Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,342,247

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tám chữ Hà Lạc và Chân dung Nhà văn: Nguyễn Tuân

Xuân Cang

  • Thứ hai, 04:39 Ngày 03/11/2008
  •  

    Nhà văn Nguyễn Tuân sinh ngày 10-7-1910 tức năm Canh Tuất (Nhà văn Việt Nam hiện đại. Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 1997). Tôi ngờ rằng thời này, các bậc cha mẹ thường hay dùng ngày tháng âm lịch ghép với năm dương lịch. Bèn thử coi ngày 10-7 là ngày âm lịch, ghép với 12 giờ sinh khác nhau trong ngày xem sao. Thì thấy vào giờ Ngọ ngày 10-7 năm Canh Tuất (14-8-1910) sừng sững hiện lên một cấu trúc Hà Lạc chỉ thuộc về Nguyễn Tuân chứ không ai khác. Đó là tám chữ can chi: năm Canh Tuất, tháng Giáp Thân, ngày Tân Hợi, giờ Giáp Ngọ. Cấu trúc Hà Lạc của ông gồm bốn quẻ Dịch: Tiên thiên là Thuần Cấn, hỗ là Lôi Thủy Giải, Hậu thiên là Hỏa Sơn Lữ, hỗ là Trạch Phong Đại quá. Trước hết tôi coi thử mấy thời điểm dấu ấn trong đời là mấy năm ông bị thực dân Pháp bắt giam. Năm Kỷ Tị (1929) ông gặp quẻ Thiên Trạch Lý. Lý là Lễ, là Trật tự, Pháp luật. Thánh nhân có lời răn người quẻ Lý: Dẫm lên đuôi cọp, mà cọp không cắn là hanh thông. Hào 2 chủ mệnh bảo rằng: phải hết sức kín lặng, không được khinh xuất. Năm này chàng trai Nguyễn Tuân dám dẫm lên đuôi cọp. Ông tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam, và ông bị đuổi học. (Theo Nguyễn Đình Thi - Người đi tìm cái đẹp, cái thật - Tuyển tập Nguyễn Tuân tập 3. Nxb Văn học 1998. Từ đây những chú thích không ghi chú riêng là trích trong TTNT nói trên, các tập 1, 2, 3). Năm Canh Ngọ (1930) hào 3 quẻ Càn bảo rằng: Mạnh đấy, như rồng lên, nhưng thế chưa vững. Làm người thức thời nhưng suốt ngày trí não căng thẳng như nơm nớp lo sợ ở thế nguy. Năm này chàng trai lại bị thực dân Pháp bắt ở Băng Cốc đưa về giam ở Thanh Hóa (Diễn biến nhân quả hào 3 quẻ Tiểu Súc: Vì cương quá nên bị có kẻ ghìm lại). Còn đây là năm Tân Tị (1941) ông được quẻ Tiết, chủ mệnh hào 3 bảo rằng: năm nay không giữ chừng mực, sống bê bối, gặp chuyện buồn, phải lo, than thở. Đó là năm ông lại bị bắt ở Hà Nội, giam ở Vụ Bản - Hà Nam (Theo Nguyễn Đình Thi. TTNT. Sđd). Lại thử coi một năm khởi sắc trong đời ông. Năm Mậu Tý (1948) ông được quẻ Sơn Thiên Đại Súc. Đại Súc là Chứa lớn. Chủ mệnh hào 3 bảo rằng: Như hai con ngựa tốt chạy đua nhau, cùng đi lên, cùng có cách thỏa đáng, có thừa học vấn, tài đức để làm việc lớn, đợi lên cao. Năm này, giữa cuộc kháng chiến gian nan chống Pháp, ông được bầu giữ chức vụ nặng nề: Tổng thư ký Hội Văn Nghệ Việt Nam. (Diễn biến nhân quả hào 3 quẻ Đại hữu: Ông lớn được cấp trên tin dùng). Mấy thời điểm ứng nghiệm ấy đủ cho tôi tin rằng tôi đã tìm đúng ngày giờ sinh (giờ Ngọ, ngày 10-7 năm Canh Tuất) và Cấu trúc Hà Lạc của Nguyễn Tuân. Nhưng cái niềm tin gây hứng thú đối với tôi lại chính là hai quẻ Dịch phản ánh sâu xa cuộc đời và chân dung văn học của ông: Thuần Cấn và Hỏa Sơn Lữ.

    1

    Quẻ Thuần Cấn phản ánh cái nguyên thể 42 năm đầu đời của Nguyễn Tuân. Thuần Cấn là liên kết trùng hợp hai quẻ Cấn. Cấn có tượng thiên nhiên là Núi. Thuần Cấn có tượng là trùng điệp Núi. Theo K inh Dịch, Núi là tượng của sự đứng yên, sự tĩnh lặng, sự cao sâu, sự trọng hậu, sự ngăn trở, sự ngừng. Trong những tính chất trên thì tính trọng hậu là bao trùm hơn cả. Trọng hậu là dày dặn về sau, do cao sâu mà dày dặn, càng về sau càng dày dặn. Người trọng hậu là người ăn ở đầy đặn, có trước có sau, càng về sau càng đầy đặn. Nhưng nói tới Núi trước hết phải nói tính ngăn trở, tính ngừng là đặc trưng hơn cả. Chữ hán Cấn, Phan Bội Châu dịch là ngừng, là chỉ (trong nhóm từ đình chỉ là bắt buộc ngừng lại). Ngô Tất Tố dịch là Đậu. Đậu là dừng cánh và đặt chân. Đã lên núi mà đậu có nghĩa là ngừng ở nơi tĩnh lặng nhất, ý đó vận vào con người có nghĩa là ngừng ở lưng. Bởi vì trong cơ thể con người cái lưng là nơi tĩnh nhất. Ngừng ở lưng, câu nói chất phác, đơn giản mà triết lý rất sâu, Phan Bội Châu phải để hàng trang, giải từng chữ, để cho rõ đạo Cấn. Ngừng ở lưng là dừng lại, đậu lại, để cho tinh thần lắng đọng lại ở nơi tĩnh nhất, nơi đây đối với người quân tử, bên trong thì quên cả bản thân không thấy thân mình (quên mình), bên ngoài thì đi trong sân (là nơi có người) mà không thấy người (bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình bất kiến kỳ nhân). Nghĩa là người quẻ Cấn, đi giữa cuộc đời, đi giữa mọi người đấy, mà “trong óc và trong con mắt” chỉ thấy có đạo rất lành (chí thiện) mà thôi. Nguyễn Tuân là một người như thế. Giời đất giao cho ông cái mệnh Cấn là giao cho ông thiên sứ nhìn ngắm thiên nhiên và cuộc sống tìm ra sự rất lành, chí thiện và kể lại, tả lại. Để tìm ra cái chí thiện ấy, ông phải biết quên thân mình và coi như đi trong sân mà không thấy người. Theo cách nói ngày nay là hết mình vì cái hay cái đẹp. Hào chủ mệnh chi phối thời Cấn của Nguyễn Tuân là hào 1 âm quẻ Cấn, cho biết ông tuy có thiên mệnh cao cả như trên, nhưng vận mệnh còn đang ở bước sơ khởi của thời Cấn, phải biết ngừng ngay từ ngón chân, có nghĩa phải thận trọng ngay từ những bước đầu tiên, khiêm tốn giữ phận nhỏ, nếu biết giữ đường đi nước bước cho ngay thẳng, bền bỉ (chính bền) thì sẽ có kết quả hay, tránh được tai nguy. Nhìn một cách tổng quát suốt đời Nguyễn đã sống và viết như thế: dấn thân đấy mà thận trọng đấy, thận trọng tỉ mỉ trong việc tìm kiếm tư liệu, dẫn liệu, phóng túng trong cảm hứng mà thận trọng khi đặt bút viết, trong chọn chữ, đặt câu sao cho mẫu mực tài hoa một cách riêng. Một đời viết, viết rất hay mà không nhiều lắm, tính theo bộ tuyển đầy đủ nhất xuất bản gần đây khoảng 1665 trang. Và như trên đã điểm một vài sự kiện: trong thời trẻ, chỉ cấn sơ xuất, “dẫm lên đuôi cọp”, hoặc “thiếu sự tiết chế”, là gặp tai biến ngay, trong vòng 11 năm hai lần bị thực dân bắt giam.

    Để thực hiện thiên mệnh hết mình vì cái hay cái đẹp, Nguyễn đã chọn đúng một thể loại văn chương đắc địa: thể tùy bút, bút ký. Và ông đã tung hoành suốt nửa thế kỷ với thể loại này, đặc biệt là thể tùy bút. Như cái tên của nó, tùy bút là thể văn xuôi cho phép người viết tự do phóng bút, đưa bạn đọc đi theo những ý tưởng nhiều khi nẩy sinh theo tùy hứng của tác giả. Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh cắt nghĩa: “Có thể hiểu một cách đại khái thế này: người viết tùy bút thường mượn cớ thuật lại một sự kiện, một mẩu chuyện nào đó mà mình có trải qua để nhân đấy, nêu lên những vấn đề này khác mà bàn bạc, mà nghị luận, triết luận, ném ra những suy tưởng của mình một cách thoải mái, phóng túng” (TTNT. Sđd. Lời giới thiệu, tr. 66). Dĩ nhiên viết ký thì cái tôi phải hiện lên. Phải bắt đầu từ cái tôi. Vậy mà Kinh Dịch lại bảo người quẻ Cấn phải biết quên cái tôi (quên thân mình), phải “hành kỳ đình bất kiến kỳ nhân”, đi trong sân mà không thấy người. Điều này cũng dễ dàng nhận thấy trong văn chương Nguyễn Tuân. Cái Tôi trong các bài viết của ông chỉ là phương tiện. Ông bắt đầu từ cái tôi để chiếu một góc nhìn đầy mỹ cảm vào sự vật, cái đẹp xưa còn vang bóng, cái đẹp nay ẩn tàng trong hiện thực đời sống, cái đẹp độc đáo trong văn chương của những tác giả kiệt xuất: Tú Xương, Hồ Xuân Hương, Tônstôi, Tsêkhốp, Đốtxtôiépxki... Cái tôi của ông nhiều khi lẫn vào với nhân vật trong các truyện ngắn, hoặc nói cách khác trong nhiều nhân vật truyện thấy thấp thoáng cái tôi của Nguyễn. Chùa Đàn là một ví dụ. Toàn bộ phần Hai của chuyện mang tên Tâm sự của Nước Độc là do một người tù cách mệnh tên là Lịnh ghi chép, nhưng đọc lên thì ai cũng thấy đó là văn Nguyễn Tuân chứ không phải ai khác. Thậm chí trong tác phẩm Nguyễn, tự truyện hẳn hoi, ông đề ở đầu truyện: “Kính tặng tôi”. Đây cũng là một đặc điểm của người quẻ Cấn. Nguyễn Hiến Lê giảng: Không phân biệt mình với người, coi nhân (người), ngã (mình) chỉ là nhất thể, đó là nghĩa sâu sắc của quẻ Cấn. Như vậy, viết tùy bút, bút ký thì phải bắt đầu từ cái tôi, nhưng ở Nguyễn Tuân cái tôi ấy ẩn chìm vào trong công việc cốt yếu đi tìm cái chí thiện. Nguyễn Đình Thi quả là có linh cảm trong bài Thay lời bạt ở Tuyển tập Nguyễn Tuân (Sđd tập 3, tr. 511) gọi ông là Người đi tìm cái đẹp, cái thật. Cái đẹp và cái thật đối với Nguyễn Tuân phải chăng chính là cái chí thiện? Và phải chăng nó đã được thể hiện một cách tối ưu trong tác phẩm xuất chúng Vang bóng một thời (VBMT), tác phẩm vừa ra mắt đã có sức chinh phục ngay tức khắc bạn đọc? Dưới ánh sáng Hà Lạc ngày nay chúng ta thấy hơn thế, đó là tác phẩm bắt nguồn từ thiên mệnh của Nguyễn Tuân. Cái đẹp mà ông tìm thấy và phô diễn ở đây là cái thú vui tao nhã của một lớp kẻ sĩ thượng lưu vốn được coi như lớp người tiêu biểu một thời. Đó là cái thú “đánh thơ”, “thả thơ”, uống rượu nhắm với cuội bọc kẹo mạch nha ướp hương lan và ngâm thơ (Hương cuội). Đó là cái sành sỏi uống trà bằng “những chiếc ấm đất” nung, cái thú nhắp “chén trà sương”. Đó là cái khao khát cháy bỏng muốn có một hàng chữ đẹp của một văn nhân bị tội chết (Chữ người tử tù). Đó là lòng biết ơn chí thành đối với tổ nghiệp của hai chị em học trò nghèo cất công rước thày địa lý về đặt lại “Ngôi mả cũ”. Và đó là câu chuyện huyền thoại về thiên nhiên bí ẩn và thiêng liêng “Trên đỉnh non Tản”. Tất cả những cái mà Nguyễn Đình Thi gọi là cái đẹp, cái thật, chính là cái chí thiện, cái cực tốt lành, nó không chỉ là lối sống riêng của lớp kẻ sĩ thượng lưu, nó là niềm ao ước của mọi người bình dân Việt Nam hướng về một lối sống hòa bình, thân thiện, có văn hóa, yêu cái đẹp, cái tinh tế, yêu thiên nhiên thuần khiết, hướng về tổ tiên... Chính vì thế, trong đông đảo bạn đọc mấy ai đã được biết những thú vui tao nhã ấy, mà người ta vẫn thích đọc VBMT, đến nay vẫn thích. Trong VBMT có điểm một “Bữa rượu máu” (sau gọi là “Chém treo ngành”) kể chuyện một tên đao phủ tập phạt cây chuối để chém đầu người sao cho có “nghề”. Chuyện kết thúc bằng cảnh 12 cái thủ cấp những người nghĩa quân Bãi Sậy, “còn dính vào cổ người chết”, “dưới trận gió xoắn giật, hút cát bụi lên”, “xoay vòng quanh đám tử thi và lật rơi chiếc mũ trắng” của tên quan Tây công sứ, “lăn lộn mấy vòng”... Chính bữa rượu máu cực kỳ độc ác đen tối ấy tạo nên cái phản cảm để tỏa sáng vẻ đẹp cực tốt lành (chí thiện) của những thiên truyện còn lại, làm cho bức tranh VBMT càng thêm long lanh vẻ chí thiện thuần khiết, bức tranh của một nhà văn Thuần Cấn.

    Người ta đọc VBMT còn để thưởng thức cái đẹp của văn chương tiếng Việt, sau này là để thấm thía “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Nguyễn Tuân viết VBMT trên một chặng đường đẹp thứ hai của thời Thuần Cấn, đó là đại vận hào 5 quẻ Thuần Cấn từ năm 1937 đến năm 1942 (Xem phụ lục), khi nhà văn 28 đến 33 tuổi, cái tuổi trưởng thành, tuổi chín nục nạc của một đời người. Hào 5 bảo rằng, người quẻ Cấn đến chặng đường này biết ngừng (đậu) ở vấn đề ngôn ngữ, là người có đức, có lời nói hay, lập ngôn, nói năng “có thứ tự”, đâu ra đấy; lớn thì làm nhà ngoại giao, nhỏ thì làm nhà giáo, bình thường thì cũng ngâm nga thơ phú, luận bàn kim cổ, được bạn bè hội tụ.... Cứ như là giời đất đã giao cho ông sứ mạng hết mình vì cái chí thiện thì cũng giao luôn cho ông cái chặng đường tỏa sáng về ngôn ngữ, lập ngôn. Chính cái chặng đường lập ngôn này để lại dấu ấn rất sâu sắc trong đời sống văn học của Nguyễn Tuân.

    Trong VBMT truyện nào cũng ý vị khác nhau, nhưng nếu phải bầu chọn một truyện hay nhất, thì Cấu trúc Hà Lạc của Nguyễn Tuân mách bảo tôi: Đó là Trên Đỉnh non Tản.

    Biểu tượng thiên nhiên đi vào cuộc đời và văn chương Nguyễn Tuân là Núi trùng điệp Núi, tượng của quẻ Thuần Cấn. Cái khí chất Núi, tính chất Núi cao sâu, trọng hậu, trùng điệp ngăn trở, chứa chất đầy bí ẩn, đi vào Nguyễn từ thuở đưa nôi, không biết đã tích tụ trong tuổi trẻ Nguyễn như thế nào, bỗng vụt sáng lên thành Trên đỉnh non Tản. Đó là một bài ca hòa quyện giữa óc tưởng tượng và tài hoa ngôn ngữ với tình yêu núi non rừng suối, vốn có nguồn gốc từ cấu trúc mệnh, hình như chính Nguyễn cũng chưa từng cắt nghĩa. Đó là một huyền thoại mới trên nền của huyền thoại cổ tích Sơn Tinh Thủy Tinh. Một huyền thoại mang dấu ấn thế kỷ Hai Mươi. Bởi vì bên cạnh cái không khí huyền ảo của các thần tiên, còn có con người hiện đại, cánh thợ mộc tài hoa làng Chàng Thôn, những nhân vật trần tục, dân gian, được thần non Tản bí mật gọi lên chữa ngôi đền Thượng sau những năm bị Thủy tinh dâng nước lên làm hư hỏng....”Thế rồi người con gái đi khuất. Thế rồi được lời như mở tấm lòng tục, bon thợ mộc khuân rất nhiều đá cuội, cứ từng đống có ngọn một, mang về trước lều làm gạo nấu cơm và chế rượu uống. Họ đập đá bừa bộn, không cần để riêng hòn xanh hòn vàng. Mà có cái lạ, là không cần phải nấu nướng gì, những nhân đá xanh vàng kia, cứ đập rời ra, bốc bỏ mồm là đủ hương vị một hạt cơm, một hạt xôi rồi. Nhân đá trắng, thả vào những gióng tre đằng ngà khổng lồ, đựng nước suối, đem uống với nhau, thấy ngà ngà mà say, lâng lâng mà khuây vợi lòng tha hương”.

    ... “Hiệp thợ mộc vẫn tuần tự tiến hành công việc. Ngày tháng trên này không biết lấy gì mà đo tính, bởi vì chỗ sơn thượng không có đêm không có ngày. Đây là nơi của ánh sáng vĩnh viễn, nhờ nhờ như màu ngọc liệu, như chất nước quế trắng chính sơn pha loãng. Những buổi trời tái hẳn lại vì khí núi âm u, thì một vài hòn ngói trên lòng trần đền hình mai luyện, lại sáng rực hẳn lên như một nguồn lửa...” “Vào những phút này, mấy thân cây cột gỗ chò vẩy mới tỏ rõ cái đẹp cái quý của một thứ gỗ đặc biệt. Dưới ánh lửa ngói sáng choang, cột gỗ chò nhấp nhánh lộng lẫy chớp chớp lên như vẩy rồng vàng cốm chạm nổi.”

    Trên bức tranh VBMT sừng sững một mảng xanh xanh non Tản óng ánh một tình yêu thiên nhiên chí thiện. Đó chính là tín hiệu đầu tiên của một nhà văn Thuần Cấn, sau này ta sẽ thấy cái tượng núi non chi phối văn chương ông đến như thế nào. Chẳng bao lâu sau, lối viết Trên đỉnh non Tản đạt đến phong độ đỉnh cao trong Cô Dó và Chùa Đàn.

    “Làng Hồ Khẩu có nhà họ Chu làm giấy nổi tiếng đã đến mấy mươi đời liền”. Truyện Cô Dó bắt đầu như thế. Giấy nhà họ Chu nhắm mắt lại mà sờ cũng không lẫn. “Nó nhẵn mặt mà không cứng mình, mà chất lại dai, và lắm tờ khổ rộng mình dầy thế mà bắc đồng cân lên thì nặng đến chỉ như cái lông hồng. Mặt giấy xốp, nghiêng giấy ra sáng mà nhìn chất cát dó thì nó như làn da má trinh nữ phẳng đượm chất tuyết của lớp lông măng. Vuốt vào mặt giấy, người ta có cái cảm tưởng được sống là một điều dễ chịu; mùa nực, rờ vào giấy thấy mát cả lòng tay và về tiết đông ấp tay vào giấy nhà Chu, thấy nó ấm ấm như có sinh khí. Đưa lên mũi, tờ giấy đượm hơi thơm của một thứ mộc thảo còn tươi sống”. Thứ giấy quý ấy từ vua quan trong triều đình, sĩ tử bốn phương đến người bình dân, không ai không biết. Nhưng không ai biết rằng nó lại là kết quả của một mối tình siêu đẳng giữa một chàng trai ông tổ nhà họ Chu với cô Dó, thần nữ của cây dó cổ thụ trên nương dó rừng Hoành Bồ. Chàng trai nghe đồn có cô gái ẩn trong cây dó thần, hát hay lắm, đã lên rừng khổ công rình nấp và bắt gặp nữ thần. Nàng Dó đã thương người trai chung tình theo chàng về xuôi, biến vào phiến đá xanh nghè dó vẫn để ngoài sân, đêm đêm hiện lên tình tự và giúp chàng nghè dó. Từ đấy ái tình và cần lao huyền diệu đã giúp nhà họ Chu làm ra thứ giấy khiến người đời kính nể, đời này sang đời khác. Với “Trên đỉnh non Tản” và “Cô Dó”, tôi nghĩ đủ để Nguyễn Tuân (cùng với Nguyên Hồng) xứng đáng được các nhà văn công nhân thời nay -trong đó có người viết bài này- tôn vinh làm ông tổ của mảng văn học đề tài công nhân hiện đại.

    Chùa Đàn cũng là một chuyện xảy ra trên “đường ngược”. Nhưng phong cảnh miền núi ở đây chỉ để làm đường viền cho một câu chuyện huyền ảo, bi tráng về sự siêu việt của nghệ thuật ca trù. Cái huyền ảo đã chứa chất trong “Trên đỉnh non Tản” và “Cô Dó” nay chỉ còn việc tiếp nối. Còn cái bi tráng thì bắt nguồn từ những đam mê nghệ thuật “ả đào” từ thời trẻ, và cái cảm nhận nguy cơ mất mát sẽ đến. Điều lý thú là Chùa Đàn được viết vào năm Bính Tuất (1946), năm Sơn Lôi Di (hào 1) của Nguyễn Tuân, trên chặng đường đẹp nhất của Thời Cấn (xem phụ lục). Quẻ Di nói về đạo Nuôi. Nuôi mình, nuôi người, nguyên thủ dựa vào hiền tài nuôi dân, nuôi vật chất, nuôi linh hồn, đó là tinh thần quẻ Di, đạo Nuôi trong Kinh Dịch. Ngay sau năm Cách mạng tháng Tám Nguyễn vừa thấy mình cần phải “lột xác” vừa có nhu cầu nóng bỏng trở lại một cách chính đáng với cái đẹp mà ông cho là chưa hết mình với nó nếu không viết một cái gì đó. Hào 1 bảo rằng: Bỏ mất con rùa thiêng của ngươi, cứ ngó ta xệ cả mép xuống, xấu. Theo truyền thuyết, “con rùa thiêng” đây là con Linh Quy, một giống chỉ nuốt linh khí để sống, biểu tượng của cái đẹp về linh hồn. Vậy là, như có sự mách bảo của số phận, Nguyễn quyết phải làm một cái gì đó cho nghệ thuật ca trù, “con rùa thiêng” trong đời sống văn hóa dân tộc, một là vào lúc này, hai là không bao giờ. Trong thâm tâm Nguyễn biết rằng viết Chùa Đàn lúc này là không còn hợp thời nữa, cả dân tộc đang sôi sục chuẩn bị đi vào cuộc đối đầu bảo vệ nền độc lập tươi rói vừa dành được. Viết ra không thể in. Nhưng mặt khác, cùng với tiếng gọi của lương tâm, của đời sống tâm hồn, là sự khinh miệt đối với kẻ sĩ nếu anh ta từ bỏ cái đẹp, không biết bảo vệ nó, có nghĩa là bỏ cả tư cách của mình. Thánh nhân làm Kinh Dịch đã dùng câu nói khinh bỉ đối với kẻ hám cái lợi vật chất trước mắt: Bỏ mất con rùa thiêng của ngươi, cứ ngó ta xệ cả mép xuống, xấu! Dưới ánh sáng Hà Lạc tôi cho rằng Chùa Đàn đã ra đời như thế. Và ông đã viết được những trang tuyệt tác, ở đỉnh cao thời Cấn và vào thời điểm hào 1 dương quẻ Di. Phần hai thiên truyện mang tên Tâm sự của Nước Độc, cái tên quả thực hơi khó hiểu, nhưng nó chính là xuất phát từ tinh thần quẻ Di, “nước độc, uống chết người” hay nước lành nuôi người đây, bạn hãy nghe tâm sự. Tên là Nước độc, nhưng bạn đọc một mạch sẽ được thưởng thức một áng văn rất đẹp về sự trung hậu của con người, về sự hấp dẫn, lôi cuốn “chết người” của nghệ thuật ca trù, cùng với thứ văn chương huyền ảo mà hiện thực, mang đầy đủ dấu ấn Nguyễn Tuân trước khi đi vào cuộc kháng chiến 9 năm. Hai chữ Nước độc (tên riêng) cũng như cái thủ pháp nghệ thuật “bữa rượu máu”, cốt tạo ra một phản cảm để tôn cái rất lành, cái chí thiện bên trong. Chưa bao giờ cô Tơ thấy rõ cái đau khổ ngậm ngùi của tiếng đàn đáy buổi này. Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kết cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết ra được. Nó là một nỗi ủ kín bực dọc bưng bít. Nó giống như cái trạng huống than thở của một cảnh ngộ vô tri âm. Nó là cái tấm tức sinh lý của một sự giao hoan lưng chừng. Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó là cái dư ba của bể chiều đứt chân sóng. Nó là cơn gió chẳng lọt kẽ mành thưa. Nó là sự tái phát chứng tật phong thấp vào cữ cuối thu dầm dề mưa ẩm và nhức nhối xương tủy. Nó là cái lả lay nhào lìa của lá bỏ cành. Nó là cái lê thê của nấm vô danh hưu hưu ngọn vàng so le. Nó là cái oan uổng nghìn đời của cuộc sống thanh âm. Nó là sự khốn nạn khốn đốn của chỉ tơ con phím. Nó là một chuyện vướng vít nửa vời.

    Tiếng đôi lá con cỗ phách Cô Tơ dồn như tiếng chim kêu thương trên dậm cát nổi bão lốc. Nhiều tiếng tay ba ngừng gục xuống bàn phách, nghe tàn rợn như tiếng con cắt lao mạnh xuống thềm đá sau một phát tên. Tay phách không một tiếng nào là nhụt. Mỗi tiếng phách sắc như một nét dao thuận chiều. Và gõ đến như thế thì thật là đem cái vinh quang đến cho tre cho trúc và tạo cho thảo mộc một tấm linh hồn. (TTNT. Sđd. T1. Tr 398)

    Tinh thần quẻ Di (đạo Nuôi, trong đó có Nuôi về tinh thần, tâm hồn) và hào 1 quẻ Di (hãy cứu lấy con rùa thiêng của ngươi, bỏ nó là bỏ tư cách nghệ sĩ của ngươi đấy) đã thấm vào từng chữ trong Chùa Đàn bất tử. Câu cuối cùng trong Chùa Đàn là: Cho tới ngày nay, chưa có cuộc Cách mệnh nào của Con Người mà bỏ được tiếng hát, cô Tơ ạ. Đó là tâm sự thiết tha của tác giả và đó là chân lý. Ngày nay mọi người đều biết, trong cuộc cách mạng của chúng ta, tiếng hát đã từng át tiếng bom, nhưng riêng với nghệ thuật ca trù, cũng phải hơn 40 năm sau Chùa Đàn, trong cuộc đổi mới đất nước, những Cô Tơ mới tìm lại được tiếng tơ tiếng phách của mình. Và Chùa Đàn –vượt qua mọi thử thách- trở lại nguyên văn trong Tuyển tập Nguyễn Tuân năm 1998.

    Tượng thiên nhiên Núi trùng điệp Núi trong mệnh Nguyễn Tuân còn đi theo ông đến hết đời. Ngay trong kháng chiến chống Pháp đó là hai tập Tình chiến dịch và Tùy bút kháng chiến và hòa bình thấm đẫm một mối tình mây núi chiến khu. “Chắc giữa Hà Nội đầu năm 1950 này, vào những buổi sớm chiều đau thương, cũng có những tâm hồn xám hối, đi tàu điện lên Hồ Tây thèm thuồng nhìn lên sơn hệ Tam Đảo mờ xa mà tự nói rằng sau cái chòm mây trắng đỉnh Tam Đảo tít xa ấy là thế giới của lẽ phải, của tươi sáng và hy vọng”. “Những người sống ở Việt Bắc, đi trong mây ấy, gây cơ sở trong khu vực mây ấy, đắm đuối với việc làm tranh thủ thời gian, bốn mùa ngụp trong mây cụ thể, quen quá đến nỗi quên cả mây”. “Tôi ngồi bên cửa sổ có bóng mây, nghĩ đến những đơn vị đi Tây Bắc đang luồn trong mây đèo phía bên ấy, và ghi lại ít sắc thái chiến trường thu đông vừa qua dưới bầu mây biên giới đông bắc”.

    Những năm sau này là Tình rừng; toàn tập Sông Đà với những Người lái đò sông Đà, Đường lên Tây Bắc, Giăng liềm, Tây Trang, Phố núi, Gió Than Uyên; tập Ký Nguyễn Tuân với Suối quặng, Nhật ký lên Mèo, Mỏm Lũng Cú tột bắc... Nguyễn Tuân chọn Lũng Cú để mà nhớ Cà Mau. “Lũng Cú tột bắc và Cà Mau cực nam Nam Bộ trong đó là hai cái mũi nhọn cùng nằm trên một đường kinh tuyến 105 độ, mũi Lũng Cú đây ngả ngả sang mặt Đông, và mũi Cà Mau trong ấy chênh chếch sang phía Tây. Nó cũng là một chữ ét-xì hoa nhưng gập góc hơn so với chữ ét-xì viền theo con đường biển từ bãi cát Móng Cái đến bờ biển Hà Tiên”. “Ngồi ở mỏm Lũng Cú này, ngồi ở nhà cụ Mèo Dềnh đây, tưởng như mình là người thợ ngõa nào khom mình trên một nóc thượng lương để nghe tổ quốc đang như một bác thợ cả không ngớt lời truyền cho mình những bài học thấm thía về xây dựng cơ bản và giữ cửa giữ nhà. Lại thấy quý mến thêm Hà Giang, cái tỉnh núi đã được đất nước ông bà giao cho cái trọng trách đặt một cái nón lá lên đầu người khổng lồ tổ quốc. Và nếu mũi Cà Mau trong kia là cái ngón chân cái người khổng lồ chưa khô bùn vạn dặm, thì mũi Lũng Cú đây đích thị là cái chóp nón một cái nón bài thơ muôn đời đó”. Tôi nghĩ, dưới ánh sáng Hà Lạc có lẽ sau này ta phải tập hợp một tuyển Nguyễn Tuân toàn các tác phẩm về Núi non, bắt đầu từ Trên đỉnh non Tản. Ta sẽ được chiêm ngưỡng một cách kỳ thú một cái mệnh đời, mệnh văn Núi trùng điệp Núi và phát hiện những vẻ đẹp khác nhau của ông khi tả núi tả rừng, tả sông núi sông rừng. Và khi ta đọc lại Tình rừng chẳng hạn, ta sẽ nhớ ngay đến trận hồng thủy miền Trung cuối năm 99, và sẽ thương ông vô cùng đã phải từng phen lên bờ xuống ruộng với cái tình rừng đó. Trong tình rừng, ông đã báo động từ lâu cái nạn hồng thủy sẽ xảy ra sau này: Tôi còn biết rằng, rừng và cây rừng điều tiết được và cầm chịch cho mực nước sông Hồng, sông Đà. Núi hói đến đâu và rừng trọc đến đâu thì dưới đồng bằng không có rừng, đê điều càng dâng cao và mọc dài vòng quai, thành ra đã đê ngoài lại còn đê trong nữa. Gốc cây già, gốc cây trẻ rừng đại ngàn, nay thấy đúng là những công trình thủy lợi giời xây sẵn cho mình từ trên thượng nguồn. Mỗi năm lũ to kéo về sông Hồng như một dòng nước mắt đỏ lừ của những cánh rừng của những cây ngàn bị giết oan trong những trận hỏa táng cũ mới không cần thiết. Dại dột có tính chất dốt nát gây ra đốt sách, đốt kho thuốc, và dâng mãi hồng thủy lên sát mặt đê. Chao ôi, căm thù cao độ Mỹ phá hoại miền Bắc kiến thiết xã hội chủ nghĩa và quên đi sao được tội ác Mỹ ném bom đê đập. Nhưng những người chủ nhân ông tập thể chân chính của đất nước ngày nay càng thêm canh cánh những nỗi niềm giữ nước giữ rừng.

    Nhân nói đến Tình rừng, tôi thấy cần nói thêm một chút về hào 1 quẻ Thuần Cấn, cái chủ mệnh đã chi phối suốt đời Nguyễn, là Ngừng ở ngón chân. Nghĩa là người này hễ cứ đi một bước là bị ngăn trở, đi một bước là phải biết ngừng lại, kẻo vấp. Nguyễn Tuân là một người như thế, suốt đời ông bị vấp. Thời trẻ từng bị thực dân bắt hai lần, khi cuộc đời văn chương đã thành đạt, ông vẫn bị vấp. Ta hãy nghe Kim Lân nói về cái sướng cái khổ, cái gian truân vất vả trong đời văn của Nguyễn: Anh viết Phở, Phở bị đánh. Anh viết Giò, giò lại bị đánh. Ừ thì trong cái lúc đất nước còn nhiều khó khăn gian khổ, nói làm chi đến những món ăn xa xỉ ấy, đánh nó còn đi một nhẽ. Viết đến Rau muống cũng lại bị đánh nữa, thật không còn làm sao mà hiểu được. Thế là đánh lấy được. Đánh bằng thanh kiếm sẵn có với người viết chứ không căn cứ bao nhiêu vào bài viết. Độ ấy mỗi bài anh Tuân in ra đều có những tiếng xì xào, sang tai nhau tựa hồ như trong những bài ấy, có cái gì đấy nguy hại lắm, cần phải lưu tâm, cần phải chú ý, đề phòng. (Nhà văn Nguyễn Tuân. Tủ sách thế giới văn học. Nxb Hội nhà văn & Nxb Hà Nội 1991 Tr. 73). Dù sao đối với Nguyễn đó chỉ là những cái vấp, sự ngừng ở ngón chân. Nhưng chỉ ngừng ở ngón chân thôi, nên cũng là vấp váp chút đỉnh thôi, người Thuần Cấn biết phận mình luôn tỉnh táo, đi một bước ngừng một bước thì vẫn tiến lên trên đường đời, cho đến những đỉnh cao của núi.

    2

    Quẻ hậu thiên (hậu vận) chi phối hành lang vận mệnh Nguyễn Tuân bắt đầu từ năm 43 tuổi (lịch dương là năm 1952) là quẻ Hỏa Sơn Lữ. Hỏa là Lửa. Sơn là Núi. Tượng quẻ là trên Núi có Lửa. Chỗ ở của Lửa là trên mặt trời, hoặc trong lò. Lửa trên núi chẳng qua là hiện tượng nhất thời, như lửa của người du canh, du cư. Nên người xưa chọn tượng Lửa trên Núi để nói về con người lữ hành, gửi thân nơi lữ quán, làm khách trọ quanh năm. Lữ là lữ hành, lữ quán. Người được quẻ Lữ là người có số phận làm khách giang hồ. Cái thực tế nửa đời làm lữ khách của Nguyễn đã diễn ra đúng như thế. Ham muốn đi và viết lúc nào cũng cháy bỏng. Không đi không yên. Trương Tửu gọi là cái bịnh giang hồ. Phạm Tường Hạnh gọi là máu giang hồ. Ngày nay Hà Lạc cho biết thêm Nguyễn có mệnh giang hồ. Tô Hoài từng nói rằng khi về thế giới bên kia, Nguyễn xứng đáng được nằm trong chiếc quan tài bọc bằng da va ly. Như thơ xưa nói về các chiến binh “da ngựa bọc thây”.

    Mệnh giang hồ của Nguyễn mãi đến năm 43 tuổi mới bắt đầu nhưng âm hưởng của nó đã có từ Những chuyến đi in lần đầu năm ông 29 tuổi (1938). Sau đó là Tuỳ bút với Chiếc lư đồng mắt cua, Chiếc va ly mới (1941). Đã có nhiều bạn tìm đến đòi xem chiếc va ly mới. Xem chưa đủ họ còn đòi ngửi nữa và kêu rằng cái mùi da bò thuộc ấy vẫn còn ngái lắm, hăng lắm, cần có những trận gió đường trường thổi vào cho nhiều thì mới hả hết cái mùi tanh nồng và mới dùng được. Đã đành. Họ chê mùi da, họ chê cả màu da. Những là sáng quá, tươi quá, sạch quá, thiếu mất cái đẹp của phong trần. Các anh ngắm cái va ly mới nhẵn nhụi sạch bóng, chưa được thụ phép giang hồ, chưa được gió mưa của khởi hành tắm cho ít bụi, các anh nghĩ đến gì? (Chiếc va ly mới). Dọc hành trình văn chương của mình, Nguyễn ghi lại rất nhiều đam mê ám ảnh về cái sự “đi” như thế. Buổi sớm khởi hành của cánh buồm căng thẳng, bao giờ cũng là vui mắt. Tôi muốn tôi mãi mãi được là một cánh buồm căng thẳng như thế, mỗi lúc có gió sớm nổi dọn đường cho một mặt trời mới nhô lên sau ngấn nước bể đông (Cửa Đại). Đi, là một môn thuốc chữa bệnh hoài nghi.... Cuốn sách nói nhiều nhất vẫn là những mẩu chuyện nhỏ của người bạn ta bắt gặp trên con đường, thốt lên giữa hai ngụm nước bốc khói thuốc lào... Cuộc sống phân tán luôn luôn đổi chỗ lại còn tước khỏi đời chúng ta những cái tủ đứng bằng gỗ và theo cái tủ, chúng ta cũng rũ luôn đi bao nhiêu là thứ tình cảm bít khóa ẩm mốc tủn mủn... Đi bao giờ cũng vui. Chỉ những lúc ngừng mới là hết thú. Những buổi đằng đẵng ngóng anh giao thông khi mình phải bắt liên lạc ngang, ngồi nhìn mưa rừng và nhổ từng cánh cỏ may ống quần, biết để vào đâu cho hết nỗi bồn chồn! (Đường vui). Câu chuyện nghề của ông với các nhà văn bao giờ cũng bắt đầu bằng chữ Đi: Đi và viết I; Đi và viết II; Đi để rồi viết; Đi, Đọc và rồi Viết. “Kh. Ph. và tôi có những buổi 17 giờ chiều Hà Nội hai đứa cùng bất giác nhớ tới một con suối Tây Bắc, một cái bến đò Tây Bắc, một đám bông lau trong mây Tây Bắc.” Họ trò chuyện với nhau: “...Hình như cán bộ nhiều huyện cao huyện thấp trên ấy đều đã gắn tên bọn mình vào đèo dốc, ghềnh bến của Tây Bắc....Lâu lâu mà lên chưa kịp, thì lại có khối người nhắc, lắm hôm đang nuốt dở miếng cơm là cứ sặc khốn sặc khổ lên.”. (Đi để rồi viết). Cái đam mê du hành khiến nhà văn có hàng loạt liên tưởng phong phú về đường xá trong hàng loạt bài tùy bút về đường: Đường vui, Một bài thơ đường, Đường lên Tây bắc, Đi mở đường, Bài ca trên mặt phần đường.

    Cái mệnh lữ hành đã trang bị cho nhà văn một cách nhìn của một người du khách. Nguyễn Tuân đi đến đâu cũng ý thức được rằng mình đang đứng ở giao điểm nào của kinh tuyến vĩ tuyến trên địa cầu, cùng những cảnh và người đem lại sự kỳ thú cho những tâm hồn du hành. Đi lên Lũng Cú ông ghi nhận rằng nơi đây “cao hơn mặt biển khoảng hai ngàn thước và nằm ở vĩ tuyến 23 độ lẻ 22 phút”. Năm 1980, nhân dự trại sáng tác của Hội nhà văn tổ chức tại Huế, tôi có hân hạnh được hầu ông trong một chuyến đi chơi trên sông Hương. Tôi được ngắm nghía một chiếc ba-toong ông vẫn mang theo mình. Trên thân chiếc gậy chống khắc chi chít những chữ số kinh tuyến vĩ tuyến. Ông bảo: Đây là Lũng Cú, đây là một cái dốc Phăng-si-păng, đây là Cô Tô... Không biết bây giờ gia đình hoặc cơ quan Hội có còn giữ được bảo vật ấy không. Tôi nghĩ chiếc gậy chống ấy nên được đặt trang trọng trong bảo tàng Hội nhà văn. Thăm Tây trang, ông viết: Cây số 120. Dốc núi bắt chếch lên mây trời thăm thẳm. Mây ấy là mây của nước khác rồi. Trên khối mây ùn như khói, trên cái không phận xanh lơ nước hàng xóm, sừng sững hiện lên một mái đồn Tây Trang (Sđd. T2. tr 102).

    Bên cạnh những kinh tuyến vĩ tuyến, và cột số, dấu ấn thời Lữ còn in đâm trên những trang ký, ông chép tên những thác, những cầu, những vùng đất. Đây là những tên thác sông Đà: Thác Én, Thác Giăng, Bãi Chuối, Mó Sách, Bãi Lồi, Bãi Lành, Mó Tôm, Mó Nàng, Nánh Kẹp, Quai Chuông, Tà Phủ, Bãi Nai, Ba Hòn Gươm, Phố Khủa, Ghềnh Đồng, Suối Bạc,... (TTNT. Sđd. T2. Tr. 68). Đây là những tên đất vùng căn cứ nghĩa quân Đề Thám: Những làng Ngao, Nguộn, Hom, Sậy, Khuyên, Luộc, Lẻ, Lan, Lũa, Lèo, Thể, Hân, Hả, Gộc, Đa, Đện, Trung, Nứa, Chiềng. Những tên Mỏ Trang, Mỏ Thổ, Mỏ Sẹt. Những tên Rừng Phe, Rừng Tre, Rừng Ngầu, Rừng Báo. Những Ngã Tư Biền, Bến Gầm, Phố Tràng, Điếm Tổng, cầu Quan Âm, chùa Âm hồn. Những Trại Cau, Trại Gai, Trại Cọ, Trại Cờ, Đồng Vương, Đồng Cờ, Đồng Mơ (cái kho thóc của quan Đề) (Tr.497).

    Phải là một người lịch lãm, đi nhiều, hỏi chuyện nhiều về đèo núi mới dám hạ một câu thế này: Đèo Pha Đin thuộc vào những đèo vừa cao vừa đẹp của cả miền Bắc miền Nam nước ta. (Tr 93). Đường đèo ngoặt chữ “chi” liên chi hồ điệp, nhiều dốc dựng cao. Nhìn ngang nhìn ngược nhìn xuôi đều thấy được những đường lượn vừa vượt qua và những khuỷu sắp lao xuống. Một tấm tranh toàn cảnh của núi rừng Tây Bắc điển hình. Núi trọc, sườn cỏ gianh, và đường xén vào núi, đất rực lên cái màu đỏ gạch nung già.

     Ông cũng hạ hai câu như thế về bãi biển Cửa Tùng với hai chữ nhất, đặc biệt nhất và đẹp nhất: Cửa Tùng là một bãi tắm biển đặc biệt nhất ở nước ta. Đứng ở bãi biển, nhìn ra là một hòn đảo, Hòn Cỏ, hoặc Hòn Gió, làm sinh động thêm cái vạch chân trời biển Đông cách bờ khoảng ba chục cây số. Nhìn lên mặt Bắc là Mũi Si, Mũi Lài, và vùng Hợp tác xã điển hình Vĩnh Kim. Nhìn về phía Nam, những buổi tối trời, thấy cả núi Ngũ hành Quảng Nam. Có thể ngó thấu tới núi Quảng Ngãi nữa kia; chỗ núi mờ mờ xanh nhọn nhọn lên là Quảng Ngãi đó. Cửa Việt trong tê cách ngoài ni cửa Tùng cùng tỉnh, mô có mấy chục cây. Đứng ở cửa Tùng đây nhìn rõ rặng phi lao đương xanh Cửa Việt, trong nớ, đó... Độ mặn của chất nước biển Cửa Tùng, cũng khác với các bãi biển khác, trên khắp 3241 cây số bờ biển toàn nước ta, và trên khắp 875 cây số bờ biển riêng miền Bắc. Độ mặn độ muối của biển Cửa Tùng, tác dụng bồi dưỡng của nó đối với cơ thể người nghỉ mát bãi biển, cũng tốt đủ hơn nhiều chỗ khác. Cái bãi tắm của nó càng đặc biệt, từ trong bờ lội thấu ra ngoài xa đến 600 thước, nước Cửa Tùng chỉ sâu đến ngang ngực, ít có nơi tắm mà địa thế lại thoai thoải một cách thuận lợi như vậy cho người đi tắm biển. Những năm đất nước còn chia cắt bằng một vạch giới tuyến quân sự tạm thời: Cái vạch vĩ tuyến ấy, chấm đúng ngay vào chính tâm bãi biển Cửa Tùng đẹp nhất nước ta. (Tr 434-435).

     Với mệnh Hỏa Sơn Lữ, mà tượng quẻ là Lửa trên Núi, văn chương Nguyễn Tuân chính là ánh lửa lữ hành trên các vùng núi Việt Bắc, Tây Bắc nước ta. Ánh lửa ấy rực sáng lên ở tập tùy bút Sông Đà. Nguyễn Đình Thi coi Sông Đà là tác phẩm kết tinh của Nguyễn Tuân trên chặng đường dài từ sau cách mạng. Một tập tùy bút chắc mạnh và lộng lẫy (TTNT. Sđd. T3. Tr. 516). Sinh thời nhà văn Nguyễn Minh Châu ghi sổ tay: Đọc lại Sông Đà của Nguyễn Tuân, câu văn Nguyễn Tuân viết như đem vật từng tảng đất lên trang giấy.

    “Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng lờ. Hình như từ đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ tranh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ tranh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa... Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi”.

     Nguyễn Minh Châu ghi thêm: Đọc Nguyễn Tuân có đoạn hay ta cảm thấy nhà văn không viết cho người đời tầm thường xem, mà cho những bậc tiên tri và thần phật ở một thế giới cao siêu khác, và ta đọc, tiếc là ta dám nghe, ghé vào, ngồi góc chiếu mà hóng chuyện người trên, và vì thế phải đem lòng ngưỡng mộ mà nghe, mà đọc, phải nâng mình lên mức trong trẻo hết sức mà đọc văn. (Nhà văn Nguyễn Tuân. Tủ sách thế giới văn học. Nxb Hội nhà văn & Nxb Hà Nội 1991 Tr. 102). Bằng ánh sáng Hà Lạc, tôi chỉ muốn tán thêm: Không phải Nguyễn viết cho những cao nhân ở một thế giới nào, mà chính những bậc siêu phàm ấy xui khiến Nguyễn viết thế, đó là thứ văn viết từ mệnh Lữ.

    Nhà văn mệnh Lữ còn cho người đời thưởng thức những thứ văn độc đáo khác. Xưa nay hình như ta chỉ được đọc những áng văn thơ tả hoa, thưởng hoa trong tư thế tĩnh lặng, trầm ngâm. Chính Nguyễn cũng đã có truyện ngắn như thế tả một đêm xuân nhắm rượu cuội bọc kẹo mạch nha thưởng hoa lan (Hương cuội). Câu ngạn ngữ Cưỡi ngựa xem hoa theo nghĩa hẹp là để chế diễu người không biết thưởng thức cái đẹp tinh tế như hương như hoa trong tư thế tĩnh, theo nghĩa rộng là chế diễu người chỉ biết đến cái đẹp cái tốt một cách chung chung, đại khái, cũng coi như chẳng biết gì. Nhưng cũng chính Nguyễn đã có một áng văn tuyệt đẹp tả hoa thưởng hoa trong tư thế động phi mã. Đó là những trang viết về hoa ban trong Nhật ký lên Mèo.

     Hoa ban Tây Bắc, mùa ban pún hoa, nở rộ lung linh, hoa trắng núi trắng giời, (cũng trắng núi trắng giời như mưa mùa ở Tây Bắc), hoa ban nở không kịp rụng.

     Ban đúng là thứ cây và thứ hoa đặc thù của Tây Bắc. Cũng là núi là rừng của chung tổ quốc, nhưng bên Việt Bắc không có hoa ban. Và ngay ở Tây Bắc, vào hẳn địa giới khu tự trị rồi mới thấy hoa ban chứ ở phía Suối Rút mà ngược lên mấy chục cây số quá cái mốc địa giới tỉnh Hòa Bình vẫn chưa có bóng một cây ban nào. Trên đường trục số 6, có nhiều quãng ban mọc tập trung hai ven đường. Như quãng Đại Cò Nòi, quãng Tiểu Cò Nòi, đèo Pha Đin và đèo Khau Ma Hông ở Lai Châu v.v... Mùa ban nở tháng hai hoa trắng có tí má hồng xếp hàng sẵn bên đường như một buổi liên hoan đón khách quý vào thăm khu tự trị. Không phải là cưỡi ngựa xem hoa mà là ngồi com-măng-ca mà xem hoa; ngồi bên cái máy nổ vận tải mà xuyên qua dặm hoa ban, cái xe hiện tại đi qua cả một thiên tình sử cũ của người Thái vẫn còn lưu lại một chút hương mát mát xa xa.

    Theo chỗ tôi biết ở Tây Bắc, có một khu vực rừng ban rất dài rất rộng, cứ đi bộ với một đà bước vừa phải, thì đi đường rừng hai ngày liền mà không hết hoa ban. Từ bờ sông Đà qua Nậm Gin rồi bắt ra đường trục số 6, quãng rừng này toàn là ban. Hạnh phúc thay cho người đi công tác mùa xuân mà lọt vào trận địa hoa này vào lúc nó mãn khai thi đua nở cho hết để đóng mùa. Đứng ở bên phía Quỳnh Nhai nhìn sang núi bên Tuần Giáo, cứ thấy xanh xanh đùn đùn lên những chòm khói bằng cái nong, giống hệt tán khói đạn cao xạ nổ giữa bầu trời. Sang sông Đà, đi gần mãi lại thì mới sực nhớ là mùa xuân ban pún, rừng ban đang ra những tàn những tán hoa trắng.

    ...Trắng trời trắng núi một thế giới ban. Người anh ròng rã hai ngày quyện trong một mùi thơm mát nhẹ đăng đắng ẩn ẩn hiện hiện một mùi phong lan rừng cấm. Từ trên thinh không phả xuống cái hương tình của tình sử Thái, luồng thơm này liên tiếp những luồng thơm khác.... Con ngựa thồ tài liệu đi trước, móng ngựa trước móng ngựa sau đều bết những cánh ban vừa giẫm lên, còn hăng cái mùi hoa tươi bị nghiền nát. (TTNT. Sđd. T2. Tr. 301-303).

    Lời hào 4 quẻ Lữ, chủ mệnh thời Lữ của Nguyễn Tuân, bảo rằng: Lữ khách đến chỗ ở tạm, được quán trọ tử tế, để lo chuyện thiên hạ, nhưng lòng không vui. Lời hào ấy cho biết bắt đầu từ năm 43 tuổi (1952), Nguyễn sẽ có một nửa đời làm lữ khách, nơi ở thường là nơi ở tạm, được chăm sóc trong các chuyến đi (người xưa nói cụ thể là tiền của, đồ hộ thân). Đó là những chuyến đi các huyện đảo Vân Đồn, đi Cô Tô, sông Đà, sông tuyến, lên Mèo. Chỉ có đều là lòng không vui. Cũng trong những chuyến đi ấy, hành trình văn chương của Nguyễn thường bàng bạc một mối lòng không vui.

     Đó là nỗi buồn “thiếu quê hương”. Trên đất Hương cảng, mấy người trong một hội tài tình, bóc tấm lịch cuối năm, thấy tháng chạp năm ấy chỉ có 29 ngày. Phải là một người An Nam biết thiết tha đến phần mộ, đến quê hương, phải là một tâm hồn An Nam, đã thấm nhuần trong đám hương khói ngày cúng ông vải, thì mới cảm thấy cái năm âm lịch hụt mất một ngày là như thế nào. (Một ngày một đêm cuối năm). Đó là cái nỗi buồn tha hương đi tìm việc trên đất mỏ. Sương nằm cạnh Bạch, muốn tìm một cảm giác bùi ngùi để thấu hiểu cái gió mỏ cho rõ hơn, để yêu thương mình hơn lên trong đêm dất khách gió thổi, tự ví mình như một người phẫn uất với gia đình vì mình là một kẻ lỡ lầm và muốn cho họ hàng quên mình, liền cầm một mảnh bằng vào đất mỏ xin một chân thư ký boăng-tơ, rồi bị chủ Tây đuổi ra cửa, rồi bị chủ quán bắt nợ vì thiếu tiền cơm, rồi bị tự ái đoạn mất con đường về cố lý. (Thiếu quê hương).

    Đó là nỗi buồn lên “phố núi” Lai Châu, Nguyễn có dịp lần ra lịch sử của một số cuộc đời đồng bằng “phiêu dạt tha phương cầu thực lưu lạc lên đồng rừng đây”. Những cuộc đời nổi nênh xuôi ngược, “trốn chúa lộn chồng. Năm tao bảy tiết, ba chìm năm nổi chín lênh đênh. Vỡ nợ tam tứ từng. Chao ơi, nghĩ cái nông nỗi ngày xưa...” (Phố Núi)

    Đó là nỗi buồn những thân phận “xoè”. Đèo Văn Long, vua Thái, đi kinh lý các địa phương bao giờ cũng có một việc chọn những cô gái “tốt vóc đẹp mã, trắng, có duyên có dáng, giọng tốt, điệu mềm da sáng. Y nắm lấy danh sách rồi về dinh, cho lệnh đi tróc nã xoè. Lên, học nghề trong sáu tháng, xoè đã đủ thành thục, cho về nhà bố mẹ đẻ, khi nào có tiệc tùng, hoặc đón tiếp Tây Tàu Mỹ thì có trát gọi lên. Còn giỗ tết thì phải nhớ ngày mà lên hầu xoè, nếu bận giúp đỡ việc nhà, cha mẹ mà quên lên hầu xoè thì đòn thì hình phạt thì bố mẹ càng nhục lụy. Ngày tết đầu năm là càng phải bỏ tết nhà mình mà lên hầu tết nhà quan nhà người.

    Đó cũng là nỗi buồn “cháy bản thảo” khi Nguyễn kể chuyện những ngày đêm cuối cùng sống với Trần Đăng, về những gì mà nhà văn chiến sĩ chưa kịp làm chưa kịp viết, thì đã hy sinh ở mặt trận, “cái hình ảnh Trần Đăng để lại ở tôi một lần cuối cùng ấy là cái dáng hăm hở bước đều của một người đeo ba lô đi dưới trời mưa trên cỏ ruộng lầy Đông Bắc.” (Cháy bản thảo).

    Bao trùm lên tất cả là nỗi buồn chia cắt đất nước.

    Bây giờ ta nói chuyện về một con sông lạ ở nước ta. Con sông tuyến ấy, lạ thật đấy. Lạ mắt, nghịch tai... Sao mà không lạ được cho một con sông không đủ cả hai bờ sông mà chỉ có một bờ sông. (TTNT. Sđd. T2. Tr 359). Tiếng nói nhân dân ở đâu bao giờ cũng giàu, ngày càng giàu. Nhưng ở dọc sông lạ này, từ vị con người ven sông đã mất hẳn đi danh từ “đò ngang”, động từ “sang ngang”. (Tr. 360)

     Từ vị vùng này mất những từ “đò ngang”, “sang ngang”, còn riêng Nguyễn Tuân thì nạp vào từ vị nước ta một danh từ mới trĩu nặng nỗi buồn lịch sử, cũng là nỗi lòng không vui của người hào 4 quẻ Lữ: Sông tuyến. Thế kỷ này, thân con sông dài ra, đến thế kỷ khác, thân nó lại rút ngắn đi. Thời Lý, thời Trần, thời Lê, thời Trịnh-Nguyễn, triều Tây Sơn, con sông Bến Hải dài hơn hay ngắn hơn con sông Bến Hải của cuối thế kỷ hai mươi bây giờ? Câu hỏi bác học này vượt quá kiến thức và sức trả lời của tôi. Nhưng nếu hỏi tôi rằng sau hôm búa rìu lịch sử đóng mốc giới tuyến lên hai bờ sông này, sông tuyến thêm ra hay bớt đi những khuỷu những khúc uốn lượn của nó, thì tôi có thể dứt khoát mà trả lời rằng: Con sông đã dôi thêm ra nhiều khuỷu nhiều vòng. Cũng dễ hiểu thôi. Ai đã giẫm xéo lên con giun thì biết. Con giun quằn lên. Nếu ví sông tuyến đen mốc như một con trăn gió trườn từ núi ra biển, thì gần ba trăm cái mốc nhọn ấy đóng lên thân nó sao mà không quằn quại lên cho được. Trong cảm nghĩ của tôi, con sông không thể không là một sinh vật hữu cơ của Tổ quốc. Và nó cũng có cách phản ứng của nó. Chúng ta đau như thế nào vì chia cắt hai miền, thì con sông ấy cũng quằn lên như thế, khi Mỹ - Diệm muốn lâu dài chia dòng và cắt bờ. Trong máu lũ ta hôm nay, tôi dám cho phép tôi nghĩ rằng vẫn vón cục lại, vẫn ứ lên cái máu phân dòng tách bờ của một con sông Bến Hải. (Cắm cột mốc giới tuyến. Tr.363)

    Cùng với nỗi buồn sông là nỗi buồn cây, nỗi buồn cầu. Nhà văn kể chuyện các sĩ quan ta và đối phương trong đoàn binh sĩ liên hợp đi vạch đường giới tuyến, làm dấu cụ thể cho sự tạm thời chia cắt Bắc Nam.... Như thế là từ Cây Tăm lên xứ Bò Ho, cả ngày hôm đó chỉ vẻn vẹn có năm tấm biển lên 5 gốc cây. Cái cây mốc cuối cùng là một cây bún. Lá cây bún giống lá sắn đồng bào vẫn muối dưa ăn. Quả cây bún lúc chín, dùng làm mồi câu cá. Trước cái mốc cuối cùng xứ Bò Ho là cái mốc ở Khe Thúc, biển gỗ đóng lên một cây trổ. Quả trổ ăn được; những ngày lũ lụt chấm quả trổ vào muối vừng mà ăn thay cơm. Những vùng cây bún cây trổ mọc nhiều hai bờ nguồn sông tuyến, cũng là vùng hay qua qua lại lại của đàn voi rừng hàng trăm con không hiểu biết gì về giới tuyến của con người. Có cây trổ mốc tuyến đã bị một con voi một ngà đầu đàn xô đổ chổng kềnh. (Bài trên Tr 373)

     Cầu Hiền Lương chỉ dài có 178 thước. Kể chiều dài thì có bấy nhiêu thôi. Nhiều anh công an nhân dân võ trang vẫn luôn luôn thấy người làng mình đi qua lại bên kia bờ nam., nhưng “tấc gang mà lại bằng mười quan san” (tr 381). Nhưng mà cả cái cầu bẩy nhịp đó, một trăm bẩy mươi tám thước khung sắt đó, tám trăm chín mươi tư ván gỗ đó, nhưng mà cái cầu đó là của ai?... Sông nước giới tuyến đây gió máy không ít, thương tích cũng lắm, chuyện hay cũng nhiều, chuyện không hay cũng có, những lúc cái cầu vật mình khó ở, hoặc giở chứng trái nết, thì ai chịu trách nhiệm về nó? Tổ chức quốc tế nào hay là cơ quan nào trong nước? Hay là trối kệ nó đó như là một đứa con hoang thai của thời thế? Chao ôi, thấy thương quá là thương cho bẩy nhịp Hiền Lương cầu tuyến.

    Thân cầu, mặt nền cầu, không một cái chổi miền Bắc cái chổi miền Nam nào quét tổng vệ sinh cả, mà sao nó sạch thế. Liền liền dăm bẩy năm nay, cái cầu cứ sạch sẽ như thế. Sạch, đã hóa ra trơ trụi, trắng băng, nhẵn thín, trơn bóng. Tôi muốn được ngó thấy trên mặt cầu, chỗ nhịp cầu phần Bắc cũng như chỗ nhịp cầu phần Nam, đây đó hãy vương vãi bừa bộn ít rác rưởi: mẩu lạt buộc, vỏ diêm, tàn đóm, lá bánh, giấy bóng kẹo, mảnh vỡ chai lọ, tàn thuốc, bã trầu, và tất cả những tàn dư nhỏ bé linh tinh gì gì nữa, nó là cái dấu hiệu của một sự sống bình thường hàng ngày, nó có hơi hướng của con người qua qua lại lại, ngược xuôi, ra vào, bán mua, trò chuyện thăm hỏi. (Tr. 382)

     Tôi xin nói thêm về tín hiệu Lửa trong quẻ Hỏa Sơn Lữ. Nó cho ta thấy nhà văn rất nhậy cảm về những gì thuộc về tính cách của biểu tượng lửa, chẳng hạn sự sáng, sự soi tỏ, sự bốc cháy, sự thiêu đốt, sự bồn chồn nóng nảy.... Trong các trang văn của Nguyễn thường thấy có ánh lửa chập chờn. Ông đặt tên bài viết về Trần Đăng là Cháy bản thảo. Trong Tình rừng, ông ví nạn phá rừng với việc đốt bản thảo, đốt kho thuốc. Đi ra huyện đảo Vân Đồn ông cảm nhận thấy: Trong tiếng lửa trong mùi gió trong hơi sóng, đã trở về quanh đây tất cả cái tấp nập nhộn nhịp cái dẻo bền cái năng động cái đáng yêu của đời Trần. (TTNT. Sđd T2 Tr 474) Mặt trời bể đông đứng bóng rồi xế bóng mà gộc lửa rừng Vân của tôi vẫn cháy rực mầu mai cua chín tới, chúng tôi bỏ lửa mà tìm đường lên núi. (Tr 479) Nhớ Huế, ông nhớ cây mù u. Huế có cây mù u, có hàng cây mù u, hữu ngạn tả ngạn sông Hương đều có cây mù u... Chạm lửa là mù u cháy... Tết Mậu Thân vừa qua, cả miền Nam lấy pháo tết làm hiệu lệnh, mà cùng một ngày một giờ, cùng đứng lên đốt đánh hơn bốn mươi thành và thị, thì mù u vẫn cháy ở Huế, mù u vẫn cháy ở Sài Gòn, Chợ Lớn, mù u cháy ở Đức Hòa, Đức Huệ, ở Vàm Cỏ Đông. (Tr 123-124). Có lẽ chính cái tượng Lửa trong mệnh người đã khiến ông la đà ở huyện núi Quỳnh Nhai, viết được bài ký rất hay Than Quỳnh Nhai, và có những liên tưởng tài hoa về lửa: Bỗng nổi lên một mùi khét beo béo như mùi thịt loài thú rừng bị lửa vây lại trong một trận đốt nương cỏ gianh mùa xuân. Đây chỉ là bắt đầu một mẻ than cốc, lửa mấy lò trên đồi Pom Pai, cứ cháy ròng rã như thế mấy ngày đêm (Tr 283) Từ lửa than Quỳnh Nhai, ông không quên những người giữ lửa nuôi lửa cách mạng, có những lúc tưởng là nó (kẻ địch) thổi tắt, lấy tính mệnh mình ra mà che lấy ngọn lửa, chuyển lửa hết đỉnh núi này sang đỉnh núi khác. Thần thoại cổ La Mã nói đến những cô đồng trinh được phong thần giứ lửa trọn đời; nghe nó cũng xa xôi quá. Mà trước mắt tôi kia, tôi biết đích tính danh cái người đang tự học bên đèn con kia chính là một trong những người đã từng giữ lửa trong những đêm tối tăm nhất của địch hậu Quỳnh Nhai. (Tr. 288-289).

    Nhân nói tượng Lửa là tượng của quẻ Ly, Hà Lạc còn chỉ rõ rằng người mệnh Kim được quẻ Ly (Hỏa Sơn Lữ là cách gọi tên của quẻ Dịch kép trên Ly dưới Cấn, nghĩa quẻ là Lữ) thì thường có tính cách nghịch chiều trong hành động, ngày nay ta gọi là hành động ngược đời. Nguyễn Tuân sinh năm Canh Tuất, mệnh Kim, cấu trúc Hà Lạc có quẻ Ly chính là người thường nghịch chiều trong hành động. Bạn bè ông đã kể rất nhiều chuyện lạ có thật của ông mà không cắt nghĩa được tại sao, chỉ đành biết vậy và thông cảm với ông. Xin thuật lại một vài chuyện. Nguyễn Doãn Vượng kể rằng: Một hôm uống rượu say, Nguyễn bày ra một vở kịch rùng rợn: Kịch chết. Nét mặt rất nghiêm trang, làm ra cái vẻ âu sầu mà không nói ra lời, Tuân chít khăn trắng lên đàu, bắt một cô đầu nằm xuống làm người chết. Tuân là khổ chủ đứng lo tang ma, mua chín cây nến cắm chung quanh, đặt một bát cơm quả trứng ở phía đầu, rồi tắt hết đèn đi, huy động các anh em, chị em có mặt ở đấy bưng miệng khóc, khóc ầm ỹ, khóc tru tréo, khóc bù lu bù loa, làm cho hàng xóm dựng tóc gáy lên, phải đổ sang hỏi thăm xem có ai vừa “nằm xuống”. Lấy tư cách khổ chủ, Tuân lấy tay bịt miêng, ra tiếp những người đến hỏi thăm... Vở kịch kéo dài đến gần sáng người ta mới biết là bọn “ông mãnh” nó đóng kịch với nhau để lỡm mọi người. (Nhà văn Nguyễn Tuân. Sđd. Tr. 30). Nhà văn Vũ Bằng kể: Tôi còn nhớ hồi làm ở Trung Bắc (tên một tờ báo), tôi về Thanh Hóa thăm anh. Đi tàu hỏa đã mệt, tôi đến nhà anh chuyện trò một lúc sau đi ngủ liền. Tuân nhè đúng lúc tôi đang ngon giấc, lay dậy, bảo mặc quần áo đi có việc cần. Trời thì rét mà ở ngoài còn tối om như mực, tôi không đi, nhưng không được. Tôi đành phải chiều anh bạn “lọ”. Để đi đâu? Anh bắt tôi đi bộ, vòng hết đường này sang đường khác, rồi rủ ăn bánh ướt ở một căn nhà lá, mà anh bảo là ngon nhất Thang Mộc ấp. Riêng một cái việc ngồi chờ cho bà cụ bán hàng thắp đèn lên, tráng bánh và rán đậu cũng đã mất hai tiếng đồng hồ. Vũ Bằng kể một chuyện khác: Nhà văn Thanh Châu cưới vợ, mời anh em văn nghệ đến ăn uống đông đủ ở nhà. Riêng Nguyễn Tuân không tới, anh em tức quá đợi nửa tiếng đồng hồ, rồi quyết định ăn uống không chờ nữa. Chừng một tiếng đồng hồ sau, Nguyễn Tuân mặc quần áo tây cẩn thận, đến gõ cửa khe khẽ, khều ngón tay kêu Thanh Châu ra ngoài bảo cho mượn năm đồng rồi đi. Tất cả anh em ngồi đó nổi đóa muốn “xuống phố” (lúc ấy gọi là xuống phố chứ không gọi là xuống đường), chất vấn Tuân, nhưng chỉ một lát sau thì anh trở lại, với cái đầu bù tổ quạ, nhón hai ngón tay cầm một cành lay-dơn thực đẹp, như trẻ con đi rước đèn tháng tám, mừng Thanh Châu. Thì ra anh mượn tiền để đi mua bông hoa đó. Lúc ấy một cành lay-dơn giá cao lắm độ hai hào, nhưng sau này có người biết anh đã mua tới bảy hào và biếu bà bán hoa thêm một đồng, còn lại bao nhiêu thì xe đi, xe về hết nhẵn, không còn xu nhỏ. (Nhà văn Nguyễn Tuân. Sđd. Tr. 32-33).

    Thì ra cái tính ngược đời ấy cũng đã tiềm ẩn trong mệnh của nhà văn.

    Tháng Sáu- Tháng Mười - 2000.

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà văn Nguyễn Tuân

    Sinh ngày 10-07-Canh Tuất giờ Ngọ (14-8-1910) (Trong Nhà văn Việt Nam hiện đại: 10-07-1910). Dương Nam. Đầu thu (tiết lệnh tháng 7): 8-8-1910. Giữa thu: 24-9-1910 (Hóa công Ly). Mệnh: Kim (trâm thoa). Thượng nguyên. Sinh giờ khí âm. Can Chi: Năm Canh Tuất, tháng Giáp Thân, ngày Tân Hợi, giờ Giáp Ngọ. Mã số Can Chi: 3, 5-10; 6, 4-9; 4, 1-6; 6, 2-7. Số dương: 25. Số âm: 38.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    1

    0

    0

    1

    0

    0*

    43-51

    37-42

    31-36

    22-30

    16-21

    10-15

    0

    0

    1

    0

    1

    0

    1

    0

    1*

    1

    0

    0

    67-75

    61-66

    52-60

    88-96

    82-87

    76-81

    0

    1

    1

    1

    1

    0

    1

    1

    0

    1

    1

    1

     Thuần

     Cấn

     

    Lôi Thủy

     Giải

    Hỏa Sơn

     Lữ

     

     

    Trạch Phong Đại Quá

    Phong Thiên

     Tiểu Súc

     

    Hoá công: Ly ở Hậu thiên. Thiên nguyên khí: Chấn ở Hỗ Tiên thiên. Địa Nguyên khí: (Càn) Không. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức thấp. Hỗ Nhân Quả: (mẹo) Đổi dấu hào 4.

    Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và chân dung Nhà văn. Xuân Cang. NXB Văn học, sắp xuất bản.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,342,247

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/