Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,090,560

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Tiểu thuyết

Quo Vadis

Henryk Sienkiewicz

  • Thứ năm, 15:44 Ngày 30/10/2008
  • Cuối cùng, giây phút chờ đợi đã tới. Trước hết các tiểu đồng phục dịch nhà hát khiêng ra một cây thập tự bằng gỗ, khá thấp, để gấu có thể chồm đến ngực kẻ chịu xử tội, tiếp đến, hai người nữa dẫn - mà đúng hơn là kéo - lão Khilon ra, vì xương chân gẫy nát nên lão không thể tự đi được. Người ta đặt lão và đóng lão lên gỗ nhanh đến nỗi những vị cận thần tò mò không kịp nhìn cho thật rõ, và mãi tới khi cây thập ác được cố định vào cái hố đã chuẩn bị sẵn, mọi cặp mắt đều đổ dồn vào lão. Nhưng hiếm ai có thể nhận ra lão Khilon ngày trước ở ông cụ già trần truồng này. Sau những cực hình mà Tygelinux ra lệnh tra tấn lão, trên mặt lão không còn lấy một giọt máu, và chỉ trong bộ râu cằm trắng bạc mới thấy có vết đỏ của máu đọng lại khi lão bị dứt đứt lưỡi. Qua làn da trong suốt gần như có thể nhìn thấy rõ từng chiếc xương của lão. Lão có vẻ già hơn trước rất nhiều, gần như lụ khụ. Ngược lại, trước kia mắt lão bao giờ cũng ném ra những cái nhìn vĩnh hằng, bất an và đầy dữ dội, bộ mặt nhạy cảm của lão hồi trước bao giờ cũng phảng phất vẻ lo lắng và phấp phỏng triền miên, giờ đây, mặt lão lộ vẻ đau đớn, nhưng lại ngọt ngào và bình thản, như mặt những người đang ngủ say hay đã chết. Có thể trí nhớ về tên vô lại trên thập tự được Chúa Crixtux xá tội đã cấp thêm cho lão lòng tin, cũng có thể lão nói thầm với vị Chúa nhân từ rằng: "Chúa ơi, tôi đã từng đốt Người như một con sâu độc, nhưng suốt cả cuộc đời tôi là một kẻ bần hàn, đói khát; người ta chà đạp tôi, đánh tôi và áp bức tôi. Chúa ơi, tôi là kẻ nghèo hèn và vô cùng bất hạnh, giờ đây họ đang bắt tôi phải chịu cực hình và đóng đinh tôi lên cây thập tự, vậy xin Người hỡi Chúa nhân từ, chớ đạp bỏ tôi trong giờ chết". Và hẳn là sự bình an đã thâm nhập vào trái tim nhỏ nhoi của lão. Không ai cười, vì trong con người bị đóng đinh câu rút này có gì đó thật mỏng manh, lão già yếu, không chút sức tự vệ, như cầu xin lòng thương hại bằng sự nhẫn nhục của mình, đến nỗi bất giác mỗi người đều tự hỏi, lẽ nào có thể hành hạ và đóng đinh câu rút những kẻ không cần việc ấy cũng chết đến nơi rồi? Đám đông câm lặng. Giữa đám cận thần, Vertynux nghiêng người sang trái sang phải, thì thào bằng giọng kinh hoàng: "Các vị hãy nhìn xem họ chết ra sao kia kìa!". Những kẻ khác chờ con gấu xuất hiện, lòng chỉ cầu mong cho buổi diễn kết thúc thật nhanh.

    Rốt cuộc, con gấu cũng nặng nề bò ra khỏi đài diễn, lắc lư về hai bên cái đầu cúi thấp, nó hé mắt nhìn chung quanh, dường như đang suy nghĩ hay tìm kiếm điều gì. Cuối cùng nó nhìn thấy cây thập tự, trên đó là một thân hình trần truồng, nó bèn tiến lại gần, nhổm dậy, nhưng rồi sau đó lại thả hai chân trước xuống đất và ngồi ngay dưới chân cây thập tự bắt đầu gầm gừ, dường như tình thương hại cũng lên tiếng ngay trong trái tim thú dữ của nó trước mảnh thân người này.

    Những tiếng kêu khích lệ vang ra từ miệng bọn phục dịch nhà hát, nhưng dân chúng vẫn câm lặng. Trong khi đó lão Khilon chậm chạp ngước đầu, và một hồi lâu, lão lướt mắt nhìn qua những người xem. Cuối cùng, cái nhìn của lão dừng lại ở đâu đó trên những dãy ghế cao nhất của nhà hát, ngực lão bắt đầu phập phồng gấp gáp hơn, và lúc ấy chợt xảy ra cái điều khiến người xem thán phục và kinh ngạc. Đó là khuôn mặt của lão chợt rạng rỡ một nụ cười, vầng trán lão như có ánh hào quang bao phủ, trước lúc chết, mắt lão ngước lên nhìn trời, và lát sau hai giọt nước mắt to tướng, tràn ra dưới mi, chậm chạp lăn trên mặt lão.

    Rồi lão qua đời.

    Và khi ấy một giọng đàn ông dõng dạc kêu lên ở phía trên cao, dưới tấm che trần:

    - Bằng an cho những người tử vì đạo!

    Một sự im lặng nặng nề trùm lên cả nhà hát.

    CHƯƠNG 64

    Sau cảnh diễn trong khu vườn thượng uyển của Hoàng đế, những nhà ngục rỗng đi trông thấy. Thực ra người ta cũng bắt thêm và cầm tù được những nạn nhân mới bị nghi ngờ là tin theo cái giáo phái phương Đông, nhưng những cuộc truy quét cung cấp họ cho nhà tù mỗi lúc một ít hơn, chỉ vừa đủ để dùng cho những biểu diễn tiếp theo, thực ra cũng đã tới hồi mãn cuộc. Đã no máu người, dân chúng càng ngày càng thể hiện sự chán ngán và mỗi lúc một thêm lo lắng vì cách xử sự chưa từng gặp của những người bị xử tử. Những nỗi lo sợ của anh chàng Vextynux mê tín chế ngự hàng nghìn tâm hồn. Trong đám dân chúng, người ta kháo nhau những chuyện mỗi lúc một kỳ dị hơn về tính thù hằn của vị thần Kito. Bệnh sốt thương hàn của nhà ngục lan tràn trong thành phố lại càng khiến cho nỗi lo sợ chung tăng thêm. Người ta thường gặp những đám ma và thì thầm vào tai nhau rằng cần có những lễ vật giải hạn mới để cầu khẩn vị linh thần chưa tường nọ. Trong các thần miếu, người ta dâng lễ vật lên thần Jupiter và nữ thần Libityna. Cuối cùng, mặc mọi cố gắng của Tygelinux và đồng đảng, nhưng ngày càng lan rộng ý kiến cho rằng thành phố bị đốt cháy theo lệnh của chính Hoàng đế, còn những Kito hữu phải chịu oan.

    Song cũng chính vì vậy cả Nero lẫn Tygelinux đều không ngừng những cuộc khủng bố. Để làm thỏa mãn dân chúng, người ta ban bố thêm những quy định mới về việc ban phát lương thực, rượu nho và dầu ôliu, người ta công bố những quy chế dễ dàng hơn cho việc tái thiết nhà cửa, đầy những điều khoản giảm nhẹ cho chủ nhà, cùng những quy chế khác liên quan tới độ rộng của đường phố và những loại vật liệu cần dùng trong xây cất, để trong tương lai tránh được hỏa tai. Chính Hoàng đế cũng thường tới dự những cuộc họp bàn của Viện nguyên lão cùng các bậc "cha ông" thảo luận về quyền lợi của chúng dân và thành phố; ngược lại đối với những tội nhân, ngài không ban cho một chút ân phước nào. Vị chúa tể thế giới lo lắng trước hết đến việc cấy sâu vào đầu dân chúng niềm tin rằng chỉ có những kẻ thật sự có tội mới đáng chịu những sự trừng phạt không khoan nhượng như thế. Tại Viện nguyên lão không hề có tiếng nói nào cất lên ủng hộ Kito hữu, vì không một ai muốn chạm đến Hoàng đế, thêm vào đó, những người có tầm nhìn xa hơn về tương lai khẳng định rằng, trước cái tín ngưỡng mới kia, những nền tảng của quốc gia La Mã không thể tồn tại nổi.

    Người ta chỉ trả lại cho gia đình những kẻ đang hấp hối cùng những người đã chết, vì luật La Mã không trả thù những người chết. Đối với Vinixius cũng là điều nhẹ nhõm khi chàng nghĩ rằng, một khi Ligia qua đời, chàng sẽ chôn nàng vào mộ của gia đình và rồi sẽ được an nghỉ cạnh nàng. Chàng không còn một chút hy vọng nào có thể cứu nàng thoát chết, bản thân chàng, đã tách rời khỏi cuộc đời phân nửa, cũng chỉ hoàn toàn dâng cho Chúa Crixtux, không mơ ước tới một mối liên hệ nào khác ngoài liên hệ vĩnh hằng. Lòng tin của chàng trở nên sâu thẳm, đến nỗi trước lòng tin ấy, chàng thấy sự vĩnh hằng kia là một cái gì còn thực tế và chân chính hơn kiếp tồn tại tạm thời mà chàng vẫn sống cho tới nay. Trái tim chàng tràn ngập một niềm say mê rất tập trung. Chàng biến thành một sinh linh gần như không có thân xác, sinh linh ấy chỉ khao khát sự giải thoát hoàn toàn cho bản thân mình và cho linh hồn thương yêu thứ hai nữa mà thôi. Chàng hình dung thấy khi ấy, cùng với Ligia, chàng sẽ tay nắm tay bay lên trời, nơi Chúa Crixtux sẽ ban phước cho cả hai và cho họ được sống trong một thế giới bình yên và rộng lớn như ánh sáng mặt trời. Chàng chỉ cầu xin Chúa Crixtux để Người tránh cho Ligia khỏi phải chịu nhục hình trong hý trường, vì chàng cảm thấy hoàn toàn chắc chắn rằng chính chàng sẽ cùng chết với nàng. Chàng nghĩ rằng, trước cái biển máu đã đổ ra kia, chàng không có quyền chờ đợi rằng một mình nàng sẽ được cứu sống. Chàng nghe ông Piotr và Paven nói rằng ngay cả họ nữa cũng sẽ phải chết như những người tử vì đạo. Hình ảnh lão Khilon trên cây thập tự khiến chàng tin rằng, cái chết, ngay cả cái chết khổ hình, cũng có thể ngọt ngào, chàng thầm mong nó đến cho cả hai, như một sự biến đổi đang khát khao từ kiếp sống dữ dằn, buồn thảm và nặng nề sang một cuộc sống tốt đẹp hơn.

    Thỉnh thoảng, chàng đã nếm mùi vị cuộc sống của thế giới bên kia. Nỗi buồn dâng lên từ hai linh hồn của chàng và nàng mất dần vị đắng cay bỏng rát xưa kia và biến dần thành một sự tận hiến bình an ngoại giới nào đó cho ý chí của Chúa. Trước kia, Vinixius vất vả bơi ngược dòng, chàng phải chống cự và mệt mỏi, giờ đây chàng thả người xuôi theo sóng, tin rằng nó sẽ mang chàng tới chốn yên tĩnh vĩnh hằng. Chàng đoán rằng, cũng như chàng, Liogia sửa soạn để được chết, rằng mặc dù những bức tường nhà tù ngăn cách họ, nhưng họ sẽ được cùng đi và chàng mỉm cười với ý nghĩ này như với chính niềm hạnh phúc.

    Quả thực, họ cùng bước nhịp nhàng, dường như hàng ngày họ được cùng nhau chia sẻ những ý nghĩ của nhau rất lâu vậy. Ở Ligia cũng không còn một khát vọng nào, một hy vọng nào, ngoài niềm hy vọng về cuộc đời ở thế giới bên kia. Đối với nàng, cái chết không những chỉ là sự giải thoát khỏi những bức tường nhà giam khủng khiếp, khỏi tay Hoàng đế và Tygelinux, không những chỉ là sự cứu rỗi, mà còn là lúc được cưới Vinixius. Đứng trước sự tin chắc rằng không hề lay chuyển này, tất thảy những niềm tin khác mất hết sức nặng. Sau cái chết, với nàng sẽ bắt đầu niềm hạnh phúc không nhuốm màu trần thế nữa, vì vậy nàng chờ cái chết như vị hôn thê đón chờ phút hôn lễ.

    Và lòng tin tưởng vô biên này, dòng nước cuộn tách khỏi cuộc đời mang sang thế giới bên kia hàng nghìn tín đồ đầu tiên, cũng cuốn theo cả bác Urxux nữa. Ngay cả bác, suốt một thời gian dài, cũng không lòng nào đồng ý với cái chết của Ligia, song một khi hàng ngày qua những bức tường nhà tù lọt vào tin tức về những gì diễn ra ở các nhà hát và các khu vườn, nơi cái chết trở thành một nỗi khổ hình chung không sao tránh khỏi của tất cả những người Kito, đồng thời lại là điều tốt đẹp của họ, cao hơn tất thảy những khái niệm trần thế về hạnh phúc, thì rốt cuộc bác cũng không dám nguyện cầu đức Chúa Crixtux để Người lấy đi của Ligia niềm hạnh phúc kia, hoặc hoãn nó lại cho nàng sau những tháng năm dài dằng dặc. Trong tâm linh chất phác hoang dã của mình, bác còn nghĩ rằng lẽ ra vị công chúa con thủ lĩnh của những người Ligi cần được hưởng nhiều hơn và sẽ được nhận nhiều những niềm lạc thú thiên giới kia, hơn cả đám tiện dân như bác, rằng trong niềm vinh quang cực lạc, nàng sẽ được ngồi gần con chiên hơn những kẻ khác. Quả tình bác cũng từng được nghe rằng, đứng trước Chúa mọi người đều bình đẳng, nhưng trong tận đáy sâu tâm hồn vẫn còn âm ỉ niềm tin tưởng rằng công chúa con thủ lĩnh, lại là vị thủ lĩnh của tất thảy những người dân Ligi, thì không thể giống như một nữ nô lệ bất kỳ được. Bác cũng chờ mong đức Chúa Crixtux sẽ để cho bác được tiếp tục hầu hạ nàng. Còn đối với bản thân, bác chỉ có một niềm khát khao được giấu kín, là làm sao bác sẽ có thể được chết như con chiên, trên cây thánh giá. Nhưng bác thấy hình như đó là một hạnh phúc lớn lao quá đỗi, nên mặc dù biết rằng ở Roma người ta đã từng đóng đinh câu rút ngay cả những tên tội phạm tồi tệ nhất, bác vẫn không dám cầu nguyện xin được chết như thế. Bác nghĩ rằng chắc chắn người ta sẽ bắt bác phải chết dưới nanh thú dữ và điều đó trở thành nỗi lo lắng nội tâm của bác. Ngay từ nhỏ, bác đã sống trong những khu rừng hoang rậm rịt bạt ngàn, trong những cuộc đi săn thú triền miên và nhờ có sức khỏe hơn người, bác đã nổi tiếng trong những người Ligi từ khi chưa thành người lớn. Săn thú đã trở thành công việc yêu thích của bác, đến nỗi sau này, ở Roma, dẫu phải từ bỏ nó, nhưng bác vẫn thường lui tới các chuồng thú và nhà hát để được nhìn những con thú quen hoặc không quen. Hình ảnh của chúng làm dậy lên trong lòng bác ý muốn chiến đấu và giết chết chúng, nên giờ đây bác lo lắng trong dạ, rằng một khi phải đương đầu với chúng trong nhà hát, bác sẽ sa vào những ý nghĩ ít xứng đáng với Kito hữu, người lẽ ra phải chịu chết, sùng kín và nhẫn nại. Nhưng ngay cả trong việc ấy, bác cũng gửi gắm vào Chúa Crixtux và sự an ủi bằng những ý nghĩ khác ngọt ngào hơn. Bác nghe nói rằng con chiên đã tuyên chiến chống lại những lực lượng địa ngục và loài quỷ dữ, mà tín ngưỡng Kito tính gộp vào đó tất cả những vị thần linh ngoại đạo, bác nghĩ rằng, trong cuộc chiến tranh kia, bác sẽ là người trợ thủ đắc lực đáng kể cho con chiên, bác sẽ biết cách phụng sự Người giỏi hơn những kẻ khác, vì bác không thể thừa nhận rằng linh hồn bác sẽ không mạnh hơn linh hồn của những kẻ tử vì đạo khác. Vả chăng bác cầu nguyện suốt những ngày dài, phục vụ các bạn tù, giúp đỡ bọn canh ngục và an ủi công chúa của mình những khi nàng than tiếc rằng trong cuộc đời quá ngắn ngủi này nàng chưa thể thực hiện được nhiều công tích như nàng Thabita lừng danh đã từng thực hiện, người mà hồi trước ông Piotr từng kể cho nàng nghe. Ngay cả trong ngục tối, bọn canh ngục cũng kinh sợ sức lực khủng khiếp của người khổng lồ này, vì trước cái sức lực nhường kia, không có song sắt nào đủ vững, song rốt cuộc chúng lại yêu mến bác vì tính tình đôn hậu của bác. Nhiều lần, ngạc nhiên vì sự ôn hòa của bác, chúng hỏi bác nguyên nhân vì sao, bác bèn trả lời chúng với một niềm tin chắc không lay chuyển về cuộc sống đang chờ đợi bác sau khi chết, khiến chúng kinh ngạc lắng nghe, bởi lần đầu tiên chúng thấy được hạnh phúc có thể xuyên thấu vào hầm ngầm, nơi ngay cả ánh mặt trời cũng không lọt tới nơi. Và khi bác thuyết phục chúng hãy tin vào con chiên, không chỉ một tên nhận ra công việc của hắn chỉ là công việc của một thằng nô lệ, còn cuộc sống là của một kẻ khốn cùng, không chỉ một tên đâm ra suy ngẫm về nỗi thống khổ của bản thân mình mà chỉ có cái chết mới chấm dứt nổi.

    Có điều chính cái chết lại khiến chúng sợ hãi, và chúng chẳng thể hứa hẹn gì cho bản thân sau khi nó đến, trong khi đó người khổng lồ xứ Ligi này cùng cô thiếu nữ trông tựa như một đóa hoa bị ném vào ổ rơm nhà ngục kia, lại bước tới với cái chết sung sướng như đón hạnh phúc trở về.

    CHƯƠNG 65

    Một tối nọ, nguyên lão nghị viện Xevinux đến thăm ông Petronius và trò chuyện rất lâu với ông về cái thời buổi nặng nề mà cả hai đang sống, cũng như về Hoàng đế. Ông ta nói công khai đến nỗi mặc dù là bạn của nhau, ông Petronius cũng bắt đầu dè chừng. Ông ta thẫn thờ rằng thế giới đi theo con đường cong queo điên loạn và tất cả những thứ này gộp lại nhất thiết sẽ phải kết thúc bằng một tai họa khủng khiếp hơn cả đám cháy thành Roma. Ông ta nói rằng ngay cả các cận thần cũng hết sức thích thú. Fenius Rufux, viên tổng quản cấm quân thứ hai, bắt buộc phải chịu đựng sự chuyên chế tởm lợm của Tygelinux và cả họ Xeneka bị dồn đến chỗ buộc phải lên án Hoàng đế, kể cả vị thầy tuổi tác lẫn chàng Lukan. Cuối cùng, ông ta nêu lên sự không hài lòng của dân chúng, thậm chí của lính cấm vệ mà phần lớn có cảm tình với Fenius Rufux.

    - Sao ông lại nói chuyện ấy? - Petronius hỏi ông ta.

    - Vì lo lắng cho Hoàng thượng - Xevinux đáp - Tôi có một người bà con xa trong đám cấm quân, tên gọi Xeuinux, giống như tên tôi và qua anh ta tôi cũng biết được những gì đang diễn ra trong trại quân... Sự chán ghét lớn lên ngay cả tại đó... Ông thấy không, Kaligula cũng điên cuồng và hãy xem đã xảy ra chuyện gì! Nảy sinh ra Kaxius Serea... Đó là một hành động kinh khủng mà chắc chắn trong đám chúng ta không một ai ca ngợi, thế nhưng chính Serea đã giải thoát cho thế gian tránh khỏi một con quái vật.

    - Nghĩa là - ông Petronius đáp lại - ông nói thế này: "Tôi không ca tụng Serea, nhưng đó là một con người tuyệt vời và cầu sao các thần linh cho chúng ta thật nhiều người như thế".

    Nhưng Xevinux đã thay đổi câu chuyện và đột nhiên ông ta bắt đầu ca ngợi Pizon. Ông ngợi ca dòng họ anh ta, sự cao quý của anh ta, tình gắn bó của anh ta đối với vợ và cuối cùng là trí óc, sự bình tĩnh và khả năng cảm hóa mọi người một cách kỳ lạ của anh ta.

    - Hoàng đế không có con - ông nói - và tất cả mọi người đều thấy Pizon là người nối ngôi. Không nghi ngờ gì nữa, tất cả đều sẽ hết lòng giúp anh ta lên nắm chính quyền. Fenius Rufux yêu mến anh ta, dòng họ Anneus hoàn toàn hết lòng với anh ta. Plauxius Lateranux và Tulius Xenexio vì anh ta mà sẵn sàng lao vào lửa. Cả Natalix và Xubrius Flavius cả Xulpius Axper lẫn Afranius Auinxianux, thậm chí cả đến Vextynux cũng thế.

    - Cái con người cuối cùng kia sẽ chẳng mang lại gì nhiều nhặn cho Pizon đâu - ông Petronius đáp - Vextynux sợ ngay cả bóng của hắn.

    - Vextynux sợ các cơn mộng mị và ma quỷ - Xevinux nói - nhưng đó là một người kiên nghị mà người ta đã rất có lý khi định phong làm chấp chính quan. Còn chuyện trong thâm tâm ông ta chống lại việc truy nã Kito hữu thì cũng không nên trách ông ta, vì ngay cả ông nữa cũng mong sao những sự điên rồ kia chấm dứt cho rồi.

    - Không phải tôi, mà là Vinixius - Ông Petronius nói - Vì Vinixius, tôi muốn cứu sống một người thiếu nữ, nhưng không thể, bởi tôi hết được hưởng những ưu ái của Ahenobarbux.

    - Sao lại thế? Thế ông không nhận thấy rằng Hoàng đế đã xích lại gần ông và bắt đầu trò chuyện cùng ông đó sao? Tôi xin nói tại sao. Đó là vì ngày sửa soạn đi Akhai, nơi ngài sẽ hát những bài ca Hy Lạp do chính ngài soạn. Ngài nóng lòng muốn ra đi thực hiện chuyến viễn du này, nhưng ngài lại run khi nghĩ tới tính ưa châm chọc của người Hy Lạp. Ngài hình dung rằng hoặc là ngài gặp một thắng lợi huy hoàng nhất, hoặc sẽ gặp một thất bại đau đớn nhất. Ngài cần có lời khuyên tốt và ngài hiểu rằng không ai có thể hơn ông trong việc cho ngài những lời khuyên ấy cả. Đó là lý do vì sao ông lại được ưu ái.

    - Lukan có thể thay tôi.

    - Râu Đỏ căm ghét chàng ta và trong thâm tâm đã ghi cho chàng bản án tử hình. Ngài chỉ còn tìm cớ, vì bao giờ ngài cũng tìm cớ. Lukan cũng hiểu rằng phải nhanh chân lên.

    - Thề có Kaxtor! - Ông Petronius nói - Có thể là thế. Nhưng tôi còn một cách khác nữa để nhanh chóng lại được ưu ái hơn.

    - Cách gì?

    - Đó là lặp lại với Râu Đỏ những điều mà ông vừa nói cùng tôi.

    - Tôi có nói gì đâu! - Xevinus lo lắng kêu lên.

    Nhưng ông Petronius đã đặt tay lên vai ông ta:

    - Ông đã gọi Hoàng đế là thằng điên, ông đã thấy trước sự kế vị của Pizon và chính ông đã nói: "Lukan hiểu rằng phải nhanh chân lên". Các vị muốn vội vàng làm gì thế, thưa carissme?

    Xevinux tái người đi và một hồi lâu cả hai người nhìn chăm chăm vào mắt nhau.

    - Ông sẽ không lặp lại đâu!

    - Thề có bộ đùi của nữ thần Kipryđa! Ông hiểu tôi lắm! Không! Tôi sẽ không lặp lại đâu! Tôi chẳng nghe thấy gì hết mà cũng chẳng hề muốn nghe gì cả... Ông hiểu chứ? Cuộc sống quá ngắn ngủi để có thể nhọc công lo lắng chuyện gì. Tôi chỉ xin ông, ngày hôm nay hãy đến thăm Tygelinux và trò chuyện với hắn về bất cứ chuyện gì ông muốn, chỉ cần cũng lâu bằng thời gian trò chuyện cùng tôi.

    - Để làm gì?

    - Để khi Tygelinux bảo tôi: "Xevinux đã tới thăm ông!" tôi có thể đáp lại hắn: "Cùng ngày hôm ấy ông ta cũng đến chỗ ông đấy thôi!".

    Nghe thấy thế, Xevinux bẻ gẫy chiếc gậy bằng ngà voi mà ông ta đang cầm trong tay, rồi đáp:

    - Cầu cho vận rủi rơi vào cây gậy này. Hôm nay tôi sẽ tới thăm Tygelinux, rồi dự tiệc ở nhà Nerva. Cả ông nữa cũng sẽ tới đó. Dù sao cũng xin tạm biệt, lại gặp nhau vào ngày kia ở nhà hát, nơi những người Kito còn sống sót sẽ ra mắt!... Tạm biệt.

    - Ngày kia - Còn lại một mình, ông Petronius nhắc lại - Không còn thì giờ để phí nữa. Quả thực Ahenobarbux cần ta tại Akhai, rất có thể hắn sẽ lưu ý tới ta. Và ông quyết định sẽ thử đến phương sách cuối cùng.

    Quả thực, trong bữa tiệc tại nhà chàng Nerva, Hoàng đế yêu cầu ông Petronius nằm đối diện với ngài, bởi ngài muốn được trò chuyện cùng ông về Akhai và về những thành phố mà ngài có thể biểu diễn với hy vọng thu được thành công lớn nhất. Ngài lo nhất là những người Aten mà ngài vẫn sợ. Các vị cận thần khác lắng nghe câu chuyện, cố nắm bắt vài mẩu ý kiến của ông Petronius, để sau này nhét nó vào lời của mình.

    - Ta cảm thấy cho tới nay ta chưa hề sống - Nero nói - và ta sẽ được chào đời ở Hy Lạp.

    - Hoàng thượng sẽ được sinh ra để đón nhận niềm vinh quang mới cùng sự bất tử - Ông Petronius đáp.

    - Ta tin rằng sẽ xảy ra đúng như thế và thần Apolon sẽ không tỏ ra ghen tỵ. Nếu ta quay về với niềm vinh quang, ta sẽ dâng lên thần những vật tế hiến mà chưa từng có vị thần nào được hưởng từ trước đến nay.

    Xevinux bắt đầu lặp lại lời thơ của Horaxius:

    Sic te diva potens Cypri

    Sic fratres Helenae, lucida, sedera

    Ventorumque regat pater...(1)

    - Tàu đã đỗ ở Neapolix - Hoàng đế nói - Ta muốn ra đi ngay ngày mai...

    Nghe thấy thế, ông Petronius nhổm dậy, nhìn thẳng vào mắt Nero nói:

    - Tâu thánh thượng, xin người cho phép thần tổ chức một tiệc cưới mà trước tất cả những người khác, thần kính mời Hoàng thượng tới tham dự.

    - Tiệc cưới à? Của ai? - Nero hỏi.

    - Vinixius cưới công chúa của vua người Ligi và là con tin của Người. Mặc dù hiện nay nàng còn đang ở trong ngục, nhưng trước hết là một con tin, nàng lẽ ra không phải chịu giam giữ, hai nữa chính Người đã cho phép Vinixius cưới nàng, mà những lời