Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập44,343,172

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

Tám chữ Hà Lạc và chân dung Nhà Văn: Trần Đăng Khoa

Xuân Cang

  • Thứ sáu, 12:37 Ngày 07/11/2008
  • Nhà thơ Trần Đăng Khoa (TĐK), sinh vào giờ Dậu ngày Tám tháng Ba năm Mậu Tuất (26-4-1958), ở vùng quê của anh bên bờ sông Kinh Thầy (Hải Dương). Cấu trúc Hà Lạc của anh phản ánh hết sức đầy đủ tâm tính và cảm xúc văn chương cũng như những bước đường đời anh đã đi qua. Quẻ Tiên thiên, là quẻ trời cho anh, là quẻ Phong Địa Quán. Phong là Gió, Địa là Đất. Tượng thiên nhiên của quẻ là Gió đi trên Đất. Quán, hay còn gọi là Quan. Quán là làm cho thấy, còn Quan là thấy, là quan sát, xem xét, nhìn ngắm và suy ngẫm. Khi đọc tên quẻ người ta đọc là Quán, khi đọc lời của từng hào, thì gọi là Quan. Các nguyên thủ đời xưa coi tượng quẻ làn gió lướt trên mặt đất mà bắt chước thiên nhiên đi quan sát dân tình, suy tính đặt ra các chính sách cho dân. Phan Bội Châu nêu ví dụ: Tỷ như, xứ nào suy mạt về nghề nghiệp thì dạy bằng nông tang, xứ nào suy đồi phong hóa thì dạy bằng lễ nghĩa, dân khiếp nhược thì dạy bằng thượng võ, dân hiếu dũng thì dạy bằng thượng văn. Đó là cách quán của bậc nguyên thủ vậy. Còn đối với những người bình thường, người được quẻ Quán, người nào cũng mang sẵn trong mình một niềm ưa thích hoặc năng khiếu quan sát nhậy bén, thích nhìn ngắm, đối chiếu, so sánh, suy ngẫm. Quẻ Quán cho ta biết ta ở vào thời Quán, thời của quan sát và suy ngẫm. Người được quẻ Quán lại có hào chủ mệnh tốt, ở vào giai đoạn có vị, có thế, có cơ hội, có ưu tiên năng lượng của trời đất (Hóa công), có nguyên khí của Trời và Đất (Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí) thì đó là những tín hiệu của tài năng, người đó có thể thành các nhà báo, các nhà văn, nhà khoa học. Người mẹ quê mùa ở đất Nam Sách đã may mắn sinh được cậu con trai vào một thời điểm có gần đủ những tố chất đó. Trong Chân dung tự họa của TĐK, hình như anh có linh cảm thấy mình được trời cho một cái gì: Đối với TĐK, thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh. Suốt đời y có ý thức vươn tới loại thơ đó. Nhưng để làm được điều ấy, một phần do y, một phần khác còn do... ông trời! Nhưng ông trời ở đâu, tính khí ông ta thế nào thì suốt đời y, y cũng không thể hiểu được. (Chân dung và Đối thoại Nxb Thanh Niên-Hà Nội 1998).

    Trong bài viết này chúng tôi cố gắng quán cái điều anh còn có vẻ nghi ngờ đó. Ta hãy ngắm nghía cái cấu trúc Hà Lạc của anh và lần theo những dấu vết đường đời anh đã đi qua, những dấu vết mà cấu trúc Hà Lạc đó để lại trong văn chương của anh. Quẻ của TĐK thuộc loại mệnh hợp cách ở mức thấp, nhưng mặt khác lại có nhiều ưu tiên thuận lợi. Những ưu tiên đó là: Về cuối đời sẽ có ưu tiên về năng lượng của Ông trời và có nguyên khí của Đất. Thôi hãy để đấy và đợi xem cái ưu tiên ấy nó thế nào. Tuổi Mậu Tuất có mệnh Mộc (đất bằng), gặp quẻ Tốn là tín hiệu cho thấy tuổi nhỏ có nhiều dao động, trắc trở, lo âu, thiếu tự chủ và bình tĩnh. Nhưng cũng chính tuổi nhỏ ấy đã chiếm cái hào 4 là hào Nguyên đường, chủ mệnh, với Lời hào thật đẹp: Xem vẻ sáng của đất nước mà biết sử dụng cho tốt cái lợi thế ở gần bậc nguyên thủ. Hà Lạc cho biết người được hào này có chứa chất trong mình cái nghĩa của người nguyên thủ và người phụ tá trong thời thịnh. Đó là tín hiệu cho biết người này sinh ra là để làm người quan sát, chiêm ngưỡng và ca ngợi những vẻ đẹp của đất nước, suy ngẫm và làm lợi cho thiên hạ. Chủ thể sẽ có tư thế người phụ tá cho các bậc nguyên thủ, và là phụ tá trong thời thịnh, lời hào khuyên phải biết tận dụng cái lợi thế ấy và giữ cái nghĩa làm phụ tá, chớ có vượt qua. Tượng của hào còn nhấn mạnh ý nghĩa xem vẻ sáng của nước mà sinh chí hướng muốn hiến thân cho nước. Hào 4 là chủ mệnh sẽ đi xuyên suốt cuộc đời chủ thể đồng thời phản ánh chặng đường từ 01 đến 06 tuổi. Ngay sau đó là hào 5 phản ánh chặng đường từ 07 đến 15 tuổi. Hào 5 là hào có vị trí chí tôn, hào vua trong 6 hào của quẻ Dịch. Lời hào cho biết chủ thể đến chặng đường này sẽ coi trọng việc quan sát và suy ngẫm về bản thân mình, qua vẻ sáng của đất nước và của nhân dân phản ánh vào mình, để từ đấy mà thấy được mình như tấm gương của đất nước và thiên hạ. Tượng của Hào còn cho biết thêm: Xem xét mình đâu phải chỉ xem xét mình. Vì mình (ở chặng đường này) ở vào vị trí chí tôn nên cái mình ấy đã phản ánh trong nhân dân, nên xem xét mình có nghĩa xem xét nhân dân, có nghĩa coi nhân dân như tấm gương để xem xét mình. Cái sứ mệnh tuyệt đẹp đó ở tuổi thần tiên từ 7 đến 15 tuổi thì đó chính là tín hiệu thần đồng ở TĐK, như mọi người đã biết. (Tín hiệu thần đồng đó cũng phản ánh trong bài toán Tứ trụ: Đại vận Đinh Tị của chủ thể từ 04 đến 13 tuổi là đại vận Từ Quán. Từ quán là tín hiệu tài trí ở bậc hàn lâm, học viện). Do tượng của quẻ, ta biết những tố chất thiên nhiên ảnh hưởng vào tâm tính, vào cảm súc, tiềm ẩn trong TĐK là Gió (cũng là Cây), Đất, Núi, Trời, sau đó đến Sấm chớp và Đầm hồ. Thơ của TĐK nhuần thấm những vẻ đẹp và những khí chất thiên nhiên đó. Không phải ngẫu nhiên mà anh đặt tên cho tập thơ đầu cũng là tác phẩm hay nhất của anh cho đến nay, in đi in lại trên 30 lần, là Góc sân và Khoảng trời. Góc sân, chính là Đất. Còn cái bầu trời sau này sẽ trùm lên trong hậu vận của anh (quẻ Địa Thiên Thái) thì ở tuổi thơ mới hiện lên lấp lánh trăng sao và xanh biếc mênh mông trong một khoảng nào còn rất hạn chế ở một góc sân nhà.

    Góc sân nho nhỏ mới xây

    Chiều chiều em đứng nơi này em trông

    Thấy trời xanh biếc mênh mông

    Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy.

    Cảm súc thiên nhiên mạnh nhất thời thơ ấu của nhà thơ là Đất và Cây cối, lúa má. Hạt gạo làng ta / Có vị phù sa / Của sông Kinh Thầy / Có hương sen thơm / Trong hồ nước đầy... (Hạt gạo làng ta). Những bài thơ hay như Côn Sơn, Đêm Côn Sơn, Khi mùa thu sang... thấm đẫm cái cảm súc về Đất, Gió, Cây đã đi vào mệnh văn chương của TĐK.

    Sáng trên đỉnh Côn Sơn

    Hương đồng thơm trong túi

    Chiều xay thóc góc nhà

    Tóc lại bay gió núi

    (Côn Sơn)

    Tiếng chim vách núi nhỏ dần

    Rì rầm tiếng suối khi gần khi xa

    Ngoài thềm rơi cái lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

    (Đêm Côn Sơn)

    Mặt trời lặn xuống bờ ao,

    Ngọn khói xanh lên lúng liếng

    Vườn sau gió chẳng đuổi nhau

    Lá vẫn bay vàng sân giếng

     

    Xóm ngoài nhà ai giã cốm

    Làn sương lam mỏng rung rinh,

    Em nhỏ cưỡi trâu về ngõ,

    Tự mình làm nên bức tranh

     

    Rào thưa tiếng ai cười gọi,

    Trông ra nào thấy đâu nào

    Một khoảng trời trong leo lẻo

    Thình lình hiện lên ngôi sao

    (Khi mùa thu sang)

    Câu Tự mình làm nên bức tranh là câu thơ của định mệnh, đó là câu thơ của hào 5 quẻ Quán. Bạn đọc hãy chú ý TĐK cũng rất nhạy cảm với Sấm chớp (xem quẻ Hỗ Hậu Thiên): Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy (Góc sân và khoảng trời). Bỗng đâu vang tiếng sấm rền/ Tỉnh ra em thấy trong đền đỏ hương (Đêm Côn Sơn). Xuân Diệu cũng rất chú ý loại cảm xúc sấm chớp này nhưng ông không hề biết nó tiềm ẩn từ trong mệnh văn chương của TĐK. Ông đặc biệt chú ý bài Mưa. Ông chất vấn:

     -Tại sao lại đội sấm, đội chớp? Ông sấm ông ấy đánh cái sẹt. Thế cậu muốn bố cậu chết hay sao mà bắt ông ấy đội sấm?

    Tôi không dám cãi Xuân Diệu, chỉ cười trừ. Xuân Diệu cũng cười. Nhưng mấy ngày sau, vào lúc 10 giờ đêm ngày 1-6-1968, cái làng quê hẻo lánh, yên tĩnh của tôi đã vang lên giọng bình thơ của ông Tây qua các loa công cộng, trong buổi phát thanh Tiếng thơ. Giọng Xuân Diệu sang sảng:

    Bố em đi cày về

    Đội sấm

    Đội chớp

    Đội cả trời mưa...

    (Chân dung và Đối thoại sđd)

    Đặc biệt trong trường ca Đánh thần hạn, TĐK thả sức vùng vẫy đôi cánh lớn của cảm súc về Sấm Chớp, vì đó là trường ca về những cuộc chiến đấu ở trên trời:

    Bỗng thần sực tỉnh

    Dọc ngang vỗ cánh,

    Vòi quật chéo không trung

    Lửa trắng

    Lửa xanh

    Lửa tím,

    Lại bốc lên đùng đùng

    TĐK đã đi gọn một chặng đường chói sáng 9 năm hào 5 quẻ Quán. Chú bé cũng đã tìm thấy nguyên thủ của mình: Đó phải chăng là nhà thơ Xuân Diệu. Chú bé đã thành người phụ tá của ông. Ông đã đến góc sân nhà em, hỏi chuyện và nhìn ngắm, đã giới thiệu chú bé trên báo Văn Nghệ và đưa chú bé về Hà Nội. Đã chữa thơ cho chú bé, và nhiều khi chỉ chữa một chữ thôi, câu thơ hay hẳn lên. Ông bụt trên chùa Côn Sơn, TĐK viết: Sợ gì ông vẫn ngồi yên lưng đền, Xuân Diệu chữa là Nghĩ gì ông vẫn.... Sau này, trong cuốn sách Chân dung và Đối thoại, bài viết về Xuân Diệu là một trong những bài viết hay nhất của TĐK. Họ đã đi trọn cái nghĩa nguyên thủ và phụ tá trong thời thịnh. Nhưng, tiếc thay, cả Xuân Diệu và TĐK đều không biết rằng thánh nhân đã nhắc nhở TĐK bằng quẻ Hỗ mang tên Sơn Địa Bác. Hào 5 quẻ Quán ứng với hào 6 quẻ Bác. Lời hào 6 quẻ Bác nói rằng: Còn một trái lớn trên cây, không hái xuống ăn... Có nghĩa là những thành tựu giành được ở hào 5 quẻ Quán chẳng qua là hào Dương duy nhất còn lại ở quẻ Bác, phản ánh thời âm thịnh, dương suy, ví như trái lớn cuối cùng còn lại trên cây, ngon đấy, nhưng là người quân tử thì chớ dại mà hái xuống ăn. Ăn là hết đấy. Hãy để cho trái chín rụng xuống, hạt nó lại nẩy mầm, và ta sẽ lại có cây có quả. Nhưng chú bé TĐK đã hái xuống và ăn hết, ăn ngon lành. Bài thơ đầu tiên của TĐK được in trên báo Văn Nghệ vào năm 1966. Khi đó y 8 tuổi, đang học ở học kỳ 2 lớp Một trường làng. Và năm 1968, tròn 10 tuổi, tập thơ Góc sân và khoảng trời của y ra đời. Lúc ấy, người làm thơ còn ít, trẻ con làm thơ lại càng ít, nên nghiễm nhiên, y thành của hiếm, thành đặc sản. Nhiều người tò mò, lặn lội hàng trăm cây số bom đạn, tìm đến nhà y, chỉ cốt để xem... xem y như xem... ma quỷ hiện hình. Có người còn bắt y xòe tay nom đường chỉ, vạch tóc ngó xoáy đầu, rồi lặng lẽ ra đi với gương mặt rất bí hiểm. (Chân dung tự họa. sđd). Hàng ngàn chú bộ đội đã lần lượt giải chiếu ngủ trên nền đất nhà tôi, đã mắc võng nằm trong vườn cây nhà tôi. Các chú nghe thơ tôi, chép thơ tôi vào sổ tay và mang nó ra mặt trận. (Đôi lời của tác giả, Góc sân và khoảng trời NXB Văn hóa - Hà Nội - 1998).

    Đọc những câu ấy, cho đến bây giờ ta thấy TĐK vẫn còn thưởng thức cái dư vị ngon lành của trái cây duy nhất còn lại trên cành âm thịnh dương suy ấy. Nhưng biết làm sao được. Chính mọi người đã hái trái cây ấy xuống, và chú bé chỉ việc bóc ăn. Mãi đến bây giờ chúng ta mới nhìn ra cái quẻ Bác ấy.

    Bởi vì, sau cái thời đoạn ấy, là đến những chặng đường gian nan. Từ 16 đến 24 tuổi củaTĐK ứng với hào 6 quẻ Quán: Trở lại với bản thân để tự trị, làm tiêu biểu cho dân. Có nghĩa là tự xét mình, trăn trở muốn vượt lên xứng đáng là tấm gương đối với mọi người. Hà Lạc giải đoán: Tâm trạng u uất, không phát triển được tài năng. Tiến lên một cách gian nan, chưa toại ý. Thánh nhân khuyên: Nên đi vào con đường thanh tu (tu tỉnh cho trong sáng). Từ 25 đến 30 tuổi tiếp theo là một chặng đường xấu nữa của chủ thể, ứng với hào 1 quẻ Quán. Hào này tả cách quan sát giống như đứa trẻ con nhìn lên phía trên, là trẻ con thì như thế không sao, nhưng đã chót làm người quân tử rồi, thì như vậy là hối tiếc. Hà Lạc giải đoán: Không có đức, cảm thấy không xứng đáng với nguyên thủ (ở đây là nhân dân và Đảng). Trở về với cái nhậy cảm thời trẻ nhỏ, muốn đi lại con đường đã qua, nhưng chỉ tỏ ra vụng về. Muốn hướng về đồng quê, nhưng muộn rồi, hối tiếc. Tính thì khéo, làm thì vụng, có lúc ngớ ngẩn, dễ bị lừa. Sáu năm tiếp theo nữa, từ 31 đến 36 tuổi, cũng thế: Cách quan sát giống như người con gái trinh, thích nhìn trộm, thường lặng lẽ, lén nhìn lên cái thời rực rỡ hào 5 của mình, đối với người gái có nết trinh, thì như thế còn thích hợp, nhưng đối với kẻ trượng phu mà như thế thì đáng xấu hổ. Hà Lạc giải đoán: Nhìn lại một thời rực rỡ, thấy xấu hổ. Chí thấp, tài mỏng, không nhìn xa được. Trong lời giải cụ thể, Hà Lạc còn chỉ rõ thêm một cách đáng sợ: Văn lý không thông hoạt (ý nói văn chương xuống hạng). Tối ở nhà, sáng ở chợ, lang thang quê người, muốn làm giàu. Được quý nhân là nữ giúp đỡ (nếu lấy vợ thì được vợ giàu). Mức sống kém, vẫn giữ nếp quê mùa. Buồn vui phức tạp. Có điều gì xấu hổ khi có ai nhắc đến chuyện vợ con. (Xin bạn đọc giở xem quẻ Phong Địa Quán, đọc lần lượt các hào 6, 1, 2).

    Ba chặng đường, thấm thoắt hơn hai chục năm trời, ứng nghiệm đến đâu chỉ có chủ thể mới biết được. Còn chúng ta, là người thiên hạ, yêu mến TĐK thì được biết như sau: Mười tám tuổi, anh đi bộ đội Hải quân. Đó là hành động đã được báo trước: Xem vẻ sáng của nước mà sinh ý chí muốn hiến thân cho nước. Chỉ có đều buồn cho người đọc là chặng đường này anh ít có thơ hay. Nhìn vào cấu trúc Hà Lạc của anh thì thấy hoàn toàn không có tượng Nước, cảm súc về Nước của anh không có ưu thế trong mệnh văn chương. Dấu vết chặng đường này được bạn đọc biết đến qua bài thơ nổi tiếng Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn (Giải nhất thi thơ báo Văn Nghệ 1981-1982). Tuy nhiên, nhìn bằng con mắt quẻ Quán, thì bài thơ này cũng giống như đứa trẻ nhỏ (Hào 1) nhìn lên thời thơ rực rỡ của mình (hào 5), muốn bắt chước mà chỉ thấy vụng về.

    Ôi hòn đảo Sinh Tồn, hòn đảo thân yêu

    Dẫu chẳng có mưa, chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo

    Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương đầy gió bão

    Chúng tôi như hòn đá ngàn năm trong trái tim người

    Như đá vững bền, như đá tốt tươi...

    Có cái gì đó như trong một bài xã luận. Và vẫn là cái nhìn từ Đất nhìn lên khoảng Trời. Anh không có duyên với những gì thuộc về Nước gắn với sông, biển (trừ con sông Kinh Thầy quê hương). Đề tài Hải quân, Biển, đối với anh vẫn là xa lạ. Những ngày tháng đi với biển có lẽ là những ngày anh đi chệch khỏi hành lang số phận. May mà anh an toàn trở về với Đất.

    Anh đi vào con đường thanh tu, đúng với những gì Hà Lạc đã mách bảo. Hết học Đại học Nguyễn Du đến Học viện Goóc-ki, làm khách quý nước ngoài (điều này đã được ghi nhận trong hào 4 quẻ Quán). Nhưng đây cũng là những năm buồn vui phức tạp. Sự hối tiếc một thời thơ oanh liệt được TĐK nhắc đến ở đây đó: Bây giờ thì y đã già và dứt khoát không phải là kẻ đắc đạo, vậy mà y vẫn phải còng lưng ì ạch vác cái cây thánh giá ở lứa tuổi trẻ con. (CD và ĐT sđd). Và đặc biệt trong bài thơ rất hay anh viết gửi bác Trần Nhuận Minh, nhà thơ, anh ruột của TĐK. Tôi không biết Khoa có nghiên cứu Hà Lạc không, nhưng trong bài thơ này, anh cảm thấy rất rõ vận mệnh mình gắn với Đất, Trời và Gió (Cây cỏ), còn ông anh mình thì gắn với những kiếp người (xem bài về chân dung Trần Nhuận Minh).

    Bác âm thầm chìm nổi

    Cùng kiếp người lang thang

    Em lông nhông bầu bạn

    Với kiến đen, chó vàng

     

    Biết bao nhiêu giun dế

    Đã khiêng vác em lên

    Tên tuổi em xủng xoảng

    Những trống ran mõ rền.

    .........

    Em quẩy bầu trăng gió

    Bác gánh bao nỗi người

    Và không phải là không có chút hối tiếc khi chợt thấy mình hình như đã đi chệch khỏi hành lang, so với ông anh:

    Bác đã bay dưới đất

    Em đành đi trên trời.

    (Tôi nhấn hai chữ đi và bay. XC). Và thú nhận, và ao ước:

    Giờ thì em đã chán

    Những vinh quang hão huyền

    Muốn làm làn mây trắng

    Bay cho chiều bình yên

     

    Trả niềm vui cho cỏ

    Trả nỗi buồn cho cây

    Lại áo tơi, nón lá

    Ta về với luống cày

     

    Đất trời thì chật hẹp

    Làng quê thì mênh mông

    Thung thăng em với bác

    Ta cưỡi thơ ra đồng.

    Chỉ có hai câu cuối này, nhà thơ cảm nhận hơi chủ quan và nhầm một chút: ông anh Trần Nhuận Minh đã yên phận với quẻ hậu thiên Phong Thủy Hoán (Gió Mây Tan) trên bờ biển Hạ Long, ông không thể cưỡi thơ ra đồng cùng chú em được nữa. Phải đành vậy thôi, đúng như TĐK đã linh cảm thấy: sóng đôi mà đơn độc/ đi mang mang trong đời.

    Những ngày chúng tôi làm bài này, nhà thơ TĐK đang đi nốt chặng đường cuối của quẻ Phong Địa Quán (1994-1999). Toán Hà Lạc giải: Đây là chặng đường nghiêm túc xem xét bản thân để liệu đường lui tới. Ra sức tu dưỡng, rèn luyện nghề nghiệp, làm người hiền sáng. Nay tiến mai thoái, cô lập, gian nan. Cạnh tranh với đồng nghiệp. Cái được cái hỏng. (Xem hào 3 quẻ Quán). Đoạn đời này được phản ánh đầy đủ và sâu sắc trong cuốn sách Chân dung và Đối thoại (1998). Cái sự nghiêm túc xem xét bản thân đã thể hiện, không gì rõ hơn, qua bài văn ngắn Chân dung tự họa (sau đó là bài thơ Gửi bác Trần Nhuận Minh đã trích trên kia), không phải nói thêm gì nữa. Còn cái được, cái hỏng thì hàng loạt bài cảm nhận và phê bình cùng cuộc hội thảo do báo Văn Nghệ tổ chức và phản ánh (tháng 5-1998) cũng đã chỉ ra. Cái được của TĐK trong loạt bài Chân dung và Đối thoại này là những gì nếu không phải là những đề tài bắt nguồn từ những ưu tiên, thế mạnh trời cho trong cảm xúc thiên nhiên của TĐK: Đất, Gió (Cây). Những bài về Lê Lựu, Phù Thăng, Nguyễn Viết Chộp, những con người từ Đất dấy lên, là những cái được như thế. Bài về Xuân Diệu thì cái được lại bắt nguồn từ việc TĐK đã thực hiện cái nghĩa giữa người phụ tá và nguyên thủ, nằm trong ưu thế về khí chất của hào 4 quẻ Quán. Bạn đọc chú ý hào 3 quẻ Quán còn đi đôi với hào 2 và hào 4 quẻ Bác nằm ẩn bên trong. Hào 2: Giường hỏng đến thân, họa tiểu nhân càng gần. Hào 4: Giường hỏng đến da người nằm. Mưu xấu, tai họa. Tự mình hại mình. Những tín hiệu ấy cũng thể hiện một cách đầy đủ trong Chân dung và Đối thoại. Cuốn sách được bạn đọc vồ vập đón nhận, nhưng đối với TĐK chẳng qua đó là một dữ liệu về số mệnh để liệu đường lui tới mà thôi. Không phải không có những ý kiến phàn nàn xác đáng về những chỗ chưa được của cuốn sách.

    Đỉnh cao trong cuộc đời anh lại sắp sửa bắt đầu với quẻ Địa Thiên Thái, quẻ đẹp tuyệt vời đứng hàng thứ ba trong Kinh Dịch (sau quẻ Càn và Khôn). Thái là Thịnh, là Hanh thông, Yêu thích, Hòa thuận. Hậu vận TĐK bắt đầu từ năm 2000 (43 tuổi âm) là một thời thịnh vượng, rực rỡ, sự nghiệp phát triển, thành đạt lớn. Có ưu tiên năng lượng của Trời Đất và có Địa nguyên khí. Tuy nhiên do có quẻ Lôi Trạch Quy Muội kề bên mà biết rằng đi đôi với sự hanh thông, cũng thường có những vấp váp, lỡ làng kiểu đại khái, qua quýt, sơ xuất không đáng có, kể cả những sai sót đáng yêu (xem quẻ Quy Muội), trong suy nghĩ và hành động thường có nhiều hiện tượng hão huyền, thiếu thực tế (do tín hiệu mệnh Mộc gặp quẻ Càn). Từ 43 đến 51 tuổi: Có tài nhưng vị trí còn thấp. Liên kết với đồng nghiệp, bạn bè, tìm người đồng tâm, dìu dắt nhau gánh việc thiên hạ, nên việc dễ kết quả. Tiến hành những hoạt động lớn. Quang minh chính đại, lập lại sự nghiệp, hưởng phú quý. Từ 52 đến 60 tuổi (ứng với Đại vận Nhâm Tuất, đại vận Từ Quán trong Toán Tứ Trụ): Tài năng phát triển mạnh. Bạn bè đông. Được lãnh đạo tin cậy. Sẽ mở vận hội lớn, giàu sang, được quý trọng, danh tiếng nổi như cồn, lập nghiệp lớn. Thánh nhân khuyên người được thời này: Một là về độ lượng, cần biết bao dung, có thể phải dung nạp những tệ hại cũ còn sót lại, đừng mong trừ tiệt nó ngay từ đầu. Hai là về khí phách, phải như người mạo hiểm tay không vượt sông. Ba là về kế hoạch cần tính trước những việc xa xôi sẽ xảy ra. Bốn là về đức, cần công tâm, chớ bè phái mà có hại cho nghĩa lớn. Tất cả những cái đó đều chú ý giữ cho vừa phải, chẳng hạn bao dung quá hay mạo hiểm quá đều nguy hại (Theo Phan Bội Châu). Bắt đầu từ 61 tuổi sẽ sang thời suy, nhưng mà là suy trong thời Thái, nên vẫn thịnh vượng, nhưng xu thế sẽ là lui về nơi thôn xóm, trở về với vận hội thời trước, dìu dắt nhiều kẻ thấp kém cùng tiến lên, lấy lòng thành mà xuống với người hiền. Phải luôn coi chừng vận Bĩ sẽ đến và tất cả sẽ đổ sụp thành đống đất như khi mới sinh ra từ đất.

    5-1999

    Phụ lục: Cấu trúc Hà Lạc của nhà thơ Trần Đăng Khoa

    Sinh 08-3-Mậu Tuất giờ Dậu (26-04-1958). Dương Nam. Trong sáng (tiết lệnh tháng 3): 5-4-1958. Giữa xuân: 21-03-1958 (Hóa công Chấn). Mệnh: Mộc (đất bằng). Trung nguyên. Sinh giờ khí âm. Can Chi: Năm Mậu Tuất, Tháng Bính Thìn, Ngày Quý Dậu, Giờ Tân Dậu. Mã số Can Chi: 1, 5-10; 8, 5-10; 2, 4-9; 4, 4-9.

    Tiên Thiên

    Tiền Vận

    Đại Vận

     (Năm)

     Hỗ

    Tiên Thiên

    Hậu Thiên

    Hậu Vận

    Đại vận

     (Năm)

     Hỗ

    Hậu Thiên

     Hỗ

    Nhân Quả

    1

    1

    0*

    0

    0

    0

    73-81

    64-72

    58-63

    94-99

    88-93

    82-87

    1

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    1

    1

    1*

    39-44

    33-38

    27-32

    18-26

    09-17

    00-08

    0

    0

    1

    0

    1

    1

    0

    0

    1

    0

    0

    0

     Phong Địa

     Quán

     

     Sơn Địa

     Bác

    Địa Thiên

     Thái

     

    Lôi Trạch

     Quy Muội

    Lôi Địa

     Dự

     

    Hoá công: Chấn ở Hậu Thiên. Thiên nguyên khí: (Khảm) Không. Địa Nguyên khí: Càn ở Hậu thiên. Dấu *: Hào nguyên đường, chủ mệnh. Mệnh hợp cách ở mức thấp. Hỗ Nhân Quả: Đổi dấu các hào 1, 2, 3, 5, 6.

     Nguồn: Tám chữ Hà Lạc và chân dung nhà văn. NXB Văn học sắp xuất bản.

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập44,343,172

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/