Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập46,073,456

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tám chữ Hà Lạc & Chân dung Nhà văn: Bằng Việt

Xuân Cang

  • Thứ ba, 11:58 Ngày 04/11/2008
  • 1

    Nhà thơ Bằng Việt ở trong số những người mà sự nghiệp thơ ca phản ánh đầy đủ nhất cấu trúc Hà Lạc của đời mình. Anh sinh giờ Tị ngày 21-5 năm Tân Tị (15-6-1961).Trong cấu trúc Hà Lạc của anh, quẻ Tiên Thiên “trời cho” là Phong Địa Quán, nguyên đường hào 2. Quán là quan sát. Tượng quẻ là Gió đi trên Đất. Người được quẻ này như làn gió đi trên mặt đất, bay lượn la đà, nhờ thế mà quan sát thấy, thu lượm thông tin nhiều, gieo rắc cái tốt đi khắp nơi, góp phần cải hóa con người, phong tục, lối sống. Chủ mệnh (nguyên đường) hào 2 quẻ Quán cho biết người sinh ở thời này giống như người con gái có ước mơ chính đáng nhìn lên người quân tử phía trên (hào 2 ứng với hào 5 và nhìn lên hào 5) mong được như người. Chính đây là một chỗ mạnh, cũng là một chỗ yếu của hào này. Chỗ mạnh là người này suốt đời gắn mình với cuộc sống thường nhật nơi dân dã, “tầm thường” như người con gái trinh trắng, trong sân nhà, thôn xóm, suốt đời có mơ ước thầm kín phấn đấu được như kẻ hiền tài cao quý, nhưng chỗ yếu là chính vì vậy mà không nhìn xa được, phải bằng lòng với cái chân trời của mình mà thôi. Toán Hà Lạc giải gọn một câu về cái nhược điểm này là: Chí thấp không nhìn xa được. Nhưng ngay từ buổi sinh thành của mình, đã có những tín hiệu Hà Lạc cho thấy cậu bé Bằng Việt (tên thật là Nguyễn Việt Bằng) không phải là người có chí thấp. Cậu có Thiên nguyên khí và Địa nguyên khí (nguyên khí của giời đất) ở quẻ Tốn, tuổi Tân gặp quẻ Tốn và tuổi Tị cũng gặp quẻ Tốn là gặp thời tiết tốt lành, người xưa gọi là được mùa sinh. Vấn đề còn lại là cậu được nuôi dạy và tự rèn dũa như thế nào để, thân phận tuy thấp nhưng chí làm người không thấp. Có một may mắn nữa, năm vừa 18 tuổi đất nước chuẩn bị kết thúc cuộc kháng chiến thần thánh để đến năm sau mở vận hội thanh bình với hào quang chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), chàng thanh niên gặp đúng hào 4 quẻ Quán, lời hào nói: Xem cái vẻ sáng của đất nước mà làm người phụ tá (tương đương với chuyên gia bây giờ) cho nguyên thủ. Thời của cá nhân gặp thời của đất nước.

    Người quẻ Quán trước hết là người có nhạy cảm về giác quan. Bài thơ đầu tiên Bằng Việt giới thiệu với bạn đọc nói về cái nhạy cảm quan sát đó. Năm 1961, Bằng Việt đi du học nước ngoài, qua vùng Trường Sa (Trung Quốc), anh ngạc nhiên thốt lên:

    Hoa bí hoa bầu mọc ở Trường Sa

    Ô hay! Đất ngỡ đất quê nhà

    Gió cũng gió, ong cũng ong kiếm mật

    Nắng cũng là màu nắng tận trong ta! *

    (Qua Trường Sa – 1961)

    Cái dấu ấn của vị thế hào 2 quẻ Quán: Làm người gái có nết trinh nhìn lên, hướng về người quân tử (hào 5) in rõ trong bài thơ Bếp lửa viết về một nhân vật Bà nội. Đối với Bằng Việt, bà nội là nhân vật lý tưởng: hình ảnh bà gắn với bếp lửa những năm đói mòn đói mỏi, những năm nuôi cháu thay con đi chiến khu:

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa

    (Bếp lửa – 1963)

    Dấu ấn ấy còn ở bài Bêtôven, với anh và em. Với anh, Bêtôven là thần tượng. Bốn tiếng đập trong Bản giao hưởng số 5, Bêtôven gọi là “tiếng số phận đến đập cửa” cũng là tiếng đập gõ cửa cuộc đời thơ Bằng Việt:

    Nghĩ chi em, bốn tiếng sấm bão bùng

    Bốn tiếng đập dập vùi số phận

    Bốn cái tát trong cuộc đời gián gậm

    Bốn thanh âm dựng đứng tâm hồn lên

     

    Trái tim không bình yên, không một phút bình yên

    Trái tim lớn mang niềm đau khổ lớn

    (Bêtôven, với anh và em – 1964)

    Cậu học sinh phổ thông trung học đã đi vào thơ như thế nào, cũng trong năm 1964 ấy Bằng Việt nhìn lại và “tự bạch”:

    Ôi những xe trâu thủng thẳng vào cơn mơ

    Bắt tuổi nhỏ nóng lòng theo bước một

    Ôi những nương cao màu trăng lục nhạt

    Gạo lốc nuôi ta mùa vơi mùa đầy

    … … … …

    Thôi từ giã tuổi thơ!

    Bước ra từ tám năm kháng chiến

    Lấy sự tích anh hùng làm chỗ vịn

    Lại bước vào cuộc kháng chiến lần hai

    Thôi từ giã tuổi thơ

    Xốc hành lý lên vai.

    (Từ giã tuổi thơ – 1964-1965)

    Có một điều thú vị đối với người soạn chân dung nhà thơ theo cấu trúc Hà Lạc: Tất cả các bài thơ của Bằng Việt đều có ghi năm làm thơ. Nhờ vậy chúng tôi chỉ việc xếp danh mục các bài thơ của anh theo năm tháng thì thấy hiện lên những thời Bằng Việt theo cấu trúc quẻ Phong Địa Quán một cách hết sức rõ ràng. Xin bắt đầu từ năm chàng trai khởi nghiệp thơ 19 đến 27 tuổi, thuộc đại vận 9 năm 1959-1967, thuộc hào 5 quẻ Quán. Hào 5 nói rằng: Xem xét bản thân và hành động của ta thấy hợp với đạo của người cao cả, vậy là không có lỗi, không có gì phải hổ thẹn. Mệnh hợp cách những năm này là: Đem lòng trung chính của mình để cải hóa thiên hạ. Ca tụng người hiền, quý trọng đức. Chúng tôi xin thống kê những bài thơ sau đây (đều là những bài thơ để lại dấu ấn Bằng Việt) phản ánh đúng những dự báo trên. 1961: Qua Trường Sa; 1963: Bếp lửa; 1964: Từ giã tuổi thơ; Bêtôven, với anh và em; 1966: Về hỏa tuyến thăm con, Nhàgiữ trẻ, Người giữ tuyến đường xuân, Vẫn là người của 307 (viết về Platôn Thành, một công dân Xô-viết đã từng là chiến sĩ Tiểu đoàn 307 nổi tiếng của Việt Nam); 1967: Kỷ niệm về Chê Ghêvara.

    Riêng năm 1967, Bằng Việt viết bài Chuyện nhỏ giữa hai người, một bài thơ của số mệnh, đó chính là lời hào 5 quẻ Quán nói với hào 2: người chiến sĩ trên chiến trường bỗng gặp lại người con gái thôn dã tám năm trước, trong khi anh vẫn nghĩ về em như ngày nào “tầm thường, tẻ nhạt, đáng thương”, thì nay em bỗng xuất hiện giữa một đêm chiến trường mưa gió, một hình ảnh khác thường khiến anh xúc động. Nói “chuyện nhỏ giữa hai người”, mà tôi nghe như anh đang nói với chính anh, anh của một thời cao cả và anh của một thời tẻ nhạt tầm thường:

    Có phải em làm tôi cảm động

    Từ buổi đầu xa lắc xa lơ

    Nét mi dài thanh thản thế ngày xưa!

     

    Ngõ ta qua thuở ấy lắm cây bàng

    Em khép cửa khi mùa thu gió nổi

    Nghe lá đỏ trên cành reo bối rối

    Lá bay đầy lối nhỏ quá bình yên

     

    … … …

    Ngõ hai ta, kỷ niệm lắng sâu dần

    Tôi trở lại, em không còn đó nữa

    Tôi chào mẹ lên đường nhập ngũ

    Cửa đóng then cài, nghĩ bỗng thương em

     

    Tám năm rồi, tự thuở trước bình yên

    Em có khác như mọi người đổi khác?

    Hay vẫn chỉ sống tầm thường tẻ nhạt

    Tiếc cơn mưa trên phố đã qua rồi

     

    … … …

    Bỗng đêm nay xe trượt giữa đường nghiêng

    Trong gió táp mưa quánh bùn bết đỏ

    Tôi thảng thốt: Ngờ đâu em ở đó

    Vẫn nét mi dài hứa hẹn bình yên

    Đẩy bánh xe từng bước nhích lên

    Em vuốt tóc ròng ròng mưa lũ rỏ

    (Thôi đừng nhớ cơn mưa con trên phố

    Cơn mưa xa như một cuộc đời xa…)

     

    … … …

    Tôi nắm bàn tay rất đỗi thân quen

    Trong suốt tám năm ngỡ thành xa lạ,

    Lau nước mắt em chảy tràn trên má

    Biết bây giờ em mới thực là em.

    (Chuyện nhỏ giữa hai người – 1967

    Bếp lửa và khoảng trời. Nxb Văn Học 1986. Tr. 49)

    Chỉ cần đổi hai chữ sẽ thành lời của nhà thơ đang nói với chính mình: “Biết bây giờ tôi mới thực là tôi”. Một hành trình tìm mình. Và nói như lời quẻ Quán: anh đã thấy mình.

    Đại vận 9 năm tiếp theo của đời anh từ năm 28 đến năm 36 tuổi (1968-1976) thuộc một trong hai đại vận đẹp nhất của quẻ Phong Địa Quán. Hào 6 quẻ Quán bảo rằng: Xem xét bản thân và hành động của nó thấy hợp với đạo người cao cả, vậy là không có lỗi. Nó đây chính là hào 6 dương chỉ đứng sau hào 5 dương một bậc, có vai trò là người quân tử, tiêu biểu cho thời đại. Một thời thịnh của người quẻ Quán. Mở đầu đại vận này, năm Mậu Thân 1968 cũng là năm quẻ Quán, chủ mệnh hào 6, (Nhân quả là hào 6 quẻ Tỉnh: Nước giếng múc lên rồi, đừng che đậy, cứ mãi như vậy thì rất tốt), Bằng Việt chiếm giải nhất cuộc thi thơ của Hà Nội. Năm Ất Mão 1975 anh được quẻ Lôi Trạch Quy Muội, quẻ nói về một thời vui vẻ và lỗi lầm mà tượng là “anh chị gả chồng cho em gái”. (Quy Muội là em gái về nhà chồng, anh chị gả em gái thì vui vẻ, nhưng thường mắc lỗi đại khái, qua loa, xong thì thôi). Tuy quẻ nói về lỗi quy muội, nhưng hào chủ mệnh là hào 5 lại là hào đẹp nhất thời Quy Muội: Vua Đế Ất cho em gái về nhà chồng, cái tay áo cô công chúa chẳng đẹp bằng tay áo của người phù dâu. Trăng sắp đến rằm, tốt. Người quẻ Quy Muội hào 5 trong năm này mang cái đức rất đẹp của vua Đế Ất đời xưa: làm vua mà gả em gái cho một người thường dân, trong lễ cưới lại cốt trọng cái đức lớn mà coi nhẹ và sơ xuất về trang phục cô dâu, đến nỗi người đời cười chê áo cưới cô công chúa không đẹp bằng áo người gái hầu, phù dâu. Cười, nhưng thực ra là khen. Nhà thơ trẻ đã mang cái âm hưởng vui vẻ đức hạnh của vận mạng ấy hoà vào lời ca trong một năm hào hùng của đất nước. Trong cuộc đời một con người, không dễ gì có sự trùng hợp may mắn đó. Và tất cả vào trong thơ một cách hết sức tự nhiên. Ta hãy coi. Bằng Việt viết bài thơ dài Cảm giác của người đi liền mạch đất, tả tâm trạng người chiến sĩ trên đường thần tốc vào Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử:

    Thôi sải cánh lên đi! Những tay lái đại bàng

    Đường nối dài… Nam với Bắc thênh thang

    Gió rát mặt, hương rừng pha vị biển,

    Trời êm ru, mây quyện nắng bàng hoàng

    … … …

    Ăn bát cơm trưa có tép kho giòn

    Tôi vượt quán Đông Hà, bon tới Huế

    Lướt trên Hải Vân, giữa trời ấp bể

    Sương bồng bềnh như ngọc chuốt trong thơ!

    Nhìn thấu Sơn Trà, nhà trắng xóa lô nhô,

    Hun hút Cù Mông, đá ngồi đá đứng,

    Nước Trà Khúc lăn tăn lòng sỏi trắng

    Cầu Đà Rằng dằng dặc, cát mung lung…

    Ngay trong năm 1975 ấy anh ra thăm đảo Hòn Khoai, tận hưởng cái hạnh phúc của một người vừa có cả đất nước trong tay, đến một hòn đảo nhỏ có cái tên bình dân:

    Tên quen thuộc rất nôm na, dân dã,

    Ai hay đâu tận cuối đất cùng trời!

    … … …

    Cái chấm nhỏ trên bản đồ tí tẹo

    Đã qua bao thử thách phi thường!

    Bỗng rưng rưng: Đến ba chục năm trường

    Chưa thể phút nào tôi đứng cao đến thế;

    Trên chỏm Hòn Khoai, sừng sững đầu vịnh bể

    Nhìn mũi Cà Mau đang rạch sóng trùng dương!...

     

    Tôi như con chim bay hết tầm vỗ cánh

    Để được đỗ xuống đây, ngày đất nước trùng phùng

    (Hòn Khoai – 1975)

    Trong cái năm 1975 óng ánh vẻ đẹp số phận và đỉnh cao đất nước gặp nhau ấy, Bằng Việt còn viết Đất trẻ, Về xóm nhỏ trên cồn, Dọn về làng cũ, Hoa phượng, lăng vua, phố chợ… Dù tứ thơ, đề thơ khác nhau, tất cả đều mang dấu ấn một thời thịnh của quẻ Phong Địa Quán và em gái vua Đế Ất. Nhưng không phải chỉ có vậy. Một điều thú vị, từ trong bí ẩn của tiềm thức, ngay trên cái hành lang “em gái vua Đế Ất” ấy, thơ Bằng Việt đã dừng lại ở bài Những xóm dân trên kênh rạch Sài Gòn - 1975.

    Nhà lô xô lấn át dòng kênh

    Trụ gỗ cắm lên kín những bãi sình

    Chuột lõm bõm bơi dưới sàn nghiêng ngó

    Bè rau trôi giữa rác cỏ bùng binh…

    … … …

    Bây giờ tôi đi trong thành phố của mình

    Của mình cả những tủ kính châu Âu

    và màu đèn châu Mỹ

    Nhưng trước hết của mình những xóm ngoại ô

    nghèo nàn đến thế

    Nơi con người chỉ ước được ăn no.

    Từ năm Quý Mão (1983) cuộc đời Bằng Việt chuyển sang vận hội mới: quẻ Thủy Phong Tỉnh. Tỉnh là an tĩnh, còn là cái giếng. Sang hậu vận này, cuộc đời anh như cái giếng. Quẻ Tỉnh có 6 hào, tượng trưng cho 6 chặng đường. Hào một là đáy giếng. Hào hai là tầng nước mạch đầu tiên, nước còn đục. Hào ba là tầng nước mạch cao hơn, nhưng cũng chưa ăn được. Hào bốn là tầng giếng cần được tu sửa thì mới đảm bảo có nước ăn. Hào năm là mạch nước giếng trong, múc lên ăn được. Hào sáu là nước giếng đã múc lên, chia sẻ với mọi người. Chỉ có thế, nhưng quẻ Tỉnh bao hàm cả một triết lý sống, vẫn gọi là đạo Giếng. Giếng là tượng của sự yên tĩnh, đợi thời, như người đào giếng (ngày nay là khoan giếng) phải đợi mạch nước lên. Làng ấp có thể đổi thay nhưng giếng không rời chỗ. Yên tĩnh là như thế. “Đạo trời đất ở giữa vũ trụ. Mặc dầu cuộc đời bể dâu, thói đời nóng lạnh, mà trời đất vẫn cứ y nhiên. Thế là làng đổi, giếng không đổi. Làng là nhân tạo, giếng là thiên nhiên. Biến đổi là nhân tạo, không biến đổi là thiên nhiên. Đó cũng là nguyên lý của tạo hoá…” (Phan Bội Châu) (Thực ra vũ trụ cũng vần xoay biến đổi, nhưng trong phạm vi đời người, thế sự, câu trên vẫn đúng. XC). Giếng phải có mạch nước, giếng không có mạch, trơ đáy (hào 1) là giếng bỏ hoang, chim chóc cũng không thèm đến. Nước mạch lên đến hào 4 thì phải xây thành giếng, thì mới bảo vệ được mạch giếng. Lên đến hào 5, nước mát trong, ăn được, nhưng còn phải múc lên. Nước giếng như lộc trời cho, chỉ có lượng nhất định, không kiệt, cũng không thêm, do vậy tham lộc giời không nên, cũng không được. Muốn múc nước phải có gầu. Nước đưa lên mặt giếng rồi còn phải đựng trong vò không nứt thì mới đem nước giếng về đến nhà. Gầu thủng, vò nứt thì có nước trong (có phúc lộc) cũng coi như không. Chỉ riêng việc này, Phan Bội Châu bàn về quẻ Tỉnh có câu: “Chúng ta xem lời quẻ Tỉnh thì biết rằng chương trình làm việc phải có ba giai đoạn: Đoạn thứ nhất là phải thăm dò cho ra giếng. Đoạn thứ hai là phải cố công đi cho tới giếng và dụng công giòng dây xuống giếng, bao giờ múc được nước lên mới thôi. Đoạn thứ ba là trong thời gian ấy phải hết sức giữ gìn vật liệu, dụng cụ, chớ để nửa chừng đổ vỡ; không vỡ bình, thì nước chắc về đến nhà, đó mới là thành công. Đau đớn thay, nước chưa kịp múc xong mà bình đã vỡ, công phu đi tới giếng, chẳng hóa ra dạ tràng xe cát biển đông. Vậy nên làm việc gì mọi người cần có gan lớn, mà cũng cần có tâm để ý đến những việc nhỏ, đó là cái thâm ý lời quẻ Tỉnh dạy cho chúng ta vậy”.

    Quẻ Tỉnh của Bằng Việt bắt đầu từ hào 5: Giếng trong sạch, suối mát lạnh, ăn. Đức sáng, trọn vẹn, công thành. Cuộc đời và thơ Bằng Việt đến đoạn này y trang như vậy. Về cuộc đời xin để bản thân anh và những người thân đối chiếu và suy ngẫm. Chỉ xin nói về thơ. Năm 1983 mở đầu đại vận hào 5 quẻ Tỉnh, anh đươc giải thưởng dịch thuật quốc tế Quỹ Hoà Bình Liên Xô. Những công trình dịch thơ đến đây coi như trọn vẹn. Anh đã dịch thơ Nêruđa, Ritsôts, R. Gamzatov, Evtusencô, Onga Becgôn, mỗi nhà thơ kể trên đều là thần tượng của anh, hào 5 của hào 2 quẻ Quán. Tôi đọc thơ anh những năm nay, thấy đâu cũng toát ra cái gì trong trẻo như nước mạch giếng. Ngay trong năm 1983 anh nói đến một cái gì chắt lọc:

    Biết làm sao! Chúng ta quá nhiều lời,

    Ngay ở chỗ lẽ ra cần nói ngắn.

     

    Bao lần em lẳng lặng

    Đủ khiến anh bàng hoàng

     

    Khi phần nói lấn hết phần được sống

    Lấn hết mọi điều tiềm ẩn giữa câu,

    Thì vạn câu thơ cũng thành rẻ rúng

    Liệu còn gì vang vọng nữa trong nhau?

    (Khoảng cách giữa lời – 1983)

    Đây là bài thơ ngắn Lẽ ra viết năm 1986:

    Lòng yêu đời

    Như nguồn nước trong khu tập thể

    Tháng năm phí phạm chảy hoài…

    Sâu xa nước tự mạch ngầm

    Hút lên cao, cao mãi

    Lọc hết mấy tầng cát sỏi

    Khử sắc, khử mùi, diệt khuẩn,

    Rồi lại để chảy tràn, theo cống rãnh vô tâm…

     

    Lẽ ra cuộc đời này phải có lý hơn,

    Ai cũng từng nghĩ thế!

    (Lẽ ra – 1986)

    Cứ như thể những dòng thơ từ mạch giếng hào 5 quẻ Tỉnh.

    Tôi đã qua rồi tuổi dễ khổ đau

    Tuổi dễ ưu tư, tuổi hay giận dữ,

    Tuổi hình dung tương lai trong lòng tay

    Giữ thật kín những gì dễ vỡ

    (Thơ tình viết muộn – 1986)

    Những năm nay, anh nhìn người yêu bằng cái nhìn trong suốt:

    Em. Bông huệ dưới trời sao

    Tinh khiết và mảnh dẻ

    Trong trắng và lặng lẽ.

     

    Có gì cần hơn nữa

    Ngoài sự tĩnh tâm thanh thoát ngoài lời?

     

    Trong trắng và lặng lẽ

    Tinh khiết và mảnh dẻ

    Em. Bông huệ dưới trời sao.

    (Bông huệ - 1987)

    Đọc ba câu cuối, lặp lại ba câu trên, không hiểu sao, tôi bỗng hình dung ra cái nhịp điệu gầu múc nước lên xuống trong lòng giếng. Cái nhịp điệu ấy tôi còn thấy ở trong bài Quá chừng:

    Biển quá chừng say, chuyếnh choáng men,

    Đồng quá chừng tươi, đất xốp mềm

    Trời quá chừng xanh, trời cổ tích

    Hút mắt trùng khơi, tôi với em.

     

    Tôi quá chừng tôi, nương sóng lớn

    Thỏa thích như quên hết tuổi mình.

    Em quá chừng em, trong gió cuốn

    Gió vụt nâng thành đôi cánh tiên.

     

    Cảm giác bồng bênh theo sóng đi

    Trôi mãi trong không chẳng vướng gì

    Trôi mãi trong thời gian bất tận

    Nắng ngời trên má, sóng trên mi.

     

    Vui quá chừng vui, sao quá ngắn

    Chót đỉnh mong manh quá phập phồng

    Ta quá chừng ta, còn trở lại

    Bãi biển thần tiên buổi ấy không?

    (Quá chừng – 1991)

    Bài thơ tả cái cảm giác hưởng thụ thời trẻ, khi hai người bơi trên biển lớn. Nhưng tôi, với con mắt nhìn Hà Lạc, lại thưởng thức bài thơ này theo một góc độ thẩm mỹ khác. Tôi hình dung như tác giả đang tả đôi gầu đang thi nhau múc nước giếng, gầu anh và gầu em, tôi quá chừng tôi, em quá chừng em, sóng sánh, bồng bềnh, trôi trong không gian, trôi trong thời gian… Chỉ cần thay ba từ, từ biển ở câu đầu thành từ giếng, hai từ bãi biển ở câu cuối thành bờ giếng, vậy thôi. “Bờ giếng thần tiên buổi ấy không?”. Đây có thể là một ví dụ cho thấy cái mệnh nhà thơ đi vào thơ như thế nào. Một hiện tượng xuất thần và vô thức.

    Năm 2003, Bằng Việt in tập Thơ Bằng Việt để tổng kết một chặng đường thơ 40 năm 1961 – 2001. Anh sắp xếp các bài thơ theo ba chương mục: I- Chứng tích một thời; II- Tự Bạch; III- Những trải nghiệm. Anh xáo trộn tất cả các bài thơ trong các thời gian khác nhau theo ba đề mục trên. Kể cũng là một cách làm, cũng giúp cho người đọc nhìn lại một Bằng Việt trong thơ. Nhưng nếu tôi được giúp anh làm tập này thì tôi làm khác. Toàn bộ thơ viết những năm từ 1961 đến 1982 xin được xếp vào dòng thơ Tự Bạch, bởi vì đây là thơ thời Quán. Quán là quan sát và suy ngẫm, trong đó có ít nhất 18 năm thuộc hào 5 và hào 6 quẻ Quán: hai chặng đường này có chung một hành trình tự xem xét mình trong vẻ sáng của đất nước và thời đại. Thơ anh viết trong chặng đường này (tôi không nói tất cả) đều có chung cái dáng dấp tự quan sát, tự bạch. Từ năm 1983, anh sang chặng đường mới có chuyển động về chất, thuộc hào 5 và hào 6 quẻ Thủy Phong Tỉnh, mạch nước đã trào lên, trong suốt, múc ăn được, đây là thời kỳ chắt lọc, gặt hái, thơ đầy tính suy tưởng, trải nghiệm, tôi thấy có thể xếp vào phần II mang tên Những trải nghiệm. Làm như thế tôi cho là sẽ hiện lên một Bằng Việt Thơ sáng rõ hơn, minh triết hơn.

    2

    Tượng thiên nhiên trong mệnh Hà Lạc của Bằng Việt, thể hiện trong hai quẻ Phong Địa Quán và Thủy Phong Tỉnh, là Gió, Đất, Nước. Chủ mệnh của anh nằm ở quẻ Khôn nên tượng Đất chiếm lĩnh đời sống tâm hồn anh. Trong Kinh Dịch, Đất có tính nhu thuận, mang chở, bao dung, bao bọc, biểu tượng là người mẹ, là sự sinh sôi nẩy nở, nuôi dưỡng, sáng tạo, nếu trời là dương, thì đất là âm, có dương phải có âm. Thơ Bằng Việt, dù viết về đề tài gì, ở những không gian nào, bao giờ cũng thấm đẫm cái chất của đất, cái hồn của đất, của quê hương nơi sinh thành, nơi mình được nuôi dưỡng, lớn lên. Nhiều nhà phê bình văn học đều nhận thấy thơ anh có cái gì gần gũi, thân thiết, chính vì cái nguồn này. Thơ Bằng Việt mộc mạc, không cầu kỳ về câu chữ, xô bồ là khác, nhưng thu hút bạn đọc là ở cái gì gần gũi thân thiết ấy, như đất quanh ta. Những bài thơ, câu thơ bắt nguồn từ tượng đất có cái gì rúng động khác thường và để lại dấu ấn thẩm mỹ trong lòng bạn đọc. Bếp lửa, Mẹ, Nghe đất là như vậy:

    Năm giặc đốt làng, cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

    Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:

    -Bố ở chiến khu, bố còn việc bố

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!

     

    Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen

    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    (Bếp lửa)

    Một bà mẹ nuôi anh lính bị thương như nuôi con mình:

    Ba con đầu đang chiến đấu nơi xa

    Tình máu mủ mẹ dồn con hết cả,

    Con nói mớ những núi rừng xa lạ

    Tỉnh ra rồi, có mẹ hóa thành quê.

    (Mẹ)

    Anh nghe đất thở trong cái đêm dời làng tránh giặc:

    Làng ở ven đường quốc lộ

    Đêm nay trở dậy dời đi

    Căm thù nuốt sâu tận cổ

    Nghe xa đất thở rầm rì

     

    … … …

    Ơi cái mùi hăng trong cây

    Tháng Ba nhớ mùa gió trở

    Ơi cái mùi men ải nồng

    Tháng Chạp nhớ mùa đất vỡ

    (Nghe đất)

    Ngay trong việc dịch thuật, một cách rất tự nhiên, Bằng Việt cũng chọn những tác giả và tác phẩm đồng điệu với tâm hồn mình, ở đây là đồng điệu với âm hưởng tâm hồn bắt nguồn từ tượng đất, và những bản dịch của anh hay lên khác thường. Bằng Việt kể:

    -…Thơ Nga tất nhiên không có thơ lục bát, nhưng khi tôi dịch một bài thơ của A. Tvarđôvski nói về nỗi bùi ngùi của người lính hồng quân trên đất Đức vừa giải phóng, tôi cảm thấy thật giống tâm trạng của người chiến sĩ Việt Nam sau cả một cuộc chiến tranh dài xa quê. Và những câu thơ hồn hậu mà xót xa sau đây của Tvarđôvski tôi nghĩ cần phải thể hiện ra bằng những câu lục bát dung dị, mới nói hết điều còn âm vang, tiềm ẩn ở bên trong, nhờ vào hơi thở lục bát:

    Đất không phải đất quê mình

    Cánh đồng thẫm nước, êm lành bao la

    Hương mùa xuân bỗng thoáng qua

    Có gì thân đến sâu xa, trạnh lòng

    Ô hay là trận lũ ròng

    Trải bình dị thế qua dòng qua khe,

    Lăn tăn màu cỏ non kia

    Có gì đâu khác bên quê xứ mình!

    Tưởng đâu giây lát thình lình

    Chưa hề có cuộc chiến tranh qua rồi

    Chưa hề năm tháng xa xôi

    Chưa bao vất vả đứng ngồi không yên!

    (Phụ bản Thơ số 17 tháng 11-2004 báo Văn Nghệ - tr. 12)

    Anh thú nhận có những giây phút xuất thần trong việc chuyển ngữ thơ. “Người dịch tự dưng “bắt được những câu thơ mà sau này có bắt dịch lại cũng không tài nào dịch được như thế nữa. Cái giây phút “bắt được” ấy là sự hòa nhập, cộng hưởng có tính chất thăng hoa của người dịch đối với một tác giả mà mình yêu mến, và có thể có cùng một “tạng” với mình. Chẳng hạn khi tôi dịch câu thơ của Êxênhin “như con bò già bị đóng ách trong chuồng / Nhai nhẩm mãi nỗi buồn rơm cỏ”, tôi thực sự đắc ý vì câu “nhai nhẩm …nỗi buồn rơm cỏ” nó cũng hình như xuất phát từ một tuổi bé thơ nghèo khó ở phương Đông, thấm thía nỗi buồn của con người và gia súc trong một cuộc sống vất vả vừa phóng khoáng vừa gần thiên nhiên, vừa bùn lầy nước đọng, tưởng chừng như không lối thoát từ hàng ngàn năm lạc hậu.” (Phụ bản Thơ nói trên). Cái “tuổi bé thơ nghèo khó ở phương Đông” ấy chính là tuổi bé thơ của Bằng Việt. Ta đọc những “Bếp lửa”, “Từ giã tuổi thơ” thấy ngay điều đó.

    Trong cấu trúc Hà Lạc của Bằng Việt có tới hai quẻ Tốn (Phong Địa Quán và Thủy Phong Tỉnh). Đối với tuổi Tân Tị, quẻ Tốn có vai trò đắc địa, ở hướng Đông Nam của bản đồ Hà Lạc. Tốn có tượng là Gió. Rất tự nhiên, thơ anh tràn ngập gió, và những câu thơ có gió thường là những câu thơ hay.

    Tuổi trẻ rì rầm những đêm không tắt

    Thuở tình yêu như cánh gió không bờ

    (Em đừng ghen với quá khứ)

    Ôi tiếng ru rất dài trong ca dao

    Đi giữa gió lào nghe lại nhớ

    Một vòm trời nắng lửa

    Cánh chuồn bay, năm đã xa rồi.

    (Tiếng ru và ngọn gió)

    Chiến trường quen, mới đó đã xa rồi

    Gió thổi theo tôi dọc những vùng trời

    (Những gương mặt, những khoảng trời)

    Không phải “dọc những vùng trời”, trong thơ anh, gió len lỏi cả vào vung nồi, chén bát:

    Và những ấm chuyên, chén tách, bát nồi

    Chum với vại, lọ với bình mộc mạc

    Năm khô ráo, gió thổi vào như hát:

    Tình yêu đời như tự đất ca lên.

    (Nghe trong trưa Bát Tràng)

    Năm 2000, Bằng Việt viết bài thơ Ném câu thơ vào gió”. Sau này, đề bài trở thành đầu đề cho cả tập thơ (Ném câu thơ vào gió. Nxb Hội Nhà Văn 2001), và bài thơ đưa lên đầu tập như một tuyên ngôn:

    Ném một câu thơ vào gió thổi

    Lời bay đi tôi nhớ lại đời minh

    Có lắm buồn vui, có nhiều lầm lỗi

    Nhưng không có gì xảo trá, gian manh…

    Vâng đúng là như thế, không có gì là xảo trá, gian manh. Đằng sau câu thơ này là cả một cuộc đời thành thực, thật thà của một con người hào hai quẻ Quán, ví như người gái trinh, nhìn lên những hiền nhân cao cả, ước muốn được như họ, nhưng biết phận mình ở chốn đời thường. Thơ tràn ngập gió, nhưng đây không có cuồng phong bão tố, hoặc lồng lộng trời cao, đây chỉ là những ngọn gió của đời thường.

    Có đôi chút nực cười thời trẻ quá

    Chưa hết tung tăng đã muốn bạc đầu

    Có đôi chút bùng nhùng thời bả lả

    Chơi hơi nhiều, rút lại có gì đâu!

    Cũng đã từng ao ước cao sang, nhưng ngay sau đó tự biết mình:

    Có nỗi đam mê một thời trang trọng

    Lo nỗi lo khuôn thước của muôn nhà!

    Quên mất câu thơ quá chừng bé bỏng

    Thổn thức trong lòng không thể thoát ra.

    Và ở cuối cuộc hành trình tìm mình:

    Nay lại ném câu thơ vào gió thổi

    Tin, không tin… vẫn còn lại riêng mình

    Còn lại tấm lòng mong manh, dễ vỡ

    Cát đã qua lò, nay hóa thủy tinh!

    Cũng đã có lúc nhà thơ hoang mang “Thơ có còn tri kỷ nữa hay chăng? / Đời đột biến mà thơ đi quá chậm / Đời hết sức thẳng thừng. Thơ vòng vèo lẩn thẩn. / Đời trả giá hết mình. Thơ khi nhớ khi quên!”. Tôi muốn nói với nhà thơ: Đời sẽ giữ cho anh thứ thủy tinh mong manh dễ vỡ ấy, bởi anh là một nhà thơ trung thực với mệnh trời cho, làm ngọn gió của đời thường, trò chuyện với đời thường. Với một giọng thơ đầy ánh sáng của trí tuệ, thơ Bằng Việt luôn trở về với cái dung dị, trinh trắng một thời thôn dã, với vầng trăng, tiếng dế, chuyến tàu, tuổi trẻ, những thứ tưởng như “có gì đâu”.

    Nhưng tuổi trẻ đi qua mãi còn

    Và vầng trăng vô tư thành nỗi nhớ

    Và chuyến tàu vô tình thành món nợ

    Và tiếng dế vô can thành điệp khúc hồn ta!

    (Có gì đâu – 1986)

    Vâng, “có gì đâu”, đó chỉ là tiếng nói đời thường, xuất phát từ cuộc sống đời thường của người gái trinh trong vị thế hào hai quẻ Phong Địa Quán. Xin nói thêm một chút. Với cái “tạng” hào hai ấy, Bằng Việt đã chọn bài thơ rất hay sau đây của Ônga Bécgôn, chỉ xin trích một đoạn, cũng chính là “lời hào hai nói với hào năm quẻ Quán”:

    Em lại nhớ chuyện ngày quá khứ

    Khúc hát ngây thơ một thời thiếu nữ:

    “Ngôi sao cháy bùng trên sông Nêva

    Và tiếng chim kêu mỗi buổi chiều tà…”

     

    Năm tháng đắng cay hơn, năm tháng ngọt ngào hơn

    Em mới hiểu, bây giờ anh có lý

    Dù chuyện xong rồi. Anh đã xa cách thế!

    “Em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa theo”

     

    Lũ trẻ lớn lên, giờ lại tiếp theo ta

    Lại nhắp lại vị ngọt ngào thuở trước

    Vẫn sông Nêva, bóng chiều, sóng nước…

    Nhưng nghĩ cho cùng, họ có lỗi đâu anh!

    (Ônga Bécgôn: Tặng Bôrix Coócnilốp. Phụ bản thơ nói trên)
    Tháng Mười một-2004

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà thơ Bằng Việt

    Sinh 21-5-Tân Tị giờ Tị (15-06-1941 sau 10 giờ sáng). Âm Nam. Tua Rua (tiết lệnh tháng 5): 6-6-1941. Giữa hè: 22-06-1941 (Hóa công Chấn). Mệnh: Kim (trong nến). Trung nguyên. Sinh giờ khí dương. Can Chi: Năm Tân Tị, Tháng Giáp Ngọ, Ngày Giáp Ngọ, Giờ Kỷ Tị. Mã số Can Chi: 4, 2-7; 6, 2-7; 6, 2-7; 9, 2-7. Số âm: 24. Số dương: 37

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    1

    1

    0

    0

    0*

    0

    68-76

    59-67

    53-58

    47-52

    41-46

    25-30

    1

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    1*

    0

    1

    1

    0

    86-91

    77-85

    16-21

    07-15

    98-06

    92-97

    1

    0

    1

    0

    1

    1

    0

    1

    1

    0

    0

    1

     Phong Địa

     Quán

     

     Sơn Địa

     Bác

    Thủy Phong

     Tỉnh

     

    Hỏa Trạch

     Khuê

    Trạch Lôi

     Tùy

     

    Hoá công: (Chấn) Không. Thiên nguyên khí: Tốn ở Tiên thiên, Hậu thiên. Địa Nguyên khí: Tốn ở Tiên thiên, Hậu thiên. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức trung bình. Hỗ Nhân Quả: (mẹo) Đổi dấu các hào 2, 3, 6.

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và chân dung Nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

    * Khi viết bài thơ đó, có lẽ Bằng Việt cũng không ngờ đó là một cảm quan mang dấu ấn lịch sử: Người Việt hiện đại ngày nay thuộc dòng giống người Bách Việt, hàng chục nghìn năm trước, thời kỳ biển tiến, đã di cư lên đất ngày nay là Trung Hoa, mang theo nền văn minh lúa nước và lập quê ở đó.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập46,073,456

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/