Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,342,075

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tám chữ Hà Lạc và Chân dung Nhà văn: Nguyễn Thị Minh Thái

Xuân Cang

  • Chủ nhật, 13:09 Ngày 02/11/2008
  • CỨ NHƯ KHÔNG MÀ ĐI ĐẾN CÙNG

    Một buổi trưa đầy ấn tượng ở TP Hồ Chí Minh, phòng khách của gia đình nhà báo Hữu Tính, báo Lao Động. Chúng tôi, chừng dăm bẩy nhà văn, nhà báo tụ tập trong một bữa ăn thân mật, giản dị. Không biết bắt đầu từ đâu, hình như từ Ngô Thảo, nhà phê bình sân khấu, anh bỗng nhắc đến nhà thơ Lưu Trọng Lư, thời còn là tổng biên tập tờ Tạp chí Sân Khấu, mà Nguyễn Thị Minh Thái là biên tập viên. Thế là Thái cười rũ ra: Để em kể mọi người nghe chuyện em vinh dự tháp tùng cố thi sĩ về Nhà Bè tìm lại người xưa.. Thái kể và mọi người chỉ còn việc ăn và nghe, và cười, và thấy hiện lên trong mình một Lưu Trọng Lư tài năng, từng trải, ân nghĩa, đa tình, mà lúc nào cũng ngơ ngác như con nai vàng trong rừng thu vắng... Nói không ngoa: Thái mới chính là người chủ trong bữa ăn ấy, trong suốt hai giờ. Thái để lại cho mọi người ít nhất trong tôi, ấn tượng về một nhà giáo, nhà báo nữ có học thức sâu, óc quan sát tinh quái, và trên hết là sự giàu có về ngôn từ và khả năng diễn đạt. Châm biếm cụ cố đa tình đấy, làm mọi người cười rũ ra đấy, mà không tỏ ra hỗn hào chút nào.

    Ngay sau đấy tôi về Hà Nội sục tìm mua bằng được cuốn sách dày dặn Sân khấu và tôi của Thái, đọc một mạch, không khỏi thầm phục một cây bút tài hoa. Chỉ với cuốn sách ấy đã xác lập một tên tuổi Nguyễn Thị Minh Thái trong giới nghiên cứu, phê bình sân khấu và trong lòng bạn đọc rộng rãi, nhất là những người yêu sân khấu.

    Tết năm Canh Thìn vừa qua, nhân Thái đến nhà thăm, tôi xin chữ ký vào sách. Cũng nhân đấy Thái cho tôi ngày giờ sinh. Khi cấu trúc Hà Lạc của Thái hiện lên, tôi không khỏi một lần nữa reo lên: Thảo nào, người này có thiên chức “lập ngôn” từ trong số mệnh.

    Nhà văn Nguyễn Thị Minh Thái sinh giờ Dậu ngày rằm tháng tận năm Canh Dần (những chữ in nghiêng là của Thái ghi trong sổ tay của tôi), tức 15-12 Canh Dần (22-01-1951). Cấu trúc Hà Lạc của chị gồm 4 quẻ: Tiên thiên là Thuần Cấn chủ mệnh hào 5; hỗ là Lôi Thủy Giải; hậu thiên là Sơn Phong Cổ; hỗ là Lôi Trạch Quy Muội.

    Thuần Cấn có tượng quẻ là hai lần Núi, Núi trùng điệp Núi. Núi trong Kinh Dịch là tượng của sự chứa chất, dày dặn, trọng hậu, đặc biệt của sự ngưng đọng, ngăn trở. Người quẻ Cấn là người sống đầy đặn, có hậu, là người biết ngừng lại ở nơi tĩnh lặng nhất, để đạt tới sự chí thiện, trong sáng nhất. Ngưng tĩnh đến mức quên có thân mình, đi trong sân đông người mà không thấy người (bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình bất kiến kỳ nhân). Hào 5 quẻ Thuần Cấn chi phối 42 năm đầu đời của chị bảo rằng chị sẽ là người có đức, có lập ngôn, nghĩa là có phẩm chất tốt biểu hiện bằng ngôn ngữ, tự khẳng định mình và khởi nghiệp bằng con đường giảng dạy, thông tin, văn học, nghệ thuật. Hà Lạc dự đoán rằng người này lớn thì làm ngoại giao, nhỏ thì làm giáo sư, ít ra thì cũng là người ưa “luận bàn kim cổ, được bạn bè hội tụ”.

    Đoạn đời sau của Nguyễn Thị Minh Thái được quẻ Sơn Phong Cổ. Cổ nghĩa là Công việc, còn có nghĩa là Đổ nát. Người quẻ Cổ là người có sứ mạng sửa sang những gì còn ngổn ngang bê bối, chưa đầy đủ, (người xưa gọi là đổ nát) do thế hệ trước (người xưa gọi là cha và mẹ) để lại. Cũng do vậy mà cuộc sống rất bề bộn những việc là việc (người xưa gọi tắt là công việc).

    Cuộc đời và văn chương Nguyễn Thị Minh Thái trước sau đã diễn ra đúng như thế. Sức học chứa chất, dày dặn. Chị là tiến sĩ nghệ thuật học, giảng viên Trường cao đẳng văn hóa TP Hồ Chí Minh. Làm báo, viết văn. Yêu cái đẹp sân khấu đến mức quên thân mình, cảm xúc về cái đẹp sân khấu đến mức ở giữa triệu người yêu sân khấu chỉ còn thấy sân khấu và... tôi. Số phận cũng xui khiến Nguyễn Thị Minh Thái gánh lấy công việc phê bình sân khấu vào giữa thời kỳ sân khấu nước ta lâm vào khủng hoảng, chính là việc tham gia “sửa sang những đổ nát” của thế hệ trước để lại. Công việc của thời Cổ đè nặng trên vai. Nguyễn Thị Minh Thái có thể làm tốt những việc ấy vì trong cấu trúc Hà Lạc của chị có Hóa Công nghĩa là có ưu tiên năng lượng của trời đất, lại có đầy đủ nguyên khí của Trời và Đất (Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí). Cuốn sách Sân Khấu và Tôi phản ánh hết sức sáng tỏ sứ mạng và những phẩm chất của chị trên cái hành lang, hành trình mà trời đất đã giao cho.

    Sân khấu và tôi (Nxb Sân Khấu - tái bản lần 1 - Hà Nội 1999, 620 trang) tác phẩm đã được giải thưởng Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam năm 1995, gồm ba phần. Phần I phác thảo chân dung nghệ sĩ; phần II dành cho các bài phê bình sân khấu; phần III có tên là Tạp văn viết tản mạn về nhiều đề tài nhưng phần lớn vẫn là về sân khấu. Nhưng trong con mắt của người làm Hà Lạc, tôi chỉ thấy cuốn sách có hai phần rõ ràng. Một là những bài thuộc về người hào 5 quẻ Thuần Cấn: phát huy cao cái thiên chức lập ngôn, cảm thụ cái đẹp sân khấu bằng khí chất người Thuần Cấn, trình bày cái đẹp đó bằng ngôn ngữ, “luận bàn kim cổ” để “tụ hội bạn bè”. Hai là mảng công việc phê bình sân khấu với sứ mạng người quẻ Cổ “sửa sang đổ nát” giữa một thời sân khấu khủng hoảng ngổn ngang công việc.

    Đối với các nhà văn có mệnh quẻ Cấn, tượng là Núi, những hình ảnh về Núi hoặc gần gũi với Núi thường hiện diện trong tác phẩm của họ. Nguyễn Tuân là một ví dụ nổi bật. Nguyễn Tuân có mệnh Thuần Cấn. Những tác phẩm Trên đỉnh non Tản, Cô Dó, Sông Đà... để lại dấu ấn đẹp trong danh mục tác phẩm của ông (xem bài về Nguyễn Tuân trong sách này). Nhưng với Nguyễn Thị Minh Thái thì khác. Tượng Núi dường như chưa xuất hiện một lần trong các tác phẩm của chị. Thế nhưng dấu ấn người Thuần Cấn vẫn cứ hiển hiện trong cảm xúc, cảm nhận của chị về cái đẹp, cái “chí thiện” trong nghệ thuật sân khấu.

    Nguyễn Thị Minh Thái (NTMT) đã tạo ra một phong cách riêng trong những bức chân dung mang dấu ấn của cái “tôi” Minh Thái. Hãy xem chị tả Thế Lữ trong vai “ông Ký Cóp” trong vở kịch cùng tên (qua lời một khán giả hâm mộ). Thế Lữ quay lưng ra phía khán giả, dùng bàn tay và lưng diễn tả ông Ký Cóp đang nát óc suy nghĩ, cứu vãn một tình huống đã cùng đường, cụt ngõ. Cái lưng còng, dáng đổ nghiêng về phía trước, bất động. Hai bàn tay bắt chéo sau lưng. Những ngón tay co duỗi đuổi nhau, tính kế. Im lặng, căng thẳng. Các nhân vật khác ngồi im, như hóa đá, chờ đợi. Cả sân khấu chỉ còn cái lưng chết lặng và những ngón tay cử động, vẽ nên một cảnh suy nghĩ rất lung... (Sân khấu và tôi. Sđd. tr 18).

    Qua Thi nhân Việt Nam (của Hoài Thanh và Hoài Chân), bạn đọc đã biết thế nào là Thế Lữ của thơ. Đến Sân khấu và tôi bạn đọc mới biết thêm một Thế Lữ của sân khấu. Theo NTMT, Thế Lữ có chất sân khấu từ bản năng. Không có hai Thế Lữ trong Thơ và trong Sân Khấu. Đó chỉ là những mặt khác nhau của một tài năng đa dạng.

    Và trong sân khấu hình như có cả thơ.

    Phải chăng cái tinh túy của thơ, ấy là thơ bao giờ cũng là nghệ thuật của khoảnh khắc. Trong khoảnh khắc bất thần, thơ hiện lên như sự bùng nổ của tâm trạng dồn nén cực độ. Từ trong bản chất xung đột, kịch đã căng thẳng như thơ. Và trong diễn kịch, nguyên trong một vai, không tối nào diễn viên lại thể hiện giống tối nào, nghĩa là không bao giờ lặp lại trong hoàn cảnh tưởng chừng chỉ có lặp lại mà thôi. Đó là cái khó của người diễn kịch. Vượt qua cái khó ấy, sẽ gặp sự thành thục điêu luyện của nghệ thuật biểu diễn. Và cái phút sáng tạo trên sân khấu là lúc diễn viên sảng khoái, diễn “cứ như không”. Thơ khi đã chín thật rồi đọc cũng “cứ như không”. Cái “như không” của một viên ngọc hoàn hảo, qua tay người thợ tài ba, không một tỳ vết. Những diễn viên sân khấu cùng thời với Thế Lữ đã được hưởng những giây phút ấy, những giây phút hệ trọng buộc cả đời họ vào sân khấu như số mệnh không dứt ra được. Từ đó một sân khấu thực thụ ra đời. (Sđd. Tr 18)

    Bức vẽ chân dung đạo diễn Nguyễn Đình Nghi được thực hiện theo cách người “vẽ” ẩn mình trong vai người phỏng vấn, để chính đạo diễn tự phác thảo chân dung mình bằng những câu trả lời. Qua đó, đúng hơn qua ngòi bút NTMT hiện lên một Nguyễn Đình Nghi đạo diễn hết mình khám phá kịch bản văn học, “bởi vì đó chính là việc mở cánh cửa đầu tiên dẫn tới vở diễn trong cả một chuỗi dài lao động nghệ thuật tiếp nối”. Việc khám phá này được Nguyễn Đình Nghi so sánh với cách khám phá một bài thơ. Trong văn học cổ Trung Quốc có một bài thơ tình rất hay. Tạm dịch nghĩa như sau: Chàng biết thiếp đã có chồng, chàng tặng thiếp một đôi ngọc minh châu. Cảm mối tình sâu nặng của chàng, thiếp đã đeo trong áo lót của mình màu phấn đỏ... Nhưng dầu sao thì thiếp cũng là gái có chồng, không muốn phụ lời vàng đá với chồng, đành rơi lệ trả lại chàng đôi ngọc, hận vì không gặp chàng từ khi còn con gái chưa chồng... (Hoàn quân minh chu song lệ thủy / Hận bất tương phùng vị giá thì). Nguyễn Đình Nghi kể:

    Tôi thấy những người dịch bài thơ ấy sang tiếng Việt đều hiểu và cùng dịch rằng: Người thiếu phụ ấy đã khóc, mà trả lại đôi ngọc minh châu. Tôi cũng hiểu y như vậy, ngay cả khi đọc bài thơ từ nguyên văn chữ Hán. Bỗng nhiên có một lần tôi được đọc bài thơ đó bằng tiếng Pháp do một người Trung Quốc dịch. Người đó dịch: Em xin trả lại chàng đôi ngọc. Đó là hai giọt nước mắt em rơi xuống. Tôi thấy vỡ ra một cái gì đó giống như một phát hiện. Bài thơ bỗng nhiên lạ hẳn, mới hẳn, hay hơn hẳn và rực rỡ như khuôn mặt đẹp lúc xuất thần. Ý nghĩa của bài thơ được đẩy lên một tầm cao, đầy sức phát hiện riêng. Từ đó, tôi liên tưởng đến sức mạnh tư duy của người đạo diễn. Hệt như vậy, người đạo diễn phải có sức khám phá, phát hiện riêng, phải đưa kịch bản đến một tầm cao, đầy sức phát hiện riêng. (Sđd. Tr. 79)

    Một Nguyễn Đình Nghi đạo diễn là người giải thích tác phẩm, bội số của tác phẩm, giấc mơ về tác phẩm. Giấc mơ ấy phải nhuần thấm vào công việc dàn dựng của đạo diễn, vào diễn xuất của diễn viên, họ phải tạo cho được giấc mơ và khi đạt đến giấc mơ thì khoảng trời rộng dành cho các thủ pháp hiển nhiên sẽ là vô cùng.

    Một Nguyễn Đinh Nghi đạo diễn có phong cách riêng, mở rộng không gian, thời gian, dung lượng hiện thực bằng một thứ ngôn ngữ mới: ngôn ngữ ước lệ.

    NTMT đã chinh phục người đọc khi phác thảo hàng loạt chân dung nghệ sĩ diễn viên. Bạn đọc để ý sẽ thấy NTMT, bắt đầu từ chân dung Thế Lữ, nhiều lần sử dụng cụm từ “cứ như không” để tả nghệ thuật diễn xuất đến mức tuyệt mỹ, tuyệt kỹ. Thanh Tú trong vai Tanhia diễn “cứ như không”. Thu Hà trong các vai tướng nam diễn “cứ như không”. Minh Gái trong vai Nguyệt Cô hóa cáo diễn “cứ như không”. Vậy thế nào là “cứ như không”? Đó là khi trên sân khấu, nghệ sĩ diễn với phong cách giản dị, tự nhiên, chỉ biết có nhân vật không biết có mình nữa, nói cách khác là hóa thân vào nhân vật, theo cách người quẻ Cấn đi đến với cái chí thiện, “quên thân mình” (bất hoạch kỳ thân) “đi trong sân mà không thấy người” (hành kỳ đình bất kiến kỳ nhân). Muốn đạt tới cái đỉnh nghệ thuật diễn “cứ như không” ấy diễn viên phải có một quá trình nghiên cứu tinh tế, sâu sắc. Thanh Tú đã vật lộn với nhân vật bà hoàng Minpho xinh đẹp, cao quý với tất cả giông bão trong tâm hồn trong vở Âm mưu và Tình yêu của Sinle do Nguyễn Đình Nghi đạo diễn theo phong cách ước lệ. NTMT thất vọng chỉ thấy Thanh Tú với một Minpho đơn điệu: một người đàn bà ghê gớm mời chàng trai mình yêu đến để tỏ tình, ngay sau đó biết chàng đã yêu một cô gái bình dân là Luizơ. Thanh Tú đã nhấn mạnh hơi quá đáng tính ghê gớm của bà hoàng Minpho mà quên mất rằng cái ghê gớm ấy chỉ là vỏ bọc kiên cố cho một tấm lòng trinh bạch, nhân đạo, một trái tim yếu đuối nhiều thương cảm mà thôi. NTMT đã “hóa thân” vào Thanh Tú để nhìn thấy cái trục trặc đáng buồn giữa nghệ sĩ và nhân vật và tả Thanh Tú vật vã với vai kịch như thế nào. Tôi thấy điều đó thật rõ ràng trên sân khấu y như thấy một người cầm bút vật vã trước trang giấy còn trắng nguyên trước mặt khi trời đã rạng sáng, nhưng chị vẫn không lấp đầy được khoảng trống nghiệt ngã giữa chị với Minpho, giữa các động tác ngoại hình với nội tâm nhân vật, giữa giọng nói với tâm trạng. Giọng nói vốn đẹp của chị nay trở nên lạc lõng với Minpho làm sao” (Sđd. tr. 146). Minh Thái đã dẫn dắt Thanh Tú thổ lộ những gì mình hiểu về Minpho: “Theo ý tôi, Minpho không bao giờ và không đời nào là một người đàn bà đằm thắm, êm dịu. Minpho phải là một người đàn bà bạo liệt, đầy cá tính, Thanh Tú nhấn mạnh chữ phải là...”. “Bởi vì cô ta đã từ một cô bé thất cơ lỡ vận, chỉ bằng tài năng và sắc đẹp của mình, đánh bại tất cả tình địch để ngoi lên địa vị ái phi duy nhất của hoàng thân và điều khiển cả triều đình nước Đức dễ hơn điều khiển một đôi que đan”. “Tôi nghĩ Minpho như một quả cây bí ẩn, nhìn bề ngoài không thể đoán biết bên trong là gì. Nhiệm vụ diễn xuất của tôi tự đặt ra cho mình là (giúp người xem) khám phá dần hình tượng Minpho, bóc dần các lớp vỏ bí ẩn của hình tượng, để cuối cùng - từ chỗ không hiểu, ghét bỏ, căm thù và khinh bỉ Minpho, người xem sẽ cảm thông và rung động trước tấm lòng đẹp đẽ cố tình bị giấu kín của Minpho”. Và như thế, Minh Thái đã “vẽ” một Thanh Tú trên sân khấu trong vai kịch Minpho như sau: Sau khi tỏ tình với Fecđinăng, Minpho hồi hộp chờ đợi, nhưng Fecđinăng lại thổ lộ rằng mình yêu Luizơ. Trong đoạn kịch này, Ngọc Hiền (một diễn viên của Đoàn kịch Hải Phòng. XC) thủ vai Minpho đã choáng váng ngã xuống cây đàn dương cầm bật lên một hòa âm thê thảm. Thanh Tú cho rằng Minpho không thể có một tư thế tội nghiệp như vậy. Chị đã diễn tả sự thất vọng của Minpho trong một cái giật mình rất nhẹ, vẻ mặt thoáng biến sắc, trong một khoảng yên lặng hơi lâu và sau hết trong một giọng nói như lạc đi. Với một tính cách bạo liệt như Minpho, điều đó gần như trái ngược, nhưng thật ra đó là một ý diễn xuất chính xác và sáng suốt của Thanh Tú, đã tìm cho nỗi đau quá lớn của Minpho cách biểu hiện im lặng. Vì đó không phải là nỗi đau thường tình, nó là nỗi đau của một bà hoàng. Thanh Tú đi chập chững quanh chiếc ghế duy nhất (sân khấu ước lệ của Nguyễn Đình Nghi. XC), chị yếu ớt đưa tay vịn vào chiếc ghế như cố giữ cho Minpho của mình được thăng bằng trước lời từ khước của Fecđinăng. Nhưng bất ngờ Fecđinăng hỏi thêm:

    -Bà có điều gì muốn nói nữa? Bà có gan nhận một cái xác không tình yêu?

    Thì cả một dòng máu vương giả trong con người Minpho bỗng bừng tỉnh... Ngay lập tức, Thanh Tú thay âm điệu giọng nói và động tác cho Minpho. Minpho đứng thẳng người, kiêu hãnh như một bà hoàng vốn kiêu hãnh và độc ác, đầy mưu kế. Giọng đanh lại, Minpho tuyên bố một cuộc trả thù ghê gớm với cả Fecđinăng và Luizơ.

    NTMT bình luận: Về sau này, nhiều lần xem lại vai Minpho của Thanh Tú, tôi vẫn bị cách diễn sôi nổi thông minh của Thanh Tú lôi cuốn... Song điều đáng nói nhất qua vai kịch Minpho của Thanh Tú chính là thái độ kiên quyết bảo vệ ý đồ nghệ thuật của người diễn viên trong vai kịch. Kể từ đây, bản lĩnh nghệ thuật của người nghệ sĩ trẻ đẹp này đã chính thức hình thành và khó có một sức mạnh nào phá vỡ nổi. Đó chính là hành trang quý nhất của người diễn viên đem theo suốt cuộc đời nghệ thuật. (Sđd. tr. 151).

    Cần nói rằng thần thái văn chương của “người thuần Cấn” NTMT hiện lên đầy đủ nhất vẫn là khi chị phác thảo chân dung các nghệ sĩ sân khấu dân tộc như tuồng, chèo, nhất là những mảng tuồng, chèo được coi là tinh hoa của nghệ thuật dân tộc. Cao Văn Lầu tác giả bài ca Dạ cổ hoài lang, nữ nghệ sĩ Thu Hà trong các vai tuồng nam, Diễm Lộc trong Xúy Vân giả dại, Hoàng Thị Lan trong Cây tre trăm đốt..., những Mẫn Thu, Thu Hương, và những tên tuổi khác trong các vai đào chín, đào lệch, đào võ, đào thương, đào nấp, hề mồi, hề gậy, hề hoạn là những chân dung đẹp sóng đôi vừa cho người đọc thấy cái đẹp cái hay tinh túy của những tác phẩm nghệ thuật vừa sáng lên những gương mặt nghệ sĩ xuất thần. Minh Gái trong Hồ Nguyệt Cô hóa cáo là một chân dung như thế. Hồ Nguyệt Cô nguyên là một con cáo, dụng công tu luyện ngàn năm, được hóa kiếp thành người. Chỉ sảy một phút lỡ lầm mà “uổng công thu góp càn khôn, tan tành trường phong nguyệt”... phải trở về kiếp cáo, trong sự đau đớn toàn phần cả tâm linh lẫn thể xác. Đây là một ý tưởng triết học thâm sâu và quyết liệt, đậm đặc tính nhân văn, đã được nghệ thuật tuồng cổ Việt Nam thể hiện rất đặc sắc và ngoạn mục trong vở tuồng Tiết Giao đoạt ngọc.

    ...Trên sân khấu, nghệ sĩ Minh Gái, 32 tuổi với sau lưng 16 năm đeo đuổi nghề tuồng, đang... ra vai Nguyệt Cô. Một Nguyệt Cô nữ tướng trẻ đẹp, lẫm liệt oai phong, giao chiến với dũng tướng Tiết Giao “râu hùm, hàm én, mày ngài” khiến chàng thua liểng xiểng. Sau biết được Nguyệt Cô có trong bụng viên ngọc bửu bối, chứng chỉ của ngàn năm tu luyện, khó bề đánh bại được nàng, Tiết Giao lập kế “bẫy” Nguyệt Cô vào vòng tình ái, bày cuộc yêu đương. Trong cơn hoan lạc, Tiết Giao vờ ngã bệnh, nài xin Nguyệt Cô cho mượn ngọc chữa bệnh. Nguyệt Cô cả tin, nhả ngọc ngậm trong bụng. Tiết Giao đoạt ngọc, quất ngựa truy phong. Nguyệt Cô mất ngọc, hết thiêng, trở lại nguyên hình lốt cáo. Lúc này trên sân khấu hoàn toàn trống trơn, Nguyệt Cô của Minh Gái sau khi đuổi theo Tiết Giao, cất tiếng kêu tuyệt vọng xé lòng: “Tiết Giao trả ngọc cho ta!”, đã chỉ còn lại một mình, và bắt đầu phải đối diện với phút giây kinh khiếp: sắp sửa hóa cáo...

     Giữa cái phút có một cuộc đối trọng kinh khủng: một ngàn năm tu và một phút mất ấy, Nguyệt Cô của Minh Gái đột ngột thay đổi hình thể. Thân hình rung chuyển, bàn tay run rẩy, chân xiến run run trên sàn gỗ, cặp mắt đảo thất lạc, giọng hát vỡ ra trong nước mắt sám hối: Đã phủi rồi son phấn một thời. Thôi thôi, chân dò bước nước non ngàn dặm. Nguyệt Cô đang trở về rừng hoang, từ giã cõi người tươi đẹp, mỗi lúc một thêm cay đắng trong điệu Nam ai thống thiết: Ngàn dặm thẹn cùng non nước / Ngẫm mơ màng thân trước hình sau / Dặm hoè một bước một đau / Nhìn phong cảnh cũ ra màu dở dang.

    Sau đó là một đoạn diễn đỉnh điểm của nghệ thuật tuồng, phối hợp hài hòa tuyệt kỹ giữa hát, múa, nhào lộn, xiếc... Và Minh Gái đã khéo léo bước qua cửa ải khắc nghiệt này của vai diễn với lối diễn tinh tế uyển chuyển “cứ như không” của một nghệ sĩ trẻ tài năng.

    Cái khó nhất của đoạn diễn tiếp theo này là diễn sao cho ra sự chập chờn ẩn hiện cuộc chống chọi tuyệt vọng giữa phần người và phần thú trong nhân vật Nguyệt Cô.... Nguyệt Cô rùng mình rú lên khi soi mặt mình xuống suối, thấy dã biến dạng. Muốn thét lên, lại kinh hoàng nghe tiếng ngao ngao ghê rợn của loài cáo phát ra từ chính miệng mình. Nhìn xuống chân tay, lông lá đã mọc lên. Cuống quýt bứt xé, không xuể. Rồi cả thân mình cứ nhoài xuống đất, không gắng gượng đứng thẳng được nữa, đã bò dưới đất bằng bốn chân của loài thú. Tay chân co quắp như móng vuốt cáo. Khuôn mặt đẹp lúc này đã in hình mặt loài cáo, với ánh nhìn hung dữ của cặp mắt, những chiếc răng nanh dã thú đã nhe ra khỏi miệng như muốn cắn xé. Toàn thân đã sập đổ xuống kiếp thú hoàn toàn... Và tất cả ngưng lại một tiếc nuối kinh hoàng trong ánh mắt man dại... (Sđd tr. 203)

     Không còn là một chân dung nghệ sĩ mang cái đẹp sóng đôi, mà là sóng ba. Thêm cái đẹp của một nhà văn mang tượng Núi trong mệnh, viết về những nhân vật của rừng núi.

    Phái và Chèo cũng là một bức chân dung đẹp bằng ngôn ngữ. NTMT phát hiện cho người đọc thấy bên cạnh Phái phố của danh họa Bùi Xuân Phái còn có một Phái chèo.

    Có hai đặc trưng rất Phái trong những tranh vẽ chèo của ông. Thứ nhất, quả là mỗi cô đào chèo là một dung nhan đẹp - một vẻ đẹp rất chèo mà ông chính là người đầu tiên và duy nhất khám phá.

    Thứ hai, hầu hết các đào kép chèo đều được ông mô tả trong trạng thái tĩnh và trong buồng trò - hậu trường sân khấu, nơi các diễn viên chèo sửa soạn ra trò, chứ chưa phải là trên sân khấu, nơi họ sẽ diễn trò. (Điều này trái với minh họa của ông trong tập Hề chèo của Hà Văn Cầu, các nhân vật hề đều được vẽ ở tư thế động, đang ra vai trên sân khấu, thậm chí, nhân vật Mẹ Đốp còn tốc váy và thắt lưng lên, bốc lời từ miệng xã trưởng, ném vào vạt váy... cho tiện nhớ. Tuy nhiên ta lưu ý rằng: ông Phái vẽ hề chèo là do “com măng” minh họa riêng về hề, còn các tranh chèo khác, kể cả được com măng - như bìa tạp chí Sân Khấu - ông cũng chỉ vẽ chèo theo con mắt tự do và cử chỉ hội họa của riêng ông).

    Ông đã khuất núi, tôi chẳng thể phỏng vấn ông tại sao không vẽ đào kép khi tung hoành trên sân khấu, mà lại hướng cây cọ về hậu trường. Tôi chỉ biết lần đầu trong đời, ông mở mắt cho tôi cái vẻ đẹp hồn hậu, quê mùa mà trang trọng, đài các, đầy chất phồn thực, lại huy hoàng thiêng liêng như nghi thức tôn giáo trong lễ hội dân gian ngày xưa - của buồng trò sân khấu chèo - nơi mọi thứ đều đang e ấp, rộn rực cái không khí nhập đồng để sắp vào đồng, lên đồng. Nơi mà tất cả tâm linh người diễn viên đang chập chờn nhị nguyên giữa mộng và thực, giữa trần thế và thăng hoa... Rốt lại, đó là nơi đào kép dọn mình lần chót, để đưa mình đắm đuối vào giao hoan với sân khấu. Vì suy cho cùng, chèo chẳng phải là cuộc chơi nghệ thuật lớn nhất của nông dân quê đồng bằng Bắc bộ Việt Nam, hiển hiện minh triết nền văn minh rực rỡ - văn minh lúa nước - mà chính ông đã tạo ra đó sao?

    ... Những cặp vai trần nõn nường, những chiếc yếm đào sẻ ba tia mặt trời, ôm vòng kín cổ, nhưng không hiểu sao lại cứ khêu gợi về cái mà nó đang ôm bên trong, những chiếc cổ kiêu ba ngấn, những chiếc lưng ong thấp thoáng khi thay áo, những bàn chân trần xinh xẻo và những ngón tay búp măng đang chăm chú tô đậm mắt phượng mày ngài. Rồi những cặp má đào, mắt đen hột nhãn long lanh, khuôn trăng đầy đặn ửng hồng của các cô đào chín, kề cận mặt trái xoan, mắt lá răm dung đưa, lúng liếng, thân người lẳn mình trắm gợi tình của các nàng đào lệch: Thị Màu, đào Huế... Tất cả các dung nhan này được tôn lên trong trang phục rực rỡ màu nguyên thủy của chèo: yếm đỏ màu xác pháo, áo cánh vàng chói hoa cúc, tà áo tứ thân hồng điều hoặc xanh lục, thắt lưng xanh thiên lý hoặc đỏ điều, hài cong, nón quai thao và “váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” (thơ Hoàng Cầm: Lá diêu bông) nhiều ly phủ kín chân đen nhưng nhức, kín như bưng mà nồng nàn quyến rũ... Ông Phái lại vẽ tiếp những nhân vật kép ngồi trầm ngâm mơ màng trên ghế, mặc sức ngắm các cô đào - bạn diễn đang trang điểm. Các cô vừa nghiêm trang vừa tình tứ, trong áo xống chưa cài buộc ngay ngắn, vẫn còn lơi lả trễ tràng.

    Quả là một thế giới dạt dào sống động Hình và Bóng, ngồn ngộn sự sống phồn thực và chói lọi sắc màu, phảng phất e* tranh dân gian làng Hồ, vừa lãng đãng buồn vừa thấp thoáng một nét tươi tinh nghịch trên nền trầm tư triết học riêng của ông già Phái. Qua ông, sân khấu chèo đẹp từ trong hậu trường đẹp ra và ngay ở trong phòng trò, nó đã hớp hồn họa sĩ, khiến ông đắm chìm trong đó, cho đến khi ông rời cây cọ để đi về cõi khác, chắc nó vẫn không ngừng ám nhiễm ông. Ông hầu như chưa kịp động đến những giông bão của màu chèo được biến hóa kỳ ảo trong những vũ điệu vô cùng uyển chuyển, đa tình, những quấn quýt làn điệu chèo ngọt ngào và những trống, những sênh, những phách, những lời đối thoại của dàn đàn, dàn đế. (Sđd tr.189-190)

     

    Chặng đường sau của Nguyễn Thị Minh Thái từ năm 43 tuổi (1994) thuộc về quẻ Sơn Phong Cổ. Cổ, như trên đã nói, là Công việc, là Đổ nát. Người quẻ Cổ là người có sứ mạng (tham gia) sửa sang những đổ nát của thế hệ trước để lại. Sửa sang là một loại công việc rất bề bộn, phải có gan có chí, có kế hoạch lo tính trước sau. Người xưa dạy muốn thực hành sứ mạng thời này thì không gì bằng thức tỉnh trí dân, cổ vũ khí dân để cho dân cùng sửa sang với mình. Đặc điểm thời này là trong khi sửa sang đổ nát cũng sẽ vấp nhiều sai lầm kiểu “quy muội” (gả chồng cho em gái), nghĩa là thường hay qua quýt, đại khái, thiếu tỉnh táo, cũng có khi bỏ qua những việc nhỏ mà hại việc lớn, cũng có khi là những sai lầm đáng yêu, kiểu như vua Đế Ất gả em gái mà sơ xuất để cho cái tay áo của công chúa không đẹp bằng của nàng hầu (như ngày nay áo váy cô dâu không đẹp bằng phù dâu). Thánh nhân khuyên vào thời này nên thường suy ngẫm về hành động của mình, ngăn đón những tệ hại sẽ xảy ra, được như thế thì sẽ gặp nhiều tốt lành.

    Có thể nói hầu hết mảng bài phê bình và suy ngẫm (dưới hình thức tạp văn) trong Sân khấu và Tôi của NTMT xoay quanh cái trục quẻ Sơn Phong Cổ.

    Trước hết là vạch rõ một thực trạng sân khấu khủng hoảng. Những năm chín mươi của thế kỷ trước ai cũng biết thực trạng này, nhưng NTMT vẫn có cách nói riêng, những dòng sau đây làm nhói lòng người:...sân khấu đang rơi vào tình thế bi đát của bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ. Không còn người xem, không còn được sáng đèn hàng đêm, sân khấu như con hổ bị tước đoạt mất rừng xanh, đêm ngày ngồi nhớ mây ngàn gió núi trong cũi sắt vườn bách thú mà than thở: Than ôi thời oanh liệt nay còn đâu! (Sđd tr. 487) Trong vài năm trở lại đây, sân khấu đang lâm vào cuộc khủng hoảng lớn về mọi phương diện. (Sđd tr. 94). Cuộc khủng hoảng lớn nhất là mất công chúng. Các huyết mạch lưu thông kịch trường do “vận hành” bằng khán giả hằng đêm đã bị đứt đoạn nghiêm trọng, có khi bị đứt hẳn. Nhà hát, rạp hát vắng hoe, hoặc được dùng vào những sinh hoạt phi sân khấu... Các đơn vị sân khấu đều bị rơi vào tình trạng tự bươn chải để kiếm sống, và phải luôn luôn đối mặt với nguy cơ rã gánh. (Sđd. tr.577). Vậy là đã rõ. Vấn đề còn lại là tìm ra nguyên nhân và giải pháp để cứu vãn tình hình, theo cách nói của Kinh Dịch là để “sửa sang sự đổ nát”. Người quẻ Cổ NTMT (từ đây, tôi xin được gọi như thế) đã trằn mình qua thực tế sân khấu và đặt ra những vấn đề đầy tính thuyết phục sau đây: Chúng ta, trước hết là Nhà nước còn thiếu hẳn một giải pháp chiến lược để chấn hưng sân khấu.

    Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi nói với Minh Thái sau chuyến đi Pháp năm 1992:... Tôi thích cái tín niệm sân khấu này của người Pháp: “Sân khấu không chỉ là giải trí, sân khấu còn là khoái lạc đau đớn của trí tuệ và trái tim”. Ở Pháp, tôi nhìn thấy khán giả lý tưởng, một loại khán giả có văn hóa cao về sân khấu. Tôi xem 30 vở diễn trong một mùa diễn, các vở diễn rất khác nhau về thể loại, phong cách, đề tài, nhưng không thấy đêm diễn nào còn một ghế trống. Có vở diễn không phải là dễ xem, bởi tính cổ điển nghiêm ngặt của chúng. Vả lại vé rất đắt, mà phải mua vé cùng lúc cho ba vở (đồng bộ), với giá tiền chóng mặt: 400 phrăng (tương đương 800 000 đ Việt Nam). Xem từ 14g30 chiều đến 23g 30 đêm; giờ nghỉ rẽ vào tiệm ăn trong nhà hát, tốn vào đó khoảng 100 phrăng nữa, nghĩa là gần một triệu đồng Việt Nam cho 3 vở diễn này. Nhà hát có 900 chỗ ngồi, không một ghế trống, không một người bỏ về giữa chừng. Tôi rất thích và bày tỏ sự thán phục với bà Arian Mnuchtin, một người làm sân khấu rất nổi tiếng, người Pháp gốc Nga, bà trả lời ngay: Anh khen khán giả Pháp là đúng thôi. Chúng tôi mất 200 năm mới tạo dựng cho sân khấu Pháp một khán giả như vậy.

    Cuộc trò chuyện lan man về những khán giả lý tưởng đã dẫn đến những ý tưởng và đề nghị nghiêm túc về một chiến lược chấn hưng sân khấu. Khi xóa bỏ cơ chế bao cấp thay vào đó cơ chế thị trường, ta đã mắc phải một sai lầm lớn là xóa bỏ bao cấp trong nghệ thuật, nhất là trong sân khấu. Sân khấu phải tự bươn chải để kiếm sống, “lấy thu bù chi”, hạch toán lỗ lãi cứ y như một hãng buôn. Một khi đã bị thả nổi như thế, sân khấu không có cách nào khác là phải làm thương mại, phải “kinh tế hóa” nghệ thuật.

    Kinh nghiệm đông tây kim cổ cho thấy rằng, đẩy sân khấu vào dòng đời bươn chải tục lụy thì sẽ lập tức biến sân khấu thành món hàng thương mại và chỉ mua vui cho “thượng đế có tiền”.

    Muốn có một sân khấu tử tế, là bộ mặt của văn hóa, văn minh của một dân tộc, một quốc gia, thì bất cứ nhà nước nào cũng phải bảo trợ cho sân khấu. Từ thời cổ đại, nhà nước Aten đã bảo hộ toàn bộ sân khấu Hy Lạp (theo cách nói hôm nay là bao cấp) không chỉ cho người làm sân khấu mà cho cả người xem. Trong những Festivan sân khấu, người dân Aten được phát lương ăn, được nhà nước cho phép nghỉ làm việc để đi xem.

    Sân khấu Pháp từ cổ điển đến hiện đại đều được hoặc nhà nước phong kiến hoặc nhà nước tư sản bảo trợ từ A đến Z... ở Cộng hòa dân chủ Đức trước kia, nhà nước bảo trợ cho mỗi ghế ngồi của khán giả xem một đêm diễn là 20 mác, trong khi vé bán trung bình là 5 mác, mà không phải tối nào nhà hát cũng bán hết vé... Đó là một chiến lược nghệ thuật khôn ngoan nhằm giữ lấy cái lề văn hóa của một đất nước, một dân tộc. Chúng ta đã sai lầm trong việc thả nổi sân khấu, bây giờ mới bắt đầu nhận ra thì sân khấu đã quá đà trong thương mại. Phá hủy một công trình, một trình độ thẩm mỹ, nhanh hơn rất nhiều so với việc xây dựng nó. Huống hồ, việc giáo dục thẩm mỹ sân khấu cho người xem từ lâu bị quên lãng và bỏ bê. Trong các trường học, từ bậc tiểu học đến đại học, hầu như chưa có một chương trình nào cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về sân khấu Việt Nam và thế giới. Công chúng hôm nay chối bỏ tuồng, chèo, cải lương, thờ ơ lạnh lẽo với kịch, quay lưng lại với sân khấu. Để cải thiện tình hình này rất cần sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước và những người làm sân khấu, cần nhìn thẳng vào thực trạng sân khấu hôm nay để tìm ra chiến lược và những sách lược sân khấu đích đáng. (Sđd. tr.99)

    Chúng ta còn rất thiếu những kịch bản hay. Nguyễn Thị Minh Thái gọi đây là cuộc khủng hoảng thiếu trong sân khấu, một khâu yếu nhất, cái gót chân Asin trong nghệ thuật sân khấu đương đại. Nhưng thế nào là một kịch bản hay? Câu trả lời là ở trong các bài viết về những vở kịch đã làm sôi động một thời sân khấu. Kịch bản Hồn Trương Ba da hàng thịt (HTBDHT) của Lưu Quang Vũ là một kịch bản hay vì nó chứa đựng một cuộc tìm về những giá trị bản thể của con người. Cái tầng ý nghĩa văn học - triết học ở đáy sâu vở kịch là một nỗi buồn nhân thế: Liệu con người có thể nào sống được bằng cách không phải là mình, mà là tha nhân được không? Văn bản kịch HTBDHT trả lời rằng: Không! Dứt khoát là không. (Sđd. tr.388) Từ một câu chuyện cổ mang tính triết lý rất cao về chuyện vay mượn hồn này xác nọ, Lưu Quang Vũ đã phả thêm vào đó cái hương vị văn chương quyến rũ. Nhân vật nào ra nhân vật ấy. Một kịch bản hay có số phận văn hóa của nó. Lưu Quang Vũ viết HTBDHT xong không được đón nhận vồ vập như những kịch bản khác của anh. Nó như một nàng tiên kịch bản ngủ trong rừng của sự thờ ơ lãnh đạm, suốt năm năm trời cho đến khi nó được đánh thức dậy bằng cây đũa thần của đạo diễn Nguyễn đình Nghi, người đã ngay từ đầu có cái nhìn xuyên thấu tận đáy văn học của kịch bản và cũng ngay lập tức trở thành kẻ tri âm đầu tiên của nó. Ông đã dàn dựng thành công vở HTBDHT cho dàn diễn viên tay nghề biểu diễn sân khấu kịch số một của kịch nghệ Việt Nam hiện đại: Nhà hát kịch Việt Nam. Kể từ đó, HTBDHT bắt đầu một đời sống sân khấu suốt trong nhiều năm sau, và nó được đem đi dự liên hoan quốc tế thể loại kịch tại Matscơva với hàng chục cường quốc sân khấu thế giới tham dự. Mùa thu năm 1988, nó được biểu diễn tại hàng chục trường đại học nước Mỹ, qua nhiều cuộc hội thảo, nhiều người đã thừa nhận rằng: vở kịch đã thổi được linh hồn văn hóa Việt Nam vào một thể loại sân khấu của phương Tây khiến cho chính công chúng phương Tây phải ngạc nhiên và thú vị. (Sđd. Tr. 98-99)

    Dạ cổ hoài lang được NTMT đánh giá là một vở diễn không nhỏ của sân khấu nhỏ. Xinh xắn, giản dị và dễ hiểu, Dạ cổ hoài lang ngoạn mục như một truyện rất ngắn được viết bằng một ngòi bút văn chương cao nhã, tinh tế... Cả vở Dạ cổ hoài lang (kịch bản Thanh Hoàng, đạo diễn Công Ninh) rút lại chỉ là mấy mảnh tình sầu xứ, hoài cố hương của hai ông già gốc miền Tây Nam bộ, tưởng có thể sống nốt chuỗi ngày tàn nơi đất khách với con, cháu máu mủ ruột thịt mình, mà rốt cuộc vẫn canh cánh vì thiếu quê hương, đến nỗi cuối vở kịch, ông già nhân vật chính (Thành Lộc thủ vai) đã... chết vì sầu xứ. Khúc cổ nhạc 20 câu Dạ cổ hoài lang của cố nghệ sĩ Cao Văn Lầu trở thành khúc ai điếu mà ông già kép hát đã ca lên cho chính cái chết của mình, trên mái nhà cao tầng phủ đầy tuyết ở xứ người... Ai có thể bảo rằng một vở diễn sân khấu nhỏ hay một truyện rất ngắn lại không có quyền đặt ra những vấn đề lớn, đụng đến tâm tư của cả một cộng đồng? (Sđd. Tr. 323)

     Để ra khỏi khủng hoảng, Sân khấu và Tôi âm vang một lời kêu gọi thiết tha hãy bảo tồn và phát triển tinh hoa sân khấu dân tộc. Chỉ cần đọc những tiêu đề của hàng loạt bài viết dưới nhiều góc độ báo chí và văn chương, cũng thấy ý tưởng đó như một cứu cánh: Nghệ thuật tuồng, ngọc càng mài càng sáng; Rối nước, linh hồn của đồng ruộng Việt Nam; Sân khấu truyền thống Việt Nam, của kho vô tận; Cái cười thông minh, hóm hỉnh của Hề chèo; Lửa nồng trên sân khấu chèo cổ; Phái và chèo; Vẻ đẹp của xống áo đào chèo; Cô Xúy Vân và con gà rừng; Chuyện mới chuyện cũ về tác giả bản Dạ cổ hoài lang; Hồ Nguyệt Cô hóa cáo, một mảnh tuồng hay... Thông qua những ý kiến của những tên tuổi trong giới nghiên cứu và trong giới sân khấu Việt Nam, NTMT đặt ra vấn đề hàng đầu hiện nay là phải trở về với những giá trị đích thực, chị gọi là những nét hoa - văn hóa của sân khấu truyền thống Việt Nam. Chị nêu ý kiến Nghệ sĩ nhân dân Trần Bảng: Một vấn đề thực sự nguy hiểm là hầu hết các đoàn nghệ thuật chèo đều không thấy được những giá trị thực của chèo cổ. Và những trích đoạn, những vở chèo cổ đã bị phai hóa đi rất nhiều. Khuynh hướng thương mại, cách tân vô nguyên tắc được gán cho cái tên rất kêu: chèo cải biên, đã và đang làm hỏng tính văn hóa truyền thống của chèo. Trong chấn hưng chèo truyền thống, để “gìn vàng giữ ngọc” cho chèo cổ, phải chú trọng trước tiên đến công việc bảo tồn, vì bảo tồn đúng cách, đúng người, đúng chỗ mới hòng phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong mỹ học sân khấu chèo (Sđd. Tr. 476) Chị nêu cao ý kiến giáo sư Hà Văn Cầu:...Thế hệ hậu sinh muốn giữ trọn, nắm bắt được vốn cổ truyền trong nghệ thuật sân khấu chèo - vốn là một nghệ thuật không thể sờ mó, cầm bắt trong tay, thì phải học lấy cái thần, cái tinh hoa trong các vai diễn mẫu mực của các tiền nhân - nghệ nhân chèo, thì mới có thể tiếp tục được sự phát triển đích thực của chèo. (Sđd. Tr. 477) Cuối cùng, chị nêu ý kiến nghệ sĩ nhân dân đạo diễn Nguyễn Đình Nghi. Ông đề nghị tâm huyết: Cần phải xây dựng và áp dụng quy chế kịch mục bảo lưu bắt buộc với tất cả 127 đơn vị sân khấu trong cả nước hôm nay, để làm sống lại những vở diễn đã chết theo năm tháng trôi qua, mới có cơ may giữ lại được gia tài nghệ thuật sân khấu để bàn giao lại cho năm 2000. (Sđd. Tr. 479)

    NTMT không dừng lại trước bất kỳ một sáng kiến nào về giải pháp để cứu vãn nền sân khấu nước nhà đương “nghiêng ngửa và chới với” (chữ của NTMT) trước cơn gió bão. Chị nhiệt liệt tán thành phong trào Sân khấu nhỏ và cho rằng sân khấu nhỏ, hy vọng lớn. Chị cũng không ngần ngại tán dương nghệ sĩ nhân dân đạo diễn Doãn Hoàng Giang, người đam mê sân cỏ không kém gì sân khấu, dám đưa đấu pháp bóng đá vào công việc dàn dựng vở diễn một cách thành công (Sđd. Tr. 103) chỉ cốt để thu hút công chúng. Đọc khoảng hơn 20 bài phê bình vở diễn trên sân khấu 3 miền Bắc Trung Nam, chúng tôi hình dung ra một khối lượng lao động khổng lồ mà Người quẻ Cổ phải bỏ ra để góp phần sửa sang cho nghệ thuật sân khấu. Chắc chắn chị phải đi lại, lui tới kịch trường không dưới 100 lần. Còn phải đọc kịch bản, gặp gỡ và trò chuyện với đạo diễn, diễn viên, và suy ngẫm. Bởi vì Cổ là Đổ nát, còn là Công việc. Muốn làm người anh hùng thời Cổ, đâu dễ được thư nhàn. (Chỉ thương cho thân gái). Chưa thấy việc gì chị tỏ ra sơ sài, qua quýt, như cái quẻ Quy Muội tiềm ẩn bên trong quẻ Cổ đã mách bảo chúng tôi. Có lẽ cái lỗi Quy Muội nó xảy ra với chị trong lĩnh vực khác, chứ không phải trong nghệ thuật sân khấu. Mong bạn đọc yêu Kinh Dịch coi thử và mách bảo chúng tôi cùng tác giả.

     Đến đây chúng tôi không thể bỏ qua không nói đến một khía cạnh của thời Cổ mà tất cả những người quẻ Cổ đều phải trải qua. Trong quẻ Cổ có một hào không phản ánh việc “sửa sang đổ nát” mà phản ánh chính sự đổ nát. Đó là hào 4 âm. Lời hào này nói rằng: Kéo dài sự đổ nát của cha, nếu cứ như vậy hoài thì sẽ hối tiếc. “Kéo dài sự đổ nát” vì hào này là hào âm ở vị trí âm, nên nhu nhược, nhút nhát, nằm im mà đành chịu hậu quả của sự đổ nát. Thành thử đã là người quẻ Cổ không ai tránh được những tình huống bất lực, buồn đau, ủy mị, hoài nghi, lo lắng, (có nhiều trường hợp bị đau ốm, hoặc tai nạn) tuy có tài lớn mà có khi không làm nổi việc nhỏ, rơi vào hối tiếc. Người có chí có gan vượt sông lớn, đến chặng này, cũng phải biết thân, thu mình lại luyện rèn tài đức, đợi thời, để lại ra tay sửa sang đổ nát. Mười bài thơ của NTMT tham gia tập Thơ Tự Do cùng 8 bạn thơ khác (Thơ Tự Do. Nxb Trẻ - TP Hồ Chí Minh - 1998) đã phản ánh chính những hiện tượng của hào 4 âm nói trên. Tôi chỉ xin trích sau đây bài Tị nạn chiều để bạn đọc thấy một khía cạnh thời Cổ, mà thú vị thay, nó cũng đã hiện lên trong văn chương của NTMT. Bạn sẽ thấy trong bài thơ này tuy là một buổi chiều thành phố, mà hiển hiện cái tượng Sơn Phong Cổ, Núi ở trên, Gió ở dưới, Gió quẩn dưới Núi, gió bức bối, muốn lồng lên mà không sao thoát được.

    Tị nạn chiều

    Chiều nguyên khối buồn - trong vắt

    Tiếng đàn ghi ta rơi vỡ vào hồn

    Từng tiếng và từng giọt

     

    Âm và vang

    Hình và bóng

    Sắc và màu

    Không và có

    Cát và bụi

    Nắng lên ngôi và xế quái

    Lòng bất ưng...

     

    Tôi lang thang giữa chiều

    Hàng nghìn cánh - cửa - người đã đóng

    Một mảy gió vô tình cũng khó thấu

    Chỉ còn chiều với tôi.

     

    Chỉ còn tôi với cả một chiều

    Tiếng đàn ghi ta gõ

    Giọng hát em gầy

    Không bắt nổi cây cầu đưa tôi về xưa cũ

    Bướm và hoa

    Mây trôi bèo dạt

    Con cò đậu phải cành mềm

    Con sáo sang sông bạt gió

    Con diều lên trời đứt dây

    Lãng đãng trôi con thuyền quá vãng.

     

    Tôi khăn gói ngược về tôi

    Ô cửa kín cũ

    Quán cà phê loang một giọt mưa thầm

    Cái gì cũng đã nát tan

    Cái gì cũng đã phủ bụi

    Cái gì cũng đã mòn rỉ

    Cái gì cũng đã rớm máu

    Cái gì cũng ở thời quá khứ

    Cái gì cũng đã qua và đã từng...

     

    Tôi không biết tôi là ai

    Giọt máu rơi trên cỏ?

    Đứa bé bị bỏ quên ngoài chợ?

    Hòn sỏi lẻ bên bờ biển hoang?

    Giọt lệ chát cuối ly rượu?

    Mảnh của chiếc cốc vỡ?

    Tôi chỉ còn một nơi bấu víu là chiều

    Chỉ còn nơi tị nạn là chiều

     

    Để sớm mai, tôi sẽ lại

    lên đường từ số không và mảnh vỡ.

    10 - 92

    3-2000

    Phụ lục: Cấu trúc Hà lạc của nhà văn Nguyễn Thị Minh Thái

    Sinh ngày 15-12-Canh Dần, giờ Dậu (22-01-1951). Dương Nữ. Chớm rét (tiết lệnh tháng 12): 6-1-1951. Giữa đông: 21-12-1950 (Hóa công Khảm). Mệnh: Mộc (tùng bách). Trung nguyên. Sinh giờ khí âm. Can Chi: Năm Canh Dần, Tháng Kỷ Sửu, Ngày Nhâm Tuất, Giờ Kỷ Dậu. Mã số Can Chi: 3, 3-8; 9, 5-10; 6, 5-10; 9, 4-9. Số âm: 38. Số dương: 43.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    1

    0*

    0

    1

    0

    0

    56-64

    51-55

    86-91

    77-85

    71-76

    65-70

    0

    0

    1

    0

    1

    0

    1

    0

    0

    1

    1*

    0

    22-30

    16-21

    10-15

    01-09

    92-00

    31-36

    0

    0

    1

    0

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    0

    1

     Thuần Cấn

     

     

     Lôi Thủy

     Giải

    Sơn Phong

     Cổ

     

    Lôi Trạch

    Quy Muội

    Thiên Hỏa

     Đồng Nhân

     

    Hoá công: Khảm ở Hỗ Tiên thiên. Thiên nguyên khí: Chấn ở Hỗ Tiên thiên, Hỗ Hậu thiên. Địa Nguyên khí: Cấn ở Tiên Thiên, Hậu thiên. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức trung bình. Hỗ Nhân Quả: (mẹo) Đổi dấu hào 2.



    * air: (Pháp), một thuật ngữ chỉ không gian tranh nghệ thuật.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,342,075

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/