tháo từng cánh tay tượng chuyền xuống khỏi bệ, xếp vào hòm. Dẫm chân vào đâu, đặt tay vào đâu. Trong khi đó có những đàn em lén lút trong đêm, dưới trời đầy sao, làm hiện trường giả từ chân đê qua bãi, từ những bước chân để lại dấu vết,  cái hố neo thuyền chèo đến những vệt cỏ nát vừa đúng cái khuôn hòm. Còn tay thuê xe hẳn cũng là một tay đạo diễn lão luyện. Nó giả vờ cho xe đi hết chỗ này đến chỗ khác để đánh lạc hướng anh bạn. Nhưng cái nó không ngờ được là nó thuê phải chiếc xe mà chủ xe là bạn tôi, và đi trên một bờ đê có thứ gió quen, như gió sông nhà. Và cú công an chặn xe chắc chắn là công an giả, là cú điểm huyệt. Chúng coi bằng lái xe và số xe, tên tuổi và địa chỉ,  để ghi nhớ và sẽ chọn dịp cho anh về với ông bà ông vải, bởi anh là nguồn phát giác duy nhất đường đi lối lại của chúng. Bây giờ chỉ còn mỗi một việc bấm máy di động mời cha tôi về  nhà có việc khẩn cấp liên quan đến việc pho tượng chùa bên. Cha tôi là chủ tịch xã, bạn của các bí thư, chủ tịch xã có làng chùa.

    Nhưng khi tôi vừa bấm vào số đầu tiên, số không, trên dãy 10 con số  máy của cha tôi, thì tay tôi tự nhiên dừng lại. Chính con số “không” ấy nhắc nhở tôi. Tôi lại nhớ lời ông già quán nước. Mọi việc không thể bắt đầu từ  tôi và cha tôi. Tôi phải biến mình đi. Càng không thể bắt đầu từ cha tôi.

     

    5- Nhà tôi có ba người. Cha tôi, mẹ tôi, và tôi. Đó là ba thế giới. Thêm một chị giúp việc lớn tuổi. Đó cũng là một thế giới nữa. Chúng tôi sở hữu một ngôi nhà ba tầng, chưa phải cao nhất làng, nhưng vào khỏi cổng sân thì  mọi người đều nói là sang nhất làng. Sân rộng có thể chứa vài chiếc ô tô và vài chục xe máy.  Bên sân có vườn hoa viền một dãy chậu cây cảnh, mỗi chậu đều tính bằng tiền triệu. Bên trong là vườn quả.  Nhà chủ tịch xã cơ mà. Gia cảnh phất lên trông thấy, người ta bảo đó là chuyện thường. Không phất lên mới là không bình thường. Nhưng cha tôi giải thích mọi nguồn chi tiêu trong gia đình tôi là do ông chú tôi ở Mỹ gửi về. Nhà tôi có một ông chú như thế thật, do một thời có phong trào vượt biên bằng đường biển, một sống hai chết. Phúc tổ nhà tôi là ông chú không chết. Nhưng mẹ tôi và tôi  thì biết nguồn  thật ở đâu ra. Nó từ vài chục mẫu ruộng đất công quản từ ban quản trị hợp tác xã giải tán, bàn giao sang ủy ban xã, nay sang nhượng cho các công ty biến thành khu công nghiệp. Nó từ cuộc  vận động  nông dân giải  tỏa đất cho các công ty làm đường xá, sân vận động, tiền trả theo giá đất trồng trọt nông nghiệp, còn tiền sang nhượng theo giá đất công nghiệp, tính bằng đô-la, bằng vàng. Nó từ các hợp đồng, từ hợp đồng  làm đường điện, xây lại đình (làng tôi không có chùa nhưng có đình), xây lại trụ sở ủy ban, nhà văn hóa xã, và hàng chục công trình khác. Mỗi hợp đồng như thế vào tay công trường nào, ban quản trị nào đều có phần trăm, ai cũng biết thế. Bảo rằng đó là luật, không thành văn. Xã tôi có một  chục thôn,   có hàng trăm cuộc tranh chấp về nhà, đất. Tấc đất tấc vàng theo đúng nghĩa đen của câu ấy. Mọi cuộc tranh chấp đều qua tay cha tôi. Chủ tịch xã cơ mà. Ông ủng hộ bên nào bên ấy thắng. Nhưng cũng có cuộc không thắng, nguời bị mất đất đặt quan tài trước ngõ, nằm sẵn vào trong bảo với lực lượng dân quân do cha tôi điều đến rằng muốn vào cưỡng chế đo đất chiếm vườn thì dẫm qua xác tao mà vào. Thùng xăng để sẵn. Tay cầm bật lửa. Quân của Ủy ban phải rút lui, chủ tịch lần ấy yếu thế, xuýt phải ra tòa. Nhưng một tay cha tôi qua được hết.

    Cha tôi nổi tiếng trong huyện là tay chủ tịch có tài thiên phú, hãy quên đi thời ông nội tôi là thợ mộc, dòng dõi hay là cái gien là từ thời cụ nội tôi làm chánh tổng cơ. Trong trụ sở của ông có chín máy vi tính. Ông được đem một cái về nhà, đêm về gõ duyệt các trang oép (mạng), lập hàng trăm phai (tập tin) lên danh sách từ cán bộ xã đến thôn, tên tuổi, ai ở đâu, khả năng nghề nghiệp, các gia đình chính sách, thuế má, tiền nong, dân số, thành phần xã hội, hỏi đâu biết đấy. Tôi cũng được nhờ vào cái máy vi tính như thày phù thủy ấy. Học ba tháng cấp tốc.  Mua tờ báo điện tử E Chíp “đọc xong, vọc liền”, chỉ một năm sau tôi đã làm đủ mọi việc, chơi ghêm (game) nhanh như sóc, mở trang Chát tán như ranh. Nhưng đó chỉ là những trò vặt. Tôi còn muốn trở thành một cao thủ trong công nghệ thông tin nữa cơ. Cha tôi bảo: Cho con hẳn một ổ D. Còn ổ C của tao thì không được động vào. Mà có động vào cũng chả được, rất nhiều tập tin bị ông khóa bằng pát-uốt (mật khẩu). Có cả một thư mục chép Gia phả họ nhà có đến hàng nghìn kilôbai in ra phải hàng trăm trang sách khổ giấy A4, ông cũng khóa bằng mật khẩu, chả nhẽ con cái nhà như tôi cũng không được tọc mạch vào.  Ông lại đe: Chớ có mở những trang oép độc hại, tao có cách kiểm soát được hết đấy. Ông tự kén cho mình một anh thơ ký tinh tướng thu xếp mọi cuộc họp hành, giao tiếp, nhậu nhẹt nơi hàng quán, những cuộc họp do ông chủ tọa cho anh ta đi theo ghi chép, còn những cuộc họp bên trên thì cố nhiên ông đi một mình. Bạn tôi bảo “ông già” nhà mày còn hơn cả bộ trưởng, có thư ký riêng.

    Thế giới của mẹ tôi là cái tầng ba ngôi nhà có bàn thờ niệm Phật. Bà nói với tôi: tao thấy bố mày làm ăn, tao sợ lắm, chỉ còn biết lễ bái để  giời phật xá tội cho, tha cho cái kiếp người này. Bà chăm đi các chùa. Cha tôi cũng chiều bà, bảo thế lại hóa hay, đừng bắt chước mấy con mẹ như hổ cái, quản lý chồng từng cái phong bì, chỉ rách việc. Bà có cả một hội các bà ăn chay trong vùng. Mỗi lần nhà tôi làm giỗ cụ xong, bà sai  chị giúp việc nấu một nồi to nước sôi, luộc bát đĩa cho hết mùi.  Bữa ăn nhà tôi có bốn người bày riêng hai món chay mặn, mọi người im lặng ăn cho xong. Mà cũng chẳng biết nói gì, mỗi người có một ngôn ngữ riêng.

    Tôi có một ngôn ngữ riêng. Thế giới của tôi là những đường truyền, tốc độ truy cập, ổ cứng, phần mềm, thông số cài đặt, tiếng nói của tôi chen lẫn những uy, oa, oép, ớp. Tôi là chúa hay quên treo cờ các ngày lễ, nhưng vì nhà chủ tịch xã nên có chú công an gần nhà thường treo hộ, nhà tôi vẫn có tiếng gương mẫu. Những năm có bầu cử, cha tôi thường nhắc việc đi bầu sớm cho các cô chú ban bầu cử xong việc sớm. Nhưng tôi và đám bạn thường phóng xe đi tít mít đến chiều tối và thường bỏ những lá phiếu cuối cùng mà vẫn đuợc Đoàn Thanh niên chúng tôi tuyên dương là trăm phần trăm đi bầu cử. Một hôm như thế, về nhà cha hỏi hôm nay bỏ phiếu cho những ai. Tôi chẳng biết những ai. Cãi cha: Đảng cử dân bầu ấy mà. Cha tôi trợn mắt bảo: Lần đầu tiên tôi nghe anh nói thế đấy.

    Tôi thì nghe thế từ lâu rồi. Tôi còn tím mặt nghe một bài vần  vè của một tay tai quái nào trong làng về cha tôi. Một hôm ngồi ăn bún mọc ở góc chợ làng, tôi nghe hai anh chàng bàn nhậu bên nói to rõ ràng để cho tôi nghe thấy: Tao đố mày nhá. Nói có người nghe /  đe có người sợ / vợ có người chăm / nằm có người bóp / họp có người ghi / chi có người bù / tù có người chạy… là ai nào? Mọi người cười ầm lên. Chỉ có tôi là làm như không nghe thấy. Quả thật tất cả những hiện tượng ấy đều ứng chiếu vào cha tôi, chỉ trừ một sự: nằm có người bóp thì tôi chưa từng biết. Hay là tôi cũng “quan liêu” nốt ?

    Một lời dứt khoát, không lý lẽ, không đôi hồi gì hết, trận đánh này không thể giao vào tay cha tôi. Tôi đã quyết định như thế, như một “ông tướng trẻ”.

    Tại sao không phải là bác Kính nhỉ?  Đang nằm thẳng rẵng trên giường tôi vụt chồm dậy.

     

    6- Bác Kính chẳng là cái gì, trước mắt mọi người. Bác là ông thợ cắt tóc ở một gian hẻm  trước cổng Đình phố chợ. Có biển hiệu hẳn hoi, kẻ hai chữ Văn Kính làm tên. Cả làng tôi thuộc lòng lai lịch bác Kính.  Bác là người ngụ cư, đến làm ăn ở chợ làng từ thuở bé, từ đầu đến cuối chỉ làm nghề cắt tóc, bác vẫn khoe là hơn nửa thế kỷ nay bác sửa sang làm đẹp cho hàng triệu cái đầu đàn ông trong vùng này. Bác cũng là tay tổ trưởng dân phố chợ  kỳ cựu nhất vùng, năm nào đến kỳ bầu tổ trưởng dân phố bác cũng ứng cử và trúng bách (trăm phần trăm). Đây là một việc mà rất nhiều người rất không muốn dính. Làm tổ trưởng dân phố thì việc trần ai nhất là đi thu đủ 7 thứ quỹ vừa “nghĩa vụ”, vừa “tự nguyện”: nghĩa vụ thì có quỹ Công ích, quỹ Bảo trợ an ninh, quỹ Chống bão lụt,  quỹ Xã hội của tổ dân phố;  tự nguyện thì có quỹ Đền ơn đáp nghĩa, quỹ Bảo trợ trẻ em, quỹ Vì  người nghèo. Về sau có thêm hội Khuyến học thì thêm quỹ Khuyến học. Thu cho đủ các quỹ đó trong số hàng trăm hộ dân, đâu có như thò tay vào túi? Còn trăm thứ việc khác: vận động vệ sinh chung, hòa giải,  xây dựng gia đình văn hóa mới, treo cờ ngày lễ, tết… Có người gọi là “trăm thứ bà dằn”. Những tay có máu mặt một tí, có đủ lý do để từ chối chức tổ trưởng dân phố. Nên có người sẵn sàng làm như bác Kính thì mọi người mừng như bắt được của. Hội nghị dân phố hàng năm chưa đến mục bầu tổ trưởng mới, mọi người đã nháo nhào lên: thôi khỏi, lại ông Kính cắt tóc thôi. Một hôm tôi cắt tóc cửa hàng bác mới giật mình biết bác đã ba mươi năm làm tổ trưởng dân phố. Tôi bảo: Nếu cháu  làm chính phủ cháu sẽ biếu bác cái huân chương. Từ hôm ấy bác cháu tôi thân nhau, tôi bỏ cái “Mây bay quán” uốn sấy “hiện đại” cách đây năm cây số, chỉ đến “Văn Kính tóc tai” thôi, và trong tôi dần dần hiện lên một bác Kính cắt tóc “vĩ đại”. Hóa ra ba mươi năm vừa làm tổ trưởng dân phố vừa cắt tóc vừa chuyện gẫu không có gì bác không biết. Làng trên xóm dưới va vấp, giành giật, hòa hoãn, thua thắng ra sao, bác biết ngọn ngành. Hỏi việc gì có ý kiến việc đó, đâu ra đấy. Việc thu tám quỹ đối với bác chỉ là chuyện vặt. Kể chuyện thì lan man, nhưng thực ra, cái lúc nằm thượt trên giường, nghĩ đến tên bác Văn Kính là tôi vùng dậy ngay, quyết định tức thì. Bên ngoài, trời đã sập tối .

    7- Bác Kính vừa quét tóc dọn dẹp xong, đang định khóa cửa. May quá tôi đến vừa đúng lúc. “Cháu có chuyện tày đình muốn nói với bác”.  Tôi vừa thở vừa kể chuyện. Bác Kính chăm chú nghe tôi, suy nghĩ lúc lâu rồi nói:

    -Chuyện “tày trời”, chứ không phải “tày đình” đâu. Bác biết từ hôm qua. Thế bây giờ ý cháu định nhờ cậy gì ở bác?

    -Cháu muốn bác là người đầu tiên phát giác chuyện này, để khởi sự ngay đêm nay. Chức sắc  vùng này, cháu chả quen ai cả. Cháu cũng không đủ tư cách để họ tin ở cháu mà hành động ngay, trong chớp mắt. Bác bảo cháu đưa đến nhà ai, cháu đi ngay.

    -À ra thế. Cảm ơn cháu. Tại sao cháu không nói với cha cháu, ông chủ tịch xã. Chính ông ấy phải ra tay cứu xã bạn, cứu các tay bí thư, chủ tịch đồng sự với ông trong hội đồng nhân dân huyện?

    -Cháu sợ việc vào tay cha cháu  thì sẽ rùm beng lên. Nhà cháu sẽ ăn đòn trả thù. Không hiểu sao cháu linh cảm thấy thế.

    Tôi nói tránh ra thế. Thật bụng tôi nghĩ rằng: “Cháu sợ cha cháu làm hỏng việc”.

    -Thôi được. Ta vừa nghĩ ra một người. Quan chức hẳn hoi. Bề thế. Miễn cho ta nói người ấy là ai. Thử xem ông ta có dám vào  hang bắt cọp không?  Cho ta sang làng Chùa, chờ ta ở cổng chùa.

    Tôi mừng rỡ đứng dậy. Bác khóa cửa trèo lên sau xe tôi. Vù một cái chúng tôi đã ở cổng làng có đại nạn. Bác Kính xuống xe khuất vào trong bóng tối. Tôi y hẹn ra một chỗ cổng chùa, khóa xe đợi.

    Tôi không phải đợi lâu, chỉ nửa giờ sau đã thấy bác xuất hiện trong bóng tối. Bác bảo: Xong rồi. Người ta mừng như bắt được của. Cứ bảo hay là Bụt dẫn độ.

    Tôi đưa bác Kính về nhà, rồi về nhà mình, bụng bảo dạ: Đêm nay chắc là có một đêm mất ngủ.

    Mẹ đang niệm Phật ở nhà trên.

    Cha ngồi trước máy tính.

    Tôi ăn vội mấy miếng cơm cho xong. Cha thấy động đi ra. Cha hỏi:

    -Con có việc gì mà giờ này còn ngồi cổng chùa bên ấy?

    Tôi giật mình, bàng hoàng cả người. Bao nhiêu dũng khí tiêu tan hết, cứ như người bị bắt tận tay, day tận mặt.

    -Sao bố biết?

    Hỏi lại câu ấy tức là tự thú tội. Cha nghiêm nét mặt:

    -Mấy hôm nay, tất cả các chủ tịch xã trong vùng đều được báo động. Bố phải biết chứ! Con phải biết rằng tất cả những người qua lại ngôi chùa ấy, nhất cử nhất động đều không qua khỏi mắt các chú công an. Con vừa được xua muỗi hai đêm trên huyện, chưa biết thân hay sao?

    Tôi bình tâm lại. Đã tự ví mình với Séc-lốc Hôm mà còn sơ hở, hẹn chờ bác Kính ở cổng chùa. Tôi nói chống chế:

    -Chả là con với  thằng nhỏ bên ấy là bạn vi tính. Con đang tính làm mối cho nó một đứa con gái làng mình. Chúng con hẹn nhau tối nay đi uống cà phê.

    “Thằng nhỏ” là thằng bạn lái xuồng, giỏi máy vi tính, có thể làm “hác cơ” kẻ xâm  nhập mạng được. “Con đang tính làm mối” là nói cho xông xênh, thật ra chúng nó đã ấm ớ hội tề với nhau từ lâu rồi.

    Nói vậy tưởng cho qua đi. Ngờ đâu cha tôi lại để ý. Ông dừng lại hỏi:

    -Thế “các ông trẻ” lại định “bước qua lời nguyền” à?

    -Bây giờ “thời a còng” (@), chúng con không bước qua nữa. Bước qua thì lời nguyền vẫn còn nguyên đấy. Mà là “tháo gỡ”. Tháo gỡ lời nguyền.

    Cha tôi không nói gì, bước nhanh về bàn máy. 

    Đêm ấy trắng đêm. Tôi lại thử làm Séc-lốc Hôm hình dung trong đầu những cảnh tượng sau khi tôi và bác Kính bấm công tắc cho dây cháy chậm. Biết chắc là dây xòe cháy, lửa đang chuyền đến ngòi nổ. Tôi tự vạch ra các mưu kế, rồi lại vứt đi. Ngây thơ, tréo ngoe… tôi tự mắng mình.

    Khuya lắm, nhìn sang phòng máy tính, vẫn thấy cha tôi đang ngồi im lìm. Hình như chính ông cũng đang bị huy động vào cuộc. Màn hình nhấp nháy thay đổi luôn. Thỉnh thoảng lại thấy ông áp máy di động vào tai, hoặc bấm phím nhắn tin. Các chủ tịch xã trong huyện đều đã được báo động. Ông chả nói với tôi như thế là gì. Ông còn nắm được chi tiết tôi vừa ngồi ở cổng chùa. Tôi bỗng có cái khoái trí của một người nắm đầu mối sợi dây thần kỳ làm rung lên cả một bộ máy lớn trong huyện và nó đang rung lên trước  mắt tôi kia.

    Tí ti lãng mạn còn sót lại của tuổi ham lớn.

    Thực ra, kịch bản và vở diễn thế nào, tôi mù tịt.

    Chỉ biết rằng câu chuyện sau đó đã kết thúc rất nhanh. Ngay sáng hôm sau, anh bạn Cải của tôi bị công an cải trang tóm ngay trong sân nhà khi vừa sắp ra xe đi chở một chuyến gỗ cho xưởng mộc của tôi. Từ cái đầu mối này, đúng một tuần lễ sau các hòm xiểng chở về xếp gọn gàng trước động bụt.

    Và chính là tôi đã cứu Cải thoát chết, bởi vì đúng là  cái nhóm cảnh sát giao thông kiểm soát dọc đường cũng do bọn gian dựng ra, để anh bạn lái xe của  tôi hết lo lo và nghi ngại. Cái chính là để kiểm soát anh, ghi nhớ địa chỉ anh. Nhớ lời ông già quán nước, tôi đã tìm cách nhắn tin cho anh ta biết coi chừng sẽ bị trả thù. Bạn tôi đã bỏ của chạy lấy người, đem vợ con đi ở ẩn, chính tôi cũng không biết anh ta ở đâu nữa.

    Tôi đến hiệu  Văn Kính Tóc Tai. May quá, đúng vào lúc hiệu không có khách.

    -Cháu chào bác. Đến lượt cháu phải đi trốn đây.

    -Có chuyện gì vậy?

    -Không hiểu sao mấy hôm nay cháu cứ thấy hồi hộp thế nào ấy. Đứng ngồi không yên. Cháu sợ rằng bọn gian cay cú chuyện này sẽ lần lần tìm ra cái nguồn phát giác đầu tiên và sẽ xử lý đến cháu. Bọn này chắc chắn không từ một hành động tàn bạo nào.

    -Cháu kín đáo đến thế cơ mà. Việc này chỉ có hai bác cháu mình.

    -Còn một người nữa đấy. Cha cháu.

    Tôi kể bác nghe sự kiện làm tóc tôi dựng đứng cả lên khi nghe cha tôi hỏi: Con có việc gì mà giờ này còn ngồi cổng chùa bên ấy?

    -Chuyện gì cũng có thể xảy ra cháu ạ! – Giọng bác nói tửng tưng - Công bác cháu ta thế là công cốc rồi đấy. Ta vừa mới biết thêm việc nữa.

    -Có chuyện gì ạ?

    -Hòm tượng tìm về rồi. Đếm đủ bao nhiêu là cánh tay. Nhưng không lắp dựng lên được. Các thợ mộc giỏi trong huyện kéo về, đều bó tay. Có một bí quyết gì đó trong các mộng mẹo, bí quyết đó nằm trong tay kẻ gian, nó tháo được mà mình thì không lắp được. 

    Tôi ngớ người ra một lúc lâu.

    -Cháu có ông thày mộc giỏi lắm ở huyện bên. Để cháu sang bên ấy xem.

    -Cháu đi ngay đi. Còn nước còn tát.

     

    7- Tôi phóng vù sang xưởng mộc của thày tôi. Gọi là xưởng nhưng nó không có một cái nhà xưởng nào đâu. Chỉ có một kho gỗ. Thế thôi. Cả cái làng nghề ấy là một xưởng. Nhà nhà có gian mộc. Mỗi chủ nhà là một thợ cả, con cháu làm phó nhỏ, mỗi phó nhỏ là một tài hoa chạm trổ, ngoài ra cũng có những thợ học việc như tôi. Mỗi tuần thợ cả đến nhận việc tại nhà ông chủ một lần, thời nay gọi là “giao ban”. Còn lại họ liên lạc với nhau bằng điện thoại bàn và điện thoại cầm tay.  Làng giàu lên trông thấy hàng ngày. Xưởng bề thế vậy, nhưng không có phòng ban gì hết, tất cả đầu mối quản lý thu gom vào một cái máy tính kèm theo đủ phụ tùng, máy in la-de, máy phắc truyền bản in,  do một cô em gái út của chủ xưởng độc quyền nắm trong tay. Tuy vậy, mọi quyết định lớn của thày tôi và của cả xưởng đều được quyết định trong miếu thờ tổ nghề ngay trong xóm của thày tôi. Gọi là miếu nhưng nó to như một ngôi nhà thờ họ, có ba gian thờ, có cửa bức bàn, có mái lợp ngói cổ, có sân to dựng rạp mở hội giỗ tổ hàng năm, xung quanh là vườn. Miếu hương khói quanh năm. Thày tôi muốn tiến hành việc gì quan trọng đều sang miếu khấn vái xin lời dạy của tổ. Lời truyền xuống được hiện ra bằng hai đồng chinh cổ gieo xuống đĩa. Thày vẫn gọi đồng chinh là đồng Minh Mạng, nó có hai mặt, mặt có chữ gọi là ngửa, mặt trơn láng gọi là sấp. Khi gieo hai đồng chinh, một sấp một ngửa là cho phép. Hai sấp là cấm kỵ. Hai ngửa là cười. 

    Khi tôi đến, cũng y như hôm đến bác Văn Kính, vừa thở vừa trình bày với thày đầu đuôi câu chuyện. Toàn những chuyện như sấm như chớp, như bão như giông mà tôi thấy gương mặt thày tôi như bất động. Tôi chỉ giấu ông mỗi một chuyện chính tôi là người châm ngòi nổ. Môi dưới ông trề ra, mọi bận như thế có nghĩa là ta biết cả rồi.  Nhưng đến khi tôi nói đến cái bí quyết, cái mật mã trong việc lắp ráp lại ngôi tượng chùa thì ông mím hai môi lại. Đấy là khi có việc thật quan trọng. Tôi mừng mừng. Ông nghĩ ngợi hồi lâu rồi bảo:

    -Anh đi với ta sang miếu.

    Tôi vừa sợ vừa mừng. Mừng là có thể ông chính là người nắm được bí quyết, nhưng có tiết lộ ra hay không là ở đấng tổ nghề cao cả. Sợ là sợ cái lúc xin âm dương sấp ngửa. Hai sấp, là thôi rồi. Chân thấp chân cao, tôi theo thày không biết mình bước đi thế nào nữa, nó cứ chập chờn, chênh vênh, vấp váp, chân như không động đến đất, lại như lầy như sụt đến nỗi cảm thấy như cái gối sắp khuỵu xuống. Ông đứng trước bàn thờ khấn vái. Tôi đứng sau ông. Ông với tay cầm chiếc đĩa có hai đồng tiền. Tay ông run run làm tôi cũng run rẩy cả người. Trong gian nhà vắng lặng, hai đồng chinh gieo xuống đĩa vang lên khác thường. “Cười!”- ông nói. Ông lại khấn vái, như cố khẩn cầu đức bề trên thương cho lần nữa. Và lại gieo.  “Được rồi” – ông nói, và bỗng thở dài đánh thượt. Một sấp một ngửa, có dương có âm, được rồi, sao ông lại thở dài? Ông bảo: “Thày trò ta ra hè”.

    Ông thong thả bảo cô giúp việc giải chiếc chiếu hoa ra hè giữa. Ông thong thả chờ cô bưng bình hút thuốc lào có khảm trai rất đẹp ra, pha xong ấm nước trà bưng ra, rồi  bảo tôi ngồi xuống chiếu. Tôi biết đây là những việc nghiêm trọng, nên ông mới thong thả thế, là để có thời giờ nghĩ chín trong đầu những lời sẽ nói cho tôi biết. Những cử chỉ đó giúp cho tôi bình tĩnh trở lại, và trở lại với cái bản lĩnh của tuổi trẻ.

    Cuối cùng thì những lời cần nói cũng được nói ra. Ông xưng bác cháu với tôi.

    -Thế này cháu ạ! -Thày nói chậm từng lời-  Cháu có biết tại sao cha cháu lại gửi cháu cho bác học nghề học nghiệp thế này không? Là có ý cho cháu nối nghiệp ông nội cháu. Là để ủy thác cho ta xem cháu có đủ âm phúc để nối dòng nối dõi hay không. Nếu ta phán quyết “thằng này được đấy” thì cha cháu sẽ truyền các bí kíp cho, bây giờ các cháu gọi là mật mã ấy mà. Trong đó có mật mã lắp ngôi tượng thiên thủ thiên nhỡn. Cái mật mã thiêng liêng ấy ở trong tay cha cháu. Cả xứ Đông Dương này chỉ một mình cha cháu biết cái ấy. Bác cũng không biết đâu.

    Tôi cứ lạnh cả người. Thì ra thế.

    -Thưa thày, tại sao thày biết là chỉ mình cha cháu biết mật mã ấy?

    -Chính cha cháu cho ta biết. Rằng ông nội cháu truyền cho cha cháu trước lúc lâm chung.  Đây cũng là trong một phút thiếu cẩn trọng của cha cháu. Hôm ấy ông ngà ngà say… Cha cháu còn nói rằng nếu ông biết chắc cháu không xứng đáng để truyền bí kíp cho thì ông sẽ mang nó xuống mồ. Ta nói, để ta rèn cặp cháu, khi nào được ta sẽ bật đèn xanh. Ông nói, tôi xem ra thằng ấy hỏng, trong nhà cha con như mặt giăng mặt giời. Ta nói thật với cháu như thế. Việc này ta biết là nguy hiểm, nên ta phải  xin ý kiến các cụ, xin âm dương. Cháu biết rồi đấy, thoạt tiên các cụ cười. Sau ta xin đem tính mệnh ra bảo đảm, các cụ mới quyết cho.

     

    9-  Bây giờ giông bão ở ngay trong tôi. Tôi cũng không biết làm thế nào sau đó tôi có thể về đến nhà bằng xe máy. Không dưới hai lần có va chạm. Tay ga chân phanh, tránh né là theo bản năng thôi. Bước chân vào sân nhà mới biết rằng không lao xuống bờ ruộng là may. Tôi vào giường nằm  thượt ra. Nhân vật Séc-lốc Hôm lại hiển hiện trong tôi. Tôi lắp ghép các hiện tượng lại và phán đoán. Tại sao cha tôi biết tôi ngồi ở cổng chùa cái buổi tối hôm ấy? Suốt mấy ngày kể từ đêm mất tượng ông ở lỳ trong nhà với máy tính, điện thoại di động, làm việc như đang có dịch. Thư ký xin chữ ký phải đến nhà. Cái thời điểm anh bạn lái xe Cải bị bắt, ông đang ở trong phòng, ông không biết tôi ngồi ngoài, ông hét to một câu: Lỡ mất một nhịp rồi hả? Bây giờ tôi hiểu là Cải bị bắt sớm, trước khi bọn gian manh ra tay giết hại anh để bịt đầu mối.

    Có thể như thế này chăng: Ông chính là đầu mối trong vụ việc này? Cái mật mã kia nếu không phải ông thì ai tiết lộ cho bọn trộm? Tôi không dám nghĩ đến một kết cục “tàn bạo” hơn.

    Có ngờ đâu tuổi trẻ của tôi rơi vào tình huống này? Có hàng trăm câu hỏi hiện lên với tôi, nhưng chẳng kê biên ra đây làm gì. Chỉ biết rằng khi đã “hồi tỉnh” lại, tôi đi tìm bác Văn Kính.  Giờ đây tôi chỉ còn biết than thở với bác. Tôi không dám đi xe máy nữa. Tôi chạy bộ gằn, tắt cánh đồng. Không dưới ba lần vấp bổ chửng, lên bờ xuống ruộng, đúng nghĩa đen của câu ấy. Bác đang nhẩn nha với cái đầu của một ông bạn. Bác bảo: Đợi tôi tí tẹo nhá. Tí tẹo gì mà bằng một thế kỷ.

    Bác Văn Kính chăm chú nghe tôi kể chuyện thày tôi, ông chủ xưởng mộc xin âm dương. Nghe xong, bác nói, giọng tưng tửng như thể bác biết cả rồi:

    -Mới đầu tưởng là một mũi tên, trúng hai đích.

    Nghe nói thế, đầu tôi hệt như một lần ổ cứng  máy tính bị liệt, màn hình tối đen.

    -Bác bảo hai đích là thế nào ạ?

    -Thế này nhá. Một là chở tượng ra nước ngoài. Hai là hạ bệ tay bí thư bên đó. Đang chuẩn bị đại hội trên huyện mà. Tay  ấy chả đang là ứng viên bí thư Huyện.

    -Trúng bách rồi. Một lần ở phòng khách nhà cháu, chính tai cháu đã nghe chuyện thời sự ấy. Bố cháu bình luận tay ấy có bản lĩnh, thành tích đầy mình, bố cháu ký duyệt hai tay. Hóa ra không phải ông  ký duyệt, mà là định “phăng teo”.  Bây giờ bác bảo làm sao đây?

    - Dù sao giời phật đã hóa giải: mũi tên bay lên giời, hòm tượng đã tìm về. Đến đây bác cháu ta đành bó tay thôi. Mọi cái còn lại là ở trong đầu bố cháu.

    Chả nhẽ mọi chuyện dừng ở đây? Tôi chào bác Văn Kính, chậm chạp bước ra về. Bây giờ tôi không đi tắt cánh đồng nữa. Tôi đi lối chính, leo lên đường đê. Chả còn sợ vấp váp nữa. Bác Văn Kính nói mọi cái còn lại là ở trong đầu bố cháu. Không đúng. Cái mật mã ấy đã tuột khỏi đầu cha tôi mất rồi. Ông đã không trao nó cho tôi, mà đã bán nó cho kẻ gian.  Để cái tội trời ấy đến đời tôi,  tôi phải gánh chịu.

     

    10- Cái gió bờ sông. Cái gió quen quen như gió sông nhà. Chính cái gió sông nhà này trong câu chuyện của Cải làm tôi giật nẩy mình lên và hiện lên cái dây cháy chậm cho tôi châm lửa vào. Tôi ngồi xuống vệ cỏ. Tôi đã chơi nghịch, chạy nhảy trên những vệ cỏ xanh mướt này suốt những năm thơ trẻ. Quãng đê này gió từ đồng thổi ra sông, mang theo cái hương ấm hương nồng, gió quê hòa với gió sông. Mang theo cả cái khí linh thiêng từ những mồ mả trên những gò thấp gò cao. Gió đất hòa với gió trời. Thời trẻ thơ, tôi hít thở tất cả những cái đó. Lớn lên trong thời a còng (@) tôi hóa ra quên đi và xa lạ tất cả những cái đó. Hôm nay mới nhớ rằng mình vẫn hít thở nó đây thôi. Tôi hít thở một lúc lâu, chả biết có nhẹ nhõm được tí nào không.

    Hệt như có giời đất xui khiến, đúng lúc tôi nghĩ đến chữ A còng thì thằng bạn thời A còng phóng xe vù vù tới trên con đường cái to ngay dưới chân đê. Cái thằng dám “tháo gỡ lời nguyền”, tí táu tí mẻ với con gái làng tôi, cái hôm đi xuồng tìm tung tích kẻ trộm, đến bến Ngãi, tôi cho hai đứa lái xuồng trở về, chúng nó có trở về đâu, chúng nó cho dạt xuồng vào một bãi lau và dính nhau ở đấy.  Cái thằng tôi phịa ra với cha là ngồi đợi nó ở ngõ Chùa đi uống cà phê. Tôi hét lên: Đứng lại!

    -Ông anh  làm thơ hay sao mà ngồi ở đây? Nó dừng lại và hỏi.

    -Tôi đang đợi cậu ở đây. Để hỏi một câu: Lời nguyền “tháo gỡ” đến đâu rồi? 

    Nó cười hì hì, xuống xe, leo lên vệ đê, ngồi cạnh tôi.

    -Chưa động đến cái lông tơ của nàng. Cứ tưởng bở! Còn nhiều cái bí hiểm lắm.

    -Cậu nổi tiếng là tay “hác-cơ” ở huyện này cơ mà. Bí hiểm nào qua mặt được cậu?

    -Hác-cơ trên máy tính thôi. Còn đây là con gái làng bên ông anh. Không phải chuyện tình tang lãng xẹt.

    Ai ngờ câu chuyện tếu táo tình cờ ấy bỗng vụt sáng lên trong tôi một ý tưởng. Hác-cơ thuật ngữ máy tính là kẻ xâm nhập. Bọn này có những ma thuật chuyên  xâm nhập vào các chương trình máy tính của các tổ chức, các cá nhân. Chúng có thể vượt qua các rào cản, các tường lửa, lôi các chương trình, các hệ thống thông tin bí mật lên màn hình, xem xét, điều tra, dò la, khai thác…Chúng có hàng trăm thủ thuật để khám phá các  “pát-uốt”, mật khẩu bảo vệ các thư mục, tập tin, lôi cả các tập tin đã chôn vùi trong “thùng rác máy tính”, tìm các tập tin vô tình hoặc cố ý gài vào những thư mục, những chương trình xa lạ… Xâm nhập như thế để làm gì? Có một bọn “hác-cơ đen” chuyên xâm nhập để xuyên tạc, phá hoại. Nhưng cũng có hác-cơ chân chính, xâm nhập để phát hiện những yếu kém trong trong các hàng rào cơ mật, để bảo vệ các tư liệu, các thông tin cần được giữ gìn, đây là những hác-cơ vệ sĩ của những công ty kinh doanh lớn, các cơ quan cơ mật. Còn có một loại hác-cơ  chỉ đi sâu vào các nghệ thuật xâm nhập, luyện võ cao cường, để khám phá, để phô diễn với dân làng chơi máy tính. Thằng bạn tôi thuộc loại  dân  chơi này, nhưng cũng chỉ đến cỡ “hàng huyện”, bọn thành phố coi khinh là cái chắc. Nhưng đối với bọn tôi, nó vẫn là người hùng. Bây giờ có việc cần đến nó.

    -Tôi bảo cho cậu biết. Muốn tháo gỡ lời nguyền cần phải biết chính cái lời nguyền ấy. Với những “mật mã” của nó. Cậu có muốn biết không?

    -Trời ơi, ông anh, cứ trêu em làm gì, cho em lái xuồng về với nàng để chúng em lạc vào bãi lau, xuýt chết đói. Đừng nói chuyện “dính” nhau nhá. Em khai thật đấy.

    -Thì đã bảo tôi thật lòng thương cậu mà. Bây giờ cần đến cái tài hác-cơ của cậu. Sao mặt nghệt ra như “mất dế” thế? Thế này nhá, cái lời nguyền ấy hết sức bí mật, nằm trong một cuốn tộc phả của họ nhà nàng. Cuốn tộc phả ấy bằng chữ hán hay chữ nôm gì đó, nhưng đã dịch ra quốc ngữ, đã đưa vào máy tính, nhưng giấu nhẹm trong một “phai” (tập tin) có pát-uốt (mật khẩu) vô cùng hiểm hóc, tôi là tôi chịu. Cậu có giỏi thì gỡ cái pát-uốt ấy, sẽ biết tuốt, từ ông tổ nhà nàng đến đời cha nàng là thứ mười lăm, mười sáu gì đó. Trong đó có “mật mã tháo gỡ lời nguyền”. Sướng chưa?

    -Tưởng gì chứ cái ấy dễ ợt. Anh cứ “dán” cho em cái phai ấy. Với một số thông tin có liên quan đến những gì tạo ra mật khẩu.

    -Những gì có liên quan?

    -Ví dụ như họ tên tác giả của “phai” đó, ních nêm (biệt danh) ông ta, số điện thoại nhà, điện thoại di động, “dế” ấy mà, số nhà, nếu ở thành phố, nếu là gia phả thì tên tuổi ông tộc trưởng, biệt danh của ông, như họ nhà em, ông trưởng họ có biệt danh là ông Hai Đoành ...

    -Khoan đã, để anh mày còn ghi vào sổ tay, sao mà phải khai nhiều thứ liên quan đến thế?

    -Nguyên tắc là những cái dễ nhớ để tạo ra mật mã, em sẽ dùng những cái ấy để mò ra. Đĩa Xi-đi (CD) mới tinh đây, anh cứ “dán” vào đây cho em.

    -Nhưng với điều kiện thế này: Có mồm thì cắp, có nắp thì đậy. Vẫn cái bài như cụ già quán nước hôm nọ dặn ấy mà. Việc này chỉ hai anh em mình biết, để lộ ra là toi đấy. Mất mạng đấy, không đùa đâu.

    -Em xin thề.

    Nghe cái giọng hơi run của thằng bạn hác-cơ tôi biết nó hiểu đây không phải chuyện chơi.

    Ngay trong ngày hôm ấy, đợi lúc cha tôi đi vắng, tôi mở máy tính, chép tập tin “dapha” đã bị cha tôi gài mật khẩu bảo vệ, vào chiếc đĩa Xi-đi hình tròn có một mặt sáng bóng, phóng xe sang làng chùa giao cho thằng bạn. Tôi ghi cho nó khoảng 30 dữ liệu thông tin để nó tìm kiếm cái “pát-uốt” ấy  theo kiểu “ăn may” với hy vọng nhỏ nhoi, hy vọng cuối cùng, tìm ra cái “bí kíp” nghề nghiệp lắp dựng pho tượng làng chùa, do ông tôi truyền lại cho cha tôi, còn cha tôi thì không giao phó cho tôi. Trong đó chắc chắn chả có  “mật mã” nào hết, để nào là hóa giải lời nguyền, nào là tháo gỡ lời nguyền do chính tôi bịa tạc ra cốt hù dọa thằng bạn. Tuy thế, tôi cũng tự bảo lòng sẽ có một cuộc trò  chuyện  với cô bé làng, để chính cô sẽ “tháo gỡ” cái lời nguyền “ảo” ấy cho bạn. Bọn con gái làng tôi cứ “ra cái điều” thế thôi, mồi chài được một anh con trai làng Chùa như “thằng em” này đâu phải dễ?

     

    11- Cuối cùng thì không đến nỗi trắng đêm, “thằng em” cũng xâm nhập được vào hệ thống thông tin 30 dữ liệu giời ơi đất hỡi do tôi cung cấp (nhân lên thành hàng nghìn tình huống) tìm ra cái mật khẩu như cánh bèo trôi giữa dòng đời nước lũ. Còn tôi thì hoàn toàn trắng đêm không phải vì lo lắng mà vì hồi hộp. Trắng đêm nhưng chẳng đến nỗi trắng đầu như ông Ngũ Tử Tư đời xưa tôi đọc thấy trong Đông Chu Liệt Quốc từ năm mười bẩy tuổi. Có gì phải lo âu sợ hãi đến bạc đầu cho dại. Được ăn cả ngã về không ấy mà. Nhưng hồi hộp thì có. Hồi hộp y như anh kiếm khách trong trò chơi Ghêm phi thân qua tường thành, rào lửa, mà không biết phía trước còn có những hiểm trở gì. Đến đúng bốn giờ sáng thì thằng em bấm “nhạc dế” vui mừng báo tin em đã tìm ra “pát-uốt” rồi, nhưng phải cho em ngủ cái đã, em sẽ ngủ một  mạch đến chín giờ sáng đây, đừng gọi mà hoài, em sẽ  khóa máy. Cái chặng đến chín giờ sáng ấy tôi làm sao ngủ được? Tìm ra mật khẩu rồi liệu có tìm ra mật mã của các cụ ngày xưa không, tìm được mật mã rồi liệu có giải mã được không? Hàng trăm câu hỏi cứ hiện ra như thế.

    Đúng chín giờ tôi mang cho thằng em một khổ bánh mì tổ bố kẹp nhân ba-tê, bơ, xà xíu, dưa chuột, đủ thứ, mua ở đầu phố chợ, lại cả một hộp sữa “Vi-na-miu hân hạnh tài trợ” cho nó ăn uống rồi ngủ tiếp. Còn một mình tôi ngồi trước máy với bộ Gia phả đã hiện lên nguyên vẹn trên màn hình, trùng trùng lớp lớp mê hồn trận  những chữ Hán Việt tù mù như đánh đố.

    Cái mật khẩu cha tôi gài cũng đơn giản. Nó gồm sáu ký tự chính là sáu chữ số cuối của máy điện thoại di động của cha tôi, chỉ khác là ông đọc ngược lại, 342496 thì đọc thành 694243, sau đó mã hóa thành chữ la-tinh trong 24 chữ cái, 1 là a thì 6 là g (bỏ qua chữ đ vì ký tự tiếng Anh không có đ), lần lượt là gkdbdc, mật khẩu như thế vừa dễ nhớ vừa bí hiểm. Đơn giản như thế nhưng “thằng em” cũng phải mò qua hàng trăm phương án mới “xâm nhập” được vào “tập tin”. Nó cứ theo cái phương châm chọn những cái vừa dễ nhớ, vừa là “hàng chợ” mà mầy mò tìm. Cái bất ngờ đối với nó là cha tôi đã tỏ ra  một cao thủ, biết đọc ngược 6 chữ số, lại “mã hóa” ra chữ an-pha-bê. Nhưng thôi chuyện ấy cho qua.

    Tôi nghe tiếng cuốn gia phả này đã lâu, đây là lần đầu tiên mở ra trên trang máy. Nhưng hôm nay, không phải lúc nghiên cứu gia phả, tộc phả. Tôi lướt nhanh các hàng tổ tiên, tìm đến hàng thmười hai, ông nội tôi. Tôi xem nhanh cái phần gọi là Thực Lục ghi vắn tắt tên húy, tên hiệu, ngày giỗ, nơi táng, tên tuổi cụ bà, sinh ra các con là những ai, tôi nhận ra đúng tên cha tôi là con trưởng, “ô-kê” liền, đây chính là ông nội tôi. Tôi đọc ngay cái phần gọi là Sự tích của cụ. Hóa ra đến đời ông nội đã xảy ra một cuộc chia ly, tan đàn xẻ nghé, phải rời quê đi theo gánh mộc mất mười lăm năm lên rừng lên núi. Các cụ tả lúc xa quê nâng chén rượu biệt ly cụ tổ tôi đã dặn ông nội tôi rằng (chép nguyên văn): Con ra đi giữ lấy nghiệp nhà. Nhớ  khi:

                                  Trăm  núi nghìn sông

                                  Nghìn tay nghìn mắt

                                  Nghìn mắt sáng sao

                                  Nghìn tay đưa dắt

                                  Lửa sáng trên trời cao

                                  Sấm ran nơi mặt đất

                                  Nghiến răng cho chặt

                                  Chớ để tan đàn.

    Chỉ dặn có thế. Hãy giữ lấy nhời.       Nói rồi gồng gánh ra đi. Than ôi! Chiếc thân chiếc bóng, mặt đất chân mây, chẳng mấy chốc đã mười lăm năm giời. Khi về làng thì nhời xưa còn đó người đã đi đâu ra cánh đồng chỉ thấy nấm cỏ xanh xanh ngắt một màu. Cụ bèn quyết chí lập thân, tay nghề, mẹo nghề thu thập khắp mười phương, nối chí xưa lập nghiệp, truyền nối cháu con.

    Mắt tôi gắn vào mấy chữ: Nghìn tay nghìn mắt. Đây rồi, cái mật mã ấy đây rồi. Nhưng đọc mấy câu vần vè tiếp theo thì chẳng hiểu gì cả. Như nhìn vào bức vách. Dù sao cứ chép lấy đã.  Tôi bóc tờ lịch trên tường nhà thằng bạn, hí hoáy chép thật nhanh đoạn văn trên. Lại đếm tất cả có 123 chữ. Riêng đoạn văn vần có 34 chữ. Chả biết ông chú  họ dịch  văn ở viện khoa học có tôn trọng dịch đúng số chữ này không, có khi mật mã ở trong chính những con số ấy. Cái ông Séc-lốc Hôm trong tôi lại hiện lên và lẩn thẩn hoang mang nghĩ thế. Tôi gấp tờ lịch thật nhỏ vùi kỹ trong túi ngực, cứ làm như sẽ có người lục soát, khám xét moi ra mất. Tôi nghĩ còn gian nan “trăm sông nghìn núi” nữa mới khám phá ra cái mật mã này. Hãy biết thế.

    Được “bảo bối” rồi, tôi lướt qua các tổ đời trước        xem có gì hay hay, cái chính là xem các sự tích. Nhiều chuyện thú vị khiến tôi không rời mắt nổi khỏi màn hình. Tình cờ tôi vấp phải một chuyện có liên quan đến thằng bạn. Hóa ra ông tổ đời thứ Năm họ tôi có mối tình duyên với người làng Chùa. Các cụ biết có lời nguyền từ truyền thuyết hai vị thần hoàng, nhưng các cụ vẫn lấy nhau, sinh con đẻ cái. Sự tích kể rằng trước khi làm lễ  vu quy các cụ nghe lời mách bảo của ông Hộ Đình sắm cái lễ một đĩa quả có đủ năm màu vàng xanh đỏ tím hồng  đem ra miếu thần Bạch Hổ ở xóm Thượng, thắp ba nén hương khấn vái, lại mua đôi cá vàng đêm rằm thả xuống giếng đình. Xong vào đình thắp hương xin âm dương, gieo tiền một sấp một ngửa là được. Tôi xem kỹ đoạn văn sự tích, mừng lắm. Lại tò mò lần theo “Thực lục” các đời kể từ đời thứ Năm đến đời thứ Mười hai là ông nội tôi, dòng con trưởng không đời nào “bị phạp” nghĩa là không đời nào không có con trai. Có nghĩa là chúng tôi có họ ngoại bên làng Chùa. Thảo nào từ khi tôi lớn lên năm nào cũng thấy các cụ họ tôi rủ nhau một đoàn sang ăn cỗ giỗ bên này, không ai giảng giải dây mơ rễ má ra sao cả, chỉ biết có họ hàng.

    Thế là một mũi tên “hác-cơ” trúng hai đích. Tôi lay gọi thằng bạn. Đợi nó hoàn toàn tỉnh táo, tôi trịnh trọng đọc cho nó nghe đoạn văn “tháo gỡ lời nguyền”. Còn hỏi thêm nhớ chưa, có cần  ghi chép không? Miếu thần Bạch Hổ thì tôi biết, cái miếu không còn nhưng nền miếu thì còn. Xong nhá. Tôi bấm “mơ-nuy” (thực đơn) “Ê-đi” (biên tập), bấm nút “sê-lếch ôn” (chọn toàn bộ), bôi đen cả tập tin, bấm “đê-lét”, nhoáy  một cái, xóa sạch trơn cuốn Gia phả trên máy, từ phép thần hóa giải lời nguyền đến mật mã bí truyền dựng tượng thiêng. Lại bấm nút ổ đĩa Xi Đi,  lấy cái đĩa sáng bóng đã cóp-pi trộm  tập tin bảo mật của cha tôi, cẩn thận cho vào vỏ nhựa cứng trong suốt như thủy tinh, bỏ túi. Xong. Tôi nói với thằng bạn như thể chính mình vừa ban ơn cho nó:

    -Ta về đây. Nhớ rằng không phải mời ăn bữa cỗ là xong nhá.

    Thực ra tôi mới phải hàm ơn nó. Tôi sẽ nhớ suốt đời.

     

    12- Tôi phóng xe ra khỏi làng Chùa, đi thẳng đến hiệu cắt tóc của “quân sư” Văn Kính. May đúng lúc ông vắng khách.

    -Cháu đã khám phá ra cái mật mã bí truyền này. Nhưng phải nhờ bác giải mã cho. Cháu là mù tịt.

    Tôi lúng túng lấy tờ lịch gấp và vo viên lại bằng đầu đũa, cứ y như tài liệu mật kể lại trong các hồi ký cách mạng không bằng. Lại ly kỳ hóa nó lên nữa chứ. “Cái này cất trong một tráp thờ để lẫn với những bằng sắc gì gì toàn chữ hán chữ nôm. Riêng cái này bằng chữ quốc ngữ”. Tôi quên mất rằng chỉ cần lật mặt phải tờ lịch lên sẽ thấy lè lè ra cái ngày hôm nay còn mới tinh tính tình.

    Nhưng may mắn bác Văn Kính không phải Séc-lốc Hôm, bác không lật mặt phải tờ lịch lên. Bác ngồi ngay trên cái ghế xoay của khách hàng, lại kéo ghế đẩu cho tôi ngồi ghé, bác run run trải tờ giấy có chép cái mật mã kỳ bí lên đùi, vuốt vuốt cho thẳng, rồi lẩm bẩm đọc. Nghe giọng bác đọc tôi cứ tưởng tượng như  một ông phù thủy đang đọc câu thần chú.  Con ra đi giữ lấy nghiệp nhà.

    Bác nhắm mắt lại, gật gật đầu, rồi nói:

    -Có bốn chữ nghìn tay nghìn mắt. Đúng là cái này đây. Nhưng bí hiểm quá chừng. Có đủ cả trời, đất, núi, sông, lửa, sấm. Kinh Dịch đây mà. Để bác phải đi hỏi ông thày này. Nhà ông ấy có một tủ đầy sách bói Dịch. Bác vẫn cắt tóc cho ông ấy mà. Cháu đưa bác đi  ngay nhá.

    -Cái nghề cắt tóc với làm tổ trưởng dân phố của bác quả là “tuyệt chiêu”.

    Tôi nói thế, khi bác khó nhọc trèo lên sau xe tôi. Bác vỗ lưng tôi:

    -Không phải nịnh tôi, ông tướng trẻ ạ.

    Thì ra bác đã hình dung ra tôi như một viên tướng trẻ.

    Lần này tôi không phải ngồi “cửa chùa” để bị “chỉ điểm” nữa, mà ngồi ngay dưới một gốc đa thoáng mát để chờ bác. Bác bảo:

    -Anh vào không tiện. Nhưng phải ngồi đây, không được đi đâu. Nhỡ có việc tôi phải ra hỏi anh.  Bác đi khuất sau một bụi trúc. Lát sau, bác ra. Trông thấy dáng đi của bác, tôi đã thấy sướng. Bác bảo:

    -Xong rồi đây, bác cháu ta ngồi đây, rồi cháu sang ngay bên ông thày. Không thể chậm một giây.

    Chúng tôi ngồi ngay dưới gốc đa, đầu chúi vào trang giấy lịch, như cùng đọc một bức thư. Trên tờ lịch của tôi có thêm một quẻ Dịch bằng những vạch âm dương, vẽ bằng bút chì bi run rẩy, vạch dương nét liền, vạch âm nét đứt, cái này thì tôi biết tuy rằng “ông tướng trẻ” còn rất là lơ mơ. Bác khe khẽ  giảng :

    -Nó ở các câu thơ. Lạy thần thánh. Ông thày bảo: Một quẻ Dịch đây mà. Lửa sáng trên trời là quẻ Ly. Ly có tượng là lửa. Đọc là Hỏa. Quẻ Thượng. Sấm ran mặt đất là quẻ Chấn. Chấn có tượng là sấm. Đọc là Lôi. Quẻ Hạ. Ghép hai quẻ thượng hạ lại là Hỏa Lôi. Chết tôi rồi, à đây, ông đã viết cho cái tên quẻ. Hỏa  Lôi Phệ Hạp. Phệ là Cắn. Nghiến răng cho chặt chả là cắn là gì. Hạp là Hợp. Chớ để tan đàn chả là hợp thì là gì nữa. Phệ Hạp là Cắn để Hợp.

    -Cháu chả hiểu gì cả. Cắn để hợp, là thế nào ạ?

    -Như ta nói đấu tranh để hòa hợp ấy mà. Nhưng trong mật mã này, vấn đề không phải là ở ý nghĩa quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp. Mà nó ở cái mã số của quẻ. Ông thày bảo, theo cụ Phục Hy, quẻ Ly, mã số là 3. Quẻ Chấn là 4. Ghép hai số lại là ba mươi tư, đúng không nào? Còn theo cụ Văn Vương, Ly là 9, Chấn là 3. Ghép hai số lại là chín mươi ba. Vậy có hai con số 34 và 93, ta chọn một. Ông thày bảo: Tôi ngờ rằng các mã số ở quẻ này là ở con số 34. Đây này cuối câu chả có hai con số 34 trên 123.  Con đã hiểu chưa?

    Lần đầu tiên, bác gọi tôi là con.

    -Con chưa hiểu. Thế còn con số 123 có ý nghĩa gì không ạ? (Cái nhân vật Sê-lếch Hôm tinh quái trong tôi lại nổi dậy, bởi vì con số 34 do chính tôi đếm các câu văn vần tìm ra chứ có phải của “các cụ” đâu?).

    -Không có ý nghĩa gì cả, nó chỉ làm rối lên, hoặc làm nhòe mờ con số 34 đi mà thôi. Tính chất huyền bí là ở chỗ ghép hai con số Phục Hy lại thành số 34. Ta ngờ rằng hai con số trong ngoặc đơn này là do người sau thêm vào, nguyên văn không nói toẹt ra như thế. Con hiểu chưa?

    -Con chưa hiểu.

    Tôi nói thế, nhưng trong lòng thì bái phục ông thày và ông bác sát đất. Bác lại nói:

    -Vấn đề này phải hỏi thày con huyện bên. Ta ngờ rằng phải tháo lắp bức tượng bắt đầu từ cánh tay số 34. Con sang ngay bên thày con đi. Ta đi bộ về. Tiết kiệm từng giây mà.

    Tất cả sáng bừng lên.

    Tôi chào bác Kính, lại phóng xe vù đi, bây giờ thì đúng như một viên tướng trẻ.

    Chẳng bao lâu tôi đã đến cổng nhà thày, ông chủ xưởng mộc. Người nhà bảo: “Ông đang bên miếu tổ”. Lại bảo: “Cả ông nhà cũng đi với ông sang bên ấy! Xe ông để kia kìa”. Tôi bậm môi, trợn mắt nhìn. Đúng rồi, chiếc xe máy cha tôi đang để góc sân. Chiếc xe Su-zu-ki đời mới màu nâu tươi. Số xe của cha tôi đầu 7 đuôi 9. Thế này là thế nào nhỉ? Tôi rợn hết cả người lên. Hay là cha đã biết hết mọi hành vi của mình? Cha tìm thày làm gì? Chắc chắn có việc gì liên quan đến tôi, khẩn thiết lắm, khiến cha phải can thiệp với thày? Có việc gì nghiêm trọng thày phải dẫn cha sang miếu tổ thắp hương xin âm dương?  Tôi chào người nhà, dắt xe quay lui, đi ra cổng làng, tìm một lối khác vòng vo, cập đầu ngôi nhà gọi là “Miếu tổ”, giấu xe một chỗ, rồi nhẹ nhàng luồn qua các bụi chuối, tìm một chỗ kín đáo nhìn vào sân miếu. Thì thấy rõ ràng cha tôi đang ngồi với thày trên thềm nhà miếu tổ. Đúng chỗ thày ngồi với tôi hôm qua. Cũng chiếc chiếu hoa, trên chiếu có ấm trà, khay chén, và chiếc điếu thuốc lào khảm trai với chiếc cần cong điệu nghệ. Có lẽ hai ông vừa thắp hương và xin âm dương trong miếu ra. Tôi thấy cha tôi đang bóc một bao thuốc lá hút dở. Ông lấy một mảnh bao, vuốt vuốt cái mặt trong của nó, rút chiếc bút bi trên ngực áo, viết cái gì trên mặt giấy. Loáng cái xong. Ông gấp tờ giấy mảnh bao thuốc, hai tay cung kính dâng lên đưa cho thày tôi. Thày cầm mảnh giấy, mở ra, liếc qua, gấp lại, cất lên túi ngực, tôi thấy rõ động tác thày cẩn trọng ấn sâu mảnh giấy vào đáy túi. Tôi biết trong mảnh giấy đó chỉ có hai chữ số. Họ ngồi im lặng, không ai nói với ai câu nào. Hình như họ đang chờ một cái gì. Một ý tưởng táo bạo vụt hiện lên trong tôi. Tôi nhẹ nhàng rời khỏi bụi chuối lướt nhanh ra bờ giếng. Lướt nhanh ra đầu hồi nhà bếp nối với gian nhà thờ. Con chó vàng bật dậy vẫy đuôi. Tôi đã quen nó. Tôi ra hiệu cho nó đừng sủa váng lên. Tôi nháy mắt với cô giúp việc miếu thờ, cô đang rmột đĩa xôi trong chõ. Tôi nói thầm với cô: “Cấm!” Lại nháy mắt cười với cô lần nữa và đưa mắt lên phía nhà thờ. Cô mỉm cười. Tín hiệu của bọn trẻ chúng tôi chỉ có thế là đủ. Tôi luồn nhanh ra chỗ cửa ngách thông gian bếp với gian thờ. Người ta vẫn bưng lễ lên gian trên theo cửa này. Tôi trút giày ngoài cửa, đúng luật lệ của tất cả những ai đặt chân vào nền nhà gạch hoa miếu tổ. Như một con mèo, tôi nhón chân lướt vào. Bây giờ tôi đã ngồi thu lu trong bậu cửa bức bàn ngay dưới chân bàn thờ, phía ngoài là thềm, giải chiếc chiếu hoa, có hai người ngồi đàm đạo. Tôi nghe được từng tiếng động nhỏ. Thì thấy thày tôi rít một hơi thuốc lào ròn tan. Thoảng mùi khói hương quyện với mùi thuốc lào cay cay say nồng và mùi thuốc lá thơm chính hiệu ba con số. Tiếng đặt chén trà lên khay. Tiếng cha tôi:

    -Bác cẩn thận thế là phải. Việc này nhất định phải có “chỉ thị” của bề trên.

    Tiếng thày:

    -Bác thông cảm cho. Ba lần xin âm dương, các ngài đều “cười”. Trong gia phong nhà chúng tôi, những việc nhớn nhao thế này không được phép Tổ chúng tôi không dám làm. Bác cứ bình tâm, đợi chúng tôi dâng lễ xin lần nữa, may các ngài rủ lòng thương, tôi không tiếc thân mình. Bởi vì việc này quan hệ đến tính mệnh, quan hệ đến cả cơ nghiệp, dòng giống nhà tôi. Bọn quỷ ác kia thời này không việc gì chúng không dám làm.

    Có nghĩa họ sẽ lại vào gian thờ này lần nữa, khấn vái và xin âm dương!

    Tiếng cha tôi:

    -Bác cũng biết cho. Tôi đã trao cho bác chiếc chìa khóa ấy. Cả xứ này, bác là người thứ hai nắm trong tay chiếc chìa khóa vàng ấy.

    Cái mà tôi gọi là mật mã, họ gọi là chìa khóa. Chìa khóa vàng.

    Tiếng thày tôi, lạnh ngắt:

    -Tôi không phải người thứ hai. Bọn ác kia mới là người thứ hai. Chúng nó đã động đến những cái linh thiêng nhất, đã bán cả linh hồn, cả tổ tiên.

    Buốt thon thót. Cha tôi phải hộc máu lên mới đúng. Tôi thấy cái gì dội lên ngực. Nghẹt thở. Tiếng cha tôi run run:

    -Dù  sao tôi đã giao cho bác cái gia bảo nhà chúng tôi. Thôi thì coi như bác là người thứ ba. Tôi xin bác không có người thứ tư nữa đấy. Tôi xin nhấn mạnh thế. Cả thằng con tôi, học trò của bác. Tôi không nói nhiều việc này.

    Bất giác tôi sờ tay lên ngực. Tôi rút nhanh tấm giấy lịch vo viên  nhàu nát. Tôi vuốt vuốt nó cho phẳng. Tôi nhẹ nhàng đứng dậy. Tôi biết mình phải làm gì. Tôi còn đủ sức vái ba vái. Xong. Tôi tiến lên một bước. Trước mặt tôi là chiếc đĩa hoa cổ có hai đồng chinh âm dương. Tôi nhón hai đồng chinh lên. Tôi đặt tờ lịch thiêng liêng của đời tôi lên đĩa. Mặt trước tờ lịch có ghi đúng cái ngày hôm nay. Mặt sau tờ lịch là những gì tôi đã biết về chiếc chìa khóa vàng. Xong. Tôi đặt hai đồng chinh đè lên tờ giấy. Lát nữa, hai người vào xin âm dương lần nữa, họ sẽ biết, nói đúng hơn là cha tôi, sẽ biết, tôi sẽ nói với họ điều gì. Tôi, lại như con mèo, luồn ra phía cửa ngách. Chấm hết.

    X.C.

    www.trieuxuan.info

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,075,013

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/